Nguồn
gốc COVID: Ai đã mở chiếc hộp Pandora(*) ở Vũ Hán: con người hay thiên
nhiên? (Kỳ 1)
Nicholas
Wade, Bulletin of the Atomic
Scientists ngày
5 tháng Năm, 2021
Hiếu Tân dịch
Posted on 15/05/2021 by Boxit
VN
https://boxitvn.blogspot.com/2021/05/nguon-goc-covid-ai-mo-chiec-hop-pandora.html
Nguồn gốc đại dịch Covid19 đã tạo ra nhiều
thuyết âm mưu, được phóng đại và phát tán trong thời Trump. Bài viết trên
Bản tin các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin
of the Atomic Scientists ngày 5 tháng Năm, 2021) hy vọng sẽ góp phần
mở ra hướng điều tra trong tương lai để làm sáng tỏ vấn đề, và điều này
là cần thiết vì nó sẽ đóng góp vào việc ngăn ngừa các nghiên cứu có động cơ chạy
theo tiền tài trợ và hư danh của vài nhà khoa học, bất chấp tác hại cho nhân loại.
Vì sự quan trọng của bài này mà Bauxite Việt Nam quyết định cần phổ
biến sớm đến bạn đọc rộng rãi.
Tác giả Nicholas Wade của bài báo đưa ra hai
giả thuyết cần chứng minh về nguồn gốc Covid19. Giả thuyết thứ nhất là truyền
nhiễm tự nhiên từ dơi hay qua một con vật nào đó sang người. Giả thuyết thứ hai
là Covid19 được tạo ra từ Viện Nghiên cứu Vũ Hán và sổng chuồng. Đây là bài viết
của một nhà báo và biên tập viên, chuyên viết về khoa học, đã từng làm việc cho
tạp chí Science, Nature, New York Times cho nên tác giả đã
cố gắng lý giải từng bước về mặt khoa học và do đó độc giả không dễ đọc lướt,
tuy vậy đọc kỹ cũng là cách giúp mình hiểu biết thêm về coronavirus để có thể tự
mình rút ra kết luận về con đường đi của nó.
Điều lý thú đầu tiên là tác giả nêu lên cái có
thể coi là động cơ của nhà khoa học có tiếng, Peter Daszak, Chủ tịch Liên minh
EcoHealth Alliance ở New York khi viết lá thư trên tạp chí uy
tín Lancet bác bỏ khả năng sổng chuồng của vi rút đã được tạo ra từ
phòng thí nghiệm. Nhưng chính ông Peter Daszak là người nhận tài trợ nghiên cứu
của Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia (NIAID), một bộ phận của Viện Y
tế Quốc gia (NIH), và rồi chuyển thầu này cho bà Shi Zhengli (Thạch Chính Lệ 石正麗) thuộc Viện Vi rút Vũ
Hán (武汉 Wuhan). Mục đích của
nghiên cứu là tạo ra covid từ phòng thí nghiệm, tức là thực hiện nghiên cứu
tăng chức năng của virus. Như thế nghiên cứu của Vũ Hán đã được tài trợ gián tiếp
của Chính phủ Mỹ với sự “hướng dẫn tích cực” của khoa học gia Mỹ. Bà Shi
Zhengli (Thạch Chính Lệ 石正麗) học ở Pháp và đã từng sang Mỹ làm việc để được huấn luyện về cách điều
chính tăng chức năng virus.
Tăng chức năng (GO, gain of function) là
gì? Tăng
chức năng là thử nghiệm nhằm mục đích hoặc dự kiến làm tăng khả năng
lây truyền hoặc độc lực của mầm bệnh, nhất là với người, nhằm nâng cao hiểu biết
về các tác nhân gây bệnh, sự tương tác của chúng với vật chủ là con người và khả
năng gây ra đại dịch của chúng và trên cơ sở đó phát triển vaccine chống lại.
Nghiên cứu như vậy, phải được thực hiện bởi các nhà khoa học có trách nhiệm, có
kiểm soát trong phòng thí nghiệm bậc BSL4, mà người nghiên cứu phải mặc quần áo
phòng bị như phi hành gia, điều không ai thích. Chính vì sự nguy hiểm có thể
đưa tới, chính quyền Obama đã ra quyết định tạm dừng tài trợ những nghiên cứu
này vào năm 2014.
Tác giả bài báo đã chỉ ra trách nhiệm về đại dịch
covid, dù cho rằng cần tìm hiểu thêm, vào các tác nhân sau:
1. Các nhà virus học Trung Quốc vì đã thực hiện
thí nghiệm tăng chức năng trong điều kiện an toàn chủ yếu ở mức BSL2 quá lỏng lẻo.
Nếu virus thực sự đã thoát từ phòng thí nghiệm của họ, họ xứng đáng bị cả thế
giới chỉ trích vì một tai nạn có thể thấy trước đã gây ra cái chết của ba triệu
người. Đúng như vậy, bà Lệ đã được đào tạo bởi các nhà virus học người Pháp,
làm việc gần gũi với các nhà virus học người Mỹ và tuân thủ các quy tắc quốc
tế về ngăn chặn coronavirus. Nhưng bà ta có thể và lẽ ra phải tự đánh giá về
những rủi ro mà bà ấy đang quản lý. Bà ta và các đồng nghiệp của bà phải
chịu trách nhiệm về hành động của mình.
2. Nhà cầm quyền Trung Quốc. Chính quyền
trung ương Trung Quốc dù không tạo ra SARS2, nhưng họ chắc chắn đã làm hết sức
mình để che giấu bản chất của thảm kịch và trách nhiệm, cho đến nay.
3. Cộng đồng các nhà virus học trên toàn thế
giới. Các nhà virus học trên khắp thế giới là một cộng đồng chuyên nghiệp lỏng
lẻo. Họ viết bài trên cùng những tạp chí. Họ tham dự cùng những cuộc hội
nghị. Họ có chung lợi ích là tìm kiếm nguồn tài trợ từ các Chính phủ và không
để ý đủ đến các quy định an toàn. Điều này không chỉ dừng ở Covid, vì đáng lo
hiện nay là kỹ thuật CRISPR có thể dùng để chỉnh sửa gen mà hiện nay các Viện
hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kỳ, Anh và Trung Quốc đã kêu gọi hạn chế thực hiện
những thay đổi di truyền đối với bộ gen người.
4. Vai trò của Hoa Kỳ trong việc tài trợ cho
Viện Virus học Vũ Hán. Từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm 2019, Liên minh
EcoHealth Alliance ở New York của Daszak đã nhận được khoản tài trợ từ Viện Dị ứng
và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia (NIAID), một bộ phận của Viện Y tế Quốc gia
(NIH), để thực hiện nghiên cứu tăng chức năng với coronavirus tại Viện Virus học
Vũ Hán. Điều này có nghĩa là Giám đốc của NIAID, Anthony Fauci, hoặc Giám đốc của
NIH, Francis Collins, hoặc có thể cả hai, có nhiệm vụ không để tiền tài trợ chảy
vào nghiên cứu tăng-chức-năng của bà Lệ.
“Thật không may, Giám đốc NIAID và giám đốc NIH
đã khai thác lỗ hổng này để ban hành miễn trừ cho các dự án bị Tạm dừng – khẳng
định một cách hết sức phi lý rằng nghiên cứu được miễn là ‘cần thiết khẩn cấp
để bảo vệ sức khỏe cộng đồng hoặc an ninh quốc gia’ – do đó vô hiệu hóa Lệnh tạm
dừng.
Mới đây nhất sau khi bài viết trên xuất hiện,
Bác sĩ Antholny Fauci bị Foxnews phỏng
vấn đã cho rằng bà Shi Zhang Li (Thạch Chính Lệ 石正麗) ở Viện Vũ Hán, không nhận
tài trợ từ NHI [đúng thế, vì bà ta nhận tài trợ gián tiếp]. Nhưng ông Fauci
cũng không loại trừ rõ ràng khả năng như vậy: “Tôi không có bất kỳ tính toán
nào về những gì người Trung Quốc có thể đã làm, và tôi hoàn toàn ủng hộ bất kỳ
cuộc điều tra thêm nào về những gì đã xảy ra ở Trung Quốc”, ông nói. “Tuy
nhiên, tôi sẽ nhắc lại một lần nữa, NIH và NIAID đã không tài trợ cho hoạt động
nghiên cứu chức năng được tiến hành tại Viện Virology Vũ Hán.”
Vâng điều cần làm là tìm rõ ra nguồn gốc của
Covid để rút kinh nghiệm tránh các đại họa tương tự trong tương lai.
Sau hết, xin cảm ơn TS Vũ Quang Việt đã
hết sức giúp đỡ để chúng tôi có được bài báo quan trọng này cùng mấy lời giới
thiệu về những vấn đề hệ trọng đặt ra qua nội dung của nó và dịch gíả Hiếu
Tân đã dịch giúp kịp thời để thông tin đến bạn đọc.
Bauxite Việt Nam
=====================================================
Các thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhóm
điều tra nguồn gốc của coronavirus COVID-19 đến Viện Virus học Vũ Hán vào ngày
3 tháng 2. (Ảnh của HECTOR RETAMAL / AFP qua Getty Images)
Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn cuộc sống
trên thế giới trong hơn một năm. Số người chết của nó sắp lên tới ba triệu người.
Tuy nhiên, nguồn gốc của đại dịch vẫn không chắc chắn: Các cuộc bàn thảo
chính trị của các chính phủ và các nhà khoa học đã tạo ra những đám mây mù dày
đặc làm người ta mụ mị, mà dường như báo chí dòng chính khó lòng xua
tan.
Sau đây tôi sẽ sắp xếp thông qua các sự kiện
khoa học hiện có, mang manh mối về những gì đã xảy ra nhằm cung cấp những bằng
chứng cho người đọc để họ tự xét đoán. Sau đó, tôi sẽ cố gắng đánh giá vấn đề
phức tạp về trách nhiệm, bắt đầu từ chính phủ Trung Quốc nhưng mở rộng ra hơn
nữa.
Đến cuối bài, bạn có thể đã học được rất nhiều
về sinh học phân tử của virus. Tôi sẽ cố gắng giữ sao cho quá trình này không
đến nỗi quá nhọc nhằn. Nhưng ta không thể thiếu khoa học, bởi vì hiện tại,
và có lẽ còn rất lâu nữa, nó là sợi dây dẫn lối chắc chắn duy nhất xuyên
qua mê lộ.
Virus gây ra đại dịch được biết đến với tên
chính thức là SARS-CoV-2, nhưng có thể được gọi tắt là SARS2. Như nhiều người
đã biết, có hai thuyết chính về nguồn gốc của nó. Một là nó tự nhiên nhảy từ động
vật hoang dã sang người. Thuyết kia là virus đang được nghiên cứu trong phòng
thí nghiệm, từ đó nó đã thoát ra ngoài. Thuyết nào đúng là vấn đề vô cùng
quan trọng nếu chúng ta hy vọng ngăn chặn một sự cố thứ hai như vậy.
Tôi sẽ mô tả hai lý thuyết, giải thích lý do tại
sao mỗi lý thuyết đều hợp lý và sau đó hỏi lý thuyết nào cung cấp lời giải
thích tốt hơn về các sự kiện có sẵn. Cần lưu ý một điều quan trọng là cho đến
nay không lý thuyết nào có bằng chứng trực tiếp. Mỗi thuyết phụ thuộc vào một tập
hợp các phỏng đoán hợp lý nhưng cho đến nay vẫn thiếu bằng chứng. Vì vậy, tôi
chỉ có thể cung cấp những manh mối, chứ không phải kết luận. Nhưng những manh
mối đó chỉ ra một hướng cụ thể. Và sau khi suy luận về hướng đó, tôi sẽ phác
họa vài điểm nút trong cái mớ bùng nhùng của thảm họa này.
Câu chuyện về hai
lý thuyết.
Sau khi đại dịch bùng phát lần đầu vào tháng
12 năm 2019, các nhà chức trách Trung Quốc báo cáo rằng nhiều trường hợp đã xảy
ra tại chợ thịt sống – nơi bán thịt động vật hoang dã – ở Vũ Hán. Điều này
khiến các chuyên gia nhớ đến đại dịch SARS1 năm 2002, trong đó virus dơi đã lây
lan đầu tiên sang cầy hương, một loài động vật bán ở chợ thịt sống, và từ cầy
hương lây sang người. Một loại virus tương tự ở dơi đã gây ra một trận dịch thứ
hai, được gọi là MERS, vào năm 2012. Lần này vật chủ trung gian là lạc đà.
Việc giải mã bộ gen của vi rút cho thấy nó thuộc
về một họ vi rút được gọi là beta-coronavirus, (virus SARS1 và MERS
cũng thuộc về họ này). Mối quan hệ này đã ủng hộ ý tưởng rằng, giống như
chúng, đây là một loại virus tự nhiên đã nhảy từ dơi, qua vật chủ động vật
khác, sang người. Mối liên hệ giữa thị trường thịt động vật, điểm giống
chủ yếu với dịch SARS1 và MERS, đã sớm bị phá vỡ: các nhà nghiên cứu Trung Quốc
đã tìm thấy các ca bệnh sớm hơn ở Vũ Hán mà không có mối liên hệ nào với thị
trường thịt động vật. Nhưng điều đó dường như không thành vấn đề khi ngay
sau đó người ta hy vọng bằng chứng đi xa hơn nhiều trong việc hậu thuẫn
cho sự xuất hiện tự nhiên của virus.
Nhưng Vũ Hán lại là nơi có Viện Virus học
Vũ Hán, một trung tâm hàng đầu thế giới về nghiên cứu coronavirus. Vì vậy khả
năng virus SARS2 thoát ra từ phòng thí nghiệm là không thể loại trừ. Hai kịch
bản có vẻ có lý về nguồn gốc đã được đưa ra.
Ngay từ rất sớm, nhận thức của công chúng và
truyền thông đã được định hướng có lợi cho kịch bản ‘xuất hiện tự nhiên’ bởi những
tuyên bố mạnh mẽ của hai nhóm khoa học. Những tuyên bố này lúc đầu không được
xem xét một cách nghiêm túc như đáng phải thế.
“Chúng tôi cùng nhau lên án mạnh mẽ các thuyết
âm mưu cho rằng COVID-19 không có nguồn gốc tự nhiên”, một nhóm các nhà virus học
và những người khác đã viết trên tờ Lancet vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, lúc
còn quá sớm để không ai có thể biết chắc chuyện gì đã xảy ra. Các nhà khoa học
“kết luận một cách áp đảo rằng con coronavirus này có nguồn gốc từ động vật
hoang dã”, họ nói, với lời kêu gọi tập hợp đầy khích động độc giả hãy ủng
hộ các đồng nghiệp Trung Quốc trên tuyến đầu chiến đấu với căn bệnh này.
Trái với khẳng định của những người viết bức
thư trên, ý kiến cho rằng virus có thể đã
thoát ra từ do phòng thí nghiệm gợi nghĩ đến một tai nạn, chứ không phải âm
mưu. Chắc chắn cần phải xem xét nó, chứ không phải vứt bỏ thẳng tay. Một
dấu hiệu nổi bật của các nhà khoa học tốt là họ làm hết sức để phân biệt giữa
những gì họ biết và những gì họ không biết. Theo tiêu chí này, những người ký
tên trong bức thư Lancet đã cư xử như những nhà khoa học tồi: Họ đang đảm bảo
với công chúng những sự kiện mà họ không thể biết chắc chắn là đúng.
Sau đó, hóa ra lá thư Lancet do Peter Daszak,
chủ tịch của EcoHealth Alliance ở New York, tổ chức soạn thảo. Tổ chức của
Daszak đã tài trợ cho nghiên cứu coronavirus tại Viện virus học Vũ Hán. Nếu
virus SARS2 thực sự thoát ra từ nghiên cứu mà ông tài trợ, thì Daszak sẽ có khả
năng tiềm tàng là phạm tội. Xung đột gay gắt về lợi ích này không được
công bố cho độc giả của Lancet. Ngược lại, bức thư kết luận, “Chúng tôi tuyên bố
không có cạnh tranh về lợi ích.”
Peter Daszak, một thành viên của tổ điều tra nguồn gốc của
coronavirus COVID-19 thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang nói chuyện qua điện
thoại di động tại Thung lũng Quang học Hilton Wuhan ở Vũ Hán. (Ảnh của HECTOR
RETAMAL / AFP qua Getty Images)
Các nhà virus học như Daszak có nguy cơ cao
bị quy trách nhiệm về đại dịch. Trong suốt 20 năm, hầu như ngoài sự chú ý của
công luận, họ đã chơi một trò chơi nguy hiểm. Trong các phòng thí nghiệm của
mình, họ thường xuyên tạo ra những loại vi rút nguy hiểm hơn những vi rút tồn tại
trong tự nhiên. Họ lập luận rằng họ có thể làm như vậy một cách an toàn, và bằng
cách vượt lên trên thiên nhiên, họ có thể dự đoán và ngăn chặn “sự lan truyền”
tự nhiên, sự lây chéo vi rút từ vật chủ động vật sang người. Nếu SARS2 thực sự
thoát ra từ một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm như vậy, thì một đợt dội
ngược kinh hoàng có thể xảy ra, và cơn bão phẫn nộ của công chúng sẽ tác
động đến các nhà virus học ở khắp mọi nơi, không chỉ ở Trung Quốc. Antonio
Regalado, một biên tập viên của Tạp chí Công nghệ MIT, nói: “Nó sẽ
phá nát tòa nhà khoa học từ trên xuống dưới”.
Tuyên bố thứ hai có ảnh hưởng to lớn trong việc
định hướng thái độ của công chúng là một bức thư (nói cách khác là một mẩu ý
kiến, không phải một bài báo khoa học) được công bố vào ngày 17 tháng 3 năm
2020 trên tạp chí Nature Medicine. Các tác giả của nó là một nhóm
các nhà virus học do Kristian G. Andersen thuộc Viện Nghiên cứu Scripps dẫn đầu.
“Các phân tích của chúng tôi cho thấy rõ ràng rằng SARS-CoV-2 không phải được
tạo ra trong phòng thí nghiệm hay một loại virus bị thao tác có mục đích”, năm
nhà virus học tuyên bố trong đoạn thứ hai của bức thư của họ.
Thật không may, đây là một trường hợp khoa học
tồi tệ khác, theo nghĩa đã xác định ở trên. Đúng vậy, một số phương pháp ‘cắt
và dán’ cũ hơn dùng cho các bộ gen virus vẫn giữ lại các dấu vết thao tác.
Nhưng các phương pháp mới hơn, được gọi là phương pháp tiếp cận “no-see-um” hoặc
“liền mạch”, không để lại những dấu vết rõ rệt. Các phương pháp điều khiển
vi rút khác cũng không, như các phương pháp truyền nối tiếp, chuyển vi rút lặp
đi lặp lại từ môi trường nuôi cấy tế bào này sang tế bào khác. Nếu một virus đã
bị thao tác, cho dù bằng một phương pháp liền mạch hay bằng cách truyền nối tiếp,
không có cách nào để biết rằng nó có bị thao tác hay không. Andersen và các
đồng nghiệp của ông đã bảo đảm với độc giả của họ về một điều gì đó mà họ không
thể biết.
Phần thảo luận trong bức thư của họ bắt đầu
như sau: “Không chắc là SARS-CoV-2 xuất hiện thông qua thao tác phòng thí
nghiệm đối với một loại coronavirus giống-SARS-CoV có liên quan.” Nhưng khoan
đã, chẳng phải người dẫn đầu nói rằng rõ ràng là vi-rút chưa bị
thao tác sao? Mức độ chắc chắn của các tác giả dường như trượt vài nấc khi
đưa ra lý lẽ của họ.
Ta sẽ thấy rõ lý do trượt nếu nắm vững
ngôn ngữ kỹ thuật. Hai lý do mà các tác giả đưa ra để cho rằng ‘việc thao tác
không chắc đã có’ là hoàn toàn không thuyết phục.
Đầu tiên, họ nói rằng protein đột biến của
SARS2 liên kết rất tốt với mục tiêu của nó, thụ thể ACE2 của con người, nhưng
làm như vậy theo cách khác với cách tính toán vật lý cho thấy là phù hợp nhất.
Do đó, chắc chắn là virus đã xuất hiện do chọn lọc tự nhiên, không phải
do thao tác.
Nếu lập luận này có vẻ khó nắm bắt, đó là vì
nó quá gượng ép. Giả định cơ bản của các tác giả, không nói rõ, là bất kỳ
ai cố gắng tạo ra một virus dơi gắn với tế bào người đều có thể làm như vậy chỉ
bằng một cách. Đầu tiên, họ sẽ tính toán sự phù hợp mạnh nhất có thể giữa thụ
thể ACE2 của người và protein đột biến mà virus bám vào nó. Sau đó, họ sẽ thiết
kế protein đột biến cho phù hợp (bằng cách chọn đúng chuỗi các đơn vị axit amin
cấu tạo nên nó). Bài viết của Andersen nói vì protein đột biến SARS2 không phải
là thiết kế tốt nhất được tính toán này, do đó nó không thể bị thao tác.
Nhưng điều này bỏ qua cách mà các nhà virus học
thực tế làm để gắn các protein đột biến vào các mục tiêu đã chọn, cách này
không phải dùng tính toán mà dùng cách ghép các gen protein đột biến từ các
virus khác hoặc bằng cách truyền nối tiếp. Với phương pháp truyền nối tiếp, mỗi
khi thế hệ con cháu của virus được chuyển sang nuôi cấy tế bào hoặc động vật mới,
thì những virus nào chuyển thành công hơn sẽ được chọn, cho đến khi xuất hiện
một liên kết thực sự chặt chẽ với tế bào người. Chọn lọc tự nhiên đã thực hiện
tất cả những công việc nặng nhọc. Suy đoán trong bài viết của Andersen về việc
thiết kế một protein đột biến của virus thông qua tính toán không liên quan đến
việc liệu virus có bị thao tác bởi một trong hai phương pháp kia hay không.
Lập luận thứ hai của các tác giả phủ nhận sự
thao tác thậm chí còn được gia công nhiều hơn. Mặc dù hầu hết các vật sống sử
dụng DNA làm vật liệu di truyền của chúng, nhưng một số loại virus sử dụng RNA,
người anh em họ hàng gần gũi của DNA. Nhưng RNA rất khó thao tác, vì vậy các
nhà nghiên cứu làm việc trên coronavirus, vốn dựa trên RNA, trước tiên sẽ chuyển
đổi bộ gen RNA thành DNA. Họ thao tác phiên bản DNA, bằng cách thêm hoặc thay
đổi các gen, và sau đó sắp xếp để bộ gen DNA bị thao tác được chuyển đổi trở
lại thành RNA có khả năng lây nhiễm.
Chỉ một số nhất định trong số các trụ cột
DNA này đã được mô tả trong các tài liệu khoa học. Nhóm Andersen viết, bất kỳ
ai thao tác virus SARS2 đều “có thể” đã sử dụng một trong những trụ cột đã
biết này, và vì SARS2 không có bất kì nguồn gốc nào trong số những trụ cột
ấy, do đó nó không bị thao tác. Dễ thấy rằng lập luận này không thuyết phục.
Trụ cột DNA khá dễ tạo, vì vậy rõ ràng rất có thể SARS2 đã được thao tác bằng
cách sử dụng một trụ cột DNA chưa được công bố.
Vậy đó. Đây là hai lập luận do nhóm Andersen
đưa ra để ủng hộ tuyên bố của họ rằng virus SARS2 rõ ràng không bị thao tác.
Và kết luận này, không có cơ sở gì ngoài hai suy đoán không thể đi đến kết luận,
đã cam đoan với báo chí thế giới rằng không thể có vụ SARS2 đã thoát ra khỏi
phòng thí nghiệm. Một bài phê bình kỹ thuật về bức thư Andersen đã hạ nó bằng
những lời lẽ gay gắt hơn.
Khoa học được cho là một cộng đồng các chuyên
gia tự điều chỉnh, những người liên tục kiểm tra công việc của nhau. Vậy tại
sao các nhà virus học khác không chỉ ra rằng lập luận của nhóm Andersen đầy những
lỗ hổng lớn đến mức ngớ ngẩn? Có lẽ bởi vì ở các trường đại học ngày nay nói
ra có thể rất tốn kém. Sự nghiệp có thể bị hủy hoại vì bước ra ngoài ranh giới
(cho phép). Bất kỳ nhà virus học nào dám thách thức quan điểm mà cộng đồng
đã tuyên bố đều có nguy cơ bị hội đồng các nhà virus học tư vấn cho cơ quan
phân phối tài trợ của chính phủ từ chối đơn xin tài trợ tiếp theo.
Các bức thư của Daszak và Andersen thực sự là
những tuyên bố mang tính chính trị, không phải khoa học, nhưng lại có hiệu quả
đáng kinh ngạc. Các bài báo trên báo chí dòng chính liên tục tuyên bố rằng sự
đồng thuận của các chuyên gia đã loại bỏ nghi vấn phòng thí nghiệm hoặc cực kỳ
khó xảy ra. Các tác giả của chúng phần lớn dựa vào các bức thư Daszak và
Andersen, không hiểu những lỗ hổng to lớn trong lập luận của họ. Các tờ báo
dòng chính đều có các nhà báo khoa học trong ê kip của họ, cũng như các mạng lớn,
và các phóng viên chuyên môn này được cho là có thể chất vấn các nhà khoa học
và kiểm tra các khẳng định của họ. Nhưng những khẳng định của Daszak và
Andersen hầu như không bị thách thức.
Những nghi ngờ về
sự xuất hiện tự nhiên.
Sự xuất hiện tự nhiên là lý thuyết ưa thích của
giới truyền thông cho đến khoảng tháng 2 năm 2021 và chuyến thăm của ủy ban Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) tới Trung Quốc. Thành phần và quyền truy cập của ủy
ban bị chính quyền Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ. Các thành viên của nó, bao gồm
cả Daszak nổi tiếng, liên tục khẳng định trước, trong và sau chuyến thăm của họ
rằng việc thoát ra từ phòng thí nghiệm là cực kỳ khó xảy ra. Nhưng đây không
hoàn toàn là chiến thắng tuyên truyền mà các nhà chức trách Trung Quốc có thể đã
hy vọng. Điều trở nên rõ ràng là người Trung Quốc không có bằng chứng để đưa ra
ủy ban ủng hộ lý thuyết xuất hiện tự nhiên.
Điều này thật đáng ngạc nhiên vì cả virus
SARS1 và MERS đều để lại nhiều dấu vết trong môi trường. Loài vật chủ trung
gian của SARS1 đã được xác định trong vòng bốn tháng sau khi dịch bùng phát và
vật chủ của MERS trong vòng chín tháng. Tuy nhiên, khoảng 15 tháng sau khi đại
dịch SARS2 bắt đầu, và sau một cuộc tìm kiếm được cho là mạnh, các nhà nghiên
cứu Trung Quốc đã không tìm thấy quần thể dơi ban đầu, hoặc loài trung gian mà
SARS2 có thể đã nhảy lên, hoặc bất kỳ bằng chứng huyết thanh học nào cho thấy bất
kỳ khối dân cư nào của Trung Quốc, bao gồm cả Vũ Hán, đã bị phơi nhiễm
virus trước tháng 12 năm 2019. Sự xuất hiện tự nhiên vẫn là một phỏng đoán,
lúc đầu tuy có vẻ hợp lý, đã không thu được một mẩu bằng chứng hậu thuẫn
nào trong hơn một năm.
Và chừng nào điều đó vẫn còn, thì điều hợp lý
là phải chú ý nghiêm túc đến phỏng đoán thay thế, rằng SARS2 đã thoát ra từ
một phòng thí nghiệm.
Tại sao lại có người muốn tạo ra một loại
virus mới lạ có khả năng gây ra đại dịch? Kể từ khi các nhà virus học có được
các công cụ để thao tác gen của virus, họ đã lập luận rằng họ có thể vượt qua
một đại dịch tiềm ẩn bằng cách khám phá khả năng một loại virus ở động vật
nào đó có thể thực hiện bước nhảy sang người gần đến mức nào. Và điều đó
biện minh cho các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm trong việc nâng cao khả
năng lây nhiễm sang người của các virus nguy hiểm trên động vật, các nhà virus
học khẳng định.
Với lý do căn bản này, họ đã tái tạo lại
virus cúm năm 1918, chỉ ra cách virus bại liệt gần như tuyệt chủng có thể được
tổng hợp từ chuỗi DNA đã được công bố của nó, và đưa một gen đậu mùa vào một
virus có liên quan.
Việc làm tăng những khả năng của virus như
thế này được gọi một cách nhẹ nhàng là các ‘thí nghiệm tăng chức năng’.
Với coronavirus, người ta đặc biệt quan tâm đến các protein đột biến, nhô ra
xung quanh bề mặt hình cầu của virus và có vai trò khá quyết định về
những loài động vật nào mà nó sẽ nhắm tới. Chẳng hạn, vào năm 2000, các nhà
nghiên cứu Hà Lan chắc phải được các loài gặm nhấm ở khắp mọi nơi biết ơn vì
họ đã xử lý gen protein đột biến của một con coronavirus-chuột để nó chỉ tấn
công mèo.
Những protein
đột biến trên bề mặt của coronavirus xác định loài vật mà nó có thể nhiễm. Ảnh:
CDC.gov
Các nhà virus học bắt đầu nghiên cứu về những
coronavirus dơi một cách ráo riết sau khi chúng trở thành nguồn gốc của cả dịch
SARS1 và MERS. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu muốn hiểu cần có những thay đổi
nào xảy ra trong các protein đột biến của virus dơi trước khi nó có thể lây
nhiễm sang người.
Các nhà nghiên cứu tại Viện Virus học Vũ Hán,
do bà Shi Zheng-li [Thạch Chính Lệ] hay “Người đàn bà Dơi”, chuyên gia hàng
đầu của Trung Quốc về virus dơi lãnh đạo, đã tổ chức các chuyến thám hiểm thường
xuyên đến các hang động tràn ngập dơi ở Vân Nam, miền nam Trung Quốc và thu
thập khoảng một trăm loài coronavirus dơi khác nhau.
Sau đó bà Shi hợp tác với Ralph S. Baric, một
nhà nghiên cứu coronavirus xuất sắc tại Đại học Bắc Carolina. Công trình của
họ tập trung vào sự tăng cường khả năng của virus dơi tấn công con người để
“khảo sát tiềm năng xuất hiện (tức là tiềm năng lây nhiễm sang người) của
các CoV dơi [coronavirus dơi] đang lưu hành.” Để theo đuổi mục tiêu này, vào
tháng 11 năm 2015, họ đã tạo ra một loại virus mới bằng cách lấy cột trụ của
virus SARS1 và thay thế protein đột biến của nó bằng một protein từ virus dơi (được
gọi là SHC014-CoV). Loại virus được chế tạo này có thể lây nhiễm sang các tế
bào của đường thở của con người, ít nhất là khi được thử nghiệm với quá trình
nuôi cấy những tế bào như vậy trong phòng thí nghiệm.
Virus SHC014-CoV / SARS1được gọi là chimera (quái
vật đuôi rắn mình dê đầu sư tử) vì bộ gen của nó chứa vật chất di truyền từ
hai chủng virus. Nếu virus SARS2 được chế biến trong phòng thí nghiệm của
Shi, thì nguyên mẫu trực tiếp của nó sẽ là chimera SHC014-CoV/SARS1, mối nguy
hiểm tiềm tàng khiến nhiều nhà quan sát quan tâm và gây thảo luận sôi nổi.
Simon Wain-Hobson, nhà virus học tại Viện
Pasteur Paris nói: “Nếu virus thoát ra ngoài, không ai có thể đoán được quỹ đạo
của nó.”
Baric và Shi đề cập đến những nguy cơ rõ ràng
trong bài viết của họ nhưng cho rằng chúng nên được cân nhắc dựa trên lợi ích
của việc báo trước sự lan tỏa trong tương lai. Là những nhà khoa học có
thẩm quyền thẩm định, họ viết, “có thể thấy rằng theo đuổi các nghiên cứu
tương tự xây dựng các virus chimeric dựa trên các chủng đang lưu hành là quá
liều lĩnh.” Do các hạn chế khác nhau đang được áp dụng đối với nghiên cứu
tăng-chức-năng (GoF), theo quan điểm của họ các vấn đề đã đi đến một “giao
lộ của các mối quan tâm nghiên cứu GoF; tiềm năng chuẩn bị cho và giảm thiểu
các đợt bùng phát trong tương lai phải được cân nhắc với nguy cơ tạo ra các mầm
bệnh nguy hiểm hơn. Trong việc phát triển các chính sách tiến tới, điều quan
trọng là phải xem xét giá trị của dữ liệu mà những nghiên cứu này phát ra và
liệu các loại nghiên cứu virus chimeric này có bảo đảm cái lợi của việc
tiếp tục nghiên cứu so với các nguy cơ gắn liền với chúng hay không. ”
20, tháng Năm
2020, ảnh của Viện Virus học Vũ Hán ở thành phố Vũ Hán, nơi tiến hành
nghiên cứu coronaviruses dơi. (Ảnh: Kyodo News via Getty Images)
Tuyên bố đó được đưa ra vào năm 2015. Từ nhận
thức muộn màng của năm 2021, người ta có thể nói rằng giá trị của các
nghiên-cứu-tăng-chức-năng trong việc ngăn chặn đại dịch SARS2 là bằng không.
Nguy cơ là thảm khốc, nếu thực sự virus SARS2 đã được tạo ra trong một thí
nghiệm tăng-chức-năng.
Bên trong Viện
Virus học Vũ Hán.
Baric
đã phát triển và dạy cho Shi một phương pháp chung để sử dụng coronavirus dơi tấn
công các loài khác. Các mục tiêu cụ thể là tế bào người được nuôi lớn trong
các mẻ cấy và nhân hóa chuột. Những con chuột trong phòng thí nghiệm này,
vật đóng-thế rẻ tiền và phù hợp với đạo đức cho các đối tượng là con người,
được xử lý gen để mang phiên bản người của một loại protein gọi là ACE2 bám
trên bề mặt của các tế bào trên đường thở.
Shi quay trở lại phòng thí nghiệm của mình tại
Viện Virus học Vũ Hán và tiếp tục công việc mà bà đã bắt đầu về công nghệ xử
lý gen coronavirus để tấn công tế bào người. Sao chúng tôi có thể chắc chắn
như vậy?
Bởi vì, bằng một sự quanh co kỳ lạ trong câu
chuyện, công việc của bà đã được tài trợ bởi Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm
Quốc gia (NIAID), một bộ phận của Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH). Và các
đề nghị tài trợ cho công việc của bà, vốn là một vấn đề có hồ sơ công khai,
nêu chính xác những gì bà định làm với số tiền đó.
Các khoản tài trợ được giao cho nhà thầu
chính, Daszak của EcoHealth Alliance, ông này giao thầu phụ cho Shi. Dưới đây
là phần trích dẫn từ các khoản tài trợ cho các năm tài chính 2018 và 2019.
(“CoV” là viết tắt của coronavirus và “S protein” đề cập đến protein đột biến của
virus).
“Thử nghiệm dự đoán về sự lây truyền giữa các
loài của CoV. Các mô hình dự đoán về phạm vi vật chủ (tức là tiềm năng xuất hiện)
sẽ được kiểm tra bằng thực nghiệm bằng cách sử dụng di truyền ngược, các xét
nghiệm liên kết giả-virus với thụ thể, và các thí nghiệm lây nhiễm virus trên
một loạt các mẫu cấy tế bào từ các loài khác nhau và chuột được nhân hóa. “
“Chúng tôi sẽ sử dụng dữ liệu chuỗi protein S,
công nghệ nhân bản lây nhiễm, thí nghiệm lây nhiễm trong ống nghiệm và trong cơ
thể và phân tích liên kết thụ thể để kiểm tra giả thuyết rằng% các ngưỡng
phân kỳ trong chuỗi protein S đoán trước tiềm năng lan tỏa.”
Theo ngôn ngữ phi kỹ thuật điều này có nghĩa
là Shi bắt đầu tạo ra các coronavirus mới với khả năng lây nhiễm cao nhất có thể
cho các tế bào của con người. Kế hoạch của bà là lấy các gen mã hóa cho các
protein đột biến sở hữu nhiều loại ái lực đo được đối với tế bào người, từ cao
đến thấp. Bà có thể sẽ chèn từng gen đột biến này vào cột trụ của một số bộ
gen virus (“di truyền ngược” và “công nghệ nhân bản lây nhiễm”), tạo ra một loạt
virus chimeric. Sau đó, những virus chimeric này sẽ được kiểm tra khả năng tấn
công các mẻ nuôi cấy tế bào người (“trong ống nghiệm”) và chuột được nhân
hóa (“trong cơ thể”). Và thông tin này sẽ giúp dự đoán sự dễ “lây lan”, sự
nhảy của coronavirus từ dơi sang người.
Quan điểm phương pháp luận này được tạo ra
để tìm kiếm sự kết hợp tốt nhất giữa trụ cột của coronavirus và protein đột
biến để lây nhiễm các tế bào người. Phương pháp này có thể đã tạo ra các virus
giống SARS2, và thực sự có thể đã tạo ra chính virus SARS2 với sự kết hợp phù hợp
giữa trụ cột của virus và protein đột biến.
Vẫn chưa thể khẳng định rằng Shi đã tạo ra hay
chưa tạo ra SARS2 trong phòng thí nghiệm của bà vì các hồ sơ của bà đã được
niêm phong, nhưng có vẻ như bà chắc chắn đã đi đúng đường đã vạch ra khi
làm như vậy. Richard H. Ebright, một nhà sinh học phân tử tại Đại học Rutgers
và là chuyên gia hàng đầu về an toàn sinh học nói: “Rõ ràng là Viện Vi rút học
Vũ Hán đã xây dựng một cách có hệ thống các coronavirus chimeric mới và đang
đánh giá khả năng lây nhiễm các tế bào người và chuột biểu hiện ACE2 ở người”.
“Ebright nói, “Cũng rõ ràng là, tùy thuộc
vào bối cảnh bộ gen không đổi được chọn để phân tích, công trình này có thể tạo
ra SARS-CoV-2 hoặc một tiền thân gần của SARS-CoV-2.” “Bối cảnh bộ gen” là
nói đến trụ cột của virus cụ thể được sử dụng làm cơ sở thử nghiệm cho
protein đột biến.
Kịch bản thoát-ra-từ-phòng-thí-nghiệm về nguồn
gốc của vi rút SARS2, như bây giờ có lẽ đã là hiển nhiên, không chỉ là chỉ đạo
theo hướng của Viện Vi rút học Vũ Hán. Đây là một đề xuất chi tiết, dựa trên dự
án cụ thể do NIAID tài trợ.
Ngay cả khi khoản tài trợ yêu cầu kế hoạch làm
việc được mô tả ở trên, làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng kế hoạch đã được
thực hiện trên thực tế? Về điều này, chúng ta có thể dựa vào lời của Daszak,
người đã phản đối rất nhiều trong 15 tháng qua rằng kịch bản thoát ra từ
phòng thí nghiệm là một thuyết âm mưu lố bịch do những kẻ đánh Trung Quốc bịa
đặt ra.
Vào ngày 9 tháng 12 năm 2019, trước khi sự
bùng nổ của đại dịch được biết đến rộng rãi, Daszak đã trả lời một cuộc phỏng vấn,
trong đó ông ta nói về cách các nhà nghiên cứu tại Viện Virus học Vũ Hán đã lập
lại chương trình protein đột biến và tạo ra các coronavirus chimeric có khả
năng lây nhiễm cho chuột nhân hóa.
“Và bây giờ, như bạn biết, sau 6 hoặc 7 năm
làm việc này, chúng tôi đã tìm thấy hơn 100 coronavirus mới liên quan đến SARS,
rất gần với SARS,” Daszak nói vào khoảng phút thứ 28 của cuộc phỏng vấn. “Một
số trong số chúng xâm nhập vào tế bào người trong phòng thí nghiệm, một số có
thể gây bệnh SARS trên các mô hình chuột được nhân hóa và không thể điều trị bằng
trị liệu kháng thể đơn dòng [therapeutic monoclonals], và bạn không thể tiêm vắc-xin
chống lại chúng. Vì vậy, đây là một mối nguy hiểm rõ ràng và đang hiển hiện….
“Người phỏng vấn: Ông nói rằng đây là những loại
coronavirus đa dạng và người ta không thể tiêm vắc xin chống lại chúng cũng
như không có phương tiện chống virus – vậy chúng ta phải làm gì?
“Daszak: Ờ, tôi nghĩ là… coronavirus – bạn có
thể thao tác chúng trong phòng thí nghiệm khá dễ dàng. Protein đột biến thúc
đẩy rất nhiều điều xảy ra với coronavirus, trong nguy cơ lây truyền từ động vật
sang người. Vì vậy, bạn có thể hiểu được trình tự của nó, bạn có thể xây dựng
protein và chúng tôi làm việc rất nhiều với Ralph Baric tại UNC để làm điều
này. Chèn vào cột trụ của một loại virus khác và thực hiện một số công việc
trong phòng thí nghiệm. Vì vậy, bạn có thể dự đoán nhiều hơn khi bạn tìm thấy một
chuỗi. Bạn đã hiểu sự đa dạng này. Giờ đây, tiến trình hợp lý của vắc-xin là,
nếu bạn định phát triển vắc-xin cho bệnh SARS, bây giờ mọi người sắp gọi
SARS là đại dịch, nhưng chúng ta hãy chèn vào một số thứ khác và có được một
loại vắc-xin tốt hơn”. Các phần chèn vào mà ông ta đề cập đến có lẽ bao gồm một
phần tử được gọi là vị trí phân cắt furin, được thảo luận dưới đây, làm tăng
rất mạnh khả năng lây nhiễm của virus đối với tế bào người.
Bằng lối nói rời rạc, ngắc ngứ, Daszak
đang đề cập đến thực tế là một khi bạn đã tạo ra một loại coronavirus mới có thể
tấn công các tế bào của con người, bạn có thể lấy protein đột biến và làm cơ sở
cho vắc-xin.
Người ta chỉ có thể tưởng tượng phản ứng của
Daszak khi ông ta nghe nói về sự bùng phát của dịch bệnh ở Vũ Hán vài ngày sau
đó. Ông ta hẳn phải biết rõ hơn ai hết mục tiêu của Viện Vũ Hán là làm cho
virus coronavirus dơi lây sang người, cũng như những yếu kém của viện trong việc
bảo vệ cho các nhà nghiên cứu của chính họ khỏi bị nhiễm bệnh.
Nhưng thay vì cung cấp cho các cơ quan y tế
công cộng nguồn thông tin dồi dào mà ông ta có quyền sử dụng, ông ta đã
ngay lập tức phát động một chiến dịch quan hệ công chúng để thuyết phục thế giới
rằng đại dịch không thể do một trong những loại vi-rút mà viện đã chế biến
gây ra. “Ý tưởng rằng loại vi-rút này thoát ra từ một phòng thí nghiệm chỉ
thuần túy là một chuyện vớ vẩn. Đơn giản là nó không đúng sự thật,” ông ta
tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 4 năm 2020.
Các sắp đặt an
toàn tại Viện Virology Vũ Hán.
Daszak có thể không biết, hoặc có lẽ ông ta đã
biết quá rõ, lịch sử lâu dài của các loại virus thoát ra từ ngay cả những phòng
thí nghiệm tốt nhất. Virus đậu mùa đã ba lần thoát khỏi các phòng thí nghiệm ở
Anh vào những năm 1960 và 1970, gây ra 80 ca nhiễm và 3 trường hợp tử vong.
Các vi rút nguy hiểm đã bị rò rỉ ra khỏi phòng thí nghiệm hầu như hàng năm kể từ
đó. Trong thời gian gần đây, virus SARS1 đã tỏ ra là một nghệ sĩ chạy trốn thực
sự, rò rỉ từ các phòng thí nghiệm ở Singapore, Đài Loan và không dưới bốn lần từ
Viện Vi rút Quốc gia Trung Quốc ở Bắc Kinh.
Một lý do khiến SARS1 rất khó xử lý là không
có vắc-xin để bảo vệ nhân viên phòng thí nghiệm. Như Daszak đã nhắc đến trong
cuộc phỏng vấn ngày 19 tháng 12 được trích dẫn ở trên, cả các nhà nghiên cứu
Vũ Hán nữa cũng đã không thể phát triển vắc-xin chống lại coronavirus mà họ đã
thiết kế để lây nhiễm tế bào người. Có thể họ đã không được bảo vệ chống lại
virus SARS2, nếu nó được tạo ra trong phòng thí nghiệm của họ, như các đồng
nghiệp ở Bắc Kinh của họ chống lại SARS1.
Một lý do thứ hai cho sự nguy hiểm nghiêm trọng
của các coronavirus mới là do mức độ an toàn cần thiết của phòng thí nghiệm. Có
bốn mức độ an toàn, được ký hiệu BSL1 đến BSL4, với BSL4 là mức độ nghiêm
ngặt nhất và được thiết kế cho các mầm bệnh chết người như vi rút Ebola.
Viện Virus học Vũ Hán đã có một phòng thí nghiệm
BSL4 mới, nhưng tình trạng sẵn sàng của nó đã khiến các thanh tra Bộ Ngoại
giao (Mỹ) đến thăm nó từ Đại sứ quán Bắc Kinh vào năm 2018 khá lo ngại.
“Phòng thí nghiệm mới thiếu trầm trọng các kỹ thuật viên và nghiên cứu viên được
đào tạo thích hợp cần thiết để vận hành an toàn phòng thí nghiệm có tính cách
ly cao này,” các thanh tra viết trong một bức điện ngày 19 tháng 1 năm 2018.
Tuy nhiên, vấn đề thực sự không phải là tình
trạng không an toàn của phòng thí nghiệm BSL4 ở Vũ Hán mà là thực tế là các nhà
virus học trên toàn thế giới không thích làm việc trong điều kiện BSL4. Bạn phải
mặc một bộ đồ không gian, thực hiện các thao tác trong những tủ kín và chấp nhận
rằng mọi thứ sẽ lâu hơn gấp đôi. Vì vậy, các quy tắc ấn định cho mỗi loại vi
rút một mức độ an toàn nhất định là lỏng lẻo hơn một số người có thể nghĩ là thận
trọng.
Trước năm 2020, các nhà virus học ở Trung Quốc
và các nơi khác tuân theo các quy tắc yêu cầu các thí nghiệm với virus SARS1 và
MERS phải được tiến hành trong điều kiện BSL3. Nhưng tất cả các coronavirus dơi
khác có thể được nghiên cứu trong BSL2, cấp độ thấp hơn kế nó. BSL2 yêu cầu
thực hiện các biện pháp phòng ngừa an toàn khá tối thiểu, chẳng hạn như mặc áo
khoác và găng tay phòng thí nghiệm, không hút chất lỏng trong pipette [ống
thủy tinh chia vạch để chuyển một thể tích nhất định chất lỏng] và
treo các dấu hiệu cảnh báo nguy cơ sinh học. Tuy nhiên, một thử nghiệm tăng chức
năng được thực hiện trong BSL2 có thể tạo ra một tác nhân dễ lây nhiễm hơn cả
SARS1 hoặc MERS. Và nếu nó xảy ra, thì các nhân viên phòng thí nghiệm sẽ có
nguy cơ lây nhiễm cao, đặc biệt là nếu chưa được tiêm chủng.
Phần lớn công việc của Shi về tăng cường chức
năng trong coronavirus được thực hiện ở mức độ an toàn BSL2, như được nêu trong
các ấn phẩm của bà và các tài liệu khác. Bà đã nói trong một cuộc phỏng vấn với
tạp chí Science rằng “Nghiên cứu coronavirus trong phòng thí nghiệm của chúng
tôi được thực hiện trong các phòng thí nghiệm BSL-2 hoặc BSL-3.”
“Rõ ràng là một số hoặc tất cả công việc này
được thực hiện theo tiêu chuẩn an toàn sinh học – mức độ an toàn sinh học 2,
là mức độ an toàn sinh học của một phòng khám nha khoa tiêu chuẩn của Hoa Kỳ –
sẽ gây ra nguy cơ lây nhiễm cao không thể chấp nhận được cho nhân viên phòng
thí nghiệm khi tiếp xúc với một virus có các đặc tính truyền nhiễm của
SARS-CoV2.” Ebright nói.
“Cũng rõ ràng,” ông nói thêm, “công việc này lẽ
ra không bao giờ nên được tài trợ và không bao giờ nên được thực hiện”.
Đây là quan điểm mà ông giữ bất kể đã từng
có virus SARS2 bên trong một phòng thí nghiệm hay không.
Có vẻ như mối quan tâm về điều kiện an toàn tại
phòng thí nghiệm Vũ Hán đã không bị đặt sai chỗ. Theo một tờ thông tin do Bộ
Ngoại giao phát hành vào ngày 15 tháng 1 năm 2021, “Chính phủ Hoa Kỳ có lý do để
tin rằng một số nhà nghiên cứu trong WIV đã bị bệnh vào mùa thu năm 2019, trước
khi ca bệnh đầu tiên của đợt bùng phát được xác định, với các triệu chứng
phù hợp với cả hai COVID-19 và các bệnh thông thường theo mùa”.
David Asher, một thành viên của Viện Hudson và
là cựu cố vấn của Bộ Ngoại giao, đã cung cấp thêm thông tin chi tiết về sự cố
tại một cuộc hội thảo. Ông nói: Hiểu biết về sự cố này đến từ sự kết hợp
giữa thông tin công khai và “một số thông tin cấp cao do cộng đồng tình báo của
chúng tôi thu thập”. Ba người làm việc tại phòng thí nghiệm BSL3 của viện này đổ
bệnh cho nhau trong vòng một tuần với các triệu chứng nghiêm trọng phải nhập viện.
Đây là “cụm đầu tiên được biết đến mà chúng tôi biết, gồm những nạn nhân của
cái mà chúng tôi tin là COVID-19”. Ông nói, không thể loại trừ hoàn toàn bệnh
cúm nhưng trong những trường hợp này thì có vẻ không phải.
(Còn tiếp một kỳ)
* Chiếc hộp Pandora: điển cố
trong thần thoại Hy Lạp, là chiếc hộp kỳ bí do nàng Pandora cất giữ với lời căn
dặn của thần Zeux không được mở nó ra. Nhưng vì tò mò nàng Pandora đã làm trái
lời thần Zeux, và thế là những gì từ trong chiếc hộp xuất hiện đã khiến cho mọi
điều bất hạnh như thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… tràn ngập khắp thế gian.
Cuối cùng, chiếc hộp chỉ còn sót lại một điều là “hy vọng” để cho loài người
để có thể tiếp tục sống.
Nguồn bản gốc: https://thebulletin.org/2021/05/the-origin-of-covid-did-people-or-nature-open-pandoras-box-at-wuhan/
Tác giả Nicholas Wade:
Nicholas Wade là một nhà văn, biên tập viên và tác
giả khoa học đã làm việc trong bộ biên tập của Nature, Science và New York Times trong
nhiều năm.
Dịch giả gửi BVN
No comments:
Post a Comment