Saturday, 7 February 2026

TIN & BÀI NGÀY 06/02/2026

 



TIN & BÀI NGÀY 06/02/2026

 

 

06/02/2026

BẤT ĐỒNG QUANH CHUYỆN ICE, DHS SẼ PHẢI ĐÓNG CỬA? (Hiếu Chân / Người Việt)

VỤ ÁM SÁT TỜ THE WASHINGTON POST (Ashley Parker / DCV Online)

TỔNG THỐNG PHÁP CỬ CỐ VẤN NGOẠI GIAO SANG NGA ĐỂ CHUẨN BỊ NỐI LẠI ĐỐI THOẠI THƯỢNG ĐỈNH

HOA KỲ và IRAN BẮT ĐẦU ĐÀM PHÁN TẠI OMAN SAU KHI HĂM DỌA LẪN NHAU (Anh Vũ|Trọng Thành – RFI)

NHÂN QUYỀN CỦA RIÊNG AI? (Nina Hòa Bình Lê / Việt Báo)

AI GIẾT THE POST? (Kalynh Ngô / Việt Báo)

THẾ GIỚI HÔM NAY : 06/02/2026 (The Economist)

BÁO CALI TODAY NGÀY 06/02/2026

NGUOI VIET NEWS – NGÀY 06/02/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt – NGÀY 06/02/2026

ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ PHÁP  - RFI  |  NGÀY 06/02/2026

BBC NEWS TIẾNG VIỆT - NGÀY 06/02/2026

BÀI MỚI NGÀY 06/02/2026 (Bauxite Việt Nam)

BÀI MỚI NGÀY 06/02/2026 (Báo Tiếng Dân)

TIN & BÀI NGÀY 05/02/2026

 





BẤT ĐỒNG QUANH CHUYỆN ICE, DHS SẼ PHẢI ĐÓNG CỬA? (Hiếu Chân / Người Việt)

 



 

Bất đồng quanh chuyện ICE, DHS sẽ phải đóng cửa?

Hiếu Chân/Người Việt

February 6, 2026 : 7:00 PM

 https://www.nguoi-viet.com/tin-chinh/bat-dong-quanh-chuyen-ice-dhs-se-phai-dong-cua/

 

Bất đồng giữa Dân Chủ và Cộng Hòa trong Quốc Hội đến hôm nay vẫn chưa giảm căng thẳng, có nguy cơ dẫn tới chuyện Bộ Nội An phải đóng cửa vì không có ngân sách.

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/02/BL-ICE-1-1920x1280.jpg

Các nhà quan sát ghi hình đặc vụ ICE thiết lập vành đai an ninh sau khi một trong những chiếc xe của họ bị thủng lốp trên đường Penn Avenue hôm 5 Tháng Hai tại Minneapolis, Minnesota. (Hình minh họa: Stephen Maturen/Getty Images)

 

Hôm Thứ Ba, 3 Tháng Hai, Hạ Viện bỏ phiếu thông qua việc phân bổ ngân sách cho một số bộ ngành chính phủ, gồm các Bộ Lao Động, Ngoại Giao, Giao Thông và Tài Chính, chấm dứt việc đóng cửa một phần chính phủ Mỹ kéo dài bốn ngày; riêng ngân sách dành cho Bộ Nội An (Department of Homeland Security – DHS) chỉ được gia hạn hai tuần, đến ngày 13 Tháng Hai. Nếu đến Thứ Sáu tuần sau mà ngân sách cho DHS vẫn chưa được phê chuẩn thì bộ này có nguy cơ dừng hoạt động.

 

Nội dung bất đồng giữa Dân Chủ và Cộng Hoà chung quanh vấn đề DHS là gì và tại sao DHS lại trở thành điểm nóng tranh cãi?

 

Vấn đề là cách thực thi pháp luật

 

DHS là bộ bao gồm Cảnh Sát Di Trú (ICE) và Lực Lượng Tuần Tra Biên Giới (CBP) cùng một số cơ quan khác. Sau khi trở lại Toà Bạch Ốc trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống Donald Trump sử dụng DHS làm lực lượng chính để thực hiện chính sách di trú như đóng cửa biên giới, truy lùng, bắt giữ và trục xuất hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp, nhắm vào các tiểu bang do đảng Dân Chủ kiểm soát. Chính sách này, tuy cứng rắn hơn nhiều so với các chính phủ tiền nhiệm, nhưng nhìn chung được khoảng 40% người Mỹ ủng hộ vì đáp ứng tâm lý kỳ thị người nhập cư của thành phần da trắng bảo thủ.

 

Nhưng vấn đề không nằm ở chính sách mà ở cách thực thi của các lực lượng chấp pháp ICE và CBP. Các lực lượng này bố ráp tràn lan, không chỉ bắt giữ những di dân bất hợp pháp vi phạm pháp luật mà cả người đang cư trú hợp pháp, không có tiền sử phạm tội, thậm chí cả công dân Mỹ. Hình ảnh những đặc vụ ICE, CPB vũ trang tận răng, bịt mặt, sử dụng bạo lực tuỳ tiện, lùng sục khắp các đô thị đã gây lo sợ và phẫn nộ khắp các đô thị từ Los Angeles, Portland đến Minneapolis. Thêm vào đó, nhân viên DHS còn được chính quyền liên bang “bảo kê” để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, để phớt lờ mệnh lệnh của toà án các cấp, trở thành một dạng “kiêu binh” không thể chấp nhận trong một xã hội dân chủ. Khảo sát của NYT/Siena hồi giữa Tháng Giêng ghi nhận có đến 61% người Mỹ cho rằng, ICE đã “đi quá xa” (gone too far) trong việc thực thi chính sách di trú.

 

Sự kiện hai công dân Mỹ da trắng đều 37 tuổi, Renee Nicole Good và Alex Pretti, bị giết chết tàn bạo và oan uổng dưới họng súng của các đặc vụ ICE và CBP ở Minneapolis trong tháng qua là giọt nước tràn ly, khơi dậy một cuộc phản kháng mạnh mẽ trên khắp nước Mỹ, đòi chính quyền liên bang rút lực lượng ICE ra khỏi các thành phố, thậm chí đòi giải tán lực lượng này.

 

Đảng Dân Chủ yêu cầu cải cách ICE

 

Đảng Dân Chủ trong Quốc Hội, tuy không cực đoan tới mức đòi giải giáp ICE nhưng không chấp nhận gia hạn ngân sách nếu DHS không chấp nhận thay đổi cách hành xử, cách thực thi luật di trú mà họ đang thể hiện ở Minneapolis. Hôm thứ Tư 4 tháng Hai, TNS Schumer và lãnh đạo khối thiểu số Hạ Viện Hakeem Jeffries (Dân Chủ-New York) đã gửi thư cho lãnh đạo phe đa số Thượng Viện John Thune (Cộng Hoà – South Dakota) và Chủ tịch Hạ Viện Mike Johnson (Cộng Hoà-Louisiana) nêu rõ 10 yêu cầu mà đảng Dân Chủ muốn đưa vào dự luật phân bổ thêm ngân sách cho DHS. Những yêu cầu này, nếu được đưa vào luật, chúng sẽ làm thay đổi hành vi của các lực lượng ICE và CBP trên thực địa.

 

Lá thư nêu lên 10 yêu cầu đơn giản, có thể tóm tắt như sau: Yêu cầu các đặc vụ liên bang chỉ được phép vào nhà riêng khi có lệnh khám xét của tòa án; các đặc vụ không được đeo mặt nạ che mặt và phải hiển thị tên, cơ quan và số ID trên đồng phục giống như các sĩ quan thực thi pháp luật khác. Yêu cầu DHS chấm dứt việc phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc – chấm dứt việc bắt giữ cá nhân dựa trên màu da, nơi làm việc hoặc ngôn ngữ – và các cuộc đột kích vào các địa điểm được gọi là nhạy cảm: cơ sở y tế, trường học, cơ sở chăm sóc trẻ em, nhà thờ, điểm bỏ phiếu và tòa án. Yêu cầu xác minh một người không phải là công dân Hoa Kỳ trước khi đưa người đó vào trại giam giữ.

 

Yêu cầu các đặc vụ phải tuân thủ chính sách sử dụng vũ lực hợp lý và nếu vi phạm phải bị đình chỉ công tác trong quá trình điều tra. Yêu cầu các đặc vụ liên bang phối hợp với chính quyền địa phương và tiểu bang, và các chính quyền đó có quyền tài phán đối với các đặc vụ liên bang vi phạm pháp luật. Yêu cầu các cơ sở giam giữ của DHS phải có cùng tiêu chuẩn với mọi cơ sở giam giữ nào khác và người bị giam giữ được tiếp cận luật sư của họ; các tiểu bang có thể kiện nếu các điều kiện đó không được đáp ứng, và các thành viên Quốc Hội phải có quyền vào thăm các trung tâm này để giám sát mà không cần báo trước.

 

Yêu cầu các đặc vụ DHS sử dụng camera đeo trên người để bảo đảm trách nhiệm giải trình nhưng cấm sử dụng để thu thập và lưu trữ thông tin về những người biểu tình. Yêu cầu các đặc vụ DHS mặc đồng phục tiêu chuẩn như các lực lượng thực thi pháp luật thông thường, chứ không phải lực lượng bán quân sự.

 

Theo các nhà lãnh đạo đảng Dân Chủ, các yêu cầu này là biện pháp hợp lý bảo vệ quyền hiến định của người Mỹ và đảm bảo việc thực thi pháp luật có trách nhiệm.

 

Đảng Cộng Hòa phản bác

 

Tuy nhiên, phía Cộng Hoà đa số thẳng thừng bác bỏ các yêu cầu cải cách của Dân Chủ và cho biết họ “không thể đàm phán.” Thượng Nghị Sĩ John Thune cho rằng những yêu cầu này “rất phi thực tế và thiếu nghiêm túc,” và Thượng Nghị Sĩ John Barrasso của Wyoming, người đứng thứ hai trong đảng Cộng hòa tại Thượng Viện, gọi chúng là “cực đoan và quá khích” và là “danh sách những điều ước của phe cực tả.”

 

Một số vị dân cử Cộng Hoà còn tố cáo đảng Dân Chủ “quỷ hoá” các đặc vụ liên bang nhằm gây khó khăn cho việc bắt giữ và trục xuất người nhập cư bất hợp pháp, cản trở việc thi hành chính sách di trú của chính quyền Trump.

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/02/BL-ICE-2-1920x1280.jpg

Những người biểu tình chặn đường giao thông trên đại lộ Broadway khi họ phản đối ICE tại đại học Columbia University hôm 5 Tháng Hai tại thành phố New York. (Hình minh họa: Michael M. Santiago/Getty Images)

 

Các quan chức của DHS cũng phản đối các yêu cầu của đảng Dân Chủ. Về yêu cầu cấm đặc vụ DHS che mặt chẳng hạn, DHS nói rằng che mặt là cần thiết để bảo vệ các đặc vụ khỏi bị nhận diện, bị đe doạ hoặc bạo lực. Nhưng lập luận đó trái với thực tế là hầu như mọi nhân viên công lực của tiểu bang và và địa phương đều công khai danh tính, không che mặt và đeo bảng tên khi thi hành nhiệm vụ. Nhiều người cho rằng, đặc vụ DHS đeo mặt nạ giấu mặt là để tránh chịu trách nhiệm cho hành vi của họ, để hành xử tuỳ tiện bất chấp luật pháp và cũng để tạo ra bầu không khí sợ hãi trên các đường phố Mỹ.

 

Nhà báo Adam Serwer viết trên The Atlantic: “Che mặt không có tác dụng bảo vệ đặc vụ liên bang khỏi nguy hiểm cho bằng tạo điều kiện cho họ dễ dàng làm những việc vi hiến.”

Về yêu cầu không được khám nhà riêng khi chưa có lệnh của toà án, DHS cho rằng các đặc vụ của họ được dùng “lệnh hành pháp” (administrative warrant) thay cho “lệnh tư pháp” (judicial warrant) mà Tu Chính Án Thứ Tư quy định để lục soát nhà riêng của những người nhập cư và người cư trú bất hợp pháp thì không được hưởng sự bảo vệ của Tu Chính Án Thứ Tư giống như công dân Mỹ.

 

Trận chiến gian khổ

 

Đến ngày 6 Tháng Hai, lãnh đạo phe đa số Cộng Hoà trong Thượng Viện công khai thừa nhận rằng không có thỏa thuận nào trong tầm tay, nghĩa là số phận của DHS sau ngày 13 Tháng Hai vẫn chưa được định đoạt. Báo The New York Times nhận định, đạt được một thỏa thuận vừa tiếp tục tài trợ cho DHS vừa thực hiện những yêu cầu mới đối với ICE là một “trận chiến cực kỳ gian khó” (a steep uphill battle).

 

Nếu bất đồng giữa Dân Chủ và Cộng Hoà không được giải quyết, khoản ngân sách hơn $64 tỷ của DHS cho năm tài chính kết thúc vào 30 Tháng Chín 2026 sẽ không được phân bổ, các cơ quan thuộc DHS như FEMA (Cục Ứng Phó Tình Trạng Khẩn Cấp Liên Bang), TSA (Cục An Ninh Hàng Không) và CG (Cảnh Sát Biển) sẽ không có tiền tiếp tục hoạt động, ảnh hưởng xấu tới đời sống người dân. Nhưng riêng ICE sẽ không bị ảnh hưởng vì nguồn ngân sách khổng lồ, lên tới $75 tỷ, cho ICE được ấn định tại đạo luật Big Beautiful Act năm ngoái. Đây quả là chuyện trái khoáy bởi vì chính ICE mới là điểm nóng bất đồng và cần được cải tổ hơn cả.

 

Thượng Nghị Sĩ John Thune hy vọng cuối cùng đôi bên sẽ tìm được tiếng nói chung và cuộc đối đầu hiện nay sẽ không gây khó khăn nhiều hơn cho hoạt động “bắt giữ, trục xuất những kẻ nhập cư bất hợp pháp nguy hiểm cho đất nước.” Tổng Thống Trump, trả lời phỏng vấn đài NBC hôm Thứ Tư, 4 Tháng Hai cũng có vẻ dịu giọng: “Tôi biết có lẽ chúng tôi có thể mềm mỏng hơn một chút,” ông nói.

 

Vẫn có cách thỏa hiệp để DHS làm tốt nhiệm vụ thực thi luật di trú mà không nhất thiết phải sử dụng những “hung thần trên đường phố” mang danh ICE, để ICE hành xử như những lực lượng thực thi pháp luật khác của đất nước – công khai, minh bạch và nhân văn trong tinh thần tôn trọng hiến pháp. Vấn đề là các chính trị gia lãnh đạo đất nước có ý chí chính trị để thỏa hiệp với nhau vì lợi ích của đất nước hay không. [dt]





VỤ ÁM SÁT TỜ THE WASHINGTON POST (Ashley Parker / DCV Online)

 



Vụ Ám Sát Tờ The Washington Post

Ashley Parker

DCV Online

February 6, 2026 

https://dcvonline.net/2026/02/06/vu-am-sat-to-the-washington-post/

 

HÌNH : https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/02/Wapo_.jpg

 

Đợt sa thải hôm nay là bước mới nhất trong kế hoạch tiêu diệt đặc tính của tờ báo này.

Chúng ta đang chứng kiến một vụ ám sát.

 

Tỷ phú Jeff Bezos, hiện là chủ tờ The Washington Post, cùng Will Lewis — người mà ông ta bổ nhiệm làm chủ nhiệm vào cuối năm 2023 — đang bắt đầu bước kế tiếp trong kế hoạch hủy diệt tất cả những gì từng tạo nên bản sắc của tờ báo này. The Washington Post đã hiện hữu gần 150 năm, từ một tờ báo địa phương của gia đình trở thành một định chế quốc gia không thể thiếu và là trụ cột của nền dân chủ. Nhưng nếu Bezos và Lewis tiếp tục đi theo con đường hiện nay, có thể tờ báo sẽ không còn sống được bao lâu nữa.

Trong những năm gần đây, họ liên tục cắt giảm nhân viên tòa soạn — khai tử tạp chí Chủ nhật, giảm nhân viên hàng trăm người, gần như cắt đôi ban Metro (ban báo chí Thủ đô) — mà không hề công nhận những quyết định kinh doanh sai lầm đã dẫn đến tình trạng này, cũng như không đưa ra một viễn kiến rõ ràng cho tương lai. Sáng nay, chủ bút Matt Murray cùng giám đốc nhân sự Wayne Connell thông báo cho nhân viên trong một cuộc họp trực tuyến đầu ngày rằng tờ báo sẽ đóng cửa ban Thể thao và mục Sách, chấm dứt chương trình phát thanh đặc trưng của mình, và cắt giảm sâu rộng hai ban Quốc tế và Metro, bên cạnh những đợt sa thải lớn ở mọi phân sở. Ban lãnh đạo Post — thậm chí không đủ can đảm để đối diện trực tiếp với nhân viên — sau đó để mọi người ngồi chờ điện thư báo xem họ còn giữ được việc hay không. (Lewis, người đã mang tiếng thường xuyên đi làm trễ, nếu có đến tòa soạn, cũng không tham dự buổi họp Zoom đó.)

Tờ Post có thể sẽ còn trỗi dậy, nhưng đây chính là di sản mà họ để lại.

 

Những gì đang xẩy ra với The Washington Post là một bi kịch công khai, nhưng đối với người viết, nó còn mang tính riêng tư sâu sắc.

 

Khi tầng hầm nhà cha mẹ tôi bị ngập nước gần đây, giữa những thùng ảnh cũ và đĩa nhạc vinyl ướt sũng, chúng tôi tìm thấy quyển sổ ghi chép về thời thơ ấu của em gái tôi. Ở trang dành cho những kỷ niệm trong tháng em ra đời — đáng lẽ để ghi chuyện ông bà đến thăm, hay vài dòng mô tả tiếng oe oe đầu đời — cha tôi lại ghi đầy tin tức trích từ tờ báo của thanh phố, The Washington Post.

 

“Căn bệnh AIDS.” “Vụ Irangate.” “Việc đề cử ông Bork vào Tối cao Pháp viện.” “Giải bóng bầu dục NFL đình công.” “Phố Wall có ngày tồi tệ nhất kể từ năm 1929!!!” “Hoa Kỳ đang đối diện với khủng hoảng rác — tức là thiếu nơi chôn lấp, nhất là vùng Đông Bắc.” (Công bằng mà nói, cha tôi làm trong ngành quản lý chất thải. Nhưng cũng thật đặc biệt… chào mừng cô con gái đến với thế giới!)

 

Nói cách khác, The Washington Post dường như đã hòa vào dòng máu gia đình tôi — in đậm trong những ký ức đầu đời, được gìn giữ giữa những kỷ vật như lọn tóc đầu tiên và những dòng ghi chú “truyền thống” khác (lần thay tã đầu tiên, tiếng nói đầu tiên).

 

Lớn lên ở Bethesda, Maryland, tôi không nhớ nổi có lúc nào Post không hiện diện trong đời sống tôi. Tôi từng cắt hình huấn luyện viên đội Redskins Joe Gibbs và tiền vệ Mark Rypien từ mục Thể thao để dán lên tường phòng ngủ năm cha tôi dạy tôi xem bóng bầu dục.

 

Ngay trước khi tôi tròn 12 tuổi, một nữ sinh trung học Walt Whitman — nơi tôi sắp nhập học — lái chiếc BMW trắng đâm vào gốc cây sau một đêm nhậu nhẹt với bạn bè. Chiếc xe gãy làm đôi, cô và một người bạn chết tại chỗ, hai người còn lại trọng thương. Tôi tìm đến The Washington Post để hiểu điều gì đã xẩy ra, để đối diện với hỗn hợp dữ dội giữa tuổi trẻ, đặc quyền, và bi kịch.

 

Sau này, tôi đọc Post để dò bảng điểm và bài tường thuật những trận bóng rổ của đội bóng trung học; để khâm phục những lực sĩ tài năng trong khu vực được chọn vào đội All-Met; và để theo dõi từng diễn biến vụ xạ thủ Washington D.C., kẻ khiến vùng thủ đô hoảng sợ và cả nước theo dõi từng ngày.

 

The Washington Post cũng chính là nơi tôi phải lòng nghề báo. Mỗi người yêu báo chí đều có mục họ đọc đầu tiên — Thể thao, Truyện tranh, hay Đời sống — và của tôi là mục Style. Mục này, ra mắt năm 1969, khác hẳn bất cứ thứ gì có trước đó hay sau này: một phần báo cho phép ký giả có thời gian, không gian, tự do và giọng điệu riêng để viết những thiên phóng sự dài, đầy sức hút — đủ sức sánh với các tạp chí thuộc trào lưu “Tân báo chí” cùng thời.

 

Đối với tôi, đó là nơi được giao cảm với những cây bút vĩ đại — đọc Libby Copeland, Robin Givhan, Paul Hendrickson, Sally Quinn, David Von Drehle, Gene Weingarten, Marjorie Williams — và ngẫm nghĩ xem họ đã làm thế nào để viết được như thế.

 

Rồi đến năm 2017, tôi gia nhập The Post với như một ký giả đưa tin Tòa Bạch Ốc thời Trump, và gắn bó tám năm tuyệt diệu. Tôi từng định sẽ ở lại mãi mãi.

 

Vì vậy, những gì đang xẩy ra ở Post hôm nay — và đã diễn ra từ một thời gian — không chỉ là chuyện nghề nghiệp, mà còn là chuyện của con tim. Nhưng điều này vượt quá cá nhân tôi, vượt khỏi bất kỳ con người riêng lẻ nào.

 

Lý giải ít hoài nghi nhất có lẽ là: Jeff Bezos không chú ý. Có thể — như nhiều người trong chúng tôi thuở đầu — ông ta bị cuốn hút bởi giọng Anh sang trọng cùng phong thái phóng túng giả tạo của Will Lewis, một vị “hoàng đế” mà chiếc áo may đo tinh xảo thật ra chẳng che giấu được sự trống rỗng bên trong.

Hoặc cũng có thể, như nhiều người yêu The Post lo sợ, việc tàn phá này chính là một phần của kế hoạch.

Những ký giả tôi quen ở Post luôn tỏ ra sẵn sàng — thậm chí háo hức — thích ứng với thời cuộc: có tinh thần sáng tạo và đổi mới trong giai đoạn biến động của ngành truyền thông. Nhưng dường như ban điều hành lại không biết phải dẫn dắt tờ báo đi đâu. Giữa vô số thất bại — về lãnh đạo, quản trị, kinh doanh, tưởng tượng, can đảm — điều duy nhất còn đứng vững chính là nghiệp làm báo.

Làm báo vốn dĩ là một nghề khắc nghiệt. Nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt khi Bezos, Lewis và bộ sậu của họ nói thứ ngôn ngữ doanh nghiệp khô khan (“Sửa, xây, mở rộng”) mà chẳng thể thực hiện — thậm chí chẳng thử thực hiện — những sáng kiến có thể biến tầm nhìn lớn lao của họ thành hiện thực. Họ khởi đầu năm 2025 bằng việc công bố một “Mục tiêu Lớn, Liều và Táo bạo”: tăng từ khoảng 2,5 triệu người ghi danh xem báo lên 200 triệu người trả lệ phí, dù vừa kết thúc năm trước trong cảnh mất hàng chục ngàn độc giả, rồi lại đổ lỗi cho giới ký giả vì những khó khăn của tờ báo.

Tôi không dám nói rằng mình biết cách giải quyết khó khăn tài chánh của The Post, hay có mô hình kinh doanh thành công cho một tờ báo địa phương đồng thời mang tầm quốc gia. Nhưng tôi biết điều gì sẽ mất đi nếu hai người này — những kẻ không hiểu The Post từng là gì, vẫn là gì, và có thể trở thành gì — tiếp tục đối xử với nó như một tài sản đang hấp hối, hoặc như một quân cờ mặc cả với một vị tổng thống vốn dĩ khinh thường kẻ cầu cạnh.

Vụ Watergate khởi đầu chỉ là một bản tin địa phương.

Marty Weil — nay đã bước sang năm thứ 61 làm việc tại Post — hôm ấy tạm thay ca cho ban biên tập đêm ở bàn tin Metro khi ông nghe năm tiếng vọng qua máy bộ đàm cảnh sát: “Doors open at the Watergate.” Al Lewis, phóng viên ban ngày chuyên theo dõi cảnh sát, viết bản tin đầu tiên đăng trên trang nhất số báo ngày 18 tháng 6 năm 1972: “5 Held in Plot to Bug Democrats’ Office Here.”

Sau đó Gene Bachinski, ký giả ca đêm phụ trách cùng trách nhiệm, nhận được manh mối then chốt: một viên cảnh sát cho ông nhìn thoáng qua cuốn sổ tay của một trong những kẻ đột nhập, trong đó có dòng chữ nguệch ngoạc “H Hunt. WH” cùng số điện thoại dẫn thẳng tới Tòa Bạch Ốc.

Chủ nhật hôm ấy, Bob Woodward và Carl Bernstein có mặt ở tòa soạn — và họ nhanh chóng tiếp nhận trách nhiệm. Câu chuyện lan ra toàn quốc, làm sụp đổ một nhiệm kỳ tổng thống và truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ ký giả. Nhưng đó cũng là mẫu mực của tinh thần Post: kiên trì, không sợ hãi trong việc truy tìm sự thật và buộc quyền lực phải chịu trách nhiệm — trong một nỗ lực hợp tác xuyên suốt toàn tòa soạn. (Bản tin đầu tiên ấy ghi tên tám — tám! — ký giả Post cùng góp phần đưa tin, báo hiệu trước thời của những bài phóng sự có ba, thậm chí bốn tên ký giả chung một dòng chữ “tác giả.”)

 

https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/02/Democracy-dies-in-billionaire-hands.-Cartoon-by-Michael-de-Adder.jpg

Dân chủ chết trong tay tỷ phú. Tranh của Michael de Adler

 

Watergate không phải lần cuối The Washington Post biến một câu chuyện địa phương thành tin tức tầm quốc gia.

Tờ báo cũng tường thuật vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, khiến 125 người thiệt mạng ở Ngũ Giác Đài và 64 người trên chuyến bay 77 của American Airlines; vụ xả súng tại Đại học Virginia Tech năm 2007 cướp đi sinh mạng 32 giáo sư và sinh viên; và cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1 tại Điện Capitol cùng hậu quả của nó.

Năm vừa qua, Post — với toán phóng viên dày dạn tại gần như mọi cơ quan liên bang — đã mang lại những bản tường trình không ai sánh kịp về tình trạng suy yếu của bộ máy chính phủ. (Giữa chuỗi tin độc quyền dồn dập, tháng trước cơ quan liên bang còn đột kích nhà riêng của Hannah Natanson ở Virginia, người được xem là “người thì thầm của chính phủ liên bang” trong Post.)

Dù bạn đọc đặt tiêu chuẩn thành công ở đâu — phơi bầy tham nhũng, làm thay đổi đời sống, khiến độc giả xúc động và hành động, mang lại niềm vui và hiểu biết cho cộng đồng, hay gặt hái giải thưởng — The Washington Post luôn vượt qua.

 

Đợt sa thải hôm nay hé lộ phần nào “chiến lược” mới nhất: tập trung gần như hoàn toàn vào chính trị và an ninh quốc gia — dù ngay cả lời giải thích đó cũng khó tin, bởi trong danh sách người bị cắt có cả những ký giả và biên tập viên chính trị, quốc tế xuất sắc nhất nước. Một phóng viên kỳ cựu của Post nói với tôi: “Chúng ta đang thay đổi, thu hẹp và cắt xén để hướng tới một sản phẩm tầm thường hơn nhiều, và dường như chẳng thu hút thêm độc giả nào.”

Nếu quả có một kế hoạch, thì dường như nó là biến The Post thành bản sao của Politico. (Mỉa mai thay, Politico vốn sinh ra từ chính Post gần hai mươi năm trước, khi hai phóng viên rời tòa soạn để lập ra một tờ báo điện tử chạy đua tin nhanh mỗi buổi sáng.)

Nhưng báo tổng hợp vẫn có thể sinh lợi. The New York Times đã chứng minh rằng vẫn có thể kiếm tiền bằng cách đa dạng hóa, mở rộng, thí nghiệm, đem đến cho mọi độc giả một thứ gì đó phù hợp. (Tin tức! Âm thanh! Trò chơi! Ẩm thực! Phim ảnh! Phóng sự dài!) Tờ báo mà bạn đang đọc đây, The Atlantic, vẫn có lời và hiện có gần 1,5 triệu độc giả ghi danh. Những tờ báo chuyên biệt khác như Axios hay Punchbowl News cũng thành công khi tập trung gấp ba lần vào nhu cầu và mối quan tâm của nhóm độc giả cốt lõi.

Trong khi đó, The Post lại đang quay lưng với chính độc giả hiện tại của mình để săn tìm một nhóm công chúng có thể… không hiện hữu.

Điều mà Bezos, Lewis và đám phụ tá mê thuật ngữ doanh nghiệp không hiểu là: nếu không có toán phóng viên ở những văn phòng nước ngoài, bản tin về Washington sẽ không bao giờ sinh động hay có thẩm quyền như trước. Những ký giả đó liều mạng để giúp độc giả hiểu rằng, chẳng hạn, việc Mỹ lật đổ một lãnh đạo ở Venezuela có thể ảnh hưởng thế nào đến đời sống người dân ở Ohio.

Tường thuật về Tòa Bạch Ốc hay Quốc hội luôn được nâng cao nhờ ban Metro vững nguồn tin và những cây bút sắc bén ở mục Style. Và làm sao có thể xưng là ký sự gia chính thức của thủ đô này nếu ký giả không viết về đội Nats, đội Caps, đội Commanders, chuyện trường lớp của con em chúng ta, hay nhà hàng nào có món pupusas ngon nhất?

Gần như mọi cơ quan truyền thông đều đang chật vật tìm cách tự đổi mới. Nhưng The Washington Post đáng lý ra phải có khả năng thích ứng tốt hơn phần lớn. Nó có danh tiếng lớn, nhân tài dồi dào, và vị thế tuyệt vời để khai thác cả tin địa phương lẫn thời cuộc chính trị — phục vụ một tầng lớp độc giả đông đảo, học thức cao, sẵn sàng trả tiền để đọc tin, đồng thời phục vụ cả công chúng toàn quốc đang khao khát phóng sự chính trị và điều tra.

 

Một ký giả địa phương của Post nói với tôi,

“Mình đang ở thủ đô của quốc gia. Và những người sống ở đây là giới ngoại giao, viên chức chính phủ liên bang, công bộc, cố vấn an ninh quốc gia, người làm việc trong Tòa Bạch Ốc — nhưng họ cũng là những ông bố bà mẹ đưa con đi học mỗi sáng. Họ có thể ở khu Northwest hay khu Southeast, nhưng ai cũng bực bội khi chưa dọn tuyết.”

 

Tuần trước, nhóm phóng viên ngoại quốc của Post tung ra một đoạn phim gửi đến Bezos, giải thích họ đã liều mạng thế nào để đưa tin về chiến tranh, dịch bệnh, khởi nghĩa và nhiều biến cố khác. Trong đoạn phim dài hai phút, thường lồng giữa tiếng nổ và hình ảnh hiểm nguy, các ký giả lần lượt kể lại đời làm báo của mình:

 

“Tôi có mặt khi phi đạn Nga bắn trúng sân chơi trẻ em ở Ukraine, giết chết chín đứa nhỏ.”
“Tôi có mặt khi Taliban siết chặt quyền kiểm soát Afghanistan.”
“Tôi có mặt tháng Giêng năm 2020, bên ngoài Vũ Hán, khi Trung Hoa phong tỏa thành phố để ngăn một loại virus bí ẩn.”

 

Sức mạnh của The Post từ trước đến nay nằm ở tính nhân bản sôi nổi, ở tinh thần đồng đội năng động khiến mỗi người làm được điều lớn lao hơn hẳn những gì họ có thể làm một mình.

 

“Tôi đã ở đó. Tôi đã ở đó. Tôi đã ở đó. Chúng tôi đã ở đó.”

 

Không phải The New York Times, và vì thế luôn phải làm nhiều hơn với ít tài nguyên hơn — điều ấy hóa ra lại là tự do. Nó tạo nên — và buộc phải tạo nên — một văn hóa đồng nghiệp gắn bó, dám thí nghiệm, dám mạo hiểm, có phần tinh nghịch. “Ở Post có kiểu tâm thế như hãng Avis: ‘Chúng tôi cố gắng hơn,’” Mike Semel, cựu biên tập viên lâu năm của Post hiện làm việc cho The Athletic, nói với tôi. Ông nhắc lại khẩu hiệu quảng cáo nổi tiếng năm 1962 của hãng cho thuê xe Avis, khi họ chấp nhận vị thế hạng nhì so với Hertz bằng lời hứa phục vụ tốt hơn — và chính nhờ đó mà doanh thu tăng vọt. Avis hiểu rằng, làm kẻ yếu thế đôi khi lại là điều giải phóng.

 

Trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Trump, chủ bút khi ấy là Marty Baron đã bật đèn xanh cho dự án chuyển Báo cáo Mueller thành truyện tranh phóng sự — rồi sau đó thành sách. Và khi Quốc hội từ chối lập một ủy ban điều tra kiểu “11 tháng 9” về vụ bạo loạn ngày 6 tháng 1, The Post quyết định làm điều mà Quốc hội không làm: không bị trát đòi, hơn 100 ký giả từ khắp tòa soạn cùng nhau thực hiện loạt phóng sự điều tra dài 38.000 chữ mang tựa “The Attack,” kể lại tường tận cuộc nổi loạn chết người tại Điện Capitol. (Loạt bài này góp phần giúp Post đoạt giải Pulitzer 2022 về Phục vụ Công chúng.)

Tờ The Washington Post từ lâu vốn là tờ báo của những người viết — một tòa soạn đầy sức sống nơi mà điều gì cũng có thể xẩy ra: ý tưởng lớn, tham vọng lớn — và mỗi ngày vẫn là một phép lạ khi những bài báo xuất sắc liên tục ra đời từ cái hỗn loạn tuyệt diệu đó. (Trong suốt thời gian tôi làm việc ở đó, tôi ghi lại số ngày nghỉ phép và bù giờ trên những tờ giấy nhớ vàng — và những biên tập viên của tôi luôn tôn trọng chúng.)

Có cảm giác rằng phóng sự hay có thể xuất phát từ bất cứ ai, ở bất kỳ góc nào của tòa nhà trên đường K Street. Những dự án đặc biệt, những cuộc điều tra khó khăn không bao giờ bị một nhóm “tinh hoa” nào độc chiếm. The Post là nơi mọi người đều có phần trong cùng một sứ mạng chung; chúng tôi mặc áo hoodie in dòng chữ Democracy Dies in Darkness đến sở làm, đội mũ len xanh-trắng mang logo WP vào mùa đông.

Điều đó càng mạnh mẽ hơn vì ngay cả những ngôi sao lớn nhất của tờ báo cũng từng học nghề từ những ban lấy tin khiêm tốn nhất — miền Nam Maryland, quận Loudoun của Virginia, những lực sĩ mồ hôi nhễ nhại trong những trận tranh tài thể thao trung học, ca trực đêm ở sở cảnh sát. Semel nói, “Khó mà giải thích với người ngoài.” Trong khi thiên hạ ăn mừng Lễ Độc Lập, nhiều thế hệ ký giả Post vẫn phải cặm cụi ngoài bãi cỏ gần Đài Tưởng niệm Lincoln, viết bài cho số báo hôm sau. “David Fahrenthold từng đứng ở đó, giữa trưa ngày 4 tháng 7, trước khi ông đoạt Pulitzer.”

Cốt lõi của nghệ thuật viết phóng sự hấp dẫn là xây dựng sự thông cảm, giúp người Mỹ trong một đất nước chia rẽ có thể hiểu nhau hơn. Nhưngsự thông cảm và tình đồng nghiệp ấy còn lan tỏa ngay trong tòa soạn.

Chúng tôi chia sẻ số điện thoại, chia sẻ những ghi chép trong sổ tay, rủ nhau đi ăn trưa với nguồn tin, và trò chuyện trên Slack để chọc cười nhau. Nhiều khi, đồng nghiệp cùng ngăn làm việc nghe tôi đang gọi điện, và trước khi tôi gác máy, họ đã gửi thư điện tử gợi ý cho bài viết hoặc cho tôi số liên lạc của một người cần gọi.

Những người khác thì chỉ nhắn ngắn gọn “hỏi thăm” — lặp đi lặp lại — cho bạn bè đang làm phóng sự nguy hiểm hay kiệt sức. Thường xuyên, tòa soạn gửi thư chung tưởng niệm khi ai đó mất cha mẹ hay người thân, và con cái chúng tôi thỉnh thoảng vẫn thò đầu vào những buổi họp Zoom. Semel nhớ lại: khi căng thẳng quá mức, ông và Steven Ginsberg (từng là bé giao báo, sau này làm chủ bút The Athletic) cùng Nick Miroff (phóng viên di trú kỳ cựu, nay là đồng nghiệp của tôi ở The Atlantic) lại xuống tầng hầm tòa soạn cũ trên đường 15th Street để chơi bóng nhựa Wiffle ball cho khuây khỏa.

Có lẽ vì thế mà nhóm phóng viên Tòa Bạch Ốc, vốn biết mình khó bị ảnh hưởng do đợt cắt giảm, đã gửi thư cho Bezos trước khi việc sa thải diễn ra, khẩn khoản xin ông can thiệp. Họ viết rằng nhiều bài báo được đọc nhiều nhất của họ “dựa trên sự hợp tác với mọi ban, phòng trong tòa soạn,” vì “công việc của đồng nghiệp giúp nâng đỡ chính công việc của chúng tôi.”

Dù nhiều người tài năng và cần mẫn đã rời tờ báo trong những năm gần đây, vẫn còn nhiều người khác chọn ở lại, và không ít người mới gia nhập. The Post vẫn là một trong những nơi tốt nhất để làm công việc có ý nghĩa. Nhiều ký giả từ chối khoản thôi việc hậu hĩnh hoặc lời mời hấp dẫn để ở lại chiến đấu cho nơi họ yêu quý — vì họ tin vào tờ báo và vào sứ mạng của nó. (Thú vị thay, The Atlantic và The New York Times lại là hai tòa soạn hưởng lợi nhiều nhất từ làn sóng ra đi này.)

Nhưng mỗi sự ra đi — dù tự nguyện, vì thôi việc, hay do bị cắt giảm — không chỉ là mất mát cá nhân mà còn là sự xóa nhòa của bao năm ký ức tập thể. Làm sao giữ được văn hóa của một nơi mà báo chí của nó từng “cất tiếng hát” chính nhờ — chứ không phải bất chấp — điều mà biên tập viên đáng kính Dan Eggen từng đùa là “vấn đề lớn nhất ở khu của tôi trong tòa nhà: quá nhiều tiếng cười.”

Tôi đến Post đầu năm 2017, giữa lúc đời sống riêng và sự nghiệp đều chạm đáy. Tôi vừa chia tay bạn trai sau gần mười năm, và sắp rời công việc đầu tiên ở The New York Times. Tôi bắt đầu ở đó ngay khi ra trường, làm phụ tá nghiên cứu cho Maureen Dowd — một kinh nghiệm tuyệt vời. Bà là sếp giỏi, người hướng dẫn tận tình, và đến nay vẫn là người tôi gọi đầu tiên mỗi khi cần lời khuyên. Nhưng tôi vẫn luôn cảm thấy mình như một cầu thủ dự bị vĩnh viễn, chẳng thoát khỏi cái bóng “phụ tá ngày xưa.”

Còn The Post thì muốn tôi thật sự. Họ hiểu tôi — với mọi thói quen, khiếm khuyết và phức tạp — và tòa soạn đón tôi bằng vòng tay rộng mở. Gần như ngay lập tức, những biên tập viên thúc tôi thử sức với những cơ hội tôi chưa bao giờ dám mơ — cùng điều hợp cuộc tranh luận sơ bộ Dân chủ Washington Post–MSNBC năm 2019, tham gia ba dự án sau đó đều đoạt giải Pulitzer. Cuối cùng, tôi cũng bắt đầu tin vào chính mình.

Tòa soạn là một “đoàn quân vui tính của những kẻ lập dị,” và tôi là một trong những chiến sĩ hân hoan của họ. Tôi đã tìm thấy mái nhà.

Đồng đội ở ban Tòa Bạch Ốc thường thay ca hoặc hoán đổi lịch với tôi để tôi kịp lo cho gia đình phức tạp của mình. (Tôi còn nhớ rõ một buổi chiều chạy vội ra khỏi tòa soạn để kịp xem con riêng học lớp hai biểu diễn trong vở Alice in Wonderland, giữa tiếng reo hò cổ vũ của đồng nghiệp.)

Khi tôi sẩy thai giữa hai lần sinh, đồng nghiệp gọi điện, nhắn tin mỗi ngày, gửi bánh và súp cho tôi. Và khi Trump đồng ý cho phỏng vấn đúng tháng tôi sinh con đầu lòng năm 2018, Phil Rucker và Josh Dawsey gọi cho tôi — lúc ấy đang nghỉ thai sản — mời tôi tham dự vì “đó cũng là cuộc phỏng vấn của cô.” (Cuối cùng tôi từ chối — do vết mổ chưa lành, trầm cảm sau sinh, và nỗi kinh hoàng nghĩ đến cảnh tổng thống phản ứng thế nào nếu tôi… rỉ sữa trong Phòng Bầu Dục. Khi tôi vắng mặt, Trump nói với họ rằng ông chúc tôi may mắn, nhưng “cô ấy lúc nào cũng rất khó chịu với tôi.”)

Tôi không phải trường hợp đặc biệt. Andrew Golden, ký giả thể thao chuyên đưa tin đội Washington Nationals, gặp rồi yêu người vợ hiện tại của anh ở Post. (Ông nội anh — người Washington chính gốc mê thể thao — cất giữ mọi bài anh viết trong thùng giấy.) Năm 2007, Carlos Lozada, nhà phê bình sách lâu năm của Post, nhận công việc khó nhất đời mình là biên tập viên an ninh quốc gia — thì cũng tháng ấy, ông biết chị cả đang hấp hối vì ung thư. Các sếp nói: “Hãy đi đi, dành thời gian bên chị. Đừng lo phép, đừng lo công việc. Chúng tôi sẽ lo hết.” Lozada — nay làm cho Times — kể lại, “Họ đã gánh cho tôi mọi thứ, và điều đó có ý nghĩa vô cùng. Tôi được ở bên chị trong những ngày cuối cùng, và sẽ mãi biết ơn The Washington Post vì điều đó.”

Erin Cox, phóng viên chính trị Maryland, có chồng là Rick Maese viết thể thao cho báo, đã trải qua cơn đau tim suýt chết chỉ 10 tuần sau khi sinh con thứ ba. Tòa soạn lập tức xoay quanh gia đình họ — gửi tiền, thức ăn, giúp đỡ. Đồng nghiệp quyên góp trả tiền trại hè ba tuần cho cô con gái sáu tuổi, để mùa hè đáng sợ đó biến thành kỷ niệm vui bên hồ bơi và bạn bè mới. Một phóng viên kinh tế chưa từng nói chuyện với Cox mang tới tận nhà bữa ăn chay nhiều món. Biên tập viên của cô còn đưa con gái đến đề nghị trông em giúp. Danh sách nấu ăn giúp gia đình dài kín ba tháng — câu lạc bộ đọc sách của cô đành tặng thẻ mua quà.

Cô kể qua điện thoại, “Tôi có ống dẫn thuốc cắm vào tim để kích cho nó hoạt động lại, và anh biết tôi cảm thấy sao không? Ngập tràn yêu thương.”

Mùa hè 2024, khi Jeffrey Goldberg — chủ bút The Atlantic, người từng thực tập hai mùa hè ở Post trước khi nhận ca đêm ở sở cảnh sát — mời tôi về làm việc, tôi thấy hứng thú. Tôi luôn muốn viết cho tạp chí, và đã ghi danh đọc The Atlantic từ vài năm trước, khi cứ liên tục gặp giới hạn bài đọc mà vẫn còn quá nhiều điều muốn xem.

Công việc ông mời đúng là giấc mơ từ thuở nhỏ, khi tôi đọc các bậc tiền bối ở mục Style. Nhưng trong thâm tâm, tôi nghĩ mình sẽ phải nói thật: “Ông đang cho tôi công việc trong mơ, nhưng tôi vốn đã có nó rồi — và tôi chọn đội nhà.”

Rồi tôi nhận ra Post không còn là tờ báo đã tuyển tôi tám năm trước, và rằng tôi không muốn làm việc cho những người chủ, người điều hành không thể vẽ ra một viễn kiến, lại coi thường tòa soạn như một chiến lược kinh doanh.

Tôi yêu The Atlantic. Tôi đang viết những bài vừa thử thách vừa thỏa mãn. Nhưng dù vậy, tôi vẫn nhớ Post. Khi nhìn thấy sự tháo dỡ có chủ ý của tờ báo từng thuộc gia đình Graham, của Woodward và Bernstein, của Marty Baron, của biết bao bạn thân, nỗi buồn của tôi vẫn nhói lên tận tim, và cơn giận vẫn còn tươi rói.

Lozada nói ông yêu công việc mới ở Times, nhưng Post mãi đặc biệt với ông: “Tôi làm ở đó 17 năm, và vẫn nghĩ về Post bằng chữ chúng ta. Ngay cả bây giờ khi nói, tôi vẫn thốt lên: ‘Không thể tin nổi chúng ta đã làm được điều đó.’” Ông nói tiếp,

 

“Post vẫn là ‘chúng ta’ của tôi. Và sẽ luôn là ‘chúng ta.’”

 

Nhưng thật ra, Post là “chúng ta” của tất cả — của những người đang chiến đấu cho nó, của những người cạnh tranh với nó, của những người đã rời đi, và nhất là của cộng đồng cùng quốc gia vẫn tin cậy tìm đến nó.

Chúng ta xứng đáng được hưởng nhiều hơn thế.

Tác giả: Ashley Parker là ký giả của tạp chí The Atlantic.

Người dịch: Trà Mi

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net

 





TỔNG THỐNG PHÁP CỬ CỐ VẤN NGOẠI GIAO SANG NGA ĐỂ CHUẨN BỊ NỐI LẠI ĐỐI THOẠI THƯỢNG ĐỈNH

 



Tổng thống Pháp cử cố vấn ngoại giao sang Nga để chuẩn bị nối lại đối thoại thượng đỉnh

Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 06/02/2026 - 11:33

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260206-t%E1%BB%95ng-th%E1%BB%91ng-ph%C3%A1p-c%E1%BB%AD-c%E1%BB%91-v%E1%BA%A5n-ngo%E1%BA%A1i-giao-sang-nga-%C4%91%E1%BB%83-chu%E1%BA%A9n-b%E1%BB%8B-n%E1%BB%91i-l%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%91i-tho%E1%BA%A1i-th%C6%B0%E1%BB%A3ng-%C4%91%E1%BB%89nh

 

Cố vấn ngoại giao của tổng thống Pháp, ông Emmanuel Bonne, có mặt tại Matxcơva từ ba ngày nay để gặp đồng cấp Nga, nhằm chuẩn bị cho việc nối lại đối thoại thượng đỉnh song phương, theo xác nhận của một nguồn tin thân cận với hồ sơ này với AFP hôm qua, 05/02/2026.

 

HÌNH :

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron (T) và cố vấn ngoại giao Emmanuel Bonne trong cuộc gặp phái đoàn Ukraina, tại điện Elysée, Paris, Pháp, ngày 17/04/2025. via REUTERS - LUDOVIC MARIN

 

Trước đó, theo tuần báo Pháp L’Express, cố vấn ngoại giao của tổng thống Emmanuel Macron gặp người đồng cấp Nga Yuri Ushakov. Điện Elysée và phủ tổng thống Nga đều không bác bỏ, cũng không xác nhận thông tin này. Hôm 03/02, tổng thống Pháp cho biết việc nối lại đối thoại với nguyên thủ Nga đang được chuẩn bị « ở cấp độ kỹ thuật ». Giới thân cận với tổng thống Pháp nhấn mạnh là việc chuẩn bị diễn ra « trong sự phối hợp với tổng thống Zelensky và các đồng nhiệm châu Âu chủ chốt ».

 

Thông tín viên Anissa el Jabri tường trình từ Matxcơva :

 

« Kể từ khi Nga xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, các nước châu Âu đã trở thành mục tiêu số một của Matxcơva, và đặc biệt là tổng thống Pháp Emmanuel Macron, người mà hôm thứ Năm 05/02/2026, bị một nhà bình luận thân cận với chính quyền Nga gọi là « lãnh đạo phe hiếu chiến ở châu Âu », có nghĩa là ủng hộ Kiev, ủng hộ quá mạnh mẽ trong mắt những người ủng hộ điện Kremlin. Nhà bình luận này nói thêm : Macron sẵn sàng đề xuất điều gì?... Những câu hỏi về nội dung và những lời chỉ trích về phương pháp chính thức được đưa ra bởi người đứng đầu ngành ngoại giao Nga. 

 

Ngoại trưởng Sergueil Lavrov nói : Ông Macron, một lần nữa cách đây hai tuần, đã nhắc lại rằng ông sẽ gọi điện cho tổng thống Putin một ngày nào đó. Thật ra, điều đó không nghiêm túc, đây là một kiểu ngoại giao xúc cảm. Nếu muốn gọi điện để nói về điều gì đó nghiêm túc, thì hãy cứ gọi đi ! Putin sẽ luôn nhấc máy, ông ấy sẽ luôn lắng nghe mọi đề xuất ! Và nếu đó là những đề xuất nghiêm túc, tôi có thể đảm bảo rằng chúng sẽ không bị bỏ qua ! 

 

Ông Lavrov đã gọi tổng thống Pháp bằng « bạn », hiếm khi ngoại trưởng Nga sử dụng cách gọi như vậy, và chắc chắn là không đối với người đứng đầu chính quyền Trung Quốc.   

 

Ngoại trưởng Nga hôm nay tiếp đồng nhiệm Thụy Sĩ, chủ tịch luân phiên Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu năm 2026, một tổ chức đã suy yếu kể từ cuộc chiến ở Ukraina, sau việc Phái đoàn Giám sát Đặc biệt tại Ukraina phải ngừng hoạt động (hồi 2022), bị Nga phủ quyết, hoặc việc ba thành viên người địa phương của tổ chức này bị bắt giữ tại Nga. »

 

Hai tổng thống Pháp, Nga nói chuyện lần cuối cùng vào tháng 7/2025, nhưng chủ yếu bàn về các vấn đề liên quan đến chương trình hạt nhân Iran. Cuộc điện đàm trước đó là vào tháng 09/2022. 

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

Tổng thống Pháp Macron có thể đại diện Châu Âu nói chuyện với Putin ?

 

Tổng thống Pháp đề nghị họp với Nga bên lề thượng đỉnh G7 tại Paris

 





HOA KỲ và IRAN BẮT ĐẦU ĐÀM PHÁN TẠI OMAN SAU KHI HĂM DỌA LẪN NHAU (Anh Vũ|Trọng Thành – RFI)

 



Hoa Kỳ và Iran bắt đầu đàm phán tại Oman sau khi hăm dọa lẫn nhau

Anh Vũ|Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 06/02/2026 - 12:20  -  Sửa đổi ngày: 06/02/2026 - 13:42

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260206-hoa-k%E1%BB%B3-v%C3%A0-iran-b%E1%BA%AFt-%C4%91%E1%BA%A7u-%C4%91%C3%A0m-ph%C3%A1n-t%E1%BA%A1i-oman-sau-khi-h%C4%83m-d%E1%BB%8Da-l%E1%BA%ABn-nhau

 

Cuộc đàm phán do đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff và ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi dẫn dắt. Đây là lần đầu tiên hai bên gặp nhau kể từ các cuộc không kích vào cơ sở hạt nhân Iran hồi tháng 6, trong “cuộc chiến 12 ngày” do Israel khởi xướng.

 

Cuộc đối thoại  trực tiếp này diễn ra sau khi chính quyền Teheran đàn áp đẫm máu phong trào biểu tình đầu tháng 1, khiến hàng nghìn người thiệt mạng.  Chính quyền Iran hiện suy yếu cả trong nước lẫn khu vực. Các đồng minh Bachar al Assad tại Syria bị sụp đổ, lượng Hezbollah tại Liban suy yếu.

 

Trong khi đó, Hoa Kỳ tăng cường hiện diện quân sự và áp dụng chiến lược “gây áp lực tối đa” để buộc Iran ngồi vào đàm phán những vấn đề mà Hoa Kỳ muốn áp đặt

 

Từ Washington, thông tín viên Vincent Souriau cho biết những đòi hỏi của Hoa Kỳ : 

 

Trước tiên, đó là chương trình hạt nhân của Iran. Thứ nhất,  Hoa Kỳ đòi Iran phải ngừng làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Kho nguyên liệu uranium đã được làm giàu phải được chuyển ra khỏi biên giới Iran. Đây là điều mà Tehran không muốn nói đến.

 

Washington cũng muốn đề cập đến chương trình tên lửa của Iran. Nói cách khác là giảm số lượng và tầm bắn của các loại tên lửa này. Các nguồn tin cao cấp Iran tiết lộ với Reuters rằng đây có lẽ cho đến giờ vẫn là vấn đề nhạy cảm nhất đối với các lãnh đạo chế độ. 

 

Ngoài ra, chính quyền Mỹ cũng muốn thảo luận về các nhóm gắn kết với Iran như Hezbollah, Houthi, các lực lượng dân quân Irak, cũng như sự hỗ trợ mà Tehran tiếp tục cung cấp cho các nhóm này. 

 

Cuối cùng là vấn đề nhân quyền, hay như Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nói là cách mà người  chính quyền Iran đối xử với chính nhân dân của mình. Đây cũng nên là một phần trong nội dung các cuộc đàm phán.

 

Marco Rubio nhấn mạnh rằng để đạt được kết quả có sức thuyết phục, các cuộc đàm phán phải bao hàm toàn bộ những vấn đề trên.

 

Chuyên gia Clément Therme nhận định trên đài RFI rằng hoàn cảnh hiện nay ở Iran cho thấy khả năng chế độ Teheran sẽ có những hành động cực đoan nếu cảm thấy sự tồn vong của chế độ bị đe dọa. Do đó, việc sử dụng các biện pháp quân sự quá mức có thể dẫn đến leo thang xung đột khu vực, khiến các nước trong khu vực lo ngại và thúc đẩy việc tổ chức đàm phán để tránh kịch bản này.

 

Ngay trước khi cuộc đàm phán giữa Tehran và Washington diễn ra, Trung Quốc tuyên bố ủng hộ Iran trong việc bảo vệ “lợi ích” và chống lại “sự hăm dọa”, theo một thông cáo của bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 06/02.

 

------------------------------

Các nội dung liên quan

Hạt nhân : Iran và Hoa Kỳ xác nhận sẽ đàm phán tại Oman ngày mai

Tổng thống Iran ra lệnh tiến hành đàm phán về hạt nhân với Hoa Kỳ

 




Friday, 6 February 2026

NHÂN QUYỀN CỦA RIÊNG AI? (Nina Hòa Bình Lê / Việt Báo)

 



 

Nhân Quyền của Riêng Ai?

Nina Hòa Bình Lê

06/02/2026

https://vietbao.com/p112a324473/nhan-quyen-cua-rieng-ai-

 

Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.

 

Những chiếc ghe rời Việt Nam thời ấy trong một bối cảnh rất rõ ràng. Người Việt bỏ quê hương ra đi vì nhân phẩm bị chà đạp, bắt không cần án, “học tập cải tạo” vô hạn định, đánh tư sản, đuổi khỏi nhà, đàn áp tôn giáo, phân biệt con em “Mỹ ngụy”, mọi tiếng nói trái ý đều bị chụp mũ là “phản động”, bị kết tôi chống phá chính quyền. Hàng hàng lớp lớp người Việt bỏ xứ ra đi vì ở quê hương, con người không đứng trước luật mà đứng dưới gót chân nhà nước. Khi quyền lực không bị tòa án độc lập, báo chí tự do hay bất cứ cơ chế kiểm soát nào ghìm lại, thì “nhân quyền” không còn là khái niệm để tranh luận – nó đơn giản là điều vắng mặt trong đời sống thường nhật.

 

Ở đầu kia của hành trình, điều cứu họ không chỉ là lòng từ tâm của vài ông thuyền trưởng hay mấy bà sơ. Đằng sau những tấm lòng đó là một trật tự pháp luật và đạo lý được dựng lên sau Thế chiến thứ hai: Công ước Tị nạn1, phán quyết của tòa án, hệ thống luật Hoa Kỳ, và cả một truyền thống chính trị thế giới thừa nhận một điều rất đơn giản: người chạy trốn khỏi các chế độ đàn áp nhân quyền có quyền gõ cửa các quốc gia xin che chở. Nhân quyền trong quy chế dành cho người tị nạn không phải là món quà chính quyền “thương thì cho, ghét thì thôi”, mà là nghĩa vụ ràng buộc. Người Việt chúng ta may mắn vì thời đó, Hoa Kỳ vẫn còn biết giữ luật chơi, vẫn nhớ mình đã đặt bút ký vào đâu.

Lẽ ra, kinh nghiệm đó phải là cái gương treo giữa nhà cho cộng đồng người Việt tị nạn. Chúng ta có được hôm nay không phải nhờ “trời thương”, mà nhờ một thế giới trong đó quyền lực bị giới hạn bởi luật lệ và thiết chế, coi nhân quyền là chuẩn mực chung chứ không phải món hàng treo ra mặc cả trong phòng kín. Vậy mà trong lúc này, cái khung bảo vệ nhân quyền – mà nước Mỹ từng là một trong những cây cột chính – lại đang bị tháo gỡ ngay tại Washington. Người tháo ốc không ai xa lạ: một tổng thống nổi tiếng về chuyện phá luật nhanh hơn đọc luật.

Trong bài “Will Human Rights Survive the Donald Trump Era?” 2Philippe Bolopion nhắc lại một điều tưởng ai cũng biết: nhân quyền không đến hiển nhiên và cũng không phải là thứ được bảo hiểm trọn đời. Sau Thế chiến II, người ta dựng lên mớ quyền căn bản trên tro tàn trại tập trung, trên những thành phố bị san bằng, nhằm tiến đến một thỏa thuận tối thiểu: quyền lực nhà nước phải bị ràng buộc bởi luật pháp, định chế và chút ít lương tri. Chính cái khung đó – công ước, tòa án, các định chế đa phương – đã giữ cho những chiếc ghe như Bolinao 52 không bị bỏ mặc giữa biển.

Ngày nay, dưới áp lực dồn dập từ chính quyền Trump, và vốn từ lâu bị Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa phá rối, trật tự dựa trên luật lệ đang tuột khỏi tay. Bolopion đặt câu hỏi thẳng thừng: nhân quyền có sống nổi nếu những quy tắc làm nên nó bị dỡ bỏ hay không? Câu trả lời, ông nói, không nằm ở chuyện ngồi tiếc nuối “thời xưa” mà ở khả năng dựng nên những liên minh mới giữa các xã hội còn coi trọng nhân quyền, đủ sức che chở chuẩn mực chung ngay cả khi một siêu cường quay mặt đi.

 

Nguy ở chỗ chuyện xuống cấp không bắt đầu với ông Trump. Hai mươi năm qua, làn sóng dân chủ lùi đều như nước rút. Tòa án độc lập, báo chí tự do, những cơ chế buộc người cầm quyền phải chịu trách nhiệm lần lượt bị làm cho tê liệt. Các nền dân chủ dĩ nhiên chẳng phải thiên đường – chẳng có thiên đường nào trên mặt đất – nhưng cho tới giờ, chưa có kiểu chế độ nào bảo vệ nhân quyền khá hơn nó. Sự trở lại của Trump ở Nhà Trắng chỉ làm cho mọi thứ diễn ra nhanh hơn, thô bạo hơn, và phần nào, “thành thật” hơn về cách chính quyền coi nhẹ luật.

Trong một thời gian ngắn, chính quyền Trump đã công khai chĩa mũi dùi vào các trụ cột của chế độ pháp quyền: thách thức tính độc lập của tư pháp, coi thường lệnh tòa, nhét bàn tay chính trị vào những cơ quan lẽ ra phải độc lập, và sử dụng sức mạnh nhà nước để hăm dọa mọi tiếng nói chỉ trích – từ ký giả, đại học, hãng luật cho tới giới nghệ sĩ, truyền thông. Với những ai từng sống dưới chế độ toàn trị, những tín hiệu đó không lạ: khi kẻ nắm chính quyền hết sợ luật pháp vì không phải chịu hậu quả tương xứng, không chỉ những cột trụ chống đỡ nền dân chủ gãy đổ, mà toàn bộ hệ thống nhân quyền sớm muộn cũng trôi theo. 

Vượt ra ngoài biên giới Hoa Kỳ, chính quyền Trump liên tiếp thử giới hạn luật quốc tế trong việc sử dụng võ lực, đồng thời phớt lờ những cam kết mà nước Mỹ đã từng đặt bút ký. Chỉ trong thời gian ngắn, Washington đã kịp làm một việc mà các đối thủ của Mỹ mơ ước từ lâu: cắt rời vai trò “lãnh đạo thế giới tự do” khỏi ngay chính danh nghĩa nhân quyền. Nhân quyền bị kéo xuống thành thứ công cụ trong các bản phúc trình, Hoa Kỳ rút khỏi các diễn đàn đa phương then chốt, các chương trình viện trợ cứu người bị cắt ngân sách, hủy bỏ; cạnh đó, những nhà độc tài được Trump chiếu cố nồng hậu, đồng minh dân chủ bị xem nhẹ, Tòa án Hình sự Quốc tế bị đem ra doạ nạt.

 

Bên trong nước Mỹ, chỗ phơi trần rõ nhất sự đổi hướng ấy là di trú. Một chính quyền có quyền đặt chính sách biên giới, chuyện đó không ai cãi. Nhưng không một chính quyền nào, nếu còn coi trọng nhân quyền, lại có quyền chối bỏ quyền xin tị nạn, hay coi con người như kiện hàng có thể trả lui bất cứ lúc nào. Dưới thời Trump, những lệnh cấm nhập cư theo quốc tịch, bắt người xin tị nạn phải chờ trong cảnh hiểm nguy, giam trẻ em trong điều kiện tệ hại, cắt chương trình nhận người tị nạn, hủy bỏ những chương trình tị nạn khẩn cấp… đã làm nhạt đi hình ảnh “đất hứa” mà thế hệ thuyền nhân Việt từng biết. Với người đã từng lênh đênh trên biển, đây không phải chuyện tranh luận trên giấy. Đây là lời cảnh cáo: con đường từng mở cho mình đang từ từ đóng lại trước mặt người đến sau. Và nếu vỗ tay cổ vũ, thì ngày xưa việc người Việt trốn chạy cộng sản còn ý nghĩa gì?

 

Thực tế ở Minnesota và nhiều nơi khác cho thấy nhân quyền không phải là món xa xôi treo trên tường Liên Hiệp Quốc. Đó là chuyện rất cụ thể: khi một chiến dịch truy quét di trú dẫn tới người chết trên đường phố; khi dân chúng, nhà thờ, nghiệp đoàn, sinh viên xuống đường đòi hỏi phải điều tra, phải trả lời; khi luật sư và báo chí bám theo từng vụ án để buộc cơ quan liên bang phải trả lời, phải trả tự do cho em bé 5 tuổi3 bị bắt giam. Tất cả những điều đó là nhân quyền trong hành động – không phải khẩu hiệu, mà là quyền được sống, được phản đối, được buộc chính quyền phải trả lời.

Một hệ thống bảo vệ nhân quyền không “sống” được nhờ may mắn. Nó chỉ đứng vững khi các chính quyền và xã hội dân sự cùng chung tay xây nên những cơ cấu đủ vững để không bị lật bởi mỗi một nhiệm kỳ tổng thống. Nguy hiểm nhất là khi công chúng nuốt trọn lời hứa dối trá của chủ nghĩa độc đoán: hy sinh một chút quyền của người khác để đổi lấy “an ninh” cho riêng mình. Lịch sử đã cho thấy, khi người ta im lặng trước việc quyền của kẻ khác bị tước đoạt, thì đến lượt mình, sẽ không còn ai lên tiếng thay nữa.

Nghịch lý đau lòng nằm ngay trong cộng đồng người Việt ở Mỹ: những người từng trốn công an, tránh trại cải tạo, sống nơm nớp vì lệnh bắt không giấy, giam giữ không bản án, nay lại lên giọng cổ vũ “biện pháp mạnh” với di dân, tị nạn khác, gọi họ là “xâm lăng”, “đe dọa an ninh”, “ăn bám”. Những người Việt này quên mất rằng chính mình ngày xưa ra đi trên những chiếc ghe không giấy tờ, không visa, không chiếu khán, không có quy chế gì ngoài thân phận gửi vào lòng tử tế của thế giới. Họ chỉ được gọi là “tị nạn hợp pháp” sau này, nhờ những công ước và chương trình tiếp nhận của những bộ luật được tranh đấu dai dẳng mà hôm nay chính họ đang quay lưng chống lại.

 

Từ năm 1975 đến 1997, riêng Hoa Kỳ đã nhận vào trên bốn trăm ngàn người Việttị nạn từ biển và các trại ở Đông Nam Á. Cộng đồng tị nạn Việt tại Mỹ không chỉ là những người “được cứu”, mà là một phần của xã hội dân sự nơi mình định cư. Với ký ức sống về con đường tìm tự do và về sự đàn áp tại quê nhà, họ có lợi thế đạo lý để đứng ở tuyến đầu bảo vệ dân chủ và nhân quyền, thay vì làm khán giả im lặng hay ngoảnh mặt với người đến sau. Đối với người Việt, đó không phải là lý luận sách vở, mà là món nợ: bảo vệ những nguyên tắc đã từng cứu mình – tòa án độc lập, báo chí tự do, quyền xin tị nạn, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và lương tâm con người – để những chiếc ghe Bolinao đến sau còn hy vọng được cứu vớt.

 

Cuối cùng, Bolinao 52 không chỉ là một bi kịch giữa biển Đông. Đó là tấm gương soi lại thái độ của chúng ta hôm nay. Nếu chúng ta quên rằng 52 người sống sót ấy được cứu chính nhờ một trật tự tôn trọng nhân quyền mà quay lưng đứng về phía kẻ đang phá trật tự đó – thì những cái chết trên biển năm xưa hóa vô nghĩa.


Trân quý quyền của mình mà phủi tay trước quyền của người khác không phải là bảo vệ nhân quyền. Đó chỉ là giữ khư khư một thứ ‘nhân quyền của riêng mình’  – một thứ nhân quyền có dây rút: gặp “phe ta” thì nới, gặp người khác thì siết.

Đó là cách nhanh nhất để phản bội chính lý do người Việt chúng ta được gọi là ‘người tị nạn’.

 

Nina HB Lê

 

---------------------------

Chú thích & tham khảo:

(1) Hoa Kỳ gia nhập Nghị định thư 1967 về Quy chế Người Tị Nạn năm 1968 và về sau ban hành Refugee Act 1980, đặt nền pháp lý cho việc tiếp nhận và tái định cư hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ. Quyết định đó không hề “được lòng” cử tri: một thăm dò CBS–New York Times lúc bấy giờ cho thấy 62% người Mỹ phản đối việc nhận thêm người tị nạn. Bất chấp điều đó, Tổng thống Jimmy Carter vẫn tuyên bố: “Chúng tôi sẵn sàng hành động với lòng trắc ẩn vốn từ lâu đã là đặc tính của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mỗi khi phải đối diện với những hoàn cảnh khủng hoảng nhân đạo như thế này.”

(2) Bài “Liệu Nhân Quyền Có Sống Nổi Qua Thời Donald Trump?” của Philippe Bolopion, đăng trên trang Human Rights Watch ngày 31-1-2026.

(3) Em bé 5 tuổi Liam Conejo Ramos và cha bị ICE bắt tại Minnesota, sau đó bị giam tại trại Dilley, Texas, rồi được tòa liên bang ra lệnh trả tự do, đã trở thành tâm điểm phản đối chính sách di trú của chính quyền Trump trong những tuần cuối tháng 1-2026.

(4) Số liệu về khoảng trên 400.000 người Việt tị nạn được Hoa Kỳ tiếp nhận từ 1975 đến cuối thập niên 1990 được rút ra từ các thống kê về “boat people” và chương trình tái định cư Đông Dương của Hoa Kỳ.

 

 

 

 


AI GIẾT THE POST? (Kalynh Ngô / Việt Báo)

 



 

Ai Giết The Post?  

Kalynh Ngô

04/02/2026

https://vietbao.com/a324447/ai-giet-the-post-

 

Sáng sớm mùa Đông, Lizzie Johnson thức dậy trong môi trường không điện, không sưởi, có ngày thì không có nước. Cô ngồi trong xe, dùng bút chì, vì các loại viết mực đều bị đông cứng dưới thời tiết của Kyiv, viết dưới ánh đèn pha. Đó là những bài tường thuật về cuộc chiến Ukraine gửi về cho Washington Post.

 

Lizzie là ký giả của tờ Washington Post, đặc trách chiến trường Ukraine. Hôm 26/1, cô đăng trên mạng xã hội X, gắn tên trực tiếp @JeffBezos: “Tôi yêu công việc của mình. Mỗi ngày, tôi đặt cược sinh mạng của tôi cho công việc. Và tôi mong sẽ tiếp tục giữ nó, kể những câu chuyện ở tiền tuyến của một cuộc chiến đang định hình lại thế giới. Tôi nghĩ các độc giả của Washington Post luôn đón nhận những bài tường thuật quốc tế là cần thiết”.

 

Đúng một tuần sau, khoảng 11 giờ sáng ngày 4/2, Lizzie nhắn vài lời trên X: “Tôi bị Washington Post sa thải ngay giữa vùng chiến sự. Tôi đau đớn, không nói nên lời”.

 

Alan Sipress là biên tập viên quốc tế, chuyên về Trung Đông. Ông là tác giả cuốn sách The Fatal Strain, từng làm việc tại Jakarta, Cairo, New Delhi, Philadelphia và Princeton. Sipress thông báo: “27 năm của tôi ở Washington Post kết thúc vào hôm nay. The Post đã là nhà của tôi, một nơi mà tôi vô cùng yêu quý và tin tưởng mãnh liệt vào sứ mệnh của nó”.

 

Lizzie Johnson, Alan Sipress chỉ là hai trong hơn 300 ký giả chính thức nhận lệnh sa thải của Washington Post sau một cuộc họp trực tuyến sáng.

 

Sau khi Amazon MGM của Jeff Bezos chi $40 triệu USD để mua bản quyền và sản xuất bộ phim tài liệu về vợ của Donald Trump, “Melania” và chi thêm $35 triệu USD nữa để quảng cáo, thì tờ Washington Post (The Post), cũng thuộc sở hữu chủ của Bezos, cũng giảm đi hương vị đậm đà bên ly cà phê sáng – thói quen của nhóm người Mỹ đọc báo. Trong một phiên họp trực tuyến sáng nay, The Post thông báo sa thải hơn 300 ký giả, khoảng 30% tổng số nhân viên và giải thể các phòng tin tức cốt lõi của tờ báo. Một quyết định mà nội bộ của The Post mô tả là “một cuộc tàn sát”.

 

 

Cái chết được báo trước

 

Tin nhắn ngày 26/1 của Lizzie chứng tỏ tin đồn về việc sa thải đã lan truyền suốt nhiều tuần trước. Columbia Journalism Review (CJR) xác nhận, trong tòa soạn, cảm giác lo sợ đã bao trùm từ rất lâu rồi. Sáng nay, CJR tiết lộ, “cảm giác trong tòa soạn là cách họ xử lý vấn đề này giống như một cuộc chiến tranh tâm lý tàn nhẫn,” một nhân viên cho biết – người này, giống như những người khác, đã yêu cầu giấu tên vì sợ bị mất việc. Các liên kết đến các bài báo đưa tin về việc sa thải đã được “truyền tay nhau như những tài liệu mật,” một nhân viên khác nói. Cảm giác như “một lưỡi dao tử thần đang treo lơ lửng trên đầu chúng tôi”.

 

Matt Murray, tổng biên tập của tờ Washington Post, thông báo với nhân viên “sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện chiến lược ở nước ngoài ở khoảng một chục địa điểm, tập trung vào các vấn đề an ninh quốc gia”. Nhóm phụ trách tin tức địa phương sẽ được cơ cấu lại. Số lượng biên tập viên tại Washington Post sẽ “giảm đáng kể”; các nhóm nghệ thuật sáp nhập vào nhau. “Những quyết định này rất đau đớn,” Murray nói. “Đây là một ngày khó khăn”.

 

Đây hoàn toàn không phải là một đợt sa thải nhân viên như bình thường hoặc như đang diễn ra ở Mỹ hơn một năm nay. Đây là sự sụp đổ của một cơ quan báo chí mà tên tuổi từng đại diện cho sự điều tra không khoan nhượng và phục vụ công chúng. The Post sa thải từ bộ phận thể thao đến các phóng viên quốc tế, điều mà ban lãnh đạo gọi là “tái cấu trúc chiến lược”. Chuyên mục sách (The Book Sections) – trương mục uy tín của những tác giả, độc giả, nhằm giới thiệu văn hóa đọc và kiến thức của sách đến cho người dân – cũng bị đóng. Podcast tin tức hàng ngày (Post Reports) bị tạm dừng. Các nhóm nhà báo đưa tin nước ngoài như Lizzie Johnson và nhóm phóng viên địa phương bị cắt giảm mạnh.

 

Marty Baron, cựu biên tập viên điều hành của The Post cho biết: “Đây là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử của một trong những tổ chức tin tức lớn nhất thế giới”.

 

Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự.

 

Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.

 

Kết quả hôm nay của The Post không chỉ là hệ quả của thị trường bên ngoài. Các quyết định nội bộ, từ định hướng biên tập đến cách điều hành, là đoạn đầu đài đã bào mòn, khai tử cả tinh thần bên trong lẫn niềm tin bên ngoài, của nhân viên và độc giả.

 

Hơn một năm trước, vào giờ thứ 11, Jeff Bezos đưa ra quyết định rút lại sự tán thành của ban biên tập Washington Post dành cho ứng cử viên tổng thống Kamala Harris. Đó là một bước ngoặt lớn. Trong những ngày sau đó, hơn 250.000 độc giả đã hủy ghi danh thành viên.

 

Một nhân viên nói với CJR: “Có ý kiến ​​cho rằng các vấn đề tài chính hiện tại của The Post đã trở nên trầm trọng hơn do việc ông ta (Bezos) rút lại sự chứng thực của Harris và việc ông ta sửa lại các trang ý kiến, quan điểm, dẫn đến một ‘cuộc di cư’ của độc giả. Cùng với việc không thể tạo thêm doanh thu, nó đã tạo ra một cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn cho hoạt động kinh doanh mà giờ đây chúng tôi đang phải gánh chịu”.

 

Thêm vào đó, gần đây hơn, sau khi FBI đột kích vào nhà của Hannah Natanson, một phóng viên của The Post, liên quan đến cuộc điều tra rò rỉ các nguồn tin mật, “có một điều đặc biệt khó chịu là Bezos không nói gì cả,” nhân viên này nói thêm.

 

Liên quan đến sự kiện này, vào thời điểm đó, rất nhiều dư luận trên mạng xã hội chờ đợi Jeff Bezos lên tiếng bảo vệ quyền tự do báo chí của tờ báo.

 

Ruth Marcus, một nhà báo kỳ cựu đã có hơn bốn mươi năm tại tờ báo Washington Post, với tư cách là phóng viên, biên tập viên, người viết bài xã luận và người viết chuyên mục. Bà đã từ chức vào tháng Ba năm ngoái, sau khi Bezos thông báo rằng chuyên mục Quan Điểm, nơi bà làm việc, từ nay sẽ tập trung vào hai nội dung chính là “quyền tự do cá nhân và thị trường tự do”.

 

Điều đáng lo ngại hơn là Bezos tuyên bố, những quan điểm phản đối hai nội dung đó sẽ được để cho các tờ báo khác đăng tải. “Trước đây, chuyên mục Quan Điểm của WaPo phản ánh nhiều ý kiến khác nhau – điều mà chính Bezos đã khuyến khích. Rõ ràng là sự thay đổi này hoàn toàn sai lầm,” Ruth viết trong một bài xã luận trên NewYorker.

 

Những gì sẽ mất

 

Đây không chỉ là người mất việc. Đây là một mạng lưới truyền thông độc lập bị giật sập. Khi trưởng ban Trung Đông và các phóng viên quốc tế đăng dòng tweet ngắn gọn “lòng chúng tôi tan nát” thì nó cho thấy mức độ gắn bó với công việc, và sự tổn thất không đếm được.

 

Khi bàn tin tức địa phương hẹp lại, ít phóng viên theo dõi thành phố, cảnh sát, dân sự. Khi bàn quốc tế cắt ngắn đi, công chúng Mỹ nhận tin tức về thế giới qua tổng hợp thuật toán thay vì tường thuật tại chỗ. Khi mảng văn hóa, sách, thể thao biến mất, đời sống công chúng mất đi những không gian chung để hiểu nhau.

 

Các đợt sa thải tại The Post không chỉ là khủng hoảng của riêng nó. Chúng là triệu chứng của một hệ thống đang căng thẳng: Báo chí bị tấn công chính trị, bị thao túng bởi chủ nghĩa tài phiệt. Chủ tịch NewsGuild-CWA Jon Schleuss viết: “Thật kinh tởm khi một trong những người giàu nhất thế giới lại đầu tư vào việc mua chuộc tổng thống Hoa Kỳ hơn là đầu tư vào các nhà báo là cơ quan giám sát nền dân chủ”. Ông cho rằng hành động của Bezos sẽ cảnh báo mọi người Mỹ quan tâm đến quyền lợi của họ ở đất nước này.

 

Trong bài viết của mình, Ruth Marcus trích dẫn lời của một cựu quản lý biên tập viên, làm việc cho The Post hơn nửa thế kỷ, nói rằng: “Bezos thất bại vì hệ thống làm việc cá nhân của ông ấy, một cách mà tôi sợ là ông ấy không hiểu được. Ông ta không biết rằng danh tiếng của mình sẽ bị tổn hại trong lịch sử nếu bị coi là người đã phá hủy thể chế của Katharine Graham, nhà xuất bản nổi tiếng đã dẫn dắt tờ báo từ những năm 60s đến những năm 90s, và Ben Bradlee đã xây dựng”.

 

Những người trong giới truyền thông chỉ ra rằng Jeff Bezos, người từng được ca ngợi là “anh hùng cứu thế” khi mua The Post năm 2013, ngày càng xa rời cam kết công khai với sứ mệnh báo chí. Một số cựu nhân sự cho rằng đường lối hiện nay bị thúc đẩy nhiều hơn bởi mong muốn “tồn tại chính trị và kinh tế” hơn là xây dựng một chiến lược củng cố báo chí điều tra độc lập. Nhà báo hiện tại của The Atlantic Ashley Parker, từ chối quay về The Post dù có những hứa hẹn quyền lợi hấp dẫn. Lý do là “The Post không còn là tờ báo đã tuyển dụng tôi tám năm trước và tôi không muốn làm việc cho một sở hữu chủ và nhà xuất bản nhầm lẫn khinh miệt phòng tin tức với một kế hoạch kinh doanh”.

 

Ai giết The Post?

 

Kalynh Ngô

 

 

 



View My Stats