Wednesday, 28 October 2026

CUỘC ĐUA KHOÁNG SẢN TRỌNG YẾU : VIỆT NAM CÓ GIÚP EU THOÁT BÓNG TRUNG QUỐC? (Blogger Lịch sử nguyên vũ trụ – Sohu)

 



Cuộc đua khoáng sản trọng yếu: Việt Nam có giúp EU thoát bóng Trung Quốc?

Blogger Lịch sử nguyên vũ trụ, 结盟出意外:欧盟收买越南跟中国对着干,没料到越南狮子大开口 , Sohu, 21/10/2026.

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch    -   Nghiên Cứu Quốc Tế

23/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/23/cuoc-dua-khoang-san-trong-yeu-viet-nam-co-giup-eu-thoat-bong-trung-quoc/

Động thái của Liên minh châu Âu (EU) mang vẻ sốt sắng rõ rệt. Giữa tháng 10, một báo cáo nội bộ từ Hà Nội được công bố, dường như âm thầm vén màn cho tham vọng của châu Âu đối với nguồn tài nguyên quý hiếm của Việt Nam. Báo cáo nêu rõ rằng, nhằm ứng phó với các thách thức địa chính trị, châu Âu đang tích cực tìm kiếm sự đa dạng hóa chuỗi cung ứng, và Việt Nam – quốc gia Đông Nam Á đầy tiềm năng này – đã trở thành đối tượng được tập trung chú ý hàng đầu. Đất hiếm, vonfram, antimon, gali… những nguyên liệu chiến lược không thể thiếu đối với nền công nghiệp hiện đại này đang được EU đưa vào danh sách ưu tiên hợp tác. Ngay sau đó, tuyên bố công khai của Ủy ban châu Âu cũng xác nhận thêm ý định hợp tác giữa EU và Việt Nam trong lĩnh vực nguyên liệu thô trọng yếu.

 

Một thời khắc mang tính biểu tượng hơn diễn ra vào ngày 22/10. Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm chuẩn bị lên đường sang Brussels cho một chuyến thăm chính thức. Đây không chỉ là một hoạt động ngoại giao thường kỳ, mà còn được châu Âu gán cho ý nghĩa chiến lược. Châu Âu hy vọng nhân cơ hội này sẽ đạt được thỏa thuận hợp tác thực chất với Việt Nam, thay vì chỉ hài lòng với một bức ảnh chụp chung mang tính biểu tượng. Vậy tại sao lại là Việt Nam? Nguyên nhân rất rõ ràng: Chiến lược ngoại giao cây tre của Việt Nam cho phép nước này khéo léo duy trì quan hệ tốt đẹp với các bên, tạo điều kiện thuận lợi cho đối thoại giữa hai phía. Quan trọng hơn, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên địa chất phong phú, và đây mới chính là động lực thực sự thu hút châu Âu.

 

Lấy vonfram làm ví dụ, Việt Nam sở hữu khoảng 140.000 tấn trữ lượng đã được xác minh, là quốc gia có tài nguyên vonfram lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, sản lượng năm ngoái chỉ đạt 3.000 tấn, cho thấy tiềm năng to lớn vẫn chưa được khai thác hết. Tháng 9 năm nay, Bộ Công Thương Việt Nam bất ngờ đề xuất đưa vonfram vào danh sách hàng hóa hạn chế xuất khẩu. Tuy đây mới chỉ là đề xuất, nhưng tín hiệu mà nó phát đi đã truyền ra bên ngoài, gây chấn động thị trường quốc tế. Về tài nguyên đất hiếm, Việt Nam cũng không phải là một cái tên có thể xem nhẹ: Trữ lượng đạt khoảng 3,5 triệu tấn, xếp thứ 6 thế giới. Các nguồn tài nguyên này phân bố ở lưu vực sông Hồng và khu vực miền núi phía Tây Bắc, giáp biên giới Trung Quốc, qua đó càng làm gia tăng giá trị chiến lược của chúng. Tuy nhiên, tài nguyên và sự giàu có không phải là mối quan hệ tuyến tính đơn giản; việc chuyển hóa quặng thô thành sản phẩm đạt tiêu chuẩn lại là một thách thức khác.

 

Trường hợp mỏ Đông Pao đã cho thấy rõ điều này. Kể từ khi được cấp giấy phép khai thác vào năm 2014, dự án mỏ này vẫn chưa thể bước vào giai đoạn khai thác công nghiệp quy mô lớn. Tổng sản lượng oxit đất hiếm hằng năm của Việt Nam chỉ vào khoảng 300 tấn, chênh lệch rất lớn so với sản lượng của Trung Quốc. Công nghệ phân tách đất hiếm đòi hỏi tiêu chuẩn cực kỳ cao về độ tinh khiết và tính ổn định, trong khi năng lực công nghệ mà Việt Nam tích lũy được trong lĩnh vực này vẫn còn rất hạn chế. Ngay cả dự án kim loại đất hiếm Lynas Việt Nam do Australia và Hàn Quốc liên doanh cũng cần nhập khẩu nguyên liệu cốt lõi từ nước ngoài, cho thấy những thách thức trong lĩnh vực này lớn đến mức nào.

 

Báo cáo của EU cũng trực tiếp chỉ ra vấn đề này: Xuất khẩu quặng thô đơn thuần chỉ đem lại lợi nhuận ít ỏi; giá trị thực sự nằm ở quyền kiểm soát các khâu thượng nguồn và hạ nguồn của chuỗi công nghiệp. Hà Nội từ lâu đã nhận thức được điều này và quyết tâm đi theo con đường mà Trung Quốc từng đi, đó là giữ lại các khâu khai thác, phân tách, tinh chế ở trong nước để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Cuối năm 2024, Việt Nam sửa đổi Luật Địa chất và Khoáng sản, đưa đất hiếm vào nhóm khoáng sản chiến lược đặc biệt, cấm xuất khẩu quặng đất hiếm thô, chỉ cho phép các doanh nghiệp được Chính phủ cấp phép thực hiện những hoạt động liên quan, đồng thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài hợp tác. Đây rõ ràng là một tín hiệu dứt khoát: Nếu muốn tiếp cận nguồn tài nguyên, các đối tác phải mang đến vốn và công nghệ; con đường xuất khẩu quặng thô với giá rẻ đã bị chặn đứng hoàn toàn.

 

Tuy nhiên, EU không phải bên duy nhất chú ý đến tài nguyên khoáng sản của Việt Nam. Từ vài năm trước, các doanh nghiệp Mỹ, Australia, Canada và một số nước khác đã từng tìm cách phối hợp mua lại cổ phần chi phối của Masan High-Tech Materials – đơn vị vận hành mỏ vonfram lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, do tính nhạy cảm cao của thương vụ, kế hoạch cuối cùng đã không thành công và được thay thế bằng phương án mua cổ phần với tỷ lệ nhỏ hơn. Gần đây, một công ty vật liệu vonfram của Mỹ được Lầu Năm Góc tài trợ đã mua 4,99% cổ phần của Masan High-Tech Materials. Mặc dù tỷ lệ không lớn, nó vẫn giúp công ty này giành được một vị trí thuận lợi. Động thái ấy khiến châu Âu cảm nhận rõ áp lực cạnh tranh, đồng thời cũng thúc đẩy EU đặc biệt nhấn mạnh trong báo cáo rằng các quốc gia khác cũng đang tranh giành nguồn tài nguyên này.

 

Quan hệ Mỹ – EU từ lâu đã không còn êm đẹp như xưa. Kể từ khi Trump trở lại Nhà Trắng, những bất đồng thương mại xuyên Đại Tây Dương, hàng rào thuế quan và cuộc cạnh tranh giành khoáng sản trọng yếu ngày càng gia tăng. Ngay trong nội bộ châu Âu, các nước cũng đang xem xét lại định hướng phát triển của chính mình, khiến mức độ phối hợp đối ngoại suy giảm. Vì vậy, việc EU nóng lòng đạt được thỏa thuận hợp tác với Việt Nam xuất phát từ lo ngại rằng, nếu hành động chậm trễ, họ sẽ phải đứng nhìn nguồn tài nguyên quý giá rơi vào tay đối thủ. Trước chuyến thăm của Tô Lâm, Brussels đã chủ động đưa ra một “món quà ra mắt” bằng cách rút Việt Nam khỏi danh sách đen các thiên đường thuế, qua đó cố gắng thể hiện thiện chí của mình.

 

Tuy nhiên, phía Hà Nội lại đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn. Cảnh báo “thẻ vàng” mà EU áp đặt đối với thủy hải sản Việt Nam – thứ vốn đã ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam suốt nhiều năm qua – bắt buộc phải được gỡ bỏ. Quan trọng hơn, Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA) được ký kết vào năm 2019, hiện vẫn đang trong quá trình phê chuẩn tại các quốc gia thành viên như Pháp. Hà Nội tuyên bố rõ ràng rằng, chỉ khi đưa hiệp định này vào nghị trình và đẩy nhanh tốc độ phê chuẩn, họ mới sẵn sàng tiến hành đàm phán về hợp tác khoáng sản. Điều này thể hiện rõ rằng, hợp tác giữa hai bên cần phải dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, chứ không thể là sự đòi hỏi đơn phương.

 

Sự tự tin của Việt Nam đến từ đâu? Một mặt, đó là nhu cầu cấp bách của châu Âu trong việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng; mặt khác, Mỹ đã nhanh chân nhập cuộc, chiếm được một phần lợi thế ban đầu. Điều này khiến các quân bài mặc cả trong tay Việt Nam liên tục gia tăng giá trị, từ đó mức giá đòi hỏi tự nhiên được nâng cao. Việc bị cho là đòi hỏi quá đáng không hẳn là vô lý hay gây khó dễ vô cớ, mà xuất phát từ việc Việt Nam nhận thấy đối phương đang chịu sức ép về thời gian, có ít lựa chọn nên buộc phải nắm lấy thời cơ trong khoảng thời gian này.

 

Điều mà châu Âu dễ đánh giá thấp nhất chính là mức độ phức tạp và chiều sâu của chuỗi công nghiệp. Ký kết thỏa thuận, rót vốn đầu tư mới chỉ là bước khởi đầu. Từ thăm dò, phân tách và tinh chế, cho đến gia công sâu và ứng dụng ở khâu cuối cùng, tất cả đều đòi hỏi thời gian dài cùng quá trình tích lũy công nghệ; ít nhất cũng phải mất từ 5 đến 10 năm nỗ lực. Ngay cả khi lập tức bắt tay vào xây dựng, vẫn phải chờ đợi nhiều năm mới có thể đạt được sản lượng ổn định. Trong khoảng trống đó, sự phụ thuộc của châu Âu vào nguồn cung liên quan từ Trung Quốc sẽ không dễ bị loại bỏ.

 

Ý tưởng rằng chỉ cần dựa vào một văn bản thể hiện ý định hợp tác là có thể mặc cả với Bắc Kinh – nghe thì hay, nhưng thực tế lại đầy thách thức. Thứ Trung Quốc sở hữu không chỉ là tài nguyên khoáng sản, mà quan trọng hơn là chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh, được hoàn thiện qua hàng chục năm, với các công đoạn liên kết chặt chẽ từ quặng thô đến thành phẩm. Cuộc cạnh tranh về khoáng sản trọng yếu thực chất là phép thử xem bên nào có thể thực sự biến quặng nằm sâu dưới lòng đất thành những linh kiện quan trọng được sử dụng trong máy bay chiến đấu, chip bán dẫn và xe điện. Các quốc gia sở hữu tài nguyên có thể tăng giá, thậm chí ngừng cung cấp, nhưng trên con đường từ quặng thô đến thành phẩm, chỉ cần thiếu một mắt xích cũng có thể khiến toàn bộ chuỗi bị đứt gãy. Cuộc gặp giữa Tô Lâm và Brussels rốt cuộc sẽ mang lại kết quả như thế nào? Câu trả lời sẽ được hé lộ trong vài ngày tới. Muốn giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, trước hết châu Âu cần thành thật trả lời một câu hỏi: Phải bù đắp bộ năng lực này bằng cách nào? Tiền bạc, công nghệ và thời gian – mỗi yếu tố đều không thể né tránh.

 

 

 

 


CÁC NƯỚC CHÂU Á NÊN CÂN NHẮC ÁP ĐẶT TRỪNG PHẠT VỚI HOUTHI (Imran Khalid – Nikkei Asia)

 



Các nước Châu Á nên cân nhắc áp đặt trừng phạt với Houthi

Imran Khalid  -   Nikkei Asia

Phạm Ánh Minh, biên dịch   -  

24/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/24/cac-nuoc-chau-a-nen-can-nhac-ap-dat-trung-phat-voi-houthi/

 

Lực lượng được Iran hậu thuẫn này đã không còn tính chính nghĩa sau khi chiếm giữ bờ Biển Đỏ của Yemen.

 

Trong suốt hai năm qua, Houthi biện minh cho các cuộc tấn công bằng tên lửa của mình bằng lập luận rằng đó là hành động thể hiện sự đoàn kết với người dân Dải Gaza. Cái cớ này đã tạo cho Houthi một lớp vỏ bọc chính trị. Tuần trước, Liên đoàn Thế giới Hồi giáo, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Mecca, đã gọi các cuộc tấn công mới nhất của lực lượng này là “hành động khủng bố hiểm độc”. Trong hai ngày 6 và 7/10, các cuộc tấn công bằng tên lửa của Houthi nhằm vào các sân bay ở Riyadh và Abha, Ả Rập Xê Út, đã khiến ba người thiệt mạng và 36 người bị thương. Ngày 10/10, một tên lửa đã đánh trúng nhà ga hành khách tại Sân bay Quốc tế King Khalid ở thủ đô Ả Rập Xê Út, khiến 12 người thiệt mạng và 309 người bị thương. Nhà ga này tiếp tục bị tấn công vào ngày hôm sau. Kuwait gọi các cuộc tấn công này là hành vi vi phạm trắng trợn chủ quyền của Ả Rập Xê Út. Trong khi đó, Ai Cập cho rằng những hành động này đang đe dọa toàn bộ khu vực.

 

Lực lượng Houthi đã đánh mất lớp vỏ bọc chính trị của mình khi chiếm giữ khu vực bờ biển Biển Đỏ của Yemen vào tháng Chín. Một lực lượng dân quân nổ súng từ trên núi có thể khoác lên mình vẻ ngoài chính nghĩa. Nhưng một lực lượng đang chiếm đóng Mocha, đảo Perim và dải bờ biển dọc eo biển Bab al-Mandeb lại là một thế lực kiểm soát lãnh thổ và đang giao chiến với các nước Hồi giáo láng giềng. Giờ đây, lực lượng này phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình.

 

Chiến trường chỉ phản ánh một phần tình hình. Chính phủ Yemen tuyên bố đã giành lại Mocha và Dhubab, đồng thời khẳng định ngày 8/10 rằng 1.860 tay súng Houthi đã bị “vô hiệu hóa”. Người phát ngôn quân sự của Houthi, Yahya Saree, bác bỏ các tuyên bố trên, gọi đó là “một chiến thắng tự huyễn”. Lực lượng này cũng đã phóng tên lửa vào sân bay Aden chỉ vài phút trước khi một chuyến bay chở khách dự kiến hạ cánh. Số liệu từ cả hai phía đều chưa được các bên độc lập xác nhận.

 

Trên phương diện chính trị, tình hình đã có những chuyển biến rõ rệt hơn. Tháng Chín, Riyadh cho biết họ đã đánh chặn một thiết bị bay không người lái của Houthi nhắm vào Mecca. Quốc vương Salman gọi lực lượng Houthi là một “nhóm dân quân khủng bố” và mô tả hành động này là một “tội ác man rợ”. Thủ lĩnh Houthi Abdul-Malik al-Houthi bác bỏ cáo buộc này, gọi đây là “một lời dối trá đê tiện”. Hai năm trước, có lẽ ông ta đã không cần phải phản bác gay gắt đến vậy.

 

Thỏa thuận Mecca đã chuyển những thay đổi này thành một liên minh. Ngày 5/10, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan đã đưa liên minh này vào hoạt động, nhất trí triển khai lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan tới lãnh thổ Ả Rập Xê Út. Mục đích của thỏa thuận không chỉ mang tính quân sự mà còn có ý nghĩa chính trị. Bộ trưởng Quốc phòng Pakistan Khawaja Asif cho biết lực lượng của họ chỉ “đóng vai trò hỗ trợ”, còn quân đội Ả Rập Xê Út mới là bên trực tiếp tham chiến. Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Hakan Fidan khẳng định ngày 8/10 rằng: “Đây không phải là một thỏa thuận tấn công.” Hiện Ankara đang trình thỏa thuận này lên Quốc hội để phê chuẩn.

 

Cả hai chính phủ đều không đưa quân vào lãnh thổ Yemen, nhờ đó tránh được cáo buộc xâm lược một quốc gia Hồi giáo khác. Hai nước đang đảm nhận vai trò bảo vệ quốc gia trông coi hai thánh đường linh thiêng nhất của Hồi giáo trước một lực lượng dân quân mà Riyadh cáo buộc đã phóng thiết bị bay không người lái nhắm vào một trong hai thánh đường này.

 

Các lực lượng hải quân phương Tây từng hộ tống tàu thuyền qua Biển Đỏ kể từ năm 2023 vốn không có được vị thế như vậy. Washington đã nhận thấy điều này. Khi được hỏi về các đợt triển khai quân sự đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump nhận xét: “Tôi cho rằng điều đó thật tuyệt.” Mỹ cũng đã hủy kế hoạch không kích lực lượng Houthi dự kiến tiến hành ngày 20/9 và hiện để một liên minh các nước Hồi giáo đảm nhận nhiệm vụ này.

 

Vấn đề khó trả lời hơn là liên minh này thực sự muốn đạt được điều gì. Rashad al-Alimi, người đứng đầu Hội đồng Lãnh đạo Tổng thống Yemen, cho biết chiến dịch nhằm giành lại toàn bộ lãnh thổ đang nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng Houthi, bao gồm cả thủ đô Sanaa. Đại sứ Yemen tại Liên Hợp Quốc đã thông báo với đặc phái viên Liên Hợp Quốc về Yemen, ông Hans Grundberg, rằng chính phủ nước này mong muốn chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến, thay vì chỉ đạt được một thỏa thuận ngừng bắn khác. Việc giành lại Sanaa là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều so với tái chiếm một thị trấn ven biển. Trước đây, trong giai đoạn 2015–2022, Ả Rập Xê Út từng nỗ lực thực hiện điều này nhưng cuối cùng lại chọn cách đàm phán với lực lượng Houthi.

 

Các quyết định sẽ được đưa ra tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Một nhóm chuyên gia về các biện pháp trừng phạt đối với Yemen dự kiến trình báo cáo vào ngày 15/10, trong khi cơ chế trừng phạt này sẽ hết hiệu lực vào ngày 14/11. Hiện tại, lực lượng Houthi đang giam giữ 73 nhân viên Liên Hợp Quốc. Trong Hội đồng Bảo an, Nga và Trung Quốc tránh đổ lỗi riêng cho lực lượng Houthi và mong muốn bất kỳ giải pháp dàn xếp nào cũng phải bao gồm lực lượng này. Ngược lại, Anh, Pháp và Mỹ muốn gia tăng áp lực hơn nữa đối với Houthi cũng như Iran.

 

Cho đến nay, các chính phủ châu Á vẫn đứng ngoài cuộc tranh luận này. Đây là một sai lầm, bởi vấn đề đặt ra trước Hội đồng Bảo an mang tính chính trị: liệu việc một phong trào chiếm giữ vùng duyên hải bằng vũ lực có nên được tưởng thưởng bằng việc công nhận quyền kiểm soát của họ đối với những khu vực đó hay không?

 

Pakistan là một ngoại lệ, đóng vai trò trên cả hai phương diện. Quốc gia này hiện giữ một ghế tại Hội đồng Bảo an, đồng thời là thành viên của liên minh bảo vệ Riyadh. Tháng Chín, đại diện Pakistan tại Liên Hợp Quốc, ông Asim Iftikhar Ahmad, đã phát biểu trước Hội đồng Bảo an rằng Ả Rập Xê Út có “quyền chính đáng trong việc thực hiện mọi biện pháp cần thiết” để tự vệ. Ông cũng kêu gọi thúc đẩy một tiến trình chính trị do người Yemen dẫn dắt dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, đồng thời yêu cầu trả tự do cho các nhân viên Liên Hợp Quốc đang bị giam giữ. Islamabad vừa ủng hộ quyền tự vệ của Riyadh, vừa ủng hộ các cuộc đàm phán do Liên Hợp Quốc điều phối. Các nước châu Á cần một cách tiếp cận kết hợp như vậy tại Hội đồng Bảo an.

 

Lập trường của Trung Quốc lại khó nắm bắt hơn. Tại Hội đồng Bảo an, Bắc Kinh chủ trương kiềm chế và hòa nhập. Trong khi đó, tờ Seoul Economic Daily đưa tin rằng các thiết bị bay không người lái của lực lượng Houthi ngày càng phụ thuộc vào các linh kiện lưỡng dụng từ Trung Quốc. Hơn nữa, nhờ vai trò trung gian hòa giải giữa Riyadh và Tehran vào năm 2023, Bắc Kinh hiện có vị thế tại cả hai thủ đô này – điều mà không cường quốc phương Tây nào có được. Trung Quốc không thể vừa đóng vai trò hòa giải giữa hai bên, vừa bao che tại Liên Hợp Quốc cho lực lượng dân quân đang phóng tên lửa tấn công một trong hai bên đó.

 

Các chính phủ châu Á nên thúc đẩy những điều kiện đơn giản và rõ ràng: lực lượng Houthi có thể tham gia đàm phán tại Sanaa, nhưng không được phép tiếp tục kiểm soát dải bờ biển mà họ đã chiếm giữ bằng vũ lực. Việc gia hạn các lệnh trừng phạt vào tháng 11 tới, bao gồm cả lệnh cấm vận vũ khí đối với các nhà cung cấp linh kiện drone, chính là cách để Hội đồng Bảo an buộc họ phải tuân thủ điều kiện này. Tokyo, Seoul và New Delhi nên công khai bày tỏ quan điểm đó trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra, đồng thời cần đặt câu hỏi liệu Bắc Kinh có đồng thuận hay không.

 

Bằng cách chiếm giữ dải bờ biển, lực lượng Houthi đã biến cuộc xung đột của mình thành vấn đề đối với toàn thế giới Hồi giáo thay vì chỉ với Israel và Mỹ. Điều này khiến các quốc gia Hồi giáo phải cùng nhau đưa ra phản ứng. Việc liệu lực lượng Houthi sẽ chỉ còn là một bên tham gia đàm phán về Sanaa, hay vẫn duy trì vị thế là một phong trào vũ trang kiểm soát một eo biển chiến lược, sẽ được quyết định tại Hội đồng Bảo an vào tháng 11 tới.

 

----------------------------

Nguồn: Imran Khalid, “Asian countries should consider sanctions on the Houthis”, Nikkei Asia, 16/10/2026

 

 

 

 



CÔNG NGHIỆP VŨ TRỤ : BIÊN GIỚI MỚI TIẾP THEO CỦA TRUNG QUỐC (Kathleen Curlee và Sam Bresnick – Foreign Affairs)

 



Công nghiệp vũ trụ: Biên giới mới tiếp theo của Trung Quốc

Kathleen Curlee và Sam Bresnick  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế  

24/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/24/cong-nghiep-vu-tru-bien-gioi-moi-tiep-theo-cua-trung-quoc/

 

Bắc Kinh đang thách thức Washington trong không gian vũ trụ như thế nào?

 

Sáng ngày 19/08 vừa qua, ngành công nghiệp vũ trụ Trung Quốc đã vượt qua một ngưỡng cửa quan trọng. Ngay sau khi công ty hàng không vũ trụ LandSpace của Trung Quốc phóng một tên lửa ở vùng tây bắc nước này, tầng đẩy của nó – phần cần thiết để đưa tên lửa vào quỹ đạo – đã tách rời thành công và hạ cánh trở lại Trái Đất. Đây là lần đầu tiên một công ty Trung Quốc thu hồi tên lửa trên đất liền, và sự kiện này diễn ra sáu tuần sau lần thu hồi tên lửa đầu tiên của quốc gia này, do nhà thầu không gian quốc doanh hàng đầu của Trung Quốc thực hiện trên Biển Đông. Những sự kiện này đánh dấu bình minh của kỷ nguyên phóng tên lửa tái sử dụng tại Trung Quốc – một năng lực sẽ giải phóng tiềm năng to lớn cho ngành công nghiệp vũ trụ đang bùng nổ của nước này.

 

Phản ứng của Washington trước những bước tiến này khá bình thản. Mỹ vẫn thực hiện số vụ phóng nhiều gấp đôi và sở hữu nhiều vệ tinh trên quỹ đạo hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Nhưng Trung Quốc đang dần bắt kịp. Từ năm 2020 đến 2025, số lượng tên lửa do các công ty Trung Quốc phóng hàng năm đã tăng hơn gấp đôi, từ 39 lên 92. Các thực thể Trung Quốc cũng nộp đơn xin cấp phép cho hàng trăm nghìn vệ tinh viễn thông, trong lúc các công ty vũ trụ của nước này mọc lên như nấm. Nhiều công ty trong số đó, chẳng hạn như LandSpace, tuy còn khá mới nhưng lại rất giàu khả năng sáng tạo.

 

Bước tiến này mang lại những hệ lụy cả về kinh tế lẫn quân sự. Các công ty Trung Quốc có thể sớm cạnh tranh với các công ty Mỹ trong việc cung cấp cho những khu vực rộng lớn trên toàn cầu các dịch vụ dựa trên không gian như Internet vệ tinh. Trong khi đó, Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) – vốn xem ưu thế không gian vũ trụ là cần thiết để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tương lai – đang phát triển một loạt năng lực vũ trụ cũng như một bộ vũ khí có thể tấn công vệ tinh. Điều này đặt ra rủi ro nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ, những người phụ thuộc vào không gian để liên lạc, nắm bắt tình hình, và điều hướng, cũng như để thực hiện các cuộc tấn công chính xác và nhận cảnh báo tên lửa.

 

Sự phát triển của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc vũ trụ nên là hồi chuông cảnh tỉnh đối với Mỹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Washington đã bắt đầu tin rằng sự thống trị của mình trong không gian vũ trụ là điều hiển nhiên. Họ không còn có thể chủ quan như vậy nữa. Ngành công nghiệp vũ trụ của Bắc Kinh càng tiến bộ, lợi thế về chi phí của họ sẽ khiến các công ty Mỹ càng khó cạnh tranh hơn nhiều, và năng lực quân sự của Trung Quốc sẽ làm tăng rủi ro biến không gian thành chiến trường trong các cuộc xung đột tương lai. Kỷ nguyên quyền lực vũ trụ bất khả xâm phạm của Mỹ đang khép lại, và Washington không có lựa chọn nào khác ngoài việc thích nghi.

 

CẤT CÁNH!

 

Chương trình vũ trụ của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950, khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông khởi xướng những nỗ lực hiện đại hóa PLA và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh đầu tiên, và sang những năm 1980, nước này đã đưa nghiên cứu công nghệ vũ trụ trở thành ưu tiên quốc gia. Nhưng bước ngoặt đối với chương trình vũ trụ của Trung Quốc xảy ra trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1990-1991, khi việc quân đội Mỹ khéo léo sử dụng các tài sản ngoài không gian giúp một liên quân tương đối nhỏ nhưng tiên tiến về công nghệ đánh bại quân đội Iraq chỉ trong vài ngày. Vệ tinh cho phép lực lượng Mỹ định vị trên địa hình sa mạc hiểm trở, cung cấp cho các chỉ huy thông tin về chiến trường với tốc độ và độ chính xác cao hơn, đồng thời giúp binh sĩ phối hợp nhịp nhàng giữa những khoảng cách xa. Bắc Kinh – trước đó còn chưa nhận ra mình đã tụt hậu đến mức nào – ngay lập tức hành động để bắt kịp.

 

Trong những năm sau đó, học thuyết của PLA nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ tiên tiến, đặc biệt là vệ tinh, đối với tác chiến. Năm 2000, quân đội Trung Quốc bắt đầu phát triển dịch vụ định vị vệ tinh Bắc Đẩu của riêng mình để không phải phụ thuộc vào hệ thống GPS do Mỹ vận hành. Năm 2015, PLA thành lập Lực lượng Hỗ trợ Chiến lược, một tổ chức hiện đã giải thể, nhưng từng là nơi hợp nhất các nhiệm vụ tác chiến không gian, mạng, và điện tử của Trung Quốc, nhằm mục đích đẩy nhanh tiến bộ của các chương trình không gian. Cùng năm đó, một sách trắng của chính phủ Trung Quốc xác định không gian vũ trụ là lĩnh vực an ninh quốc gia then chốt. Kể từ đó, Trung Quốc đã chế tạo các tàu vũ trụ phục vụ viễn thông, điều hướng, và tình báo, giám sát cũng như trinh sát – những thành tựu mà các quan chức PLA từng quan sát chiến dịch Bão táp Sa mạc sẽ không thể nào tưởng tượng nổi.

 

Việc khuyến khích hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ đã trở thành một trong những công cụ chính để Trung Quốc mở rộng chương trình không gian của mình. Năm 2014, Bắc Kinh mở cửa một phần lĩnh vực vũ trụ cho đầu tư tư nhân, và kể từ đó, hơn 400 công ty thương mại không gian của Trung Quốc đã xuất hiện. Bắc Kinh và chính quyền các tỉnh đã cung cấp tài chính cho các công ty này thông qua các quỹ đầu tư được nhà nước hậu thuẫn, trợ cấp cho việc nâng cấp nhà máy và phóng tên lửa, đồng thời cho phép các công ty tư nhân tiếp cận các cơ sở thử nghiệm và công nghệ của chính phủ. Năm 2025, các sứ mệnh không gian thương mại chiếm 54% tổng số sứ mệnh của quốc gia, và vệ tinh thương mại chiếm 84% số tàu vũ trụ của Trung Quốc được đưa vào quỹ đạo. Hệ sinh thái công nghiệp vũ trụ rộng lớn của Trung Quốc – bao gồm các công ty thương mại, doanh nghiệp nhà nước, viện nghiên cứu, và trường đại học – đã cho phép nước này loại bỏ sự phụ thuộc vào GPS và mở đường cho sự phát triển của các công ty viễn thông vệ tinh và viễn thám nội địa mới.

 

Quay trở lại với công nghệ tên lửa tái sử dụng, công ty SpaceX của Mỹ đã tận hưởng một lợi thế lớn khi thực hiện tới năm trên tổng số sáu vụ phóng tại Mỹ. Nhưng hai vụ thu hồi có kiểm soát tầng đẩy tên lửa của Trung Quốc vào tháng 7 và tháng 8 cho thấy nước này đủ sức trở thành đối thủ cạnh tranh của Mỹ trong vòng một thập kỷ tới. Tên lửa tái sử dụng làm giảm chi phí và tăng tốc độ phóng tàu vũ trụ lên đáng kể; nếu Trung Quốc làm chủ được công nghệ này, họ có thể phát triển các chòm vệ tinh lớn một cách dễ dàng hơn nhiều.

 

Việc phóng tàu tái sử dụng cũng cho phép Trung Quốc phát triển khả năng Internet dựa trên không gian để cạnh tranh với mạng lưới do Starlink của SpaceX thống trị, một hệ thống Internet vệ tinh rộng lớn có khả năng kết nối ngang ngửa với nhiều mạng lưới trên mặt đất và có ý nghĩa sống còn đối với Ukraine trong cuộc chiến phòng thủ trước Nga. Dù các công ty Trung Quốc vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển công nghệ này, nhưng họ đang mở rộng quy mô rất nhanh. Các thực thể vận hành các chòm vệ tinh Quốc Võng và Thiên Phàm, vốn dự định cạnh tranh với Starlink, đang lập kế hoạch phóng gần 30.000 vệ tinh viễn thông trong vòng khoảng một thập kỷ tới. Hiện tại, những hệ thống này nhỏ hơn nhiều so với Starlink – vốn có hơn 11.000 vệ tinh trên quỹ đạo – nhưng cuối cùng chúng có thể trở thành những giải pháp thay thế xứng tầm. Thiên Phàm hiện đã có các thỏa thuận thử nghiệm với Brazil, Kazakhstan, Malaysia, và Thổ Nhĩ Kỳ về việc sử dụng mạng lưới vệ tinh của mình.

 

KHOA HỌC TÊN LỬA

 

Quá trình phát triển hoạt động thương mại trong không gian vũ trụ của Trung Quốc luôn đi đôi với khả năng ngày càng lớn trong việc sử dụng không gian để hỗ trợ quá trình hiện đại hóa quân đội. Bắc Kinh đã dành nhiều thập kỷ nghiên cứu cách quân đội Mỹ sử dụng vệ tinh, và hiện đang tự phát triển các năng lực không gian liên quan đến an ninh quốc gia. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc vận hành hơn 500 vệ tinh có thể thực hiện các nhiệm vụ tình báo, giám sát, và trinh sát, kết hợp cùng hệ thống định vị bằng vệ tinh, cho phép PLA xác định vị trí và theo dõi lực lượng của Mỹ cũng như đồng minh trên khắp thế giới. Các chiến lược gia của PLA xác định các tài sản không gian của Bộ Quốc phòng Mỹ là những mục tiêu có giá trị lớn, bởi vì quân đội Mỹ phụ thuộc vào chúng cho gần như mọi bước trong quy trình mà họ gọi là “chuỗi tiêu diệt”: tìm kiếm, ngắm bắn, tấn công mục tiêu, và sau đó đánh giá kết quả.

 

Để khai thác sự phụ thuộc của Mỹ vào vệ tinh, Bắc Kinh đang đầu tư vào một loạt các vũ khí chống vệ tinh. Kể từ năm 2007, khi thử nghiệm thành công tên lửa chống vệ tinh đầu tiên, Trung Quốc đã phát triển nhiều công cụ khác, bao gồm tác chiến điện tử và vũ khí năng lượng định hướng, có thể gây nhiễu tín hiệu vệ tinh hoặc làm hỏng các cảm biến mà không cần phá hủy vệ tinh về mặt vật lý. Các tàu vũ trụ của Trung Quốc cũng có thể thực hiện các thao tác ngày càng tinh vi: năm 2022, vệ tinh Thực tiễn-21 của Trung Quốc đã tự gắn vào một vệ tinh đã ngừng hoạt động của nước này và di chuyển nó sang một quỹ đạo khác. Một hành động kiểu này có thể mang tính chất vô hại – như dùng để sửa chữa và tiếp nhiên liệu cho vệ tinh hoặc dọn rác vũ trụ – nhưng cũng có thể cho phép các nền tảng của Trung Quốc thao túng các tàu vũ trụ khác, bao gồm cả vệ tinh quân sự của Mỹ. Khả năng Bắc Kinh đánh hạ vệ tinh Mỹ theo đó đặt ra một thách thức đặc biệt nghiêm trọng đối với quân đội Mỹ ở Đông Á, nơi mà trong trường hợp xảy ra xung đột, Trung Quốc sẽ ít phụ thuộc vào các tài sản ngoài không gian hơn nhiều so với Mỹ.

 

Song song với đó, sự trỗi dậy trong không gian vũ trụ của Trung Quốc đã và đang định hình các động lực an ninh quốc tế rộng lớn hơn. Trong cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, các công ty Trung Quốc đã cung cấp hình ảnh vệ tinh về chiến trường giúp lực lượng Nga tiến hành các chiến dịch quân sự. Xuyên suốt cuộc chiến ở Iran, các tổ chức Trung Quốc đã cung cấp cho Tehran những hình ảnh vệ tinh, bao gồm hình ảnh về một căn cứ ở Jordan mà Iran đã tấn công vào tháng 7 và khiến ba quân nhân Mỹ thiệt mạng. Khi lĩnh vực thương mại không gian của Trung Quốc mở rộng, những quan hệ này cũng có thể phát triển theo, giúp nhiều quốc gia và các chủ thể phi quốc gia vốn không có chương trình vũ trụ tiên tiến có thể tiếp cận được những lợi ích đó. Khả năng tiếp cận rộng rãi này có thể được dùng để cứu người trong các thảm họa thiên nhiên hoặc các trường hợp khẩn cấp khác. Nhưng mặt khác, nó cũng có thể trao cho các đối thủ khả năng nhắm mục tiêu hiệu quả hơn vào lực lượng của Mỹ và đồng minh trên toàn cầu.

 

NHIỆM VỤ SỐNG CÒN

 

Chứng kiến sức mạnh vũ trụ của Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, Washington đã bắt đầu các động thái bảo vệ một số mạng lưới vệ tinh của mình. Lực lượng Không gian Mỹ đã đa dạng hóa vị trí của một số tài sản nhạy cảm nhất và tăng cường mua sắm các vệ tinh mới. Những khoản đầu tư này tuy hữu ích nhưng chưa đủ để giải quyết các lỗ hổng của Mỹ. Xét đến những năng lực mà Trung Quốc đã có hoặc sẽ sớm phát triển, hiện có nhiều kịch bản có thể xảy ra trong đó quân đội Mỹ sẽ phải hoạt động trong tình trạng liên lạc vệ tinh bị ngăn chặn hoặc suy giảm, tín hiệu GPS bị nhiễu, và thông tin tình báo từ quỹ đạo không gian bị hạn chế.

 

Vì thế, quân đội Mỹ nên đầu tư vào các công nghệ non trẻ, chẳng hạn như hệ thống dẫn đường quán tính và cảm biến lượng tử, những thứ có thể một ngày nào đó giúp binh sĩ di chuyển chính xác mà không cần GPS. Họ cũng nên đầu tư vào các giải pháp thay thế vệ tinh đang nổi lên, như trạm chuyển tiếp ở độ cao lớn, bao gồm máy bay không người lái hoặc khinh khí cầu hoạt động gần Trái Đất hơn và có thể liên kết các mạng viễn thông; liên lạc bằng laser, sử dụng ánh sáng để truyền thông tin và rất khó bị gián đoạn; cùng với mạng lưới dạng lưới (mesh networks), tự động định tuyến lại tín hiệu vòng qua các điểm nút đã bị phá hủy, giúp đường dây liên lạc bền bỉ hơn. Các cơ chế ủy quyền ra quyết định thậm chí sẽ còn quan trọng hơn so với trước đây, bởi nguy cơ mất kết nối ngày càng gia tăng.

 

Washington cũng nên tăng cường các nỗ lực thúc đẩy một ngành công nghiệp phóng nội địa có tính cạnh tranh hơn. Mỹ đang dẫn đầu thế giới về phóng tàu vũ trụ phần lớn là nhờ vào SpaceX. Dù công ty này là một tài sản khổng lồ, vị thế gần như độc quyền của họ lại là một rủi ro. Nếu trục trặc kỹ thuật hoặc thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng phóng làm gián đoạn các hoạt động của SpaceX, thì khả năng phóng vệ tinh của Mỹ sẽ bị thu hẹp nghiêm trọng. Năm nay, SpaceX đã công bố kế hoạch cho Falcon 9, tên lửa tái sử dụng chủ lực của hãng, “nghỉ hưu.” Falcon 9 cuối cùng sẽ được thay thế bởi Starship, một tên lửa tải trọng cao mới, có thể mang nhiều vệ tinh hơn vào quỹ đạo trong mỗi lần phóng. Nhưng việc khởi động của quá trình loại bỏ này tạo ra tình trạng thiếu hụt năng lực phóng, đe dọa đến sự phát triển liên tục của nền kinh tế không gian vũ trụ Mỹ. Để giảm thiểu rủi ro này, Washington nên tiếp tục trao các hợp đồng chính phủ cho nhiều công ty hơn nữa.

 

Bên cạnh việc đầu tư vào năng lực phóng, Mỹ nên cung cấp hỗ trợ cho các công ty đang phát triển các công nghệ không gian mới nổi có tính ứng dụng quan trọng đối với an ninh quốc gia, nhưng lại chật vật trong việc thu hút đủ nhu cầu thương mại trong những năm đầu – một cách tiếp cận mà họ từng áp dụng với SpaceX kể từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này. Các cơ quan liên bang có thể đóng vai trò là “khách hàng mỏ neo” cho những công nghệ được Washington xác định là then chốt cho các mục đích an ninh quốc gia, qua đó cung cấp cho các công ty sản xuất nguồn doanh thu ổn định và tính chính danh để giúp họ phát triển.

 

Việc xác định các công nghệ mới nổi quan trọng và tài trợ một cách nhất quán cho chúng là điều thiết yếu để duy trì vị thế dẫn đầu trong không gian vũ trụ. Đáng tiếc là, các ưu tiên của Mỹ trong lĩnh vực này thường dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi qua các đời tổng thống và tại Quốc hội. Khi Liên Xô sụp đổ, mức độ sẵn sàng đầu tư mạnh tay vào không gian của Washington cũng sụp đổ theo. Tất nhiên, Mỹ đã không hoàn toàn từ bỏ không gian, minh chứng là các dự án như chương trình tàu con thoi, các sứ mệnh Mặt Trăng Artemis, và việc thành lập Lực lượng Không gian Mỹ. Nhưng sự quan tâm của chính phủ đối với lĩnh vực này lại lúc thăng lúc trầm. Ngược lại, Bắc Kinh đã kiên định theo đuổi các mục tiêu không gian của mình kể từ đầu những năm 1990, liên tục điều chỉnh các chương trình khi công nghệ phát triển mà không bao giờ đánh mất mục tiêu cuối cùng. Nếu Washington muốn tiếp tục cạnh tranh với Trung Quốc, họ cũng cần phải duy trì các cam kết của mình.

 

Cuối cùng, Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc hợp tác với các đồng minh. NATO hiện đang thử nghiệm các cách thức chia sẻ chuyên môn về không gian của các thành viên và tích hợp chúng vào các hoạt động của đồng minh. Vào tháng 7, tám nước đồng minh của Mỹ đã khởi xướng sáng kiến HALO, nhằm kết nối các vệ tinh quân sự có chủ quyền thành một mạng lưới giúp tối ưu hóa hệ thống liên lạc, tình báo, và theo dõi tên lửa. Dự án STARLIFT của NATO – được thành lập năm 2024 – đang khám phá xem làm thế nào các bãi phóng trải rộng trên toàn lãnh thổ đồng minh có thể đẩy nhanh tốc độ tiếp cận quỹ đạo trong một cuộc khủng hoảng. Sau khi giảm bớt ưu tiên cho các hoạt động hợp tác an ninh quốc tế trong những năm gần đây, Mỹ nên quay trở lại và cam kết mạnh mẽ hơn đối với an ninh vũ trụ của khối đồng minh. Khả năng tiếp cận tài nguyên không gian của đồng minh sẽ là điều vô cùng thiết yếu trong các cuộc xung đột tương lai trải rộng trên khoảng cách lớn, đặc biệt là nếu chính các tài sản ngoài không gian của Mỹ đã bị triệt hạ.

 

 

Tuy nhiên, ngay cả những biện pháp hiện đại hóa và tăng cường khả năng phục hồi hiệu quả nhất cũng không đủ để bảo vệ tài sản của Mỹ trong không gian trước những đối thủ quyết tâm. Suốt hàng thập kỷ, Mỹ đã luôn có thể dựa vào sự thống trị trong không gian khi tham chiến. Giờ đây, việc quá phụ thuộc vào vệ tinh và vào SpaceX đang trở thành những điểm yếu lớn. Washington phải tự bảo vệ mình trong một thế giới nơi họ không còn là cường quốc vũ trụ duy nhất. Việc duy trì vị trí dẫn đầu trong cuộc đua không gian mới sẽ đòi hỏi cả sự đầu tư vào kiến trúc không gian, lẫn việc thiết lập các kế hoạch dự phòng nhằm bù đắp cho những mối nguy của kỷ nguyên không gian đa cực đang hình thành.

 

-------------------------

Kathleen Curlee là chuyên gia phân tích nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.

Sam Bresnick là nghiên cứu viên và học giả tại Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi thuộc Đại học Georgetown.

 

Nguồn: Kathleen Curlee và Sam Bresnick, “China’s Next Frontier,” Foreign Affairs, 14/10/2026

 

 

 


JON OSSOFF – NIỀM HY VỌNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ (Trúc Phương / Người Việt)

 



Jon Ossoff - Niềm hy vọng mới của đảng Dân Chủ

Trúc Phương/Người Việt

October 24, 2026 : 6:00 PM

https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/jon-ossoff-niem-hy-vong-moi-cua-dang-dan-chu/ 

 

Ông Jon Ossoff hiện là một trong những gương mặt được chú ý nhất của đảng Dân Chủ. Ông có tuổi trẻ, khả năng diễn thuyết, sức hút trên mạng xã hội và thông điệp chính trị xuyên suốt đánh trực diện vào sự lạm quyền và tham nhũng vô độ của Tổng Thống Trump.

 

 https://cdn-ilfahmo.nitrocdn.com/vuMlfFeJiohKDHICkFRCVDknmMYpwLwi/assets/images/optimized/rev-096a403/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/10/BL-Jon-Ossoff-1536x1024.jpg

Thượng Nghị Sĩ Jon Ossoff trong buổi vận động tranh cử hôm 17 Tháng Mười tại Marietta, Georgia. (Hình: Elijah Nouvelage/Getty Images)

 

Ở tuổi 33, 11 tháng và 4 ngày, ông Ossoff trở thành thượng nghị sĩ (TNS) trẻ nhất tuyên thệ nhậm chức tại Quốc Hội khóa 117. Bây giờ, ở tuổi 39, ông vẫn là người trẻ nhất tại một nơi mà độ tuổi trung bình các thành viên là 65. Chỉ một năm trước, ông Ossoff được coi là TNS đương nhiệm dễ bị đánh bại nhất, khi ông là ứng viên Dân Chủ duy nhất phải tái tranh cử ở một tiểu bang mà ông Trump từng giành chiến thắng. Giờ đây thì khác. Cuộc thăm dò do tờ The Atlanta Journal-Constitution công bố ngày 21 Tháng Mười cho thấy ông Ossoff đang dẫn trước đối thủ Mike Collins với cách biệt đáng kể (48% so với 40%).

 

Từ một kẻ thất bại

 

Ông Jon Ossoff bắt đầu sự nghiệp trên sân khấu quốc gia bằng một thất bại. Tháng Sáu, 2017, khi ấy mới 30 tuổi, ông thua ứng viên Cộng Hòa Karen Handel trong cuộc bầu cử đặc biệt tại khu vực bầu cử Quốc Hội số 6 của Georgia. Ông thất bại với cách biệt khoảng ba điểm phần trăm, dù huy động được gần $30 triệu cho cuộc tranh cử vốn chỉ nhằm giành một ghế tại Hạ Viện. Đó là một trong những cuộc bầu cử Hạ Viện tốn kém nhất lịch sử Mỹ thời điểm đó.

 

Khi ông Jon Ossoff bước vào cuộc đua, Georgia vẫn là tiểu bang mà Cộng Hòa có lợi thế đáng kể. Khu vực số 6, nằm ở vùng ngoại ô giàu có phía Bắc Atlanta, từng là thành trì của Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện và một trong những kiến trúc sư của làn sóng chính trị trỗi dậy mạnh mẽ của Cộng Hòa vào thập niên 1990.

 

Không có kinh nghiệm giữ chức vụ dân cử, cũng không phải chính trị gia kỳ cựu với mạng lưới quyền lực được xây dựng qua nhiều thập niên, ông Ossoff chỉ có một lợi thế: Tuổi trẻ, khả năng truyền thông và một thông điệp phù hợp với tâm trạng của những cử tri bất mãn với ông Trump. Benjamin Wallace-Wells, trong bài viết trên The New Yorker, nhận xét rằng ông Ossoff bắt đầu trở thành một hiện tượng văn hóa chính trị trong làn sóng phản kháng ông Trump, nhưng vẫn thua!

 

Thất bại đó không chôn vùi ông Ossoff; trái lại, nó giúp ông chứng minh một điều mà Dân Chủ tuyệt vọng tìm kiếm sau chiến thắng của ông Trump năm 2016, rằng một ứng viên có thể biến sự bất mãn của cử tri thành một phong trào chính trị thực sự.

 

Năm 2020, ông Ossoff trở lại. Lần này, ông đánh bại TNS David Perdue của Cộng Hòa sau vòng bỏ phiếu bổ sung ngày 5 Tháng Giêng, 2021, góp phần đưa quyền kiểm soát Thượng Viện về tay Dân Chủ. Chiến thắng này diễn ra chỉ một ngày trước khi những người ủng hộ ông Trump xông vào Tòa Nhà Quốc Hội nhằm ngăn xác nhận kết quả bầu cử tổng thống.

 

Đó là thời điểm định hình con đường chính trị của ông Ossoff. Không chỉ là một chính trị gia trẻ thắng được chiếc ghế khó giành, ông còn là một trong những người góp phần giúp Dân Chủ giành lại quyền lực lập pháp trong thời khắc nền dân chủ Mỹ đối diện cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Chiến thắng năm 2021 cho thấy thất bại năm 2017 không phải một tai nạn được sửa chữa bằng may mắn. Ông Ossoff đã xây dựng được mạng lưới ủng hộ, khả năng gây quỹ và sự nhận diện chính trị.

 

Không xuất thân từ gia đình có truyền thống chính trị, Ossoff lớn lên tại Northlake, khu vực thuộc tầng lớp trung lưu thuộc hạt DeKalb, gần Atlanta. Mẹ ông, bà Heather Fenton, sinh ra và lớn lên tại Sydney, Úc; bản thân cũng là nhân vật có tên tuổi. Bà là đồng sáng lập tổ chức New Power Pac, chuyên hỗ trợ phụ nữ đắc cử vào các vị trí chính quyền địa phương tại Georgia. Cha ông, Richard Ossoff, là luật sư, từng điều hành một công ty xuất bản ở Atlanta chuyên cung cấp tài liệu đào tạo cho các luật sư và kế toán viên.

 

Hồi trẻ, Jon Ossoff có lúc là thực tập sinh cho văn phòng Dân Biểu John Lewis, trước khi vào đại học Georgetown University theo ngành chính trị học. Sau đó, ông làm việc cho Dân Biểu Hank Johnson. Năm 2013, ông theo học chương trình thạc sĩ tại Trường Kinh Tế London. Khi 26 tuổi, Ossoff trở thành giám đốc điều hành “Insight: The World Investigates”- công ty phim tài liệu có trụ sở tại London, chuyên thực hiện các dự án điều tra tham nhũng, tội phạm và lạm dụng quyền lực tại nhiều quốc gia. Kinh nghiệm này giúp ông hình thành một thông điệp mà ông luôn sử dụng khi tranh cử, rằng chống tham nhũng không phải khẩu hiệu trang trí mà là nhiệm vụ cốt lõi của người nắm quyền lực công.

 

Jon Ossoff và 2028

 

Kinh nghiệm báo chí điều tra giúp xây dựng bản sắc cá nhân cho Ossoff. Trong chiến dịch 2017, ông Ossoff từng sử dụng khẩu hiệu “Make Trump Furious.” Gần một thập niên sau, ông tiếp tục làm cho ông Trump nổi điên. Trong nhiệm kỳ thượng nghị sĩ, tên tuổi Ossoff là cái gai khó chịu đối với nhiều viên chức chính quyền Trump.

 

Trong phiên điều trần nhằm chuẩn y ghế giám đốc Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia cho Jay Clayton, ông Ossoff truy vấn ông Clayton về lý do tại sao cựu tổng thống Honduras, ông Juan Orlando Hernandez, được ông Trump ân xá chỉ khoảng 18 tháng sau khi bị kết tội buôn bán ma túy và lĩnh án 45 năm tù. Ông Ossoff cũng thực hiện “phép thử lòng trung thành” khi hỏi ông Clayton rằng ai là người chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2020. Giám Đốc Clayton ú ớ và im lặng, thế là ông Ossoff trả lời thay: “Chẳng phải thật nhục nhã khi không thể trả lời câu hỏi này sao? Chúng ta biết, ông biết, và tất cả mọi người trong phòng này đều biết câu trả lời trung thực cho câu hỏi đó. Tại sao ông không thể nói ra?”

 

Trên cương vị thượng nghị sĩ, Ossoff thúc đẩy việc chấm dứt hoạt động giao dịch cổ phiếu và tiền điện tử đối với các thành viên Quốc Hội, vợ/chồng và con cái họ; vận động sửa đổi Hiến Pháp nhằm loại bỏ việc vung tiền thao túng bầu cử của các tập đoàn; đồng thời điều tra các hành vi lạm dụng và tham nhũng nói chung. Là người Do Thái, từng chia sẻ rằng tổ tiên mình “bị sát hại trong các trại tập trung Đức Quốc Xã,” ông Ossoff nói rằng ông luôn ủng hộ Israel nhưng không vì vậy mà đồng ý với những gì Thủ Tướng Benjamin Netanyahu của Israel làm.

 

Một số nhà quan sát cho rằng, nếu ngày nào đó TNS Ossoff rời khỏi Georgia, các đảng viên Dân Chủ tại tiểu bang này khó có thể đạt được những gì mà ông từng xây dựng thành công. Ông Ossoff từng nhiều lần nói rằng ông không quan tâm việc tranh cử tổng thống, nhưng nếu Dân Chủ cần một thế hệ lãnh đạo mới, có khả năng giao tiếp với công chúng, và giúp khôi phục niềm tin vào các thiết chế dân chủ thì ông hẳn là một trong số đó.

 

Những cái tên như Kamala Harris, Gavin Newsom, hay Alexandria Ocasio-Cortez đều ít nhiều mang trên mình những “vết sẹo” chính trị. Hơn nữa, nước Mỹ cũng có “vấn đề địa chính trị” của nó. Những nhân vật trên vừa “cũ” vừa dễ dàng bị gán mác là đại diện cho tầng lớp tinh hoa ở các tiểu bang ven biển “chẳng hiểu biết gì” đời sống người dân ở các tiểu bang nông nghiệp.

 

Theo Hank Sheinkopf, chiến lược gia kỳ cựu của Dân Chủ, ông Ossoff, “xét trên nhiều phương diện,” là người có vị thế thuận lợi để hàn gắn những rạn nứt trong nội bộ. Sheinkopf nói: “Ông ấy đến từ miền Nam, vì vậy mọi người coi ông ấy là người có tư tưởng bảo thủ dù trong thực tế không phải vậy. Ông ấy được chấp nhận bởi cử tri ở các khu vực ngoại ô, nông thôn lẫn thành thị. Những gì ông ấy nói rất hợp lý, không nghiêng hẳn về cánh tả hay cánh hữu. Ông ấy thiên về trung tả. Đó là cách tiếp cận thực sự hiệu quả. Mọi người đang tìm một giải pháp trung dung và họ sẽ cảm thấy khó chịu với phe cực tả, với đại diện là tổ chức Dân Chủ Xã Hội Mỹ (DSA), cũng như phe cực hữu, với đại diện là Trump.”

 

Yếu tố “phái nam, da trắng, ở miền Nam” phải nói là những điểm mạnh chính trị không thể phủ nhận của ông Ossoff. Trong cuộc đua tái tranh cử Thượng Viện lần này, ông được sự ủng hộ từ ba thành viên Cộng Hòa theo đường lối ôn hòa (hai thị trưởng ở miền Nam Georgia và Jeff Flake, cựu thượng nghị sĩ Cộng Hòa đại diện Arizona). Ngoài ra, ông Ossoff hiển nhiên cũng giúp mang lại sinh khí cho Dân Chủ nhờ độ tuổi của mình. Theo Sheinkopf, ông ấy là nhân vật “phù hợp về mặt thế hệ.”

 

Ông James Carville – chiến lược gia Dân Chủ, từng góp phần đưa Bill Clinton, một chính trị gia Dân Chủ ở miền Nam, lên ghế tổng thống – nhận xét: “Phải chăng Ossoff đang trở thành ngôi sao của chu kỳ chính trị này? Tôi nghĩ nhận định đó hoàn toàn hợp lý. Xét về khả năng gây quỹ và kết quả thăm dò, ông ấy có lẽ là người vượt kỳ vọng xuất sắc nhất hiện nay. Ông ấy không chỉ có năng lực mà còn tiến bộ hơn theo thời gian. Sự thăng tiến ông ấy thực sự rất ấn tượng.”

 

Ông Carville nói thêm, so với ông Newsom, ông Ossoff “mang lại cảm giác chân thực” và thể hiện như “một người đàn ông miền Nam tử tế, tốt bụng, có khả năng thu hút phiếu bầu từ cả hai phía.” Đây là lợi thế hiếm có, có thể đưa ông tiến xa hơn nhiều so với việc “không tranh cử tổng thống năm 2028,” như ông nhiều lần khẳng định. Hồi còn làm thượng nghị sĩ, cựu Tổng Thống Barack Obama cũng nói y như vậy. Thắng hay thua trong cuộc tranh cử Tháng Mười Một này, ông Ossoff chắc chắn không dừng lại. Như hồi cách đây gần 10 năm, thất bại đã không chôn vùi cái tên “Jon Ossoff.” [dt]

 

 

 


THẾ GIỚI MÀ TRUMP MUỐN (Michael Kimmage / The Foreign Affairs)

 



Thế giới mà Trump muốn

Michael Kimmage  /  The Foreign Affairs 

Oct 24, 2026

https://dcvonline.net/2026/10/24/the-gioi-ma-trump-muon/

 

HÌNH :

https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/10/Trump-et-al.webp

Cristiana Couceiro trình bầy; nguồn ảnh: Reuters, Getty Images

 

Quyền lực Mỹ trong thời đại mới của chủ nghĩa dân tộc

 

Trong hai thập niên sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, chủ nghĩa toàn cầu ngày càng lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đồng thời, sự phát triển của những hệ thống và mạng lưới ngày càng phức tạp — về định chế, tài chánh và kỹ thuật — đã làm lu mờ vai trò của cá nhân trong chính trị. Nhưng vào đầu thập niên 2010, một chuyển biến sâu xa đã bắt đầu. Nhờ biết vận dụng những phương tiện của thế kỷ này, một nhóm nhân vật có sức thu hút quần chúng đã làm sống lại những hình tượng tiêu biểu của thế kỷ trước: người lãnh đạo cứng rắn, quốc gia vĩ đại và nền văn minh đầy kiêu hãnh.

 

Có thể nói, chuyển biến đó bắt đầu tại Russia. Năm 2012, Vladimir Putin chấm dứt cuộc thí nghiệm ngắn ngủi: rời chức tổng thống, làm thủ tướng suốt bốn năm, để một đồng minh ngoan ngoãn giữ chức tổng thống. Putin trở lại cương vị cao nhất, củng cố quyền lực, đè bẹp mọi phe đối lập và dồn sức phục hồi “thế giới Russia”, lấy lại địa vị cường quốc mà Russia đã đánh mất sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, đồng thời chống lại sự thống trị của Mỹ và đồng minh của nước này.

 

Hai năm sau, Xi Jinping lên nắm quyền tột đỉnh tại China. Mục tiêu của ông tương tự Putin, nhưng tham vọng lớn hơn nhiều — và China có khả năng thực hiện những tham vọng đó vượt xa Russia. Năm 2014, Narendra Modi, người nuôi hoài bão lớn lao cho India, hoàn tất sự nghiệp chính trị để trở thành thủ tướng, đồng thời đưa chủ nghĩa dân tộc Hindu thành ý thức hệ chủ đạo của nước ông. Cũng trong năm ấy, Recep Tayyip Erdogan, người đã trải qua hơn một thập niên làm thủ tướng Turkey với phong cách điều hành cứng rắn, trở thành tổng thống. Chẳng bao lâu, Erdogan biến nền dân chủ đa đảng của Turkey thành một chế độ chuyên quyền, nơi mọi quyền lực tập trung vào một người.

 

Có lẽ bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình này diễn ra năm 2016, khi Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ. Ông hứa sẽ “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” và đặt “nước Mỹ lên trên hết” — những khẩu hiệu cô đọng tinh thần dân túy, chủ nghĩa dân tộc và chống toàn cầu hóa vốn đã âm ỉ cả bên trong lẫn bên ngoài phương Tây, ngay cả khi trật tự quốc tế tự do do Mỹ lãnh đạo đang hình thành và phát triển. Trump không đơn thuần cưỡi lên làn sóng toàn cầu. Quan niệm của ông về vai trò của Mỹ trên thế giới bắt nguồn từ những truyền thống riêng của nước Mỹ, tuy chịu ảnh hưởng của phong trào America First thời kỳ đầu những năm 1930 ít hơn chủ nghĩa chống cộng cánh hữu trong thập niên 1950.

 

Sau một nhiệm kỳ, việc Trump thất cử trước Joe Biden năm 2020 dường như báo hiệu sự phục hồi của trật tự cũ. Mỹ đang tìm lại đường lối đối ngoại sau Chiến tranh Lạnh, sẵn sàng củng cố trật tự tự do và ngăn chặn làn sóng dân túy. Tuy nhiên, sau khi Trump trở lại chính trường một cách ngoạn mục, giờ đây có vẻ như chính Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng trong một thời gian ngắn.

 

Trump cùng những nhân vật cổ võ cho sự vĩ đại của quốc gia đang định hình nghị trình toàn cầu. Họ tự xem là những người lãnh đạo cứng rắn, ít coi trọng những hệ thống dựa trên luật lệ, những liên minh hay diễn đàn đa quốc gia. Họ đề cao hào quang trong quá khứ và tương lai của đất nước họ cai trị, đồng thời khẳng định quyền cai trị của đó như thể một thiên mệnh thiêng liêng. Dù chương trình hành động của họ có thể chủ trương thay đổi triệt để, chiến lược chính trị của họ vẫn dựa vào những khuynh hướng bảo thủ. Họ vượt qua đầu những tầng lớp tinh hoa tự do, thành thị và có tầm nhìn quốc tế để hướng đến những thành phần cử tri khao khát truyền thống và mong được thuộc về một cộng đồng.

 

CỘNG HƯỞNG GIỮA NHỮNG NỀN VĂN MINH

 

Ở phương diện nào đó, những nân vật lãnh đạo này và quan niệm của họ gợi nhớ đến thuyết “xung đột giữa những nền văn minh” mà lý thuyết gia chính trị Samuel Huntington nêu ra vào đầu thập niên 1990, xung đột toàn cầu phần lớn phát sinh từ những khác biệt văn minh sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, giới lãnh đạo ngày nay vận dụng quan niệm đó theo cách phô diễn và linh động hơn là tuyệt đối hóa hay cuồng tín. Đây là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột văn minh: một loạt cử chỉ và một phong cách lãnh đạo có thể biến cuộc cạnh tranh — cũng như sự hợp tác — về quyền lợi kinh tế và địa chính trị thành cuộc đối đầu giữa những quốc gia tự xem mình là đại diện cho những nền văn minh có sứ mạng chinh phục.

 

Đôi khi, cuộc đối đầu này chỉ hiện hữu trên ngôn từ. Nhờ vậy, những người lãnh đạo có thể sử dụng ngôn ngữ và câu chuyện về văn minh mà không cần tuân theo khuôn mẫu của Huntington hay những ranh giới có phần đơn giản hóa mà ông dự báo. (Russia theo Chính Thống giáo đang giao chiến với Ukraine cũng theo Chính Thống giáo, chứ không phải với Turkey theo Hồi giáo.)

 

Tại đại hội đảng Cộng hòa năm 2020, người ta giới thiệu Trump là “người bảo vệ nền văn minh phương Tây”. Giới lãnh đạo Kremlin phát triển quan niệm Russia là một “quốc gia-văn minh”, dùng danh xưng này để biện minh cho nỗ lực khống chế Belarus và khuất phục Ukraine. Tại Hội nghị Thượng đỉnh vì Dân chủ năm 2024, Modi mô tả dân chủ là “sinh khí của nền văn minh India”. Trong một bài diễn văn năm 2020, Erdogan tuyên bố: “Nền văn minh của chúng ta là nền văn minh chinh phục.” Còn trong bài diễn văn năm 2023 trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản China, lãnh tụ Xi Jinping ca ngợi những giá trị của một công trình nghiên cứu quốc gia về nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa. Ông gọi đó là “nền văn minh vĩ đại duy nhất chưa từng bị gián đoạn và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay dưới hình thức một quốc gia”.

 

Trật tự mà những người lãnh đạo này tạo dựng trong những năm tới sẽ tùy thuộc rất nhiều vào nhiệm kỳ thứ hai của Trump. Suy cho cùng, chính trật tự do Mỹ lãnh đạo đã khuyến khích sự hình thành những cơ cấu siêu quốc gia sau Chiến tranh Lạnh. Bây giờ, khi Mỹ đã tham gia cuộc tranh tài giữa những quốc gia trong thế kỷ XXI, Washington thường sẽ là bên quyết định nhịp điệu.

 

Dưới thời Trump, giới hoạch định chính sách tại Ankara, Beijing, Moscow, New Delhi và Washington, cũng như tại nhiều thủ đô khác, sẽ mặc nhiên cho rằng thế giới không còn một hệ thống duy nhất hay một bộ luật lệ được tất cả chấp nhận. Trong môi trường địa chính trị đó, ý niệm mong manh về “phương Tây” sẽ càng suy yếu; cùng lúc, vị thế của Âu châu cũng sẽ giảm sút. Sau Chiến tranh Lạnh, Washington từng xem Âu châu là đối tác đại diện cho “thế giới phương Tây”.

 

Những nước Âu châu đã quen trông đợi Mỹ lãnh đạo tại lục địa này, đồng thời duy trì một trật tự dựa trên luật lệ ở bên ngoài Âu châu, dù không nhất thiết phải theo khuôn mẫu do Mỹ đặt ra. Nay, nhiệm vụ củng cố trật tự đó — suy sụp từ nhiều năm nay — sẽ rơi vào tay Âu châu. Nhưng Âu châu chỉ là một liên minh lỏng lẻo giữa những quốc gia, không có quân đội chung và cũng chẳng có đủ sức mạnh quân sự tổ chức chặt chẽ. Hơn nữa, những nước này đang trải qua một thời kỳ mà giới lãnh đạo suy yếu nghiêm trọng.

 

Chính phủ Trump có khả năng thành công trong việc thiết lập một trật tự quốc tế mới, vốn đã âm thầm hình thành từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, nước Mỹ chỉ có thể thịnh vượng nếu Washington nhận ra mối nguy hiểm của quá nhiều đường rạn nứt giữa những quốc gia đang giao cắt với nhau, rồi kiên nhẫn dùng ngoại giao rộng mở để hóa giải những rủi ro ấy. Trump và nội các phải xem việc kiểm soát xung đột là điều kiện tiên quyết để nước Mỹ trở nên vĩ đại, chứ không phải vật cản trên con đường đó.

 

CĂN NGUYÊN THẬT SỰ CỦA CHỦ NGHĨA TRUMP

 

Giới phân tích thường truy tìm sai nguồn gốc chính sách đối ngoại của Trump khi quy nó về thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Khi phong trào America First nguyên thủy phát triển mạnh trong thập niên 1930, Mỹ chỉ có lực lượng quân sự khiêm tốn và chưa giữ địa vị siêu cường. Những người ủng hộ America First hơn hết muốn duy trì tình trạng ấy; họ tìm cách tránh xung đột.

 

Trái lại, Trump hết sức coi trọng địa vị siêu cường của Mỹ, như ông nhiều lần nhấn mạnh trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai. Chắc chắn ông sẽ gia tăng ngân sách quốc phòng. Hơn nữa, khi đe dọa chiếm Greenland và Kinh đào Panama, hoặc tìm cách giành quyền kiểm soát hai nơi đó bằng những phương thức khác, ông đã chứng tỏ không ngại đối đầu. Trump muốn giảm bớt những cam kết của Washington với những định chế quốc tế và thu hẹp phạm vi những liên minh của Mỹ, nhưng ông tuyệt nhiên không có ý định rút nước Mỹ khỏi võ đài thế giới.

 

Căn nguyên thật sự của chính sách đối ngoại Trump nằm trong thập niên 1950. Nó bắt nguồn từ làn sóng chống cộng dâng cao trong mười năm đó, nhưng không phải từ khuynh hướng chống cộng của khối tự do chủ trương cổ võ dân chủ, phát huy chuyên môn kỹ trị và tích cực dấn thân vào công việc quốc tế. Tổng thống Harry Truman, Dwight Eisenhower và John F. Kennedy từng đại diện cho khuynh hướng này khi đối phó với mối đe dọa Xô viết.

 

Quan niệm của Trump bắt nguồn từ những phong trào chống cộng cánh hữu trong thập niên 1950. Những phong trào đó đặt phương Tây đối đầu với kẻ thù, dựa vào những hình ảnh và biểu tượng tôn giáo, đồng thời nghi ngờ chủ nghĩa tự do Mỹ là quá mềm yếu, quá xa rời căn tính quốc gia và quá thế tục để bảo vệ đất nước.

 

Di sản chính trị này có thể được lần theo qua ba cuốn sách.

 

Cuốn thứ nhất là Witness của nhà báo Mỹ Whittaker Chambers, một cựu đảng viên cộng sản và điệp viên Xô viết, sau này đoạn tuyệt với đảng và trở thành người bảo thủ về chính trị. Xuất bản năm 1952, Witness là bản tuyên ngôn của Chambers nhằm tố cáo những người theo chủ nghĩa tự do ở Mỹ có cảm tình với cộng sản và hành động phản bội của họ, những điều theo ông, đã tiếp sức cho Liên Xô.

 

Một quan niệm tương tự đã thúc đẩy James Burnham, tư tưởng gia bảo thủ hàng đầu về chính sách đối ngoại thời hậu chiến. Trong cuốn Suicide of the West xuất bản năm 1964, ông chỉ trích giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ là những kẻ bất trung vì thói trưởng giả, đồng thời duy trì “những nguyên tắc mang tính quốc tế và phổ quát, thay vì xuất phát từ địa phương hay quốc gia”. Burnham chủ trương xây dựng chính sách đối ngoại trên nền tảng “gia đình, cộng đồng, Giáo hội, đất nước và, ở phạm vi xa nhất, nền văn minh — không phải nền văn minh nói chung, mà là nền văn minh cụ thể đã hình thành qua lịch sử, nơi tôi là một thành viên”.

 

https://dbbpgqhpf47d1x.archive.is/q76yG/300ae1d448fb22debc59bba3209eec16701d62ab.webp

Tác phẩm nghệ thuật khắc họa Trump, Putin và Xi tại một phòng triển lãm ở Crimea, Ukraine, tháng 2 năm 2025. Ảnh: Alexey Pavlishak / Reuters.

 

Một trong những người thừa kế tư tưởng Burnham là Pat Buchanan, một nhà báo trẻ. Buchanan ủng hộ Barry Goldwater trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, từng làm phụ tá cho Tổng thống Richard Nixon và đến năm 1992 đã mở một cuộc tranh cử sơ bộ đầy thách thức đối với tổng thống đương nhiệm thuộc đảng Cộng hòa, George H. W. Bush.

 

Chính tư tưởng của Buchanan báo trước thời đại Trump rõ rệt nhất. Năm 2002, Buchanan xuất bản cuốn The Death of the West. Trong sách, ông nhận xét rằng “người da trắng nghèo đang ngả sang cánh hữu”, đồng thời cho rằng “nhà tư bản toàn cầu và người bảo thủ chân chính là Cain và Abel”, hai anh em trong Kinh Thánh có mối quan hệ thù địch.

 

Dù mang nhan đề The Death of the West (Sự suy vong của phương Tây), Buchanan vẫn nuôi hy vọng về phương Tây — theo cách ông phân biệt thế giới “chúng ta” với “bọn họ” — và tin chắc chủ nghĩa toàn cầu sắp tan rã. Ông viết:

 

“Vì đây là một dự án của giới tinh hoa, và vì những kiến trúc sư của nó chẳng được ai biết đến hay yêu mến, chủ nghĩa toàn cầu sẽ đâm đầu vào Rạn San Hô Lớn của lòng ái quốc.”

Pat Buchanan

 

Trump tiếp thu truyền thống bảo thủ kéo dài nhiều chục năm này không phải bằng cách nghiên cứu những nhân vật kể trên, mà bằng bản năng và những ứng biến trong lúc vận động tranh cử. Giống Chambers, Burnham và Buchanan — những người đứng ngoài giới tinh hoa nhưng say mê quyền lực — Trump thích phá bỏ những khuôn phép cũ, muốn đảo lộn hiện trạng và căm ghét giới tinh hoa tự do cùng những chuyên gia chính sách đối ngoại.

 

Thoạt nhìn, Trump có vẻ khó trở thành người thừa kế những nhân vật đó và những phong trào mà họ góp phần định hình, vì tư tưởng của họ thấm đẫm luân lý Kitô giáo và đôi khi cả tinh thần thượng lưu. Nhưng Trump đã khôn khéo và thành công khi tự trình bày mình không phải là một hình mẫu tao nhã của những giá trị văn hóa và văn minh phương Tây, mà là người kiên quyết bảo vệ những giá trị đó trước kẻ thù từ bên ngoài lẫn bên trong.

 

NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐẢO LẠI TRẬT TỰ

 

Việc Trump không ưa chủ nghĩa quốc tế mang tính phổ quát đưa ông đến gần Putin, Xi, Modi và Erdogan. Năm người lãnh đạo này đều nhận thức được những giới hạn trong chính sách đối ngoại, nhưng đồng thời cũng có một sự bất an khiến họ không thể chịu ngồi yên. Họ đều thúc đẩy thay đổi, song vẫn hoạt động trong những giới hạn do chính mình đặt ra.

 

Putin không tìm cách biến Trung Đông thành một khu vực mang bản sắc Russia. Xi không tìm cách cải tạo Africa, Latin America hay Trung Đông theo hình mẫu China. Modi không tìm cách dựng lên những bản sao giả tạo của India ở nước ngoài. Erdogan cũng không ép Iran hay thế giới Arab trở nên giống Turkey hơn. Trump tương tự, không quan tâm đến việc biến Mỹ hóa thành mục tiêu chính sách đối ngoại. Quan niệm của ông về tính ngoại lệ của nước Mỹ đặt Mỹ thành một thực thể riêng biệt, đối lập với thế giới bên ngoài vốn không mang bản sắc Mỹ.

 

Chủ nghĩa xét lại trật tự quốc tế có thể hện hữu song song với việc những nước này cùng tránh xây dựng một hệ thống toàn cầu và với sự suy yếu của trật tự quốc tế. Đối với Xi, lịch sử và sức mạnh China — chứ không phải Hiến chương Liên Hiệp Quốc hay những mong muốn của Washington — mới là trọng tài quyết định địa vị của Taiwan, vì China là bất cứ điều gì ông tuyên bố.

 

India không nằm cạnh một điểm nóng toàn cầu như Taiwan, nhưng nước này vẫn tranh chấp biên giới với China và Pakistan. Những tranh chấp đó chưa được giải quyết kể từ khi India giành độc lập năm 1947. Theo quan niệm của Modi, India kết thúc ở đâu là do ông quyết định.

 

Chủ nghĩa xét lại của Erdogan thể hiện cụ thể hơn. Để giúp đồng minh Azerbaijan giành lợi thế, Turkey đã tạo điều kiện cho Azerbaijan trục xuất người Armenia khỏi vùng lãnh thổ tranh chấp Nagorno-Karabakh, không phải qua thương thuyết mà bằng sức mạnh quân sự. Tư cách thành viên NATO của Turkey — đi kèm cam kết chính thức về dân chủ và sự toàn vẹn biên giới — không ngăn cản Erdogan hành động như vậy.

 

Turkey cũng đã thiết lập sự hiện diện quân sự tại Syria. Điều này chưa hẳn là khôi phục Đế quốc Ottoman. Erdogan không chủ trương chiếm giữ lãnh thổ Syria vĩnh viễn. Tuy nhiên, những dự án quân sự và chính trị của Turkey tại Nam Caucasus và Trung Đông mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với Erdogan. Chúng chứng minh sự vĩ đại của Turkey và cho thấy Turkey sẽ hiện diện ở bất cứ nơi nào Erdogan cho rằng nước mình phải có mặt.

 

Giữa làn sóng xét lại trật tự quốc tế đang dâng cao, cuộc chiến của Russia chống Ukraine là câu chuyện trọng tâm. Nhân danh sự “vĩ đại” của Russia và cai trị một đất nước mà theo ông không có giới hạn lãnh thổ rõ ràng, Putin thường xuyên viện dẫn lịch sử trong những bài diễn văn. Sergey Lavrov, ngoại trưởng Russia, từng nói đùa rằng những cố vấn thân cận nhất của Putin chính là “Ivan Bạo Chúa, Peter Đại Đế và Catherine Đại Đế”.

 

Nhưng điều Putin thực sự quan tâm là tương lai, chứ không phải quá khứ. Cuộc xâm lăng Ukraine năm 2022 là một bước ngoặt địa chính trị, tương tự những biến cố mà thế giới chứng kiến vào các năm 1914, 1939 và 1989. Putin phát động chiến tranh nhằm chia cắt hoặc thuộc địa hóa Ukraine. Ông muốn cuộc xâm lăng này trở thành tiền lệ để biện minh cho những cuộc chiến tương tự tại những khu vực khác, đồng thời có thể khơi dậy trong những nước khác, kể cả China, ý muốn thử sức với những cuộc phiêu lưu quân sự có thể đảo lộn trật tự.

 

Putin đã viết lại luật chơi và vẫn tiếp tục làm như vậy. Dù cuộc xâm lăng diễn ra bất lợi cho Russia, nó không khiến nước này bị cô lập hoàn toàn trên trường quốc tế. Putin đã khiến ý tưởng dùng chiến tranh quy mô lớn để chiếm lãnh thổ trở nên bình thường trở lại. Ông làm điều đó ngay tại Âu châu, nơi trước kia từng là biểu tượng của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

 

Những cuộc xung đột ngày nay là một phiên bản nhẹ hơn của thuyết xung đột giữa những nền văn minh.

Tuy nhiên, cuộc xâm lăng Ukraine không hề báo hiệu sự cáo chung của ngoại giao quốc tế. Trái lại, xét trên một số phương diện, cuộc chiến đã thúc đẩy ngoại giao khởi động trở lại. Chẳng hạn, nhóm BRICS, tập hợp China, India và Russia cùng với Brazil, South Africa và những nước ngoài phương Tây khác, đã mở rộng quy mô và có lẽ cũng đoàn kết hơn. Ở phía bên kia, liên minh những nước ủng hộ Ukraine nay đã vượt xa phạm vi xuyên Đại Tây Dương. Liên minh này còn có Australia, Japan, New Zealand, Singapore và South Korea. Chủ nghĩa đa phương vẫn còn và phát triển; chỉ có điều nó không bao trùm toàn thế giới.

 

Trong bức tranh địa chính trị biến đổi muôn hình vạn trạng này, những mối quan hệ luôn thay đổi và vô cùng phức tạp. Putin và Xi đã xây dựng quan hệ đối tác, nhưng chưa hẳn là một liên minh. Xi không có lý do gì phải bắt chước Putin trong việc liều lĩnh đoạn tuyệt với Âu châu và Mỹ. Dù là đối thủ, Russia và Turkey ít ra vẫn có thể điều chỉnh hoạt động để tránh đụng độ tại Trung Đông và Nam Caucasus.

 

India dè chừng China. Một số nhà phân tích thường mô tả China, Iran, North Korea và Russia như một “trục” liên minh, nhưng thực tế đây là bốn quốc gia khác biệt sâu sắc, với quyền lợi và quan niệm về thế giới thường xuyên mâu thuẫn nhau.

 

Chính sách đối ngoại của những nước này nhấn mạnh lịch sử và bản sắc riêng, cùng quan niệm rằng những người lãnh đạo có sức thu hút quần chúng phải anh dũng bảo vệ quyền lợi của Russia, China, India hay Turkey. Điều đó cản trở sự hội tụ giữa họ và khiến việc hình thành những liên minh bền vững trở nên khó khăn. Một trục liên minh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, trong khi quan hệ giữa những nước này lại linh động, dựa trên trao đổi lợi ích và chịu ảnh hưởng mạnh của cá tính từng người lãnh đạo. Không có gì hoàn toàn trắng đen, không có gì bất di bất dịch và cũng chẳng có gì không thể thương lượng.

 

Môi trường đó rất phù hợp với Trump. Ông không bị những đường ranh chia cắt theo tôn giáo và văn hóa trói buộc quá nhiều. Ông thường coi trọng cá nhân hơn chính phủ, và quan hệ riêng hơn những liên minh chính thức. Germany là đồng minh NATO của Mỹ, còn Russia là đối thủ lâu đời, nhưng trong nhiệm kỳ đầu, Trump đã xung đột với Thủ tướng Germany Angela Merkel trong khi đối xử với Putin bằng thái độ tôn trọng. Những nước khiến Trump đối đầu gay gắt nhất lại chính là những nước thuộc phương Tây. Nếu Huntington còn sống để chứng kiến điều này, hẳn ông sẽ vô cùng bối rối.

 

VIỄN ẢNH CHIẾN TRANH

 

Trong nhiệm kỳ đầu của Trump, tình hình quốc tế tương đối yên ổn. Không có cuộc chiến lớn nào. Russia dường như đã bị ngăn chặn tại Ukraine. Trung Đông có vẻ đang bước vào một thời kỳ tương đối ổn định, một phần nhờ Hiệp định Abraham do chính phủ Trump thúc đẩy, gồm những thỏa thuận nhằm củng cố trật tự khu vực.

 

China dường như có thể bị răn đe tại Taiwan; nước này chưa bao giờ tiến gần đến mức xâm lăng hòn đảo. Trên thực tế, dù không phải lúc nào lời nói cũng như vậy, Trump hành xử như một tổng thống Cộng hòa điển hình. Ông gia tăng những cam kết quốc phòng của Mỹ đối với Âu châu và chào đón hai quốc gia mới gia nhập NATO. Ông không ký kết thỏa thuận nào với Russia. Ông dùng lời lẽ cứng rắn với China và tìm cách giành lợi thế tại Trung Đông.

 

Nhưng ngày nay, một cuộc chiến lớn đang diễn ra tại Âu châu, Trung Đông rơi vào hỗn loạn và hệ thống quốc tế cũ gần như tan nát. Nhiều yếu tố kết hợp có thể dẫn đến thảm họa: luật lệ và biên giới tiếp tục bị xói mòn; những dự án khẳng định sự vĩ đại của từng quốc gia va chạm với nhau, trong khi những người lãnh đạo thất thường và phương tiện truyền thông xã hội với tốc độ truyền tin chóng mặt càng làm tình hình thêm căng thẳng; những quốc gia vừa và nhỏ ngày càng tuyệt vọng vì bất mãn trước quyền hành không bị kiểm soát của những cường quốc và lo sợ hậu quả của tình trạng vô chính phủ trên trường quốc tế.

 

Thảm họa có thể bùng nổ tại Ukraine hơn là tại Taiwan hay Trung Đông, vì nguy cơ chiến tranh thế giới và chiến tranh nguyên tử lớn nhất hiện nằm ở Ukraine.

 

Ngay cả dưới trật tự dựa trên luật lệ, sự toàn vẹn lãnh thổ cũng chưa bao giờ là nguyên tắc tuyệt đối — nhất là đối với những quốc gia nằm gần Russia. Tuy nhiên, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Âu châu và Mỹ vẫn cam kết bảo vệ nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ. Khoản đầu tư khổng lồ của họ vào Ukraine thể hiện một quan niệm riêng về an ninh Âu châu: nếu người ta có thể dùng vũ lực để thay đổi biên giới, Âu châu — nơi những đường biên giới từ lâu thường gây bất mãn và thù hận — sẽ rơi vào một cuộc chiến toàn diện.

 

Hòa bình tại Âu châu chỉ có thể có nếu người ta không dễ dàng tùy tiện thay đổi biên giới. Trong nhiệm kỳ đầu, Trump từng nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, hứa xây một “bức tường lớn và đẹp” dọc biên giới Mỹ-Mexico. Nhưng khi ấy, ông chưa phải đối phó với một cuộc chiến lớn tại Âu châu. Đến nay, rõ ràng niềm tin của ông vào tính thiêng liêng của biên giới phần lớn chỉ áp dụng cho biên giới Mỹ.

 

https://www.reuters.com/resizer/v2/https%3A%2F%2Farchive-images.prod.global.a201836.reutersmedia.net%2F2020%2F02%2F25%2F2020-02-25T123513Z_14581_MRPRC2W6F9QXJSG_RTRMADP_0_INDIA-USA-TRUMP.JPG?auth=c388f1ba0e9aa3456e7721a55deea96a2b868a48562ae2da7af7e7c83e7c0309&width=1920&quality=80

Tổng thống Mỹ Donald Trump ôm Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong lễ “Namaste Trump” tại sân vận động Sardar Patel Gujarat ở Ahmedabad, Ấn Độ, ngày 24 tháng 2 năm 2020. REUTERS/Al Drago

 

Trong khi đó, China và India có dè dặt trước cuộc chiến của Russia, nhưng cùng với Brazil, Philippines và nhiều cường quốc khu vực khác, họ đã có quyết định để lại hệ quả lâu dài là duy trì quan hệ với Russia, ngay cả khi Putin ra sức phá hủy Ukraine. Đối với những nước tự nhận là “trung lập” này, chủ quyền của Ukraine không có ý nghĩa đáng kể. Họ coi trọng một nước Russia ổn định dưới quyền Putin và những thỏa thuận năng lượng, võ khí đang tiếp diễn hơn nhiều.

 

Những nước đó có thể đánh giá thấp nguy cơ khi chấp nhận chủ nghĩa xét lại của Russia. Chính thái độ đó có thể dẫn đến một cuộc chiến lan rộng thay vì mang lại ổn định. Viễn cảnh Ukraine bị chia cắt hoặc bị đánh bại sẽ khiến những nước láng giềng của Ukraine kinh hoàng.

 

Estonia, Latvia, Lithuania và Poland là những thành viên NATO, vốn trông cậy vào cam kết phòng thủ chung theo Điều 5 của hiệp ước. Tuy nhiên, cam kết đó dựa vào sức mạnh của Mỹ — mà Mỹ lại ở rất xa. Nếu Poland và những nước cộng hòa vùng Baltic nhận thấy Ukraine sắp thất trận, khiến chủ quyền của chính họ bị đe dọa, họ có thể quyết định trực tiếp tham chiến. Russia có thể đáp trả bằng cách mở rộng chiến tranh sang lãnh thổ của họ.

 

Một kết cục tương tự cũng có thể xảy ra nếu Washington, những nước Tây Âu và Moscow đạt được một thỏa thuận lớn chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện có lợi cho Russia, nhưng lại khiến những nước láng giềng Ukraine trở nên cực đoan hơn. Lo sợ Russia xâm lăng một mặt, đồng thời sợ đồng minh bỏ rơi mặt khác, họ có thể chuyển sang tấn công trước. Ngay cả khi Mỹ đứng ngoài cuộc trong một cuộc chiến lan khắp Âu châu, France, Germany và United Kingdom có lẽ cũng không thể giữ thái độ trung lập.

 

Nếu cuộc chiến ở Ukraine lan rộng như vậy, kết cục sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến uy tín của Trump và Putin. Lòng tự ái sẽ chi phối hành động, như nó vẫn thường xảy ra trong quan hệ quốc tế. Putin không thể chấp nhận thua Ukraine; Trump cũng không thể để mình “đánh mất” Âu châu. Đối với bất cứ tổng thống Mỹ nào, việc phung phí sự thịnh vượng và khả năng phô trương sức mạnh mà Mỹ có được nhờ sự hiện diện quân sự tại Âu châu sẽ là một nỗi nhục nhã.

 

Động lực tâm lý thúc đẩy leo thang chiến tranh sẽ rất mạnh. Trong một hệ thống quốc tế đặt nặng cá nhân, nhất là khi ngoại giao qua phương tiện kỹ thuật số thiếu kỷ luật làm tình hình thêm kích động, động lực đó có thể xuất hiện ở những nơi khác. Chẳng hạn, nó có thể châm ngòi xung đột giữa China và India, hoặc giữa Russia và Turkey.

 

VIỄN ẢNH HÒA BÌNH

 

Bên cạnh những kịch bản tồi tệ nhất ấy, hãy xét đến việc nhiệm kỳ thứ hai của Trump cũng có thể cải thiện tình hình quốc tế đang xuống dốc. Sự kết hợp giữa quan hệ thực tế, không phô trương với Beijing và Moscow, cách ngoại giao linh động tại Washington, cùng một chút may mắn về chiến lược, có thể không tạo ra những đột phá lớn nhưng vẫn giúp duy trì một hiện trạng tốt đẹp hơn.

 

Không phải chấm dứt chiến tranh Ukraine, mà là giảm cường độ giao tranh. Không phải giải quyết dứt điểm vấn đề Taiwan, mà là thiết lập những giới hạn an toàn để ngăn một cuộc chiến lớn tại vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Không phải giải quyết xung đột Israel-Palestine, mà là đưa Mỹ đến một hình thức hòa hoãn với Iran đang suy yếu, đồng thời tạo điều kiện xuất hiện một chính phủ có thể hoạt dộng tại Syria.

 

Trump có thể không trở thành một người kiến tạo hòa bình hoàn toàn, nhưng ông vẫn có thể góp phần đưa thế giới đến một thời kỳ ít chiến tranh hơn.

 

Dưới thời Biden và những người tiền nhiệm là Barack Obama và George W. Bush, Russia và China phải đối phó với sức ép có tính hệ thống từ Washington. Moscow và Beijing đứng ngoài trật tự quốc tế tự do, một phần do chính lựa chọn của họ, một phần vì họ không phải là những nền dân chủ. Những người lãnh đạo Russia và China phóng đại sức ép ấy, như thể Washington thực sự theo đuổi chính sách thay đổi chế độ của họ. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn sai khi nhận thấy Washington ưu tiên chủ nghĩa chính trị đa nguyên, những quyền tự do dân sự và nguyên tắc phân quyền.

 

Kể từ khi Trump trở lại Tòa Bạch Ốc, sức ép đó đã giảm đi. Hình thức tổ chức chính phủ tại Russia và China không phải là điều khiến Trump bận tâm, vì ông tuyệt đối phản đối việc xây dựng quốc gia từ bên ngoài và thay đổi chế độ chính trị. Dù những nguyên nhân gây căng thẳng vẫn còn, bầu không khí chung sẽ bớt nặng nề hơn, và những cuộc tiếp xúc ngoại giao có thể diễn ra thường xuyên hơn.

 

Washington, Beijing và Moscow có thể linh động nhượng bộ lẫn nhau nhiều hơn trong những vấn đề nhỏ, đồng thời cởi mở hơn với thương thuyết và những biện pháp xây dựng lòng tin tại những vùng đang có chiến tranh hay tranh chấp.

 

Nếu Trump và nhóm của ông biết vận dụng, ngoại giao linh động — tức khéo léo kiểm soát những căng thẳng thường trực và những cuộc xung đột liên tiếp — có thể đem lại lợi ích rất lớn. Trump là vị tổng thống ít mang tư tưởng Wilson nhất kể từ chính Woodrow Wilson. Ông không quan tâm đến những cơ cấu hợp tác quốc tế bao quát như Liên Hiệp Quốc hay Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu.

 

Thay vào đó, ông cùng những cố vấn, nhất là những người xuất thân từ giới kỹ thuật số, có thể lên võ đài thế giới với tư duy của một công ty khởi nghiệp: một doanh nghiệp vừa thành lập, có thể chẳng bao lâu nữa sẽ giải thể, nhưng đủ khả năng phản ứng nhanh chóng và sáng tạo trước hoàn cảnh nhất thời.

 

Ukraine sẽ là phép thử đầu tiên. Thay vì vội vã tìm kiếm hòa bình, chính phủ Trump nên tập trung bảo vệ chủ quyền Ukraine, điều mà Putin sẽ không bao giờ chấp nhận. Cho phép Russia hạn chế chủ quyền Ukraine có thể tạo ra vẻ ngoài ổn định, nhưng lại mở đường cho chiến tranh tái diễn.

 

Thay vì theo đuổi một nền hòa bình hão huyền, Washington nên giúp Ukraine xác định những quy tắc giao chiến với Russia. Dựa vào những quy tắc đó, hai bên có thể từng bước giảm tầm mức và cường độ chiến tranh.

 

Khi đó, Mỹ có thể tách riêng vấn đề xung đột khỏi những lãnh vực khác trong quan hệ với Russia, như Washington từng làm với Liên Xô suốt thời Chiến tranh Lạnh. Hai bên có thể tiếp tục bất đồng về Ukraine, nhưng vẫn đi tìm những điểm đồng thuận trong việc ngăn chặn phổ biến võ khí nguyên tử, kiểm soát võ khí, biến đổi khí hậu, đại dịch, chống khủng bố, Bắc Cực và thám hiểm không gian.

 

Việc tách riêng những vấn đề xung đột với Russia sẽ phục vụ một quyền lợi cốt lõi của Mỹ, cũng là điều Trump hết sức coi trọng: ngăn chặn một cuộc trao đổi võ khí nguyên tử giữa Mỹ và Russia.

 

Chính Biden, chứ không phải Trump, mới là người đi chệch hướng.

 

Một phong cách ngoại giao ứng biến có thể giúp chính phủ tận dụng tốt hơn những cơ hội bất ngờ do hoàn cảnh đưa tới. Những cuộc cách mạng tại Âu châu năm 1989 là một thí dụ điển hình.

 

Sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản và sự sụp đổ của Liên Xô đôi khi được diễn giải như một thành quả xuất sắc trong kế hoạch chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, Bức tường Berlin sụp đổ năm đó hầu như không liên quan đến chiến lược của Mỹ, còn sự tan rã của Liên Xô cũng không phải là điều chính phủ Mỹ dự đoán sẽ xảy ra. Tất cả phần lớn là kết quả của tình cờ và may mắn.

 

Ê-kíp an ninh quốc gia của Tổng thống George H. W. Bush rất xuất sắc, không phải vì họ dự đoán hay kiểm soát được biến cố, mà vì họ biết phản ứng thích hợp trước những gì xảy ra. Họ tránh làm quá mức, chẳng hạn chọc giận Liên Xô, nhưng cũng không làm quá ít, để rồi để vuột mất một nước Germany thống nhất khỏi NATO.

 

Theo tinh thần ấy, chính phủ Trump phải luôn sẵn sàng chụp lấy thời cơ. Muốn tận dụng tối đa những cơ hội xuất hiện, Washington không được sa lầy vào những hệ thống và cơ cấu cứng nhắc.

 

Tuy nhiên, tận dụng may mắn cũng đòi hỏi sự chuẩn bị và khả năng ứng biến. Về phương diện này, Mỹ có hai lợi thế lớn.

 

Thứ nhất là mạng lưới liên minh, giúp Washington gia tăng đáng kể ảnh hưởng và khả năng xoay xở. Thứ hai là nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia của Mỹ, giúp mở rộng khả năng có thị trường và những nguồn tài nguyên thiết yếu, thu hút đầu tư từ bên ngoài, đồng thời duy trì hệ thống tài chánh Mỹ ở vị trí trung tâm của nền kinh tế toàn cầu.

 

Chủ nghĩa bảo hộ và những chính sách kinh tế mang tính cưỡng ép có thể cần thiết trong một số trường hợp, nhưng phải phục vụ một tầm nhìn rộng lớn và lạc quan hơn về sự thịnh vượng của nước Mỹ. Tầm nhìn đó phải dành ưu tiên cho những đồng minh và đối tác lâu năm.

 

Ngày nay, không còn khái niệm quen thuộc nào về trật tự thế giới hoàn toàn phù hợp: hệ thống quốc tế không còn đơn cực, lưỡng cực hay đa cực. Nhưng ngay cả trong một thế giới không có cơ cấu ổn định, chính phủ Trump vẫn có thể sử dụng sức mạnh Mỹ, những liên minh và nghệ thuật vận dụng kinh tế phục vụ quốc gia để giảm căng thẳng, hạn chế xung đột và tạo dựng một nền tảng hợp tác tối thiểu giữa những nước lớn cũng như nhỏ.

 

Đó có thể là cách giúp Trump thực hiện mong muốn của mình: để nước Mỹ ở vào tình thế tốt đẹp hơn khi nhiệm kỳ thứ hai kết thúc so với lúc ông bắt đầu.

 

------------------------------

Tác giả: Michael Kimmage là giám đốc Viện Kennan thuộc Wilson Center, đồng thời là tác giả cuốn The Abandonment of the West: The History of an Idea in American Foreign Policy (Sự từ bỏ phương Tây: Lịch sử một khái niệm trong chính sách đối ngoại Mỹ).

 

Người dị:h: Trần Giao Thủy

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: The World Trump Wants | Michael Kimmage | The Foreign Affairs | February 25, 2025

 

 

 



View My Stats