Friday, 25 September 2026

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO :NGUY CƠ TÁC NHÂN AI VƯỢT VÙNG KIỂM SOÁT BUỘC MỸ / TRUNG ĐỐI THOẠI TÌM THỎA HIỆP (Trọng Thành / RFI)

 



Trí tuệ nhân tạo: Nguy cơ tác nhân AI vượt vòng kiểm soát buộc Mỹ, Trung đối thoại tìm thỏa hiệp

Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 24/09/2026 - 15:59

https://www.rfi.fr/vi/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-......... %E1%BA%A1i-t%C3%ACm-th%E1%BB%8Fa-hi%E1%BB%87p

 

Hàng loạt vụ tác nhân AI thoát khỏi kiểm soát của công ty chủ quản AI trong hai tháng gần đây, đặc biệt là vụ Hugging Face, gây chấn động trước hết tại Mỹ. Nhiều đại tập đoàn AI đã kêu gọi chính quyền Mỹ sớm có biện pháp kiểm soát an toàn AI, nhưng tổng thống Donald Trump gạt phăng với lý do cuộc đua tranh công nghệ. Tuy vây, Washington lần đầu tiên chính thức đưa các đối thoại với Bắc Kinh vể kiểm soát nguy cơ AI vào chương trình nghị sự.

 

HÌNH : https://s.rfi.fr/media/display/45c19a5e-8abe-11f1-8900-005056bfb2b6/w:1024/p:16x9/images-239.webp

Ảnh minh họa : Vụ Hugging Face. © IT social

 

Biến cố Hugging Face: Các tác nhân AI phối hợp hành động 

 

Đầu tháng 7/2026, trong vài ngày, hàng trăm tác nhân AI thuộc một số mô hình tân tiến của OpenAI đang trong giai đoạn thử nghiệm, trong môi trường cô lập với bên ngoài, đã tìm cách thoát ra được bên ngoài, xâm nhập vào các cơ sở của nền tảng Hugging Face. Hơn 17.000 hành động can thiệp đã được thực hiện, hoàn toàn không có bàn tay của con người (báo cáo của Hugging Face). Ngay sau sự việc được phát hiện, cuối tháng 7/2026, hơn 1.000 nhân viên của bốn tập đoàn OpenAI, Anthropic, Google DeepMind và Meta, trong đó có hai lãnh đạo OpenAI và Anthropic, đã công bố một thư ngỏ kêu gọi thế giới hành dộng phối hợp giảm tốc phát triển công nghệ AI, nhằm kịp thời đối phó với nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng khi các công nghệ tiên tiến (frontier models) vượt tầm kiểm soát.

 

Hiểm họa do sự phát triển đột biến của AI gây ra với nhân loại đã liên tục được giới chuyên gia cảnh báo từ lâu nay. Tuy nhiên biến cố Hugging Face là một sự kiện chưa từng có. Cuộc xâm nhập của các tác nhân AI này không gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng đây là lần đầu tiên các tác nhân IA chứng tỏ khả năng tự tổ chức phối hợp hành động quy mô lớn, vượt khỏi hệ thống kiểm soát.

 

Chuyên gia hàng đầu về AI người Canada, Yoshua Bengio, giải thưởng Turing 2018 (thường được coi là Nobel tin học), nhà sáng lập Viện Trí tuệ nhân tạo Milan, nhấn mạnh đến tính chất vô cùng nguy hiểm của tác nhân AI hành động tự chủ :

« Các tác nhân AI thậm chí còn tạo ra các lý do để làm những việc mà chúng biết là không nên làm, giống hệt như cách con người vẫn làm. Đó chính là điều chúng ta cần thực sự chú ý. Đa số mọi người hiện tại vẫn coi AI chỉ là những cỗ máy hay chương trình do các kỹ sư con người viết ra, nhưng thực tế chúng ta đã vượt xa giai đoạn đó rồi. Chúng ta đang đối mặt với các hệ thống AI có khả năng tự chủ, không cần đến con người. Để đạt được những mục tiêu mà chúng ta đặt ra, chúng có thể thực hiện đủ loại hành động có thể thực sự nguy hiểm. Nếu để tình trạng này tiếp diễn, và nếu các hệ thống này ngày càng trở nên thông minh và tự chủ hơn nữa, hậu quả có thể sẽ vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, đó lại chính là hướng đi hiện nay. »

 

Từ hơn hai tháng nay, hàng loạt vụ tác nhân AI hành động tự tung tự tác được ghi nhận. Viện An ninh Trí tuệ nhân tạo Anh quốc AISI, trong cuộc thử nghiệm cuối tháng 7, đầu tháng 8, đã phát hiện được 10 trường hợp tác nhân AI can thiệp mạng Internet mà không được phép, chiếm gần 10% số thử nghiệm, trong đó đại đa số xuất phát từ các mô hình của Anthropic. Xét về quy mô và tầm mức, vụ Hugging Face là ghê gớm nhất.

 

IA hay bất cứ công nghệ tối tân nào: An toàn là điều then chốt

 

Nhà chính trị học David Djaïz, chủ tịch Ascend Partners, đồng sáng lập chỉ số về sức bền kỹ thuật số : « Tôi tán thành đề xuất của Demis Hassabis, nhà sáng lập Google DeepMind, về việc cần có một cơ quan điều phối - bao gồm đại diện từ cả chính phủ lẫn các cơ sở nghiên cứu IA lớn, có khả năng thực hiện quy trình kiểm định kỹ lưỡng trước khi một ‘‘mô hình tiên phong’’ (frontier model) được phát hành hoặc được đưa ra thị trường. Tôi muốn lưu ý rằng tất cả các ngành công nghiệp mang tính rủi ro và hệ trọng, như ngành hóa chất, điện hạt nhân hay hàng không, đều phải có một văn hóa bảo vệ an toàn rất nghiêm ngặt. » (Sommes-nous en train de perdre le contrôle de l'IA ? France Inter)

 

Chuyên gia Yoshua Bengio : « Chừng nào chính phủ Mỹ còn chưa thực hiện những hành động cần thiết, tôi vẫn hoan nghênh việc các công ty phối hợp để tự quản lý và cho phép các quan sát viên độc lập kiểm tra hoạt động của họ. Tuy nhiên, xét cho cùng thì chính phủ vẫn cần phải vào cuộc. Hơn nữa, các thỏa thuận quốc tế cũng đóng vai trò thiết yếu, bởi lẽ trí tuệ nhân tạo (AI) được phát triển tại một quốc gia có thể bị sử dụng ở quốc gia thứ hai để tấn công quốc gia thứ ba. »

 

 

Áp lực gia tăng trong nội bộ nước Mỹ …

 

Về các sự cố AI hành động tự tung tự tác nói trên, trong giới chuyên gia có nhiều quan điểm. Có nhiều người cho đây là thủ đoạn của các tập đoàn công nghệ Mỹ nhằm khôn khéo quảng bá hình ảnh (Racha Chatila, giáo sư danh dự về AI và đạo đức công nghệ ở Đại học Sorbonne), đồng thời gây áp lực với Trung Quốc. Giáo sư Laurence Devillers, chuyên về các vấn đề đạo lý với AI, một mặt chỉ trích việc thồi phồng các nguy cơ của AI dến mức hoang tưởng khi nói đến sự tuyệt diệt của nhân loại, mà không dựa trên cơ sở cụ thể nào, nhưng đồng ý về hiểm họa AI vượt tầm kiểm soát là có thực (trả lời Radio France).

 

Áp lực gia tăng lên chính quyền Trump. Giữa tháng 9/2026, ba tập đoàn lớn trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo tại Hoa Kỳ, Open AI, Anthropic và Google DeepMind thúc đẩy thành lập một cơ quan độc lập với nhà nước, giám sát để ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến công nghệ này, tương tự như Cơ quan Quản lý Tài chính Hoa Kỳ (FINRA). Ngày 18/09, thống đốc bang California Gavin Newsom ban hành sắc lệnh thúc đẩy các tập đoàn phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo tăng cường các hàng rào an ninh đề phòng AI « vượt khỏi tầm kiểm soát của con người » với công cụ mới mang tên kill switch, tức một cơ chế ngăn chặn khẩn cấp.

 

Murielle Popa-Fabre, chuyên gia về quản trị AI (bài Comment réguler l’IA sans reculer ? Radio France, 17/09/2026) đánh giá cao hành động phối hợp của các tập đoàn AI hàng đầu vào thời điểm sắp diễn ra thượng đỉnh Mỹ - Trung và hội nghị quốc tế :

 

« Thời điểm mà các thông báo được các công ty AI đưa ra rất đáng chú ý,  ngay trước cuộc gặp Tập Cận Bình - Donald Trump, cũng như một hội nghị quan trọng của Liên Hiệp Quốc vào tuần tới, nơi mà công tác xây dựng cơ chế quản trị AI đã được triển khai từ lâu. Vấn đề này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất là nhận thức ngày càng rõ rằng mọi hành động cần phải được thực hiện ở cấp độ quốc tế. Và thứ hai là các giải pháp cụ thể đang được đề xuất, đáng chú ý là từ phía công ty Anthropic, như để các bên thứ ba đáng tin cậy (un tiers de confiance) đánh giá các mô hình AI. Bất kể lý do ẩn sau những hành động này là gì, đây vẫn là một bước tiến rất quan trọng. Bởi vì đề xuất này làm nổi bật những vấn đề then chốt liên quan đến hệ thống kiểm thử - giám sát, tham gia của bên thứ ba đáng tin cậy, và cho thấy những thách thức rộng lớn hơn xoay quanh công tác quản trị AI. »

 

·        Đọc thêm : Vì sao OpenAI và Anthropic muốn làm chậm cuộc đua Trí tuệ Nhân tạo ? 

 

Tại phiên họp về AI của Hội đồng Bảo an, ngày 23/09/2026 (một ngày trước thượng đỉnh Mỹ - Trung), theo sáng kiến của Pháp, lãnh đạo các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo, OpenAI, Anthropic và Hugging Face đã kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro. Trong lúc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 22/09 bác bỏ ý tưởng về cơ chế giám sát toàn cầu, đại sứ Trung Quốc muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của LHQ. Theo AFP, chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic Dario Amodei lần đầu tiên cam kết Anthropic « đơn phương làm chậm lại tốc độ phát triển AI » để đảm bảo mọi mô hình mới đều « thực sự an toàn ».  

 

… Washington thúc đẩy đối thoại chính thức với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh

 

Vấn đề đối thoại về an toàn AI rút cục đã được chính phủ Mỹ chính thức đưa vào đề xuất với Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, người phụ trách đàm phán chính, đã đề xuất về cơ chế thông báo về an toàn AI (safety notifications) trong các cuộc thảo luận với Trung Quốc trước thềm thượng đỉnh (24/09). Cụ thể là xây dựng thảo luận về các mối đe dọa chung, bao gồm cả việc thông báo về các sự cố liên quan đến AI có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mỗi bên.

 

Ông Sun Chenghao, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế, thuộc Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), cho biết chương trình nghị sự có thể tập trung vào các rủi ro AI có khả năng gây hại cho cả hai nước, chẳng hạn như các cuộc tấn công mạng sử dụng AI, việc lạm dụng AI vào mục đích sinh học, sự cố nghiêm trọng ở các mô hình AI lớn hoặc tình trạng mất quyền kiểm soát của con người (AP).

 

Quân sự : AI ngày càng trở thành chủ chốt, nguy cơ đại thảm họa gia tăng

 

Bộ trưởng An ninh Quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin), trong một bài viết trên báo Trung Quốc hồi tuần trước, nhấn mạnh AI đang làm thay đổi cơ bản cách thức tiến hành chiến tranh, « từ vai trò hỗ trợ trên chiến trường sang vai trò chủ chốt ». Theo Reuters, hai tác giả Melanie Sisson, nghiên cứu viên cao cấp tại viện nghiên cứu Brookings, và Jiang Tianjiao, phó giáo sư tại Đại học Phục Đán (Fudan), đã tham gia vào cuộc đối thoại về trí tuệ nhân tạo (AI) và an ninh quốc gia giữa Mỹ và Trung Quốc do Brookings và Trung tâm An ninh và Chiến lược Quốc tế của Đại học Thanh Hoa tổ chức từ năm 2019, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần tìm phương thức để hạn chế các quyết định quân sự do máy móc đưa ra (machine-made military decisions), và thiết lập các giao thức liên lạc trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân (set communication protocols) để phòng ngừa công nghệ AI hoạt động ngoài dự kiến.

 

Trả lời đài France Info, chuyên gia về Trung Quốc đương đại Emmanuel Véron ghi nhận bước tiến trong đối thoại Mỹ - Trung trong bối cảnh cạnh tranh ngày một quyết liệt :

 

« Tôi cho rằng cần phải nhấn mạnh lại rằng trí tuệ nhân tạo (AI) là nền tảng cho các vấn đề về quyền lực, và theo một nghĩa nào đó là cơ sở cho sự thống trị toàn cầu trong tương lai. Trong bối cảnh này, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều không chọn cách dừng lại, giảm tốc hay từ bỏ bất kỳ lĩnh vực nào liên quan đến đổi mới và phát triển AI. Và nếu một bên không chịu lùi bước thì bên kia cũng sẽ không làm vậy. Chúng ta đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh dài hơi.

 

Tuy nhiên, một tín hiệu đã được phát đi: ‘‘Hãy nhìn xem, chúng tôi đang thảo luận về khả năng quản lý những bước phát triển này.’’ Đó chính là mấu chốt của vấn đề xác định phạm vi cho bất kỳ khuôn khổ hợp tác tiềm năng nào giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đối với các bước tiến của AI, đặc biệt là các vấn đề then chốt như kiểm soát AI để ngăn chặn nó tự ý nắm quyền điều hành một nhà nước, kiểm soát hệ thống răn đe hạt nhân, hay thậm chí là chi phối các mảng lớn của xã hội toàn cầu đi ngược với mong muốn của chính quyền một nước hoặc của chính nhân loại. Rõ ràng là một cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang diễn ra, cho thấy cả hai bên đều có quan ngại về những bước tiến này. »

 

Cạnh tranh AI: Hai lập trường đối nghịch Mỹ, Trung

 

Đông đảo giới quan sát dè dặt về khả năng Mỹ, Trung hướng đến xác lập được một số đồng thuận trong lĩnh vực nhạy cảm này trong bối cảnh lập trường của hai bên về chiến lược AI là hết sức đối nghịch. Đối lại liên minh AI Pax Silica do Hoa Kỳ tổ chức, tập hợp trước hết các nước phương Tây, ra mắt từ cuối năm ngoái, tháng 7/2026, Bắc Kinh thành lập Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới (WAICO), với chủ trương thu hút các quốc gia thuộc khối Nam bán cầu (Global South). Định chế WAICO gồm 29 nước, chủ yếu từ Nam bán cầu, được kỳ vọng mang lại cho các nước thành viên các đào tạo, tiếp cận công nghệ, tiếng nói trong quản trị AI.

 

Về các rủi ro do AI, chính quyền Mỹ hiện đặt cược vào các công ty tư nhân, xây dựng các quy trình kiểm tra an toàn tự nguyện, phát triển dựa vào các « mã nguồn đóng », trong lúc Trung Quốc đặt mục tiêu trên hết là ổn định chính trị, nhà nước tập trung kiểm soát, dựa trên « các mã nguồn mở ». Mỹ lo ngại việc phổ biến rộng rãi chính sách mã nguồn mở có thể tạo điều kiện cho công nghệ AI dễ dàng lọt vào tay các thế lực bất hảo.

 

                                                    ***

 

Hiểm họa AI khôn lường:  Những cường quốc bậc trung không bó tay

 

Trong bối cảnh AI đang được cả Mỹ và Trung Quốc tập trung đầu tư để phát triển với mục tiêu rất khác nhau, viễn cảnh các tác nhân AI thuộc các công nghệ tân tiến nhất lọt khỏi tầm kiểm soát đang trở thành hiện thực nhãn tiền, nhiều nỗ lực trong cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên quốc gia khác hướng đến công nghệ Trí tuệ nhân tạo an toàn đặt dưới sự kiểm soát của con người, không bị các thế lực độc tài thao túng. Chuyên gia Yoshua Bengio nhận định :

 

« Ngay cả Alan Turing – một người tiên phong của ngành khoa học máy tính – cũng từng viết về điều này từ năm 1951. Ông nhận định rằng nếu máy tính trở nên thông minh hơn con người, chúng ta sẽ gặp nguy cơ diệt vong. Sự thống trị này có thể thông qua quyền lực kinh tế, quyền lực quân sự, hoặc bằng việc chi phối người dân, dư luận, v.v. Có vô số kịch bản mà công nghệ này có thể trở thành một công cụ thống trị.

 

Cộng đồng quốc tế cần thấu hiểu sức mạnh ghê gớm mà người ta đang tạo ra. Một sức mạnh như vậy đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ. Cho dù có một lộ trình khả thi để tạo ra các hệ thống AI không có tính nguy hiểm tiềm tàng, nhưng đó lại không phải là hướng đi đang được tiến hành hiện nay. Chúng ta cần nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng của hiểm họa này. Vì vậy cần phải có một nỗ lực mang tính đa phương. Những nỗ lực hiện tại của Canada và các quốc gia khác nhằm xây dựng các liên minh kinh tế và địa chính trị vững chắc hơn, chính vì vậy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trước sự trỗi dậy ghê gớm của AI. » (Mọi người cần hiểu mức độ nguy hiểm của AI, France Info, ngày 20/09/2026). 

 

Thế giới không thể khoanh tay chờ đợi cuộc mặc cả giữa hai siêu cường. Chuyên gia Yoshua Bengio, vừa được hai chính phủ Đức và Canada cam kết tài trợ 300 triệu đô la, cũng là nhà điều hành doanh nghiệp IA LoiZéro, có chủ trương phát triển một công nghệ IA coi an toàn là nền tảng (safe-by-design), một công nghệ AI có thể, về lâu dài, đóng vai trò như công cụ giám sát và kiềm chế các hành vi lệch lạc của những tác nhân IA « tự trị » hùng mạnh đang được các công ty tư nhân tập trung phát triển.

 

Cạnh tranh quốc tế về quản trị rủi ro AI :

 

Chiến lược « song hành » của Trung Quốc, ưu thế của Mỹ « bị xói mòn nhanh chóng »

 

Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế CSIS, có trụ sở tại Washington DC, trong bài tổng thuật đáng chú ý (Tình hình Quản trị AI Toàn cầu và Những Ảnh hưởng đối với Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Trung, 21/09/2026), chỉ ra những đột biến trong lĩnh vực này ít tháng gần đây, đặc biệt trong bối cảnh « nhiều tác nhân AI tự trị của nhiều công ty đã vượt khỏi kiểm soát ». Ngày 14/7/2026, không lâu sau vụ Hugging Face, Demis Hassabis, đồng sáng lập Google DeepMind, đã kêu gọi thiết lập một khung toàn cầu do Mỹ dẫn đầu để quản trị rủi ro AI, với một cơ quan Tiêu chuẩn AI (Frontier AI Standards Body), có trách nhiệm phát triển các giao thức đánh giá các mô hình AI tiên phong « bất kể quốc gia xuất xứ ». Ngày 16/07, tại hội nghị thành lập WAICO - Tổ chức Hợp tác Trí tuệ Nhân tạo Thế giới, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, kêu gọi tất cả các nước « chung tay xây dựng một hệ thống quản trị AI toàn cầu công bằng ».

 

CSIS ghi nhận tình trạng thiếu hụt quản lý rủi ro AI tại Trung Quốc mà thiên hẳn về kiểm soát tư tưởng, bảo đảm an ninh cho chế độ. Tuy nhiên, Bắc Kinh đang cùng lúc thúc đẩy xây dựng WAICO, và quản trị AI toàn cầu trong khuôn khổ LHQ, như Đối thoại Toàn cầu của LHQ về Quản trị AI (phiên họp đầu tiên tại Geneva vào tháng 7/2026). Đây là một chiến lược song hành (dual-track strategy). CSIS ghi nhận : « Nếu cuộc cạnh tranh toàn cầu về quản lý AI đang hình thành xung quanh việc tổ chức nào sẽ viết ra các quy tắc và quốc gia nào sẽ tuân theo chúng, thì cách tiếp cận hiện tại của Mỹ là không đủ », Trung Quốc có thể giành được « một lợi thế đáng kể » trong lúc ưu thế chiến lược của Mỹ « đang bị xói mòn nhanh chóng nhất » trong lĩnh vực quản trị AI.

 

CSIS khuyến nghị Washington không nên chỉ tập trung vào chuỗi cung ứng AI (với liên minh Pax Silica) và cạnh tranh công nghệ, mà cần chủ động nhập cuộc trong cạnh tranh xác lập quy tắc quản trị AI.  « Từ chối tham gia với Trung Quốc về an toàn AI vào thời điểm các sự cố AI tự trị đang trở thành chủ đề quan ngại toàn cầu là nhường quyền lãnh đạo toàn cầu về vấn đề này cho Trung Quốc ».

 

=================

 

Lãnh đạo các hãng AI hàng đầu kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát rủi ro

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 24/09/2026 - 11:22  -  Sửa đổi ngày: 24/09/2026 - 14:39

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260924-l%C3%A3nh-........BB%91c-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BB%83-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-r%E1%BB%A7i-ro

 

Lãnh đạo của các công ty hàng đầu trí tuệ nhân tạo ( AI ), OpenAI, Anthropic và Hugging Face hôm 23/09/2026 đã kêu gọi Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đề cao cảnh giác và tăng cường hợp tác quốc tế để kiểm soát những rủi ro liên quan đến công nghệ này. Theo AFP, cuộc họp của Hội Đồng Bảo An, do Pháp khởi xướng, diễn ra trong bối cảnh quốc tế ngày càng lo ngại về tốc độ phát triển của trí tuệ nhân tạo.

 

https://s.rfi.fr/media/display/62351760-b7f5-11f1-acec-41bcac5946c5/w:1024/p:16x9/2026-09-23T194857Z-926621600-RC27PNAFWIFA-RTRMADP-3-AI-UN.webp

Lãnh đạo của các doanh nghiệp hàng đầu về AI của Mỹ phát biểu tại cuộc họp của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, qua hình thức trực tuyến, ngày 23/09/2026, tại New York, Mỹ. REUTERS - Brendan McDermid

 

Không phủ nhận những tiến bộ vượt bậc mà AI có thể mang lại, các nhà lãnh đạo OpenAI, Anthropic và Hugging Face đều cho rằng cần thiết lập những biện pháp bảo đảm an toàn để kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh. Kể từ đầu mùa hè, OpenAI và Anthropic đã báo cáo một số sự cố liên quan đến các mô hình AI tiên tiến nhất của họ. Những mô hình này đã đi chệch khỏi các mục tiêu do các nhà phát triển đề ra, gian lận, tìm cách nói dối và che giấu hành động của mình.

 

Trí tuệ nhân tạo (AI) là thách thức an ninh quan trọng nhất mà thế giới hiện nay đang phải đối mặt. Đây cũng là nhận định của lãnh đạo các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực này tại Hoa Kỳ.

 

Từ New York, thông tín viên Carrie Nooten cho biết thêm:

 

« Rất hiếm khi các doanh nhân Mỹ tự kiềm chế mình, nhưng có hai rủi ro, nguy cơ quá lớn liên quan đến trí tuệ nhân tạo, trước hết là nguy cơ các mô hình AI bị những kẻ khủng bố sinh học sử dụng sai mục đích, và tiếp đó là nguy cơ các nhà phát triển mất quyền kiểm soát công nghệ của chính mình.

 

Quản lý, chuẩn bị đối phó với những rủi ro, những nguy cơ mang tính thảm họa chính là nhiệm vụ của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Vì vậy, cũng như những đồng nhiệm của các công ty OpenAI và Hugging Face, chủ tịch - tổng giám đốc của Anthropic, Dario Amodei, tin rằng hợp tác quốc tế là điều không thể thiếu và ông đã đến Hội Đồng Bảo An để đề xuất một số hướng đi. Chủ tịch - tổng giám đốc Anthropic phát biểu :

 

« Thứ nhất, chúng ta nên bắt đầu bằng những thỏa thuận có mục tiêu cụ thể mà tất cả các thành viên đều có thể ủng hộ, ví dụ như cấm sử dụng AI để thiết kế vũ khí sinh học.

 

Thứ hai, chúng ta nên triển khai các hệ thống đánh giá và kiểm chứng có khả năng theo kịp tốc độ phát triển của AI, để các quốc gia có thể nắm bắt được năng lực của những mô hình AI tiên tiến nhất và kiểm tra mỗi bên có tuân thủ các cam kết của mình hay không.

 

Thứ ba là chúng ta nên thiết lập những tiêu chuẩn chung trên toàn cầu để kiểm tra các mô hình AI về nguy cơ mất quyền kiểm soát và nguy cơ bị sử dụng sai mục đích, cũng như thiết lập một hệ thống thông báo về những sự cố liên quan đến trí tuệ nhân tạo có tác động mạnh mẽ đến an ninh thế giới ».

 

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm thứ Ba 22/09 đã bác bỏ ý tưởng về một cơ chế giám sát toàn cầu. Về phần mình, đại sứ Trung Quốc ủng hộ ý tưởng này và muốn đặt toàn bộ cơ chế giám sát dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Trong lúc chờ đợi, chủ tịch - tổng giám đốc Dario Amodei cam kết hãng Anthropic sẽ làm chậm lại tốc độ phát triển AI của mình. »

 





TỪ WASHINGTON DC NHỎ NGHĨ VỀ HÀ NỘI “TO” (Giang Công Thế / Văn Đoàn Việt)

 



Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to”    

Giang Công Thế

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

https://vandoanviet.blogspot.com/2026/09/tu-washington-dc-nho-nghi-ve-ha-noi-to.html#more

 

Hà Nội chúng ta từng có hình vuông. Washington DC cũng có hình vuông. Hai thủ đô cách nhau nửa vòng trái đất, từng là “thù địch”, nay đã thành đối tác.

 

Chỉ có kiến trúc là vẫn còn một cuộc chiến khá âm thầm, một bên cố giữ cái cũ để làm nên bản sắc, một bên hình như càng nhìn thấy cái cũ càng muốn “hạ giải”.

 

Từ Washington DC, một anh chàng IT nghĩ về Hà Nội.

 

Quy hoạch Hà Nội – nảy ra từ “chân”

 

Một người bạn làm cho một tổ chức quốc tế lớn, chuyên hỗ trợ cải cách cơ cấu ở Việt Nam, kể rằng mỗi khi bàn chuyện thay đổi, đối tác Việt Nam thường có một câu rất quen: “Việt Nam đã trải qua chiến tranh, điều kiện rất đặc thù và hệ thống của chúng tôi rất đặc biệt.”

Nghe mãi thành ra có cảm giác, nước khác có thể học kinh nghiệm thế giới, còn Việt Nam thì phải sáng tạo ra một thế giới riêng.

 

Tư duy “đặc thù” ấy đôi khi đi vào cả quy hoạch thủ đô.

 

Năm 2008, Hà Nội mở rộng. Rộng đến mức nhiều người còn chưa kịp hình dung thủ đô mới sẽ vận hành thế nào thì hai năm sau đã xuất hiện câu chuyện Ba Vì có nên trở thành trung tâm hành chính quốc gia.

 

Có lúc người ta nói đến trục Thăng Long, rồi trung tâm hành chính mới. Có lúc lại chuyển hướng.

 

Trung tâm mới chưa thấy đâu, còn bây giờ câu chuyện lại quay về Hồ Gươm, làm gì với những công trình quanh hồ, cái nào giữ, cái nào “hạ giải”.

 

Người dân có thể hơi khó hiểu. Bởi nếu một thủ đô được quy hoạch bài bản, đáng lẽ người ta phải biết tương đối rõ mình muốn nó thành cái gì trước khi bắt đầu đập cái gì.

 

Nhưng quy hoạch kiểu này đôi khi khiến người ta liên tưởng đến một phương pháp rất đặc biệt: chân đi đến đâu, đầu nghĩ đến đó. Rồi gọi rất trang trọng là “xuất phát từ thực tiễn”.

Mở rộng Thủ đô năm 2008, đến năm 2026 vẫn tiếp tục bàn xem khu vực trung tâm nên tổ chức thế nào. Một khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ từ lúc vào lớp một đến lúc tốt nghiệp trung học cơ sở.

 

Có lẽ quy hoạch Hà Nội không thiếu tầm nhìn. Chỉ thiếu một thứ hơi phiền, tầm nhìn ấy phải sống đủ lâu để chứng kiến ngày nó thành hiện thực.

 

Washington DC – thủ đô “bé tí”

 

Lần đầu đến Washington DC, nhiều người sẽ ngạc nhiên: “Đây là thủ đô của nước Mỹ đấy à? Sao bé như cái lỗ mũi vầy”.

 

DC nhỏ thật, 16kmx16km = 260 km², dân số chỉ hơn nửa triệu người. So với Hà Nội mở rộng thì chẳng khác gì cụ Rùa bơi trong Hồ Hoàn Kiếm.

 

Không có những tòa nhà chọc trời mọc lên để chứng minh rằng nước Mỹ giàu. Không có cảnh mỗi mảnh đất trống đều phải tìm cách xây cho thật cao. Không có tham vọng biến thủ đô thành nơi chứa tất cả mọi thứ.

 

Vậy mà đây là nơi Nhà Trắng, Quốc hội, Tòa án Tối cao, các bộ ngành, cơ quan ngoại giao và bộ máy quyền lực liên bang tập trung. Hóa ra một quốc gia mạnh không nhất thiết phải có một thủ đô khổng lồ.

 

Ngay từ năm 1790, thủ đô liên bang đã được xác định trong một khu vực hình vuông, mỗi cạnh khoảng 16 km. Người Mỹ thậm chí dựng cột mốc để xác định ranh giới. Một số cột vẫn còn.

 

Có nghĩa là từ hơn hai thế kỷ trước, họ đã nghĩ đến chuyện thủ đô Hoa Kỳ phải như thế nào và giới hạn ở đâu.

 

Còn chúng ta, sau khi mở rộng Thủ đô đến một quy mô khổng lồ, vẫn có thể tiếp tục hỏi, trung tâm hành chính nên đặt ở đâu, Hồ Gươm nên chỉnh trang thế nào, công trình nào nên giữ, công trình nà

 

 

XEM TIẾP >>>>>  





Thursday, 24 September 2026

QUÁ THẢM HẠI CHO QUỐC THỂ NƯỚC MỸ! (Trúc Phương / Người Việt)

 



 

Quá thảm hại cho quốc thể nước Mỹ!

Trúc Phương/Người Việt

September 24, 2026 : 7:07 PM

https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/qua-tham-hai-cho-quoc-the-nuoc-my/

 

Ngoại giao qua hình ảnh là một phần của ngoại giao truyền thông. Nó quan trọng không kém chiến lược ngoại giao. Với màn đón tiếp Tập Cận Bình ngày 23 Tháng Chín, có thể thấy chưa bao giờ Trung Quốc được “làm cho” hãnh diện đến vậy ngay trên đất Mỹ. Đại bác đón mừng và cờ Trung Quốc bay phần phật các kiểu. Trump không chỉ đứng chờ mà còn ra tận cầu thang đón Tập và còn tiễn nhà lãnh đạo Trung Quốc đến tận cửa xe.

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/09/Trump-Tiep-Tap-BL-1920x1280.jpg

Tổng Thống Donald Trump và Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump tiếp Chủ Tịch Tập Cận Bình và Phu Nhân Bành Lệ Viện tại Phòng Bầu Dục, Tòa Bạch Ốc hôm 24 Tháng Chín. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

 

Đáng chú ý hơn là hình ảnh Ngoại Trưởng Vương Nghị đứng tại cửa máy bay, khoát tay điều khiển nhóm lính Mỹ khom lưng trải thảm trước khi vợ chồng Tập bước xuống. Khoảnh khắc này có thể khiến nhiều người Mỹ cảm thấy muối mặt: Ngay trên đất Mỹ, Trung Quốc xuất hiện như những kẻ “bề trên” được đón tiếp trong một nghi thức mà chủ nhà tỏ ra cung kính một cách đặc biệt.

 

Thiên tử giá lâm

 

Quyết định đón Tập Cận Bình tại Căn Cứ Liên Hợp Andrews của Trump là hành động vô cùng khác thường. Nó không thuần túy là cử chỉ ngoại giao thông thường. Nó phản ánh quan điểm của Trump về nơi nào và người nào thực sự đang nắm quyền lực trên thế giới. Nơi đó là Trung Quốc và người đó là Tập. Vô hình trung, Trump tự mình đẩy vị thế nước Mỹ xuống thấp hơn Trung Quốc, như thể Mỹ giờ đây trở thành nhược tiểu nhún nhường trước đàn anh Trung Quốc. Đó không phải là phép tắc hay lịch sự ngoại giao. Nó là thể hiện tâm lý sùng bái cá nhân mà Trump không thể che đậy khi ngước lên nhìn Tập.

 

Trump luôn đón các nhà lãnh đạo nước ngoài khi họ đến Tòa Bạch Ốc chứ không phải tại phi trường. Tháng Hai, 2025, Trump đón Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại Cánh Tây (West Wing). Tháng Tư, Vua Charles III của Vương Quốc Anh được đón tại Sảnh Nam (South Portico) Tòa Bạch Ốc. Trong ba lần đến Mỹ (2025 và 2026), Thủ Tướng Israel Benjamin Netanyahu chưa bao giờ được Trump ra phi trường đón. Người duy nhất mà Trump ưu ái trước Tập là Tổng Thống Nga Vladimir Putin, khi Trump lăng xăng đón Putin tại Căn Cứ Liên Hợp Elmendorf-Richardson ở Anchorage, Alaska vào Tháng Tám, 2025.

 

Trong thực tế, các tổng thống Mỹ từng đón tiếp các nguyên thủ và lãnh đạo tôn giáo tại phi trường để thể hiện sự trọng thị và tôn kính. Ngày 8 Tháng Năm, 1957, Tổng Thống Dwight D. Eisenhower đón Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm tại phi trường Quốc Gia Washington.

 

Tháng Tư, 1962, John F. Kennedy đón Thủ Tướng Anh Harold Macmillan tại Căn Cứ Andrews; và ngày 22 Tháng Năm, 1962, John F. Kennedy cùng Đệ Nhất Phu nhân Jacqueline đón Tổng Thống Félix Houphouët-Boigny của Bờ Biển Ngà tại phi trường Quốc Gia Washington.

 

Tổng Thống Bill Clinton đón Đức Giáo Hoàng John Paul II ba lần tại ba phi trường – Denver (1993), Newark (1995) và St. Louis (1999). Tổng Thống George W. Bush đón Đức Giáo Hoàng Benedict XVI tại Căn Cứ Andrews năm 2008; và Tổng Thống Barack Obama đón Đức Giáo Hoàng Francis tại đây năm 2015.

 

Tuy nhiên, những thượng khách trên đều là đồng minh sát sườn của Mỹ hoặc là người đứng đầu một tôn giáo có tới 20% người Mỹ theo đạo, chứ không phải là lãnh đạo một cường quốc đối thủ luôn ở thế thách thức an ninh lẫn sự thịnh vượng của Mỹ.

 

Nhìn chung, người Mỹ lẫn thế giới đang chứng kiến cách hành xử nhất quán của Trump khi ông coi những nhà lãnh đạo cộng sản và chuyên chế như Tập Cận Bình, Vladimir Putin và Kim Jong Un là những người bạn “thân thiết” ngang hàng, xứng đáng nhận mức độ tôn trọng cao nhất có thể.

 

Điều này hoàn toàn tương phản một cách mỉa mai khi Trump thường xuyên làm nhục giới lãnh đạo thuộc các nước đồng minh truyền thống. Cách đây không lâu, Trump thậm chí làm video AI với cảnh ông cầm cây gậy khúc côn cầu quật thẳng tay vào Thủ Tướng Canada Mark Carney.

 

Mức độ đón tiếp Tập Cận Bình lần này là cao “hết nấc,” được thiết kế để trở thành một “sự kiện lịch sử.” Trên trang web Tòa Bạch Ốc, chương trình tiếp đãi Tập Cận Bình được giới thiệu như sau:

 

“Sáng Thứ Năm, ngày 24 Tháng Chín, tổng thống và đệ nhất phu nhân sẽ chủ trì lễ đón cấp nhà nước để chào mừng Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu Nhân Bành Lệ Viện. Buổi lễ diễn ra tại Bãi Cỏ Nam (South Lawn), Tầng Khánh Tiết (State Floor) và Vườn Hồng Tòa Bạch Ốc với sự tham gia 479 quân nhân đại diện tất cả quân chủng Quân Lực Hoa Kỳ.

 

“Khi lễ đón bắt đầu, dọc lối đi phía Nam (South Drive) là hàng quân danh dự dẫn đến khu vực trưng bày quốc kỳ Hoa Kỳ và Trung Quốc; tại đây, Đội Kèn Hiệu của Lục Quân Hoa Kỳ sẽ cử hành nhạc hiệu chào mừng trên Hiên Phía Nam (South Portico) khi tổng thống và đệ nhất phu nhân đón Chủ Tịch Tập Cận Bình và Phu Nhân Bành Lệ Viện đến Tòa Bạch Ốc.

 

“Tại Tầng Khánh Tiết, Ban Nhạc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (mệnh danh “Ban Nhạc Riêng Của Tổng Thống” – “The President’s Own”) sẽ cử hành quốc ca Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Hoa Kỳ, tiếp đó là bài phát biểu của tổng thống và Chủ Tịch Tập Cận Bình.

 

“Buổi lễ cũng sẽ có nghi thức chào mừng cấp Tổng Thống (Presidential Salute) do Đội Biểu Diễn Không Tiếng Hô của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (United States Marine Silent Drill Platoon) và Bộ Tư Lệnh Liên Quân Hoa Kỳ thực hiện tại Bãi Cỏ Nam. Sau đó là nghi thức duyệt đội danh dự tại Vườn Hồng, nơi Đội Kèn Hiệu của Lục Quân Hoa Kỳ đứng dọc theo mái các dãy hành lang phía Tây và Phòng Bầu Dục.

 

“Các màn trình diễn quân sự được thực hiện bởi Đội Sáo và Trống của Lục Quân Hoa Kỳ (United States Army Old Guard Fife and Drum Corps), Đội Biểu Diễn Không Tiếng Hô của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, và Đội Trống và Kèn Hiệu của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (mệnh danh “Ban Nhạc Riêng Của Tư Lệnh”-“The Commandant’s Own”). Buổi lễ kết thúc với màn trình diễn một oanh tạc cơ B-2 Spirit cùng bốn tiêm kích F-22 Raptor.

…

“Tối Thứ Năm, tổng thống và đệ nhất phu nhân đón Chủ Tịch Tập Cận Bình và Phu Nhân Bành Lệ Viện tại Hiên Bắc (North Portico) Tòa Bạch Ốc để dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước tại Phòng Đông (East Room).

 

“…Sáng Thứ Sáu, tổng thống và đệ nhất phu nhân tiếp Chủ Tịch Tập Cận Bình cùng Phu Nhân Bành Lệ Viện khi hai vị khách đến Sảnh Nam Tòa Bạch Ốc để dùng trà tại Phòng Đỏ (Red Room). Sau đó, hai cặp nguyên thủ sẽ đến Cơ Quan Lưu Trữ Quốc Gia tại Washington, DC để xem các hồ sơ và tài liệu quan trọng có ý nghĩa lịch sử đối với mối quan hệ Hoa Kỳ và Trung Quốc. Để khép lại chuyến thăm cấp nhà nước mang tính lịch sử này, tổng thống và đệ nhất phu nhân sẽ tiễn Chủ Tịch Tập Cận Bình và Phu Nhân Bành Lệ Viện tại Cơ Quan Lưu Trữ Quốc gia.”

(Hết trích)

 

Thực chất là gì?

 

Vấn đề đáng nói nhất là toàn bộ chương trình “hoành tráng” này mang lại điều gì thực chất? Dù Trump “nịnh” Tập hay không, Mỹ vẫn đang ở thế không mạnh như được tưởng, trong bối cảnh vị thế và ảnh hưởng Trung Quốc hiện nay rất khác. Họ đã thắng Trump trong cuộc chiến thuế quan, ít nhất ở thời điểm hiện tại. Họ công khai ủng hộ Iran mà Trump chẳng có thể làm gì để cản. Họ liên kết với Nga để kiềm chế Mỹ hơn là Mỹ có thể kiềm chế được họ, ngay trong tình cảnh hàng loạt đồng minh tìm cách rời khỏi quỹ đạo Mỹ…

 

Cần nhắc lại, trong chuyến công du Bắc Kinh vào Tháng Năm, Trump đã lùi bước khi tán thành ý kiến của Tập về việc thiết lập “mối quan hệ mang tính xây dựng dựa trên sự ổn định chiến lược” giữa Mỹ và Trung Quốc. Ngoại Trưởng Vương Nghị nhấn mạnh, điều đó có nghĩa hai bên cần “mở rộng danh mục hợp tác, tạo ra nhiều chương trình nghị sự tích cực hơn, đồng thời thu hẹp danh sách các vấn đề bất đồng cũng như quản lý những rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn”; rằng “phía Mỹ phải xử lý vấn đề liên quan Đài Loan một cách đặc biệt thận trọng.”

 

Tất cả cho thấy, hai bên giờ đây chẳng những không nên tiếp tục đối đầu mà còn là sự mặc nhiên thừa nhận Trung Quốc hiện ở thế mà Mỹ không thể đánh bại. Trong lịch sử đàm phán trước đây, Mỹ chưa bao giờ hạ mình đồng ý sử dụng các thuật ngữ do Bắc Kinh đề xuất. Một phần nhằm tránh ngầm thừa nhận cách giải thích theo diễn dịch của “miệng lưỡi” Bắc Kinh, và một phần nhằm tránh tạo ra ấn tượng rằng Bắc Kinh là bên định hình các quy tắc cho mối quan hệ song phương.

 

Với việc Trump đồng ý “mối quan hệ mang tính xây dựng dựa trên sự ổn định chiến lược,” từ nay, Trung Quốc sẽ vin vào đó để lên án Washington bội ước khi Mỹ thực hiện bất kỳ chính sách nào ảnh hưởng đến “sự ổn định chiến lược” – chẳng hạn việc Mỹ hó hé ở Thái Bình Dương hay việc bán vũ khí cho Đài Loan.

 

Với việc Trump đồng ý chơi với Trung Quốc theo kiểu của Trung Quốc, Bắc Kinh ngày càng tự tin và mạnh miệng hơn trong các cuộc đàm phán. Nói cách khác, Bắc Kinh đang ít nhiều thành công trong việc đưa chính quyền Trump vào “khuôn khổ ngoại giao” mà Bắc Kinh tin rằng có thể kiềm chế được Mỹ. Không phải ngẫu nhiên mà một viện nghiên cứu Trung Quốc hồi đầu năm 2026 công bố một báo cáo có tiêu đề “Cám ơn Trump.” Như vậy đủ gọi là “thảm” chưa?

 

Với tất cả những gì đang diễn ra, có thể thấy trong những ngày sắp tới, Tập chắc chắn tiếp tục dồn Trump vào thế khó hơn trong mọi vấn đề, từ đàm phán thương mại đến địa chính trị, cho dù được đãi gì ở quốc yến và được Trump vuốt ve hết mức như thế nào. [kn]






NHỮNG NGÀY BẬN RỘN CỦA ÔNG TÔ LÂM Ở NEW YORK : ĐỐI TÁC CŨ, CỰU THÙ MỚI (Hoàng Trường . Báo Tiếng Dân)

 



Những ngày bận rộn của ông Tô Lâm ở New York: Đối tác cũ, cựu thù mới

Hoàng Trường

24/09/2026

https://baotiengdan.com/2026/09/24/nhung-ngay-ban-ron-cua-ong-to-lam-o-new-york-doi-tac-cu-cuu-thu-moi/

 

Lịch sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền lực. Những ngày qua, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều đó. Một Tô Lâm có những ngày rất bận rộn ở New York. Một cường quốc có thể nghe rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch định chiến lược theo những gì họ quan sát được từ hành vi của chính quyền ấy và từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.

 

                                                        ***

 

Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, gặp Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao, các nghị sĩ Mỹ, giới doanh nghiệp, học giả, bạn bè Mỹ và cộng đồng người Việt. Ông trả lời Bloomberg, phát biểu tại Foreign Policy Association và dành khá nhiều thời gian nói về tương lai quan hệ Việt–Mỹ. Một hội nghị doanh nghiệp cũng được chuẩn bị với hàng loạt thỏa thuận trong năng lượng, hàng không, công nghệ và tài chính; theo Reuters, danh mục dự kiến có thể lên tới 29 thỏa thuận…

 

Đúng là một chương trình “đặc quánh”! Nhưng chính giữa sự bận rộn ấy lại nổi lên một khoảng trống: dường như không có cuộc hội đàm song phương chính thức nào giữa Tổng thống Donald Trump và Tổng Bí thư Tô Lâm trong chặng New York vừa qua. Một cái bắt tay, một câu chào hỏi hay vài phút trao đổi bên hành lang Đại hội đồng Liên Hợp Quốc — nếu có — không phải điều bài viết này muốn nói tới. Ngoại giao nguyên thủ phân biệt rất rõ một cuộc gặp xã giao với một cuộc hội đàm có chương trình nghị sự, thành phần hai đoàn và nội dung chính thức.

 

Khoảng trống ấy đáng chú ý hơn bởi Việt Nam và Hoa Kỳ đã là “Đối tác Chiến lược Toàn diện” (CSP) từ năm 2023. Phải chăng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý mới của quan hệ Việt–Mỹ: danh xưng “đối tác” đã lên rất cao, nhưng khoảng cách chiến lược giữa hai nước chưa chắc đã thu hẹp với cùng tốc độ?

 

Một lần vào Nhà Trắng, nhưng chuyến thăm vẫn chưa thành

 

Cần nói ngay một chi tiết để tránh cường điệu hóa. Tô Lâm không phải chưa từng được Donald Trump tiếp tại Nhà Trắng. Ngày 20/2/2026, nhân dịp sang Washington dự phiên khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, ông đã gặp Trump tại Nhà Trắng. Reuters gọi đây là cuộc gặp chính thức trực tiếp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo; dịp đó cũng gắn với những hợp đồng thương mại lớn, trong đó có việc các hãng hàng không Việt Nam mua máy bay Boeing.

 

Nhưng được mời tới một sự kiện đa phương rồi có cuộc gặp với chủ nhà là một chuyện; một chuyến thăm song phương chính thức mà quan hệ Việt–Mỹ trở thành trung tâm của chương trình nghị sự lại là chuyện khác. Điều thứ hai ấy cho đến nay vẫn chưa xảy ra. Câu hỏi đáng đặt ra sau những ngày New York không nên giản lược thành: “Tại sao Trump không chịu tiếp Tô Lâm?” Donald Trump nổi tiếng có thể thay đổi thái độ rất nhanh, trong khi chính sách của một cường quốc không chỉ được quyết định bởi tâm trạng của một tổng thống.

 

Đằng sau Nhà Trắng còn có Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, Bộ Thương mại, USTR, Quốc hội, cộng đồng tình báo và cả một hệ thống hoạch định chiến lược. Họ không nhìn Việt Nam chỉ qua những tuyên bố hữu nghị. Họ còn nhìn vào thương mại, an ninh, chuỗi cung ứng, Biển Đông và quan hệ Việt–Trung. Nói cách khác, câu hỏi lớn hơn không phải Trump có dành cho Tô Lâm một ô trong lịch làm việc hay không, mà là Việt Nam thực sự đứng ở đâu trong cấu trúc quyền lực đang hình thành tại Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương? 

 

Tiếng vọng xa xăm từ năm 1945

 

Gần tám thập niên trước, trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đặt nhiều hy vọng vào Washington. Trong năm 1945 và đầu năm 1946, ông nhiều lần gửi thư, điện và thông điệp tới Tổng thống Harry Truman và các quan chức Hoa Kỳ, tìm kiếm sự quan tâm và hậu thuẫn của Washington đối với nền độc lập của Việt Nam. Hồ sơ ngoại giao Hoa Kỳ còn lưu lại những văn kiện ấy, nhưng Washington đã không đáp lại theo cách Hồ Chí Minh mong muốn.

 

Không nên giải thích sự lựa chọn của Mỹ lúc ấy bằng một nguyên nhân duy nhất. Hoa Kỳ hậu Thế chiến II phải tính tới nước Pháp, việc tái thiết châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc, sự hình thành của Chiến tranh Lạnh và vị trí ngày càng quan trọng của phong trào cộng sản quốc tế. Washington không chỉ đọc những gì Hồ Chí Minh viết về mình; họ còn nhìn vào lực lượng ông lãnh đạo, lịch sử chính trị của nó và những liên hệ quốc tế của phong trào cộng sản Việt Nam.

 

Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11/1945, nhưng một thay đổi về hình thức tổ chức không tự động xóa đi những câu hỏi của người Mỹ về căn cước chính trị và định hướng lâu dài của Việt Minh. Những lá thư gửi Truman cũng không đủ sức khiến Washington ngừng đặt Việt Nam vào bàn cờ lớn hơn đang hình thành sau Thế chiến II.

 

Năm 2026 tất nhiên không phải năm 1945. Tô Lâm không phải Hồ Chí Minh và Donald Trump càng không phải Harry Truman. Nhưng giữa hai thời điểm cách nhau hơn tám mươi năm vẫn có một điểm tương đồng đáng suy nghĩ: Washington nghe những gì Hà Nội nói về mình, nhưng đồng thời nhìn những gì Hà Nội làm và những quan hệ mà Hà Nội thực sự duy trì. Ngày trước, phía sau câu chuyện Việt Nam là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào cộng sản quốc tế; ngày nay, câu hỏi chiến lược lại trở về với một l nguyền quen thuộc: Trung Quốc.

 

Washington không chỉ nghe, Washington còn kiểm tra

 

Điều ấy hiện lên khá rõ trong cuộc gặp giữa Tô Lâm và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer tại New York. Tô Lâm khẳng định Việt Nam không chấp nhận việc hàng hóa Trung Quốc được chuyển tải qua Việt Nam để né thuế Hoa Kỳ, đồng thời nói về việc tăng nhập khẩu hàng Mỹ và thúc đẩy nhanh một thỏa thuận thương mại. Greer cho biết đàm phán đã đạt tiến triển đáng kể và hai bên đang tiến gần tới kết quả cuối cùng.

 

Nhưng Washington không chỉ nghe những lời bảo đảm ấy. Tháng 7/2026, theo Bloomberg được Reuters dẫn lại, các quan chức Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ đã tiến hành những cuộc kiểm tra không báo trước tại một số nhà máy ở Việt Nam có liên hệ với Trung Quốc. Họ kiểm tra chứng từ, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất nhằm xác định phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam trước khi hàng hóa được xuất sang Hoa Kỳ. Reuters khi đó thận trọng lưu ý họ chưa thể kiểm chứng độc lập toàn bộ thông tin và chưa có cơ sở để biến những cuộc kiểm tra này thành kết luận bao quát rằng hàng Trung Quốc đang bất hợp pháp tràn qua Việt Nam.

 

Chính sự thận trọng ấy lại giúp nhìn đúng bản chất vấn đề. Washington không cần tranh luận bằng khẩu hiệu xem một món hàng là “Việt Nam” hay “Trung Quốc”; họ kiểm tra hóa đơn, nguyên liệu, nhà máy, tỷ lệ giá trị gia tăng và chuỗi cung ứng. Cuối tháng 7, Mỹ và Việt Nam còn phải tổ chức riêng một chương trình hợp tác nhằm chống chuyển tải bất hợp pháp và gian lận thương mại. Chuyện hàng Trung Quốc đi vòng qua Việt Nam vì thế không còn chỉ là một lời cáo buộc trên báo chí; nó đã trở thành một hồ sơ chính thức trong quan hệ thương mại hai nước.

 

Bởi vậy, vấn đề không phải Washington có “tin” Tô Lâm hay không. Một cường quốc không hoạch định chính sách chỉ trên lời bảo đảm của một nhà lãnh đạo. Nó đối chiếu lời nói ấy với thương mại, dòng vốn, hải quan, chuỗi cung ứng, quan hệ quân sự, những cam kết chính trị và toàn bộ cấu trúc liên kết của quốc gia đó. Đây cũng là điểm mà phép đối chiếu 1945–2026 trở nên đáng suy nghĩ nhất: tám mươi năm trước Washington không chỉ đọc thư Hồ Chí Minh; tám mươi năm sau họ cũng không chỉ nghe những gì Tô Lâm nói ở New York.

 

“Con voi trong phòng” có mặt khắp nơi

 

Nghịch lý sâu hơn nằm ở chỗ Trung Quốc không ngồi cạnh Jamieson Greer trong cuộc gặp với Tô Lâm, nhưng Trung Quốc vẫn hiện diện trong chính nội dung cuộc gặp ấy: từ chuyển tải hàng hóa, xuất xứ sản phẩm đến chuỗi cung ứng và thặng dư thương mại. Xa hơn kinh tế là tầng quan hệ cùng “chia sẻ tương lai” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

 

Tháng 4/2026, trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tô Lâm tới Trung Quốc, hai nước ra tuyên bố chung tiếp tục làm sâu sắc “Quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” và thúc đẩy xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam–Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn trong kỷ nguyên mới”. Đó không phải ngôn ngữ do Washington gán cho Hà Nội, mà là văn kiện do chính Hà Nội và Bắc Kinh thỏa thuận.

 

Điều đó không có nghĩa Việt Nam đã “chọn Trung Quốc”. Quan hệ Việt–Trung chứa đồng thời hợp tác và bất đối xứng, giao thoa và nghi kỵ, phụ thuộc kinh tế và tranh chấp Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và nỗi ám ảnh lâu dài về tự chủ quốc gia. Chính vì thế, nó phức tạp hơn rất nhiều một lựa chọn nhị nguyên “theo Mỹ” hay “theo Trung Quốc”. Nhưng cũng chính vì thế, Washington có lý do để đặt câu hỏi Việt Nam muốn được nhìn nhận như một chủ thể chiến lược độc lập đến mức nào, trong khi đồng thời tiếp tục nâng quan hệ với Bắc Kinh bằng “một hệ khái niệm” chính trị sâu đến vậy?

 

Và đấy có lẽ mới là “con voi trong phòng” trong những ngày Tô Lâm ở New York. Trung Quốc hầu như không được gọi tên trong các cuộc tiếp xúc Mỹ–Việt, nhưng lại hiện diện phía sau hầu hết những vấn đề khó nhất: từ chuyển tải hàng hóa, xuất xứ sản phẩm và chuỗi cung ứng đến Biển Đông và câu hỏi Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong cấu trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương đang định hình. Chính độ sâu và tính chất đặc biệt của quan hệ Việt–Trung khiến Bắc Kinh trở thành một biến số mà Washington khó có thể bỏ qua khi đánh giá giới hạn cũng như triển vọng của quan hệ chiến lược với Hà Nội.

 

FOIP: khoảng trống lớn hơn một cuộc gặp Trump–Tô Lâm

 

Bởi vậy, điều đáng phân tích hơn chuyện Trump có dành cho Tô Lâm một giờ ở New York hay không nằm ở một chữ khác: FOIP (Free and Open Indo-Pacific, Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương tự do và rộng mở). Điều thú vị là phiên bản FOIP cập nhật của Nhật Bản năm 2026 lại được công bố ngay tại Hà Nội, với trọng tâm vào hạ tầng kinh tế trong thời đại AI, sức chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng và khoáng sản thiết yếu, các luật chơi chung và tăng cường hợp tác an ninh để bảo đảm hòa bình, ổn định khu vực.

 

Việt Nam có lợi ích khách quan trùng với nhiều thành tố của tầm nhìn ấy. Việt Nam cần một Biển Đông không bị một cường quốc áp đặt; cần tự do hàng hải, UNCLOS-1982, chuỗi cung ứng đa dạng, thị trường Mỹ, công nghệ Mỹ–Nhật–Hàn, đầu tư phương Tây và một trật tự khu vực trong đó nước nhỏ không phải chấp nhận luật chơi của nước lớn. Nhưng lợi ích giao nhau chưa đồng nghĩa với hội tụ chiến lược.

 

Nhưng cho tới nay, Hà Nội vẫn tránh tự đặt mình vào một cấu trúc an ninh có thể bị Bắc Kinh hiểu là nhằm kiềm chế Trung Quốc. Đó là một lựa chọn có thể giải thích được từ địa lý, lịch sử và tính toán lợi ích của Việt Nam. Nhưng lựa chọn nào cũng có hệ quả. Nếu Hà Nội muốn đứng đủ xa những cấu trúc chiến lược do Hoa Kỳ và đồng minh xây dựng để Bắc Kinh không cảm thấy bị đe dọa, Washington cũng có lý do để tự hỏi Việt Nam có thể tiến gần mình đến mức nào.

 

Ở đây, khoảng cách giữa CSP và FOIP đáng chú ý hơn khoảng cách giữa hai chiếc ghế trong một phòng họp ở New York. Một bên là cấp độ danh xưng của quan hệ song phương (Đối tác cũ); bên kia là câu hỏi hai nước thực sự nhìn trật tự khu vực giống nhau đến đâu (Cựu thù mới). Có thể ký tá rất nhiều hợp đồng mà vẫn không trung hòa được hai về này.

 

“Đối tác cũ, cựu thù mới”

 

Ba thập niên bình thường hóa đã biến hai cựu thù thành đối tác. Năm 2023, Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nhưng “cựu thù mới” trong tương quan này hoàn toàn không có nghĩa hai nước đang trở lại thành đối địch; nó chỉ bộc lộ một nghịch lý tinh tế hơn: những đường ranh từng chia hai nước trong quá khứ đã mất đi, nhưng những đường ranh mới về lợi ích, thể chế, thương mại và lựa chọn chiến lược lại xuất hiện ngay bên trong quan hệ mới.

 

Washington muốn những chuỗi cung ứng đáng tin cậy hơn và bớt phụ thuộc Trung Quốc. Hà Nội muốn thị trường, vốn và công nghệ Mỹ, nhưng nền kinh tế vẫn gắn rất sâu với chuỗi cung ứng Trung Quốc. Washington cùng Tokyo và các đồng minh xây dựng một cấu trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương dựa trên luật lệ, sức chống chịu kinh tế và hợp tác an ninh (FOIP); Hà Nội chia sẻ nhiều lợi ích của cấu trúc ấy, nhưng vẫn giữ khoảng cách để không biến quan hệ với Bắc Kinh thành đối đầu. Trong khi đó, quan hệ Đảng–Đảng Việt–Trung tiếp tục được nâng cao bằng những cam kết chính trị mà quan hệ Việt–Mỹ không có và cũng không thể có.

 

Có nhất thiết nên cắt nghĩa đây là sự “hai mặt của Hà Nội”? Hay đơn giản, đây chỉ là cách một quốc gia nhỏ hơn cố gắng duy trì không gian hành động bên cạnh một gã láng giềng khổng lồ, đồng thời mở rộng quan hệ với một siêu cường ở bên kia Thái Bình Dương? Nhưng một chiến lược cân bằng chỉ bền vững khi các bên còn tin rằng người đứng giữa có đủ khả năng tự chủ; nếu không, “đứng giữa” rất dễ biến thành bị cả hai phía cùng đặt câu hỏi. 

 

Tám mươi năm, vẫn một câu hỏi

 

Bởi vậy, điều đáng suy nghĩ nhất về chuyến New York lần này có lẽ không phải là một cuộc gặp đã không diễn ra. Tô Lâm vẫn có thể trở về với những kết quả cụ thể: đàm phán thương mại tiến triển, nhiều thỏa thuận doanh nghiệp được chuẩn bị và quan hệ kinh tế Việt–Mỹ tiếp tục mở rộng. Việt Nam vẫn có giá trị đáng kể đối với chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ, cũng như Hoa Kỳ có ý nghĩa ngày càng lớn đối với nhu cầu đa dạng hóa thị trường, công nghệ và quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

 

Nhưng tất cả những điều ấy không xóa được câu hỏi chiến lược. Năm 1945, Hồ Chí Minh tìm cách nói với Washington rằng một nước Việt Nam độc lập có thể có chỗ trong trật tự thế giới mà Hoa Kỳ đang góp phần xây dựng. Washington không chỉ đọc những lá thư ấy mà còn nhìn vào bản đồ quyền lực giữa Hà Nội với Bắc Kinh và Mátxcơva. Năm 2026, Tô Lâm nói với người Mỹ về độc lập, tự chủ, hợp tác, thương mại công bằng và một quan hệ Việt–Mỹ sâu sắc hơn; Washington cũng không chỉ nghe những bài diễn văn ấy mà còn nhìn vào container hàng hóa, nhà máy, chuỗi cung ứng, Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và những văn kiện Hà Nội ký với Bắc Kinh.

 

Lịch sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền lực. Tám mươi năm sau, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều đó. Một cường quốc có thể nghe rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch định chiến lược theo những gì họ quan sát được từ hành vi của chính quyền ấy và từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.

 

Có những khoảng cách ngoại giao có thể rút ngắn bằng một chuyến bay, những khoảng cách thương mại có thể thu hẹp bằng vài chục hợp đồng. Nhưng khoảng cách chiến lược chỉ thu hẹp khi hai phía biết họ có thể cùng đi với nhau đến đâu. Sau tất cả những cuộc gặp, diễn văn và hợp đồng trong những ngày rất bận rộn của Tô Lâm ở New York, có lẽ đó mới là câu hỏi còn lại.

__________

Tham khảo:

 

1. Reuters, 22/9/2026 – Tô Lâm gặp USTR Jamieson Greer, đàm phán thương mại Mỹ–Việt tiến gần kết quả cuối cùng. Reuters – Vietnam leader To Lam says positive negotiations with US on trade deal

 

2. Reuters, 20/9/2026 – lịch các cuộc gặp song phương của Trump tại UNGA. Reuters – Trump eyes busy week of meetings as UN General Assembly gathers

 

3. Bloomberg/Straits Times, 22/9/2026 – cuộc phỏng vấn rất quan trọng của chính Tô Lâm. The Straits Times – Vietnam leader says US deal close, denies re-routing China goods

 

4. Reuters/Bloomberg, 28/7/2026 – Các quan chức CBP kiểm tra không báo trước các nhà máy tại Việt Nam có liên hệ với Trung Quốc. “Washington không chỉ nghe, Washington còn kiểm tra”. Reuters – US customs officials inspect China-linked factories in Vietnam

 

5. U.S. State Department, Office of the Historian – hồ sơ ngoại giao Mỹ 1946. Đây là primary source. Tài liệu ghi Hồ Chí Minh trao thư gửi Tổng thống Mỹ cùng lãnh đạo Trung Quốc, Liên Xô và Anh, yêu cầu ủng hộ nền độc lập Việt Nam và đưa vấn đề Đông Dương ra Liên Hợp Quốc. U.S. State Department – Foreign Relations of the United States, 1946, The Far East

 

6. Bộ Ngoại giao Nhật Bản, 2/5/2026 – bài diễn văn FOIP của Thủ tướng Sanae Takaichi tại Hà Nội. Nguồn chính thức cho trục FOIP – chuỗi cung ứng – critical minerals – security. Japan MOFA – Foreign Policy Speech by Prime Minister Takaichi Sanae

 

7. Tuyên bố chung 17/4/2026 nói rõ hai bên tiếp tục làm sâu sắc Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Trung–Việt có ý nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn”. Chinese Foreign Ministry – China–Vietnam Joint Statement, 17 April 2026

 

 




View My Stats