Thursday, 22 October 2026

SỐ PHẬN CỦA 26 TRIỆU DÂN BẮC HÀN SẼ RA SAO SAU KHI KIM JONG UN QUA ĐỜI? (Phan Thế Hải / Báo Tiếng Dân)

 



Số phận của 26 triệu người dân Bắc Hàn sẽ ra sao sau khi Kim Jong-un qua đời?

Phan Thế Hải  -  Báo Tiếng Dân

21/10/2026

https://baotiengdan.com/2026/10/21/so-phan-cua-26-trieu-nguoi-dan-bac-han-se-ra-sao-sau-khi-kim-jong-un-qua-doi/

 

Nay đi Yên Dũng tiễn biệt mùa thu, mấy ông bạn kêu, có quá nhiều tin đồn về ông Kim, lãnh tụ tối cao Bắc Hàn. Nếu ông này qua đời, chắc xứ Kim chi sẽ có tương lai sáng hơn. Lời qua tiếng lại của mấy nhà thông thái cũng vỡ ra được nhiều điều.

 

Kết thúc 18 hố, trong lúc chờ đợi món cua ra trứ danh của Nhà hàng, tranh thủ lướt web cập nhật một số thông tin về chủ đề này.

 

Ngày 20/10, hãng thông tấn Yonhap của Hàn Quốc cho biết những tin đồn ông Kim bị xuất huyết não, hôn mê và được đưa sang Bắc Kinh điều trị chưa có chứng cứ xác thực.

 

Đáp lại tin đồn, truyền thông nhà nước Triều Tiên công bố hình ảnh ông Kim tham quan triển lãm may mặc và giày dép tại Bình Nhưỡng ngày 19/10, cùng con gái Kim Ju-ae. Giới chức an ninh và ngoại giao Hàn Quốc cho biết, họ không có thông tin ủng hộ tin đồn ông qua đời. Ông Kim có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao, nhưng không ghi nhận dấu hiệu rõ ràng của một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đang ảnh hưởng đến hoạt động của ông.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/10/1-63.jpg

Ông Kim thừa cân có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao! Nguồn ảnh: The Australian

 

Nếu ông Kim đột ngột qua đời, câu hỏi lớn nhất không chỉ là ai sẽ kế nhiệm ông, mà còn là liệu hàng triệu người dân Triều Tiên có cơ hội bước sang một cuộc sống tự do, no đủ hơn, hay tiếp tục chịu đựng khó khăn dưới một chính quyền mới?

 

Có một nghịch lý đáng suy ngẫm, sự ra đi của một nhà lãnh đạo không nhất thiết đồng nghĩa với sự thay đổi số phận của người dân. Lịch sử Triều Tiên đã chứng minh điều đó. Năm 1994, Kim Il-sung qua đời. Năm 2011, Kim Jong-il qua đời, nhưng hệ thống chính trị và kinh tế tập trung quyền lực vẫn được duy trì.

 

Đối với phần lớn người dân, điều quan trọng trước tiên không phải là ai đứng đầu đất nước mà là họ có đủ lương thực, được đi lại, làm việc, học tập và tiếp cận thông tin hay không. Giả sử Kim Jong-un qua đời, đời sống của họ có thể đi theo những hướng rất khác nhau.

 

Thứ nhất, nếu chế độ hiện tại tiếp tục tồn tại, đời sống người dân ít thay đổi; các hạn chế về quyền tự do, đi lại và thông tin có thể tiếp tục.

 

Thứ hai, nếu cải cách kinh tế từng bước, người dân có thêm cơ hội kinh doanh, tăng thu nhập, tiếp cận hàng hóa và cải thiện mức sống.

 

Thứ ba, nếu khủng hoảng tranh giành quyền lực, nguy cơ thiếu lương thực, gián đoạn phân phối hàng hóa, kiểm soát an ninh nghiêm ngặt hơn và di cư bất ổn.

 

Thứ tư, nếu chuyển đổi chính trị sâu rộng, người dân Bắc Hàn có cơ hội mở rộng quyền tự do, hội nhập kinh tế, nhưng cũng đối mặt với thất nghiệp, bất bình đẳng và những khó khăn trong quá trình chuyển đổi.

 

Không thể xác định chắc chắn kịch bản nào sẽ diễn ra. Tuy nhiên, những lần kế vị trước đây cho thấy, thay đổi lãnh đạo không tự động dẫn đến thay đổi chế độ.

 

Theo một báo cáo của Liên Hợp Quốc công bố năm 2026, hiện Triều Tiên có 10,7 triệu người thiếu dinh dưỡng, chiếm hơn 40% dân số. Thiếu đói, khủng hoảng thiếu dinh dưỡng vẫn kéo dài. Báo cáo năm 2026 của Human Rights Watch cũng ghi nhận tình trạng mất an ninh lương thực, hạn chế hoạt động thị trường và khó tiếp cận dịch vụ y tế tại Triều Tiên.

 

Nếu xảy ra khủng hoảng kế vị, những người dễ bị tổn thương nhất có thể là trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và các hộ gia đình nghèo ở nông thôn.

 

Ngược lại, nếu chính quyền mới mở rộng giao thương, cải thiện nông nghiệp và cho phép viện trợ quốc tế tiếp cận người dân, đời sống có thể được cải thiện mà không nhất thiết phải chờ một cuộc thống nhất hai miền.

 

Người dân có thể được hưởng tự do hơn không? Đây có lẽ là vấn đề có ý nghĩa lâu dài nhất. Theo báo cáo của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 2025, người dân Triều Tiên tiếp tục chịu những hạn chế nghiêm trọng về tự do biểu đạt, tiếp cận thông tin, đi lại và các hình thức giám sát của nhà nước.

 

Một chính quyền mới có thể lựa chọn nới lỏng kiểm soát, nhưng cũng có thể tăng cường giám sát trong giai đoạn đầu để củng cố quyền lực. Đối với người dân, những thay đổi thiết thực nhất sẽ là được tự do lựa chọn nghề nghiệp, kinh doanh, tiếp cận Internet, đi lại, bày tỏ ý kiến và không phải lo sợ bị trừng phạt vì những hành vi ôn hòa.

 

Nếu Triều Tiên cải cách giống Trung Quốc và Việt Nam? Đây là một hướng phát triển đáng nghiên cứu. Trung Quốc từ năm 1978 và Việt Nam từ năm 1986 đã tiến hành cải cách kinh tế, từng bước mở rộng vai trò của thị trường và hội nhập thương mại quốc tế. Nếu Triều Tiên đi theo một số chính sách tương tự, người dân có thể được hưởng lợi từ việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hạ tầng, thương mại và đầu tư nước ngoài.

 

Tuy nhiên, Triều Tiên có những điều kiện rất khác biệt: Vấn đề vũ khí hạt nhân, các lệnh trừng phạt quốc tế, mức độ cô lập và quan hệ đối đầu với Hàn Quốc. Vì thế, không thể mặc nhiên cho rằng cải cách sẽ tạo ra kết quả tương tự Việt Nam hoặc Trung Quốc.

 

Thống nhất có thể mở ra cơ hội rất lớn cho người dân miền Bắc: Tiếp cận nền kinh tế phát triển hơn, các dịch vụ y tế, giáo dục, công nghệ và thị trường lao động rộng lớn hơn. Nhưng nếu diễn ra đột ngột, quá trình thống nhất cũng có thể tạo ra những cú sốc xã hội, chênh lệch thu nhập, thất nghiệp, thay đổi hệ thống sở hữu, di cư quy mô lớn và khó khăn trong hòa nhập.

 

Kinh nghiệm thống nhất nước Đức năm 1990 cho thấy, việc kết hợp hai nền kinh tế và hai hệ thống xã hội rất khác nhau cần nguồn lực lớn và thời gian dài.

 

Vì vậy, lợi ích thực tế đối với người dân Triều Tiên sẽ phụ thuộc vào cách quá trình chuyển đổi được quản lý, chứ không chỉ vào việc hai miền có thống nhất hay không.

 

Vậy điều gì sẽ quyết định số phận người dân? Cần phân biệt sự thay đổi người cầm quyền với sự thay đổi điều kiện sống của nhân dân.

 

Một nhà lãnh đạo mới có thể duy trì toàn bộ hệ thống cũ. Ngược lại, một chính quyền vẫn giữ nguyên cấu trúc chính trị cũng có thể tiến hành cải cách kinh tế và cải thiện đời sống.

 

Với người dân Bắc Hàn, ba thay đổi có ý nghĩa lớn nhất sẽ là bảo đảm lương thực và chăm sóc sức khỏe, mở rộng quyền tự do cá nhân, và tạo cơ hội mưu sinh thông qua cải cách kinh tế.

 

Đặc biệt, cần tránh một cuộc khủng hoảng quyền lực dẫn tới xung đột quân sự, bởi trong trường hợp đó, người dân bình thường sẽ là những người chịu hậu quả trực tiếp nhất.

 

Sau hơn 80 năm chia cắt, liệu người dân Bắc Hàn còn đủ những điều kiện xã hội, kinh tế và thông tin để chủ động tham gia quyết định tương lai đất nước mình nếu một cơ hội thay đổi thực sự xuất hiện?

 

Đây có lẽ là vấn đề đáng suy ngẫm nhất khi bàn về tương lai của Triều Tiên sau thời kỳ Kim Jong-un.

 

Ngẫm một chút về số phận của người dân Bắc Hàn bỗng thấy yêu cuộc đời hơn. Đặc biệt là sau trận so gậy trên sân rồi thưởng thức bữa trưa với món lẩu cua ra độc đáo. Nước lẩu ngọt thanh, béo ngậy từ gạch cua. Hơn thế là được thưởng thức vào những ngày cuối thu khi trời bắt đầu se lạnh.

 

 




ĐẢNG CSVN CẦN CÔNG KHAI HỒ SƠ ĐẢNG VIÊN KINH DOANH. . . (Trương Nhân Tuấn / Báo Tiếng Dân)

 



Đảng CSVN cần công khai hồ sơ đảng viên kinh doanh…

Trương Nhân Tuấn   -   Báo Tiếng Dân

20/10/2026

https://baotiengdan.com/2026/10/20/dang-csvn-can-cong-khai-ho-so-dang-vien-kinh-doanh/

 

Đảng CSVN cần công khai hóa hồ sơ đảng viên kinh doanh để bảo đảm sự minh bạch và tính bình đẳng của thị trường.

 

Ngày 14/10/2026 vừa qua, ông Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về “đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Câu hỏi đặt ra là, việc “đầu tư và kinh doanh của đảng viên” là một vấn đề “nội bộ” của đảng hay là một vấn đề xã hội?

 

Việc đảng viên được phép “làm giàu” qua các hình thức kinh tế tư nhân trong vài thập niên qua, nay được phép “đầu tư và kinh doanh” theo Quy định số 224-QĐ/TW của Trung ương mà ông Tô Lâm vừa ký, rõ ràng là chuyện “nội bộ của đảng”.

 

Vấn đề là, thứ nhất, Đảng CSVN là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Hầu hết các vị trí chủ chốt trong bộ máy công quyền, từ lập pháp, hành pháp, tư pháp cho tới các cơ quan quy hoạch, cấp phép tài nguyên, đều do đảng viên nắm giữ.

 

Nếu đảng là một tổ chức dân sự thông thường, kiểu một câu lạc bộ hay hiệp hội cho phép hội viên kinh doanh, thì đó là việc nội bộ, vì họ không sở hữu quyền lực cưỡng chế hay quyền phân bổ nguồn lực quốc gia. Nhưng Đảng CSVN là “đảng cầm quyền”. Điều này có nghĩa là quyền lực của đảng viên không tách rời quyền lực công.

 

Một quyết định kinh doanh của đảng viên đang nắm giữ chức vụ có thể trực tiếp quyết định hướng đi của quy hoạch đô thị, việc cấp phép các dự án khai thác tài nguyên (đất đai, quặng mỏ…) hay phân bổ ngân sách công. Tức là chuyện “đảng viên được quyền đầu tư và kinh doanh” là một vấn đề của xã hội, và xã hội có quyền, đồng thời có nghĩa vụ, giám sát hành vi đó.

 

Thứ hai, hoạt động đầu tư và kinh doanh của đảng viên có tác động trực tiếp đến tính “bình đẳng” của thị trường. Khi một đảng viên (được đảng bật đèn xanh cho phép) bước vào thương trường, họ tham gia vào một không gian xã hội chung, nơi bị chi phối bởi luật pháp và quy luật cạnh tranh.

 

Một doanh nghiệp tư nhân bình thường trong không gian này phải cạnh tranh sòng phẳng bằng chất lượng và giá cả. Nếu đối thủ cạnh tranh của họ là doanh nghiệp do cán bộ, đảng viên quản lý hoặc góp vốn, sự can thiệp của các mối quan hệ quyền lực nội bộ có thể tạo ra những ưu đãi ngầm về tiếp cận đất đai, nguồn vốn tín dụng ngân hàng hay sự nương tay của các cơ quan thanh tra. Tức là, sự “ẩn danh” của đảng viên làm kinh doanh đã xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác.

 

Tức là chuyện “đảng viên được quyền đầu tư và kinh doanh” thuộc lĩnh vực trật tự kinh tế – xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư, quyền và lợi ích (túi tiền) của người dân. Đảng không thể “đóng cửa” rồi coi đó là “chuyện riêng tư của chi bộ”.

 

Thứ ba, bản chất của xung đột lợi ích là vấn đề công cộng. Nếu mở rộng ra các tiêu chuẩn quản trị quốc tế, chẳng hạn như khuyến nghị của Liên Hiệp Quốc hay Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính quốc tế (FATF) về người có ảnh hưởng chính trị (PEP), chúng ta thấy rằng sự tiếp xúc giữa quyền lực công và lợi ích kinh tế tư nhân là nguồn gốc cốt lõi của tham nhũng và tha hóa thể chế.

 

Thí dụ, đảng viên kinh doanh có thể dễ dàng tiếp cận và lợi dụng thông tin quy hoạch chưa công bố để đầu cơ đất đai. Hoặc đảng viên kinh doanh, nhờ có thế lực, có thể giành các gói thầu hạ tầng công cộng với giá “rẻ như cho”. Chính những hành vi này là nguyên nhân làm thất thoát ngân sách nhà nước (tiền thuế của toàn dân) và làm xói mòn niềm tin xã hội.

 

Tức là việc “đảng viên được quyền đầu tư và kinh doanh” là một vấn đề của xã hội. Việc kiểm soát xung đột lợi ích là trách nhiệm đối với toàn xã hội, chỉ có thể giải quyết bằng các chế tài pháp lý công khai, chớ không thể bằng những hình thức kỷ luật nội bộ như “khiển trách, cảnh cáo, rút kinh nghiệm”.

 

Thứ tư, đâu là ranh giới giữa “nội bộ đảng” và xã hội? Nếu không phân định rạch ròi hai việc này thì làm sao quản trị đất nước một cách minh bạch? Trong nội bộ đảng, có thể đánh giá phẩm chất, lý tưởng cách mạng; xem xét mức độ gương mẫu, phân công nhiệm vụ trong chi bộ; xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm nguyên tắc của đảng.

 

Nhưng các vấn đề luật định như quyền tự do kinh doanh, việc kê khai và giải trình nguồn gốc tài sản, nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm giải trình khi có xung đột lợi ích hay việc phòng ngừa rửa tiền và cạnh tranh không lành mạnh… là chuyện của “xã hội”.

 

Ngoài ra, còn có khẩu hiệu chính trị: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Từ lâu, khẩu hiệu này đã trở thành một nguyên tắc “bất thành văn”, nhằm khẳng định phương châm nền tảng trong việc quản trị quốc gia. Bởi vì, về bản chất, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân; do đó, mọi chủ thể nắm giữ quyền lực chính trị hoặc hoạt động dưới sự ủy thác của nhân dân đều phải chịu sự giám sát của xã hội.

 

Khi đảng thay đổi nội quy, ra các quyết định cho phép cán bộ, đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh tư nhân với quy mô lớn, thì việc thực thi quyền “dân kiểm tra, dân giám sát” không còn dừng lại ở một quyền dân chủ tượng trưng, mà trở thành một yêu sách cụ thể, mang tính sống còn, để bảo vệ sự lành mạnh của nền kinh tế thị trường.

Thứ nhất, trong một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, nguyên tắc bất di bất dịch là sự bình đẳng trước pháp luật của mọi chủ thể kinh doanh. Doanh nghiệp cạnh tranh dựa trên chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và giá cả. Vấn đề là đảng viên, đặc biệt là những người giữ vị trí quản lý trong hệ thống công quyền, nắm giữ những lợi thế mang tính độc quyền thể chế.

 

Nếu một đảng viên có quyền lực lại tham gia đầu tư, kinh doanh mà danh tính, lĩnh vực hoạt động và danh mục tài sản bị che giấu dưới vỏ bọc “bí mật nội bộ”, thị trường sẽ lập tức bị méo mó. Hiện tượng “vừa đá bóng vừa làm trọng tài” sẽ diễn ra. Chắc chắn các dự án công sẽ nghiêng về doanh nghiệp của đảng viên. Các thông tin nội bộ sẽ bị khai thác để đầu cơ, để lại các doanh nghiệp tư nhân không có “bảo trợ chính trị” bị đẩy ra “khỏi cuộc chơi” một cách bất bình đẳng.

 

Thứ hai, cần kiểm soát nguồn vốn và phòng ngừa chủ nghĩa “tư bản hoại sinh” (tức tư bản kết bè phái, phá hoại đất nước). Nếu dòng tiền của đảng viên đổ vào kinh doanh không được giải trình với nguồn gốc rõ ràng, hoạt động đầu tư có thể trở thành việc “hợp thức hóa tài sản thiếu minh bạch”. Việc kinh doanh của đảng viên có thể trở thành một hình thức “rửa tiền”, biến các nguồn thu nhập không chính đáng, biến tài sản tích lũy từ việc “ăn của dân không từ một thứ gì”, thành tài sản tư nhân hợp pháp.

 

Lịch sử phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia chuyển đổi, thí dụ như việc giải thể Liên Xô cũ, cho thấy khi ranh giới giữa quyền lực công và lợi ích tư bị xóa nhòa mà thiếu sự giám sát độc lập, nền kinh tế sẽ bị thao túng bởi các liên minh tài phiệt – quan chức. Nguồn lực quốc gia, thay vì chảy vào các ngành công nghệ và sản xuất cốt lõi, sẽ bị hút cạn vào đầu cơ đất đai, bất động sản, “xuất huyết ngoại tệ” cũng như các dự án “biến của công thành của tư”.

Thứ ba, yêu sách đòi hỏi công khai hồ sơ kinh doanh của đảng viên không phải là hành vi đối lập hay cản trở kinh tế tư nhân, mà là một biện pháp tự vệ. Khi danh sách những người sở hữu doanh nghiệp và có lợi ích kinh tế của cán bộ, đảng viên được công khai trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, các hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp “ngoài đảng” sẽ có cơ sở để giám sát quy trình đấu thầu, phát hiện kịp thời các hành vi chỉ định thầu thiếu minh bạch hoặc cạnh tranh không lành mạnh.

 

Sự mờ ám luôn nuôi dưỡng hoài nghi. Khi mọi thông tin kinh doanh được công khai, những đảng viên làm giàu chân chính bằng trí tuệ, năng lực quản trị và sự tuân thủ pháp luật sẽ được xã hội tôn trọng. Định kiến “dùng quyền lực để trục lợi” sẽ dần bị xóa mờ.

 

Kết luận, Đảng CSVN phải minh bạch hóa thông tin về các đảng viên làm kinh tế tư nhân “theo thông lệ quốc tế”.

Thứ nhất, công khai danh mục “người có ảnh hưởng chính trị” (PEP): Mọi cán bộ, đảng viên tham gia đầu tư hoặc có cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp phải được định danh minh bạch trong hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia, để công chúng và các cơ quan tài chính dễ dàng tra cứu.

 

Thứ hai, bất kỳ khoản vốn đầu tư lớn nào của đảng viên đưa vào kinh doanh đều phải đi kèm nghĩa vụ chứng minh nguồn thu nhập hợp pháp và hồ sơ thuế thu nhập cá nhân rõ ràng.

 

Thứ ba, luật hóa rõ ràng các trường hợp cấm đầu tư: Cấm cán bộ, đảng viên hoặc người thân kinh doanh trong những ngành nghề, địa bàn thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.

 

Một nền kinh tế muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững không thể dựa trên sự mù mờ về thông tin hay đặc quyền phe đảng. Người dân có quyền được biết và kiểm tra thông qua các cơ quan ngôn luận độc lập. Mọi quan hệ giữa quyền lực chính trị và hoạt động kinh doanh phải được công khai, minh bạch và bảo đảm bằng một nhà nước thượng tôn pháp luật, trong đó môi trường kinh doanh phải thực sự công bằng.

 






VOLODYMYR ZELENSKY VẠCH RA RANH GIỚI RÕ RỆT GIỮA DONALD TRUMP VÀ NGƯỜI DÂN MỸ (World Affairs Pulse)

 



 

 

 

Volodymyr Zelensky vạch ra ranh giới rõ rệt giữa Donald Trump và người dân Mỹ

World Affairs Pulse

Giác An biên dịch  -  Báo Tiếng Dân

20/10/2026

https://baotiengdan.com/2026/10/20/volodymyr-zelensky-vach-ra-ranh-gioi-ro-ret-giua-donald-trump-va-nguoi-dan-my/

 

Nhà lãnh đạo thời chiến đưa ra cảnh báo đanh thép về việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt, hành động vốn mang lại lợi ích cho Vladimir Putin

 

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky vừa gửi một thông điệp sắc bén, không chút mơ hồ tới Phương Tây—vừa bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người dân Mỹ, vừa đưa ra cảnh báo nghiêm trọng về động thái mới nhất từ ​​Washington.

 

Trong cuộc trao đổi với Kristen Welker của đài NBC, ông Zelensky đã vạch ra một sự khác biệt rõ rệt, không thể chối cãi giữa người dân Mỹ—những người đang sát cánh cùng Ukraine—và một quyết định gây tranh cãi từ Tổng thống Donald Trump; quyết định mà ông cảnh báo là đang trực tiếp tiếp sức cho cỗ máy chiến tranh của Điện Kremlin.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/10/1-61.jpg

Tổng thống Zelensky và nhà báo Kristen Welker của đài NBC. Ảnh chụp màn hình

 

“Chúng tôi nhận được sự ủng hộ từ người dân Mỹ. Chúng tôi nhận được sự ủng hộ từ người dân châu Âu,” ông Zelensky khẳng định, ghi nhận sự ủng hộ quan trọng từ cả hai đảng tại Mỹ, vốn đã giúp các lực lượng Ukraine bảo vệ quê hương trước cuộc xâm lược vô cớ của Nga.

 

Tuy nhiên, khi đề cập đến quyết định của ông Trump về việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Nga, ông Zelensky đã không ngần ngại bày tỏ quan điểm.

 

Ông cảnh báo thẳng thắn rằng, vị Tổng thống Mỹ đang tích cực “củng cố cuộc chiến của Putin chống lại chúng tôi”.

Theo ông Zelensky, các lực lượng của Vladimir Putin đã thất bại trong việc đạt được những mục tiêu quân sự chính trong năm 2026, đồng thời phải hứng chịu những tổn thất nặng nề trước các binh sĩ Ukraine đang chiến đấu kiên cường trên tiền tuyến.

 

Thế nhưng, bất chấp những thất bại trên chiến trường, việc ông Trump nới lỏng các biện pháp trừng phạt đã vô tình trao cho nhà độc tài Nga một thắng lợi lớn—điều mà ông ta không thể đạt được nếu chỉ dựa vào sức mạnh quân sự.

 

“Ông ta cảm nhận được chiến thắng nhờ việc nới lỏng trừng phạt”, ông Zelensky tiết lộ, đồng thời chỉ ra rằng sự thay đổi chính sách này mang lại cú hích to lớn cho Moscow.

 

Nhà lãnh đạo Ukraine cảnh báo rằng, những hậu quả nghiêm trọng từ quyết định này sẽ không chỉ dừng lại ở các bàn đàm phán ngoại giao hay các bảng tính kinh tế.

 

Các quan chức xác nhận rằng, việc giảm bớt áp lực kinh tế đang trực tiếp tiếp sức cho hành vi gây hấn của Nga, làm gia tăng mối đe dọa đối với thường dân Ukraine cũng như cơ sở hạ tầng năng lượng thiết yếu.

 

Điều này diễn ra vào thời điểm vô cùng nhạy cảm, khi Ukraine đang phải vật lộn với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các hệ thống tên lửa Patriot và các năng lực phòng không thiết yếu để bảo vệ các thành phố trước những đợt oanh tạc không ngừng nghỉ.

 

Trong suốt cuộc trao đổi đầy căng thẳng này, ông Zelensky vẫn giữ thái độ tôn trọng đối với quốc gia đã giúp Ukraine tồn tại; ông không hề chỉ trích người dân Mỹ hay phủ nhận những hy sinh mà họ đã dành cho Ukraine.

Tuy nhiên, với tư cách là một nhà lãnh đạo thời chiến đang phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, ông kiên quyết không giả vờ rằng mọi quyết định từ Washington đều đáng được hoan nghênh hay biết ơn.

 

Bằng cách làm rõ rằng, trong khi người dân Mỹ bình thường phản đối chế độ chuyên chế, thì chính sách hiện tại của vị tổng thống nước họ lại mang đến cho Putin một thắng lợi không xứng đáng; thông điệp này ngầm thể hiện sự đồng hành với những ai đang đấu tranh nhằm duy trì sức chống chịu của nền dân chủ trước sự hung hăng từ các thế lực độc tài.






GHI CÔNG, TRI ÂN KHÔNG PHẢI LÀ TÔ, VẼ (Trân Văn / Người Việt)

 



 

 

Ghi công, tri ân không phải là tô, vẽ (Phần 1)

Trân Văn / Người Việt

October 19, 2026 : 10:25 AM

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/ghi-cong-tri-an-khong-phai-la-to-ve-phan-1/

 

Đến giờ, có lẽ đã đủ dữ kiện để nhìn lại những yếu tố thật/hư, thiệt/giả liên quan đến câu chuyện tìm kiếm, truy điệu “731 liệt sĩ” từng được chôn cất tại Nghĩa Địa Đô Thành (nay là công viên Lê Thị Riêng ở quận 10, TP.HCM) cách nay 58 năm để đánh giá về những thứ mà chính quyền Việt Nam dán nhãn là “ghi công” và “tri ân.”

 

https://cdn-ilfafjj.nitrocdn.com/iaFmIEecBEIHoOqpbmYONXKDUaaaCNzU/assets/images/optimized/rev-1025a6c/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/10/VN-Hai-Cot-1536x926.jpg

Quan tài đựng hài cốt của một binh sĩ Mỹ tử trận ở Việt Nam được đưa lên máy bay ở phi trường Nội Bài, Hà Nội, để đem về nước hồi năm 2010. (Hình minh họa: Paul J. Richards/Pool/AFP via Getty Images)

 

Trước tiên, việc nhìn nhận con số “731 liệt sĩ” vừa được cải táng từ công viên, gián tiếp phủ nhận cái gọi là “thắng lợi chiến lược” của “cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân Mậu Thân 1968,” nhờ “tư duy, trí tuệ và tài thao lược của đảng CSVN trong việc đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của kẻ thù.”

 

Nghĩa Địa Đô Thành chỉ là một trong nhiều nơi chôn cất hàng trăm ngàn người lính thuộc phía Bắc Việt đã chết tại miền Nam trong Mùa Xuân Mậu Thân 1968. Đảng CSVN xác định có “111,306 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương” (Lịch sử đảng CSVN – Tập 2, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia 1995), nhưng dựa vào thực địa, các bên có liên quan khác từng  ước tính, trong ba đợt tấn công hồi năm 1968, thiệt hại nhân mạng của phía Bắc Việt tối thiểu cũng khoảng 180,000. Lẽ nào tổn thất nhân mạng như thế là tất yếu của “nghệ thuật quân sự độc đáo?”

Sau trận đánh đó, có rất nhiều thông tin, hình ảnh, nhân chứng của hai bên, cùng đề cập đến những ngôi mộ tập thể, mai táng cả liệt sĩ của phía Bắc Việt lẫn thường dân tử vong do chiến cuộc. Bảy năm sau sự kiện này, đảng CSVN “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” nhưng họ phớt lờ việc tìm kiếm, quy tập “anh hùng, liệt sĩ.” Thậm chí, khi giải tỏa nghĩa địa để xây dựng công viên vào cuối thập niên 1980, họ tiếp tục làm ngơ, bất chấp đề nghị tìm kiếm, quy tập liệt sĩ đã an táng tại đó.

Vì sao phải hơn 50 năm sau đảng CSVN mới thực hiện “chiến dịch 500 ngày đêm” (diễn ra từ 15 Tháng Ba, 2026 đến 27 Tháng Bảy, 2027) để tìm kiếm, quy tập khoảng 7,000 hài cốt liệt sĩ, lấy mẫu khoảng 230,000 mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính, và giám định ADN khoảng 18,000 mẫu. Chính quyền còn định xây dựng cơ sở dữ liệu gen của thân nhân liệt sĩ và khẳng định đó là “chiến dịch có quy mô lớn nhất từ trước tới nay về công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.”

Theo các dữ liệu do chính quyền CSVN công bố, từ 1945 – 1975, có ít nhất 1.2 triệu người là liệt sĩ. Riêng giai đoạn 1954 – 1975, có từ 850,000 đến hơn 1 triệu liệt sĩ ở cả miền Nam, Lào, và Cambodia. Trong số này, có khoảng 175,000 trường hợp chưa tìm thấy hài cốt, khoảng 300,000 hài cốt đã được quy tập nhưng chưa thể xác định danh tính.

Để có cơ sở đánh giá, nhận định về thành tâm, thiện ý của một hệ thống công quyền đối với những người đã đóng góp máu xương cho hệ thống ấy, hãy thử so sánh công việc tìm kiếm, quy tập liệt sĩ của chính quyền CSVN trên lãnh thổ Việt Nam với công việc tương tự của chính quyền Mỹ đối với quân nhân Mỹ thất tung trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.

***

Mỹ đã tổ chức nhận dạng/ghi chép về quân nhân mất tích, nơi chôn cất quân nhân tử trận từ hạ bán thế kỷ 19, đến năm 1917 thì thành lập cơ quan chuyên trách về vấn đề này. Sau nhiều lần cải tổ hệ thống, năm 2015, DPAA (cơ quan chuyên trách về tù binh và quân nhân mất tích) ra đời từ việc hợp nhất DPMO (cơ quan chuyên trách về tù binh và quân nhân mất tích) với JPAC (cơ quan điều tra, tìm kiếm, thu hồi, nhận dạng hài cốt), đồng thời đảm nhận thêm một số chức năng của LSEL (phòng thí nghiệm chuyên phân tích hiện vật liên quan đến các trường hợp mất tích).

DPAA tiếp tục làm rõ số phận những quân nhân Mỹ còn mất tích từ Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh lạnh, và một số cuộc xung đột khác. Phạm vi hoạt động của DPAA mang tính toàn cầu. Tại Châu Á, ngoài Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Cambodia, Philippines, Miến Điện), còn có bán đảo Triều Tiên, Papua New Guinea, quần đảo Marshall . Ở Châu Âu có Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Hòa Lan, Luxembourg, Áo, Ba Lan, Croatia, và Anh. Năm 2024, DPAA từng cho biết, họ thực hiện nhiệm vụ ở 45 quốc gia.

Chính quyền CSVN từng sử dụng quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam như một công cụ để buộc Hoa Kỳ nhượng bộ nhiều vấn đề trong đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995. Mỹ bắt đầu công cuộc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích tại Việt Nam từ năm 1985, và mở rộng vào năm 1988 cho đến nay. Năm 1991, DPMO (sau này là DPAA) đặt bộ phận thường trú tại Hà Nội. Năm 2023, tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam cho biết, mỗi năm, hai bên phối hợp tổ chức khoảng bốn đợt tìm kiếm trên thực địa.

***

Dựa vào những dữ liệu mà hệ thống công quyền Việt Nam từng công bố, vẫn còn ít nhất 475,000 người lính thuộc phía Bắc Việt thất tung. Vì sao sau 50 năm mới có “chiến dịch” được quảng cáo là “quy mô” nhưng dẫu “lớn nhất” cũng chỉ gói gọn trong “500 ngày đêm” và chỉ muốn tìm kiếm, quy tập khoảng 7,000 liệt sĩ? So với “đế quốc Mỹ” thì “ta” không chỉ thiếu từ thủy chung, đến nhẫn nại đối với liệt sĩ mà cách thức tìm kiếm, quy tập có rất nhiều điểm đáng bàn và đáng ngờ. Dường như “ghi công” cũng như “tri ân” chỉ là “khua môi, múa mỏ.” [đ.d.]

(còn tiếp)

 

 

                                                                  *****

 

 

Ghi công, tri ân không phải là tô, vẽ (phần 2)

Trân Văn / Người Việt

20/10/2026

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/ghi-cong-tri-an-khong-phai-la-to-ve-phan-2/

 

Việt Nam đã phối hợp với Mỹ tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trên lãnh thổ Việt Nam trong bốn thập niên nên có lẽ chẳng lạ gì quy trình tìm kiếm quân nhân mất tích kiểu Mỹ và lý do Mỹ làm như thế. Việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích khắp thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng luôn trải qua một số công đoạn theo trật tự cụ thể.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/10/1-1-1024x576.webp

Bác sĩ Trần Văn Bản (giữa) được các chiến sĩ trẻ gọi là “chiếc máy đọc cơ thể người,” theo báo Nhân Dân. (Hình: Nhân Dân)

 

Đầu tiên là đối chiếu hồ sơ quân sự, tài liệu lưu trữ, thu thập thông tin từ các nhân chứng để xác định hoàn cảnh mất tích, vị trí cuối cùng (nơi phi cơ rơi hoặc địa điểm tử trận, chôn cất). Kế đó là khảo sát hiện trường, thu thập và phối kiểm thông tin tại chỗ, đánh giá địa hình cũng như mức độ an toàn, điều kiện tiếp cận trước khi đề nghị khai quật.

 

Công đoạn thứ ba là tổ chức khai quật. Các đội khai quật thường từ 10 đến 14 người do chuyên gia về nhân học pháp y hướng dẫn. Hoạt động khai quật được tiến hành theo kiểu khảo cổ, đào từng chút – sàng từng chút – kiểm tra từng chút – ghi chép tất cả dữ kiện. Tại Việt Nam, công đoạn này thường thuê mướn dân chúng địa phương phụ giúp dựng trại, vận chuyển thực phẩm, vật dụng. Nếu tìm thấy những thứ như di cốt, di vật, người ta sẽ thu thập rồi gửi về Mỹ để giám định, đối chiếu DNA và hồ sơ lưu trữ. Nếu xác định được danh tính, DPAA (cơ quan chuyên trách về tù binh và quân nhân mất tích) sẽ thực hiện công đoạn cuối cùng, chuyển hồ sơ cho cơ quan hữu trách để nơi đó liên lạc với thân nhân, trình bày kết quả và phối hợp tổ chức an táng người mất tích.

 

Đến nay, DPAA đã tổ chức hàng trăm cuộc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích ở Hà Nội, Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, và Khánh Hòa,… Phần lớn các cuộc tìm kiếm nằm ở những khu vực vốn là rừng sâu, núi cao, biển sâu. Không phải cuộc tìm kiếm nào cũng thành công, nhưng ngoài các sĩ quan của Bộ Quốc Phòng Việt Nam được biệt phái để hỗ trợ, còn có hàng ngàn người dân địa phương được DPAA thuê mướn để hỗ trợ các cuộc tìm kiếm này, có thể hỏi chính họ về quy trình, phương thức tìm kiếm đã được thực hiện cẩn trọng thế nào.

 

                                                                ***

 

Đem quy trình, phương thức tìm kiếm vừa kể đối chiếu với những gì hệ thống chính trị, hệ thống công quyền, hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam loan báo về việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở công viên Lê Thị Riêng, tự nhiên sẽ nảy sinh một số thắc mắc. Cả tài liệu lẫn nhân chứng cùng cho thấy, khi còn là Nghĩa Địa Đô Thành, đây không chỉ là nơi chôn cất những cá nhân hữu danh, chiến binh của CSVN thiệt mạng hồi Tết Mậu Thân mà còn an táng nạn nhân chiến cuộc, người vô gia cư không rõ cả danh tính lẫn thân nhân. Dựa vào đâu mà giới hữu trách xác định toàn bộ di cốt vừa tìm thấy ở công viên là hài cốt liệt sĩ? Vì sao giới hữu trách không công bố những tiêu chí là căn cứ phân loại giữa liệt sĩ với thường dân?

 

Rồi vì sao vai trò của tài liệu, hồ sơ lưu trữ trong việc lập kế hoạch tìm kiếm rất mờ nhạt, giới hữu trách không cho biết chúng đã được sử dụng thế nào để xác định vị trí, thời điểm và thành phần người được chôn cất? Theo giới hữu trách, trong 731 hài cốt được tìm thấy, có 698 hài cốt thuộc dạng “riêng lẻ” và 33 hài cốt tại tám mộ tập thể. Khi di cốt được nhìn nhận là đã bị phân hủy đáng kể, những người chịu trách nhiệm tìm kiếm, quy tập, dựa vào tiêu chí nào để xác định yếu tố “riêng lẻ,” tương tự, họ đã dựa vào những tiêu chí nào để xác định mỗi “mộ tập thể” có bao nhiêu hài cốt? Giới hữu trách đã làm những gì để bảo đảm có thể tránh việc đếm một bộ hài cốt thành nhiều người hoặc tránh được việc ghép nhiều người vào một bộ hài cốt? Đã lấy bao nhiêu mẫu từ những mã hài cốt nào, bao nhiêu mẫu tạo được hồ sơ DNA?

 

Dường như các chuyên gia pháp y chỉ giữ vai trò thứ yếu trong quá trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng. Chẳng hạn, thay vì cho biết dựa vào đâu để xác nhận các mảnh xương là của cùng một người. Báo chí tập trung ca ngợi những người như bác sĩ Trần Văn Bản, cựu chiến binh, tình nguyện phân loại xương, sắp xếp hài cốt, hỗ trợ chọn mẫu xét nghiệm DNA và ghi chép diễn biến hiện trường. Theo báo Nhân Dân, cơ quan trung ương của đảng CSVN và là tiếng nói của đảng, nhà nước, và nhân dân Việt Nam, ông Bản giúp phân biệt “đâu là xương liệt sĩ, đâu là đất đá” theo kiểu: “Sờ trơn tay là đất, còn nham nhám thì là xương”. Liệu có thể dựa vào kinh nghiệm và xúc giác để xác định một mảnh xương là xương tay, xương chân hay xương chậu, đặc biệt là xác định các mảnh xương trong từng hố khai quật là di cốt của một hay nhiều người, cũng như người đó đúng là đã chết và được chôn vào năm 1968 chứ không phải ở thời điểm khác?

 

Tất cả những bài viết về việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở công viên Lê Thị Riêng tập trung ca ngợi những cá nhân kiểu như ông Bản – cựu chiến binh chưa bao giờ quên đồng chí, đồng đội, bác sĩ quân y có kinh nghiệm tìm kiếm, xử lý hài cốt. Chính quyền gần như không đả động gì đến ý kiến của các chuyên gia pháp y hoặc những giám định viên sẵn sàng chịu trách nhiệm về kết luận có tính chuyên môn. Không phải tự nhiên mà sự nghi ngờ về 731 hài cốt tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng và được quy tập về Nghĩa Trang Liệt Sĩ TP.HCM gia tăng.

 

(Còn tiếp)

 

                                                              *****

 

Ghi công, tri ân không phải là tô, vẽ (phần cuối)

Trân Văn/Người Việt

October 21, 2026 : 10:32 AM

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/ghi-cong-tri-an-khong-phai-la-to-ve-phan-3/

 

Báo chí Việt Nam viết rất nhiều bài về ông Trần Văn Bản. Ngoài việc ca ngợi ông, những bài viết ấy còn dẫn nhiều ý kiến, nhận định của ông. Trong một cuộc trò chuyện với Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Bản đề cập đến thực trạng, khi khai quật, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, ngay cả răng (vốn không dễ phân hủy) cũng “đen mủn, hóa thổ một phần.” Tuy nhiên, chính ông lại là người cung cấp cho báo chí sơ đồ do ông thực hiện, ghi chép vị trí, tư thế của các hài cốt trong những mộ tập thể (nằm nghiêng, nằm ngửa, co lại, chồng lên nhau). Ông Bản không giải thích ông dựa vào đâu để xác định tư thế của hài cốt khi di cốt phân hủy tới mức chính ông cũng không chắc có thể nhận dạng thành công thông qua xét nghiệm DNA? Ông cũng không cho biết ông thấy được những phần xương nào, những phần xương nào được ông phục dựng để xác định tư thế từng hài cốt, cũng như tư thế toàn bộ hài cốt trong mộ tập thể để tạo ra sơ đồ?

 

https://cdn-ilfahmo.nitrocdn.com/vuMlfFeJiohKDHICkFRCVDknmMYpwLwi/assets/images/optimized/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/10/nv_261016_tbls_p3b.jpg

Sơ đồ mô tả mộ tập thể do ông Trần Văn Bản lập. (Hình minh họa: VTV)

 

Ông Bản cũng là người cung cấp cho báo chí chi tiết, tìm thấy “đinh năm tấc ghim vào các ngón tay.” Dường như ông Bản và báo chí Việt Nam muốn công chúng, độc giả tiếp tục nuôi dưỡng sự căm thù Mỹ – Ngụy nhưng chi tiết đó khiến cả ông lẫn báo chí bị chỉ trích kịch liệt. Trên mạng xã hội, thiên hạ nhắc nhau, năm tấc là 50 cm hay nửa… mét! Có cây đinh nào dài như thế và đinh làm bằng loại vật liệu gì mà răng “đen mủn, hóa thổ một phần” nhưng đinh có thể còn nguyên? Chi tiết đó thúc thiên hạ bới tìm tư liệu để chứng minh, đảng CSVN  tráo trở, vừa cam kết cùng ngừng bắn để đón Tết, vừa tổ chức tấn công. Hoặc chứng minh phía VNCH tổ chức chôn cất tử tế những chiến binh thuộc phía Bắc Việt thiệt mạng.

 

Một số người lục tìm trên Internet rồi đăng lại các tấm ảnh chụp hai ngôi mộ tập thể chôn cất những chiến binh Bắc Việt thiệt mạng khi tấn công phi trường Tân Sơn Nhất trong hai ngày Mùng Một và Mùng Hai Tết Mậu Thân. Trong đó, có tấm chụp một bảng với nền trắng, nội dung: “Nơi đây an nghỉ những chiến sĩ lầm đường đêm Mùng 1 Tết Mậu Thân. Linh thiêng xin các bạn hãy giúp cho xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta thái bình.” Còn tấm chụp một bảng với nền đen cũng mang nội dung tương tự, chỉ khác ở chi tiết “Mùng 2 Tết Mậu Thân.” Trên trang web do cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lập ra có tấm ảnh chụp tấm bảng nền trắng ghi nhận tác giả là Roger P. Fox kèm chú thích, ngôi mộ tập thể đi kèm tấm bảng chôn cất 600 chiến binh phía Bắc Việt. Những người đăng lại các ảnh này đặt câu hỏi: Ai tin phía dựng những tấm bảng với lời lẽ như thế lại đóng đinh vào tay đối phương trước khi vùi lấp?

 

Cần nói thêm, việc tìm kiếm, đăng lại những tấm ảnh vừa đề cập nhắc công chúng rằng, tuy từng có rất nhiều nhân chứng, tài liệu, hình ảnh xác định có hàng trăm chiến binh Bắc Việt được chôn cất tại phía Tây của phi trường Tân Sơn Nhất, nhưng “chiến dịch 500 ngày đêm” đã bỏ qua họ bởi vì, thay vì tìm kiếm, hệ thống công quyền đã “chia năm, xẻ bảy” khu vực này để phân lô, bán nền và việc tìm kiếm, cải táng giờ là chuyện bất khả thi!

 

                                                                       ***

 

Đầu Tháng Tám năm nay, trong loạt bài về “chiến dịch 500 ngày đêm,” VnExpress cho biết, khi  khai quật phần mộ của một liệt sĩ chưa rõ danh tính tại Nghĩa Trang Liệt Sĩ Đô Lương (Nghệ An), nhằm lấy mẫu DNA từ hài cốt. Việc này là để đối chiếu với kho lưu trữ mẫu DNA của những người có thân nhân là liệt sĩ vẫn còn mất xác để tìm sự tương thích, qua đó xác định tên tuổi, gốc gác liệt sĩ, trao hài cốt cho thân nhân. Khi ấy, giới hữu trách tìm thấy mảnh nhôm, khắc tên Đinh Xuân Tình, sinh năm 1936, chết ngày 6 Tháng Hai, 1970 và phiếu ghi thông tin liệt sĩ cho biết, hài cốt từng được Đội Quy Tập Hài Cốt Liệt Sĩ tỉnh Nghệ An cải táng từ nghĩa trang Đông Nam Na Xà Là, bản Na Xà Là, huyện Mường Pẹc, tỉnh Xiêng Khoảng, Lào, vào ngày 6 Tháng Mười Hai, 2012. Sau đó, giới hữu trách nhanh chóng xác định, ông Đinh Xuân Tình, quê xã Võ Miếu, tỉnh Phú Thọ, nhập ngũ Tháng Mười Hai,1967, lính sư đoàn 312 và tìm ra thân nhân của ông một cách dễ dàng.

 

Năm 1992, chỉ trong bốn ngày, số “mộ” trong Nghĩa Trang Liệt Sĩ Cam Lộ ở Quảng Trị tăng từ 160 lên 3,303. Một cuộc điều tra được thực hiện sau đó xác định trong số này, chỉ 937 mộ có hài cốt, 2,366 mộ không có hài cốt. Các mộ giả chứa đất, cát, ruột pin giã nhỏ trộn đất và xương động vật. Có 81 cán bộ từ tỉnh đến huyện bị xử lý vì bắt tay nhau ngụy tạo số mộ lấy tiền chia nhau. Do có rất nhiều phụ huynh, con cháu quay quắt với việc thân nhân là liệt sĩ chết mất xác, ông Nguyễn Văn Thúy (còn gọi là “cậu Thủy”) đã tổ chức trộm hài cốt ở nghĩa trang, chia những hài cốt này thành nhiều phần, chôn ở nhiều nơi khác nhau, rồi đóng vai “nhà ngoại cảm” để chỉ dẫn cho thân nhân liệt sĩ khai quật. “Cậu Thủy” làm giả tới 105 bộ hài cốt, kiếm được 8 tỷ đồng và đến năm 2015 chuyện mới đổ bể…

 

Theo VnExpress, nhiều năm nay, gia đình ông Đinh Xuân Tình đã từng đi rất nhiều nơi để tìm kiếm mộ ông! Dù được chôn cất với đầy đủ thông tin (tên, năm sinh, ngày mất), được cải táng cách nay 14 năm, ông vẫn bị xếp vào loại “liệt sĩ chưa rõ danh tính.” Giới hữu trách vừa làm ngơ trước số phận của chính ông, vừa không thèm bận tâm đến thân nhân của ông. Sau hàng loạt xì-căng-đan như ở Cam Lộ – Quảng Trị, hay “cậu Thủy,” chuyện tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ dường như vẫn thế. Vẫn là theo đợt, thực hiện cho có thành tích để báo công, từ trên xuống dưới không hề bận tâm cả về liệt sĩ lẫn gia đình của họ. Trong “chiến dịch 500 ngày đêm,” có bao nhiêu trường hợp như ông Đinh Xuân Tình hoặc sẽ phát sinh thêm bao nhiêu trường hợp tương tự? Với cách làm như đã biết và đang thấy, rất khó loại trừ rủi ro nếu những ghi công, tri ân vẫn giống như tô, vẽ, phục vụ tuyên truyền? [đ.d.]







Wednesday, 21 October 2026

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG QUỐC TẾ và XU HƯỚNG DỊCH CHUYỂN LAO ĐỘNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM (Thùy Dương / RFI)

 



Thị trường lao động quốc tế và xu hướng dịch chuyển lao động phổ thông Việt Nam

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 21/10/2026 - 11:34

https://www.rfi.fr/vi/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-x%C3%A3-h%E1%BB%99i/20261021-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BB%8Bch-chuy%E1%BB%83n-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-ph%E1%BB%95-th%C3%B4ng-vi%E1%BB%87t-nam

 

Thị trường lao động quốc tế đang chứng kiến sự dịch chuyển đáng kể của lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây, nhất là từ sau đại dịch Covid-19. Bên cạnh các thị trường quen thuộc tại châu Á, nhiều điểm đến mới tại châu Âu, Úc và Bắc Mỹ đang dần trở nên hấp dẫn hơn, phản ánh sự thay đổi cả về nhu cầu tuyển dụng và chính sách nhập cư của các quốc gia tiếp nhận.

 

https://s.rfi.fr/media/display/da2c9228-9588-11f1-b538-005056bfb2b6/w:1024/p:16x9/AP26181292818052.webp

Lao động Việt Nam nghỉ giải lao tại một khu vực tránh nóng, ở Yokohama, phía nam Tokyo, Nhật Bản, ngày 30/6/2026. AP Photo/Hiro Komae - Hiro Komae

 

Để hiểu thêm về sự thay đổi này, RFI đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Đức Việt, tổng giám đốc của công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, chuyên về dịch vụ giới thiệu nguồn nhân lực ra nước ngoài.

 

RFI : Xu hướng dịch chuyển các thị trường lao động nước ngoài đối với lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra như thế nào ?

GĐ.Nguyễn Đức Việt : Trong khoảng vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau dịch Covid thì xu hướng dịch chuyển của lao động Việt Nam ra quốc tế đã thay đổi khá nhiều và khá là rõ nét.

Thị trường truyền thống thì trước đây bao gồm ví dụ Nhật Bản. Trong nhiều năm, con số chúng ta có là từ khoảng 50.000 đến 80.000 lao động sang làm việc ở hạng mục là lao động phổ thông. Ngoài ra, còn có thêm những lao động có tay nghề. Đài Loan thì cũng đều đặn hàng năm có từ khoảng 40.000 đến khoảng 70.000 lao động mới sang làm việc. Hàn Quốc thì có thể sẽ ít hơn và tùy theo những hạn mức mà chính phủ Hàn Quốc cấp cho Việt Nam. Hiện nay, thường là các đơn vị chủ quản của nhà nước là những đơn vị triển khai chính, gồm visa E9 - chương trình EBS, hoặc visa E8 là chương trình thời vụ 5 tháng hoặc 8 tháng.

Đấy có thể nói là ba thị trường truyền thống nhất mà nhiều năm qua Việt Nam đang đưa người lao động đi nước ngoài và có sự quản lý rất chặt chẽ của nhà nước. Hiện nay thì chúng tôi thấy đang có sự mở rộng rất mạnh mẽ sang những quốc gia đặc biệt là ở châu Âu, ví dụ như Đức, Hungary, Ba Lan hay Nga. Ngoài ra, cũng có một số quốc gia khác được gọi là phát triển rất là tốt, như Úc hay Canada.

Nguyên nhân dịch chuyển đến các quốc gia này thì chủ yếu là do nhu cầu nhân lực tại đó, dân số già hóa, thiếu hụt lao động nhiều, và có một đặc thù khác là người trẻ tại các nước này ít tham gia vào những công việc như sản xuất xây dựng hay những công việc về dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Một số nước cũng mở cửa cho những loại hình visa lao động nhiều hơn, đặc biệt là thủ tục xin visa có thể đơn giản hơn với người lao động Việt Nam. Một số quốc gia tiên tiến ở trung tâm châu Âu, như Đức chẳng hạn, họ mở cửa thì những quốc gia xung quanh cũng thu hút nhân lực và thoải mái hơn trong các chính sách tiếp cận lao động.

 

 

Đâu là lý do dẫn đến sự dịch chuyển này ? Sự dịch chuyển thị trường này chỉ đơn giản là sự dịch chuyển về địa lý hay là về cả tính chất công việc ?

Sự thay đổi ở đây là về tính chất công việc và tính chất về thu nhập. Theo ý kiến cá nhân của tôi thì sự dịch chuyển này là do ở những thị trường truyền thống với người lao động Việt Nam thì thu nhập không đáp ứng được tốt như trước. Trước đây, khi người lao động Việt Nam đi theo những chương trình như của Đài Loan, Nhật Bản thì họ có thu nhập có thể nói là chênh lệch rất cao so với làm công nhân ở Việt Nam. Người lao động đi 2-4 năm là hoàn toàn có thể có một lượng tích lũy về tài chính khá tốt và có thể phát triển thêm hoặc xây dựng nhà cửa chẳng hạn. Gần đây, tỷ giá của đồng Yen Nhật giảm sút rất nhiều, thế nên lựa chọn đi những thị trường như Nhật Bản thì dần dần trở lên không còn thu hút đối với người lao động Việt Nam.

Và đối với thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan thì đó thường là những thị trường về lao động cơ bản. Và khi những thị trường châu Âu, hay Úc, Canada mà thiếu lao động và họ mở cửa tiếp nhận lao động thì nhận được chào đón khá là mạnh mẽ từ phía nguồn nhân lực Việt Nam, trong đó có cả những nguồn lực có tay nghề, biết ngôn ngữ, thậm chí là có trình độ.

 

 

Vậy những thị trường truyền thống của lao động Việt Nam hiện nay đang thay đổi ra sao về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận ? Theo ông, thị trường nào đang có xu hướng siết chặt hơn và thị trường nào thì đang mở rộng cơ hội cho lao động phổ thông Việt Nam hơn ?

Trong vài năm trở lại đây thì các thị trường truyền thống đang tuyển lao động Việt Nam thì họ vẫn duy trì được nhu cầu tuyển dụng rất lớn. Tuy nhiên, do sự thiếu hụt và chính sách đang thay đổi nhiều, nên họ chuyển từ tuyển dụng ngắn hạn thành tiếp nhận người lao động dài hạn.

Có thể thấy điển hình là những thị trường như Nhật Bản, trước đây họ chỉ tiếp nhận những chương trình lao động phổ thông với hợp đồng 3 năm. Gần đây, họ đã chuyển sang những chương trình dài hơn. Người lao động có thể gia hạn thêm 2 năm, có thể nối visa lâu dài và có thể dễ dàng thi để chuyển giai đoạn và có thể ở lại định cư, cũng như bảo lãnh gia đình.

Hay những thị trường như Hàn Quốc mở cửa tiếp nhận nhiều hơn những ngành nghề và số lượng. Họ tiếp nhận lao động không chỉ ở Việt Nam, mà cả từ nhiều thị trường ở Đông Nam Á, như Thái Lan, Indonesia. Nhật Bản thì mấy năm trở lại đây thì cũng tập trung tiếp nhận rất nhiều ở những thị trường mới như Indonesia, Myanmar hay Nepal chẳng hạn.

 

 

Đâu là những yếu tố đang thúc đẩy sự dịch chuyển này : chi phí đi xuất khẩu lao động hay chính sách nhập cư của nước sở tại … ?

Tôi nghĩ là có nhiều yếu tố cùng tác động. Nhưng trong đó lớn nhất thì là sự thiếu hụt của nhóm lao động trẻ tham gia những công việc phổ thông dẫn đến là các quốc gia thì có những chính sách nhập cư thoáng hơn, thu hút lao động nhiều hơn. Khi các quốc gia có những chính sách thuận lợi thì đồng nghĩa với việc các đơn vị cung ứng chuyên nghiệp có thể quảng bá, triển khai dễ dàng và thuận lợi. Thế nên, chi phí người lao động bỏ ra khi được tham gia ở những đơn vị cung ứng chuyên nghiệp thì chắc chắn cũng thấp hơn.

Một yếu tố khác : Gần đây tôi thấy là, ví dụ thị trường Đức, rất giống với thị trường Nhật 15 năm trước. Có nghĩa là, trước kia khi chúng tôi triển khai thị trường Nhật Bản, để thuyết phục một xí nghiệp có thể tiếp nhận một người lao động, đặc biệt là người lao động đầu tiên, thì rất là khó, bởi vì khi nhân viên người Nhật, hay quản lý, hay lãnh đạo, không quen với sự hiện diện của lao động nước ngoài trong doanh nghiệp thì tâm lý họ rất e ngại. Dù thuyết phục thế nào họ cũng không nhận. Nhưng khi có những xí nghiệp đã tiếp nhận một số lao động và đánh giá khá cao, mọi việc thuận lợi, thì những nhóm công ty khác bắt đầu nhìn vào và có thể dễ dàng tiếp nhận hơn, và trở thành một trào lưu. Có nghĩa là các doanh nghiệp và các chủ xí nghiệp sử dụng lao động họ rất muốn thử.

Và tôi đang thấy thị trường Đức đang có yếu tố khá là tương đồng như vậy. Có rất nhiều nhà hàng của Đức bây giờ đang tuyển dụng du học sinh Việt Nam hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam. Người Đức, người châu Âu khi đến một cửa hàng và gặp những phục vụ người Việt Nam thì họ có vẻ đã quen hơn rất là nhiều.

 

 

Thời trước, Việt Nam cũng đã xuất khẩu rất nhiều lao động sang các nước ở Đông Âu, trong đó có Đức. Theo ông, yếu tố lịch sử đó có thể là một thuận lợi để bây giờ các công ty của Việt Nam, ví dụ như công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, có thể dễ dàng hơn, gặp thuận lợi hơn để đưa lao động sang Đức ?

Đúng như vậy. Trước đây, cộng đồng Việt Nam ở những quốc gia châu Âu thì cũng sinh hoạt rất sôi động. Tuy nhiên, do chính sách nhập cư vẫn còn tương đối hạn chế. Gần đây, khi chính sách nhập cư được mở hơn thì phát triển thêm, nhiều người thân quen, nhiều nhóm người lao động mới được giới thiệu. Đặc biệt là có một nhóm người Việt đã thành công ở những quốc gia châu Âu, nên có những xí nghiệp rất muốn tiếp nhận, sử dụng và hỗ trợ cho nhóm người lao động Việt Nam. Và gần đây, họ cũng dễ dàng tuyển và thủ tục tuyển cũng đơn giản hơn. Việc sử dụng lao động cũng cơ bản hơn, tạo thuận lợi cho nhóm lao động Việt Nam bây giờ có thể ra nước ngoài làm việc.

 

 

Vậy còn về chất lượng, lao động Việt Nam hiện nay có đáp ứng được yêu cầu ngày càng khác biệt giữa các thị trường hay không ?

Thực tế thì rất khó để lao động Việt Nam có thể ngay lập tức đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là thị trường châu Âu. Tuy nhiên, lao động Việt Nam luôn có tính cách rất cầu thị, rất chăm chỉ và sáng tạo trong công việc. Tốc độ làm việc cũng như năng suất lao động thường được cải thiện rất nhanh. Đây là một đặc điểm mà chủ sử dụng lao động hoàn toàn có thể chấp nhận khi tiếp nhận những nguồn lực lao động lâu dài.

 

 

Vậy còn về các hạn chế, theo quan sát đánh giá của ông thì lao động Việt Nam có những hạn chế nào đặc biệt hay không ? Ví dụ như về ngôn ngữ hay về tinh thần kỷ luật ?

Ngôn ngữ và ngoại hình có thể nói là hạn chế lớn nhất mà lao động Việt Nam đang gặp phải. Còn các vấn đề liên quan đến tính cách, kỷ luật thì chúng tôi có thể dễ dàng đào tạo cho người lao động được.

Tầm vóc của người Việt Nam tương đối nhỏ và khi họ làm ở những dây chuyền sản xuất, hay phục vụ chẳng hạn thì có gì đó cảm thấy không phù hợp, người châu Âu chưa thấy quen mắt. Nhưng với sức khỏe thì tôi nghĩ người Việt Nam hoàn toàn có thể thích nghi và làm tốt được. Đấy gần như đi vào thói quen, là đặc trưng của lao động Việt Nam khi ra nước ngoài làm việc.

 

 

Các doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực như MD Việt Nam thì phải điều chỉnh như thế nào về chiến lực đào tạo và tuyển chọn để thích ứng với sự thay đổi của các thị trường tiếp nhận ?

Vâng thực tế thì khi tuyển chọn, chúng tôi luôn dựa vào những yêu cầu của công việc và đặc trưng của xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp, mỗi công việc thì đều có những điểm đặc biệt và chúng tôi sẽ dựa vào công việc nhiều hơn, để làm sao người lao động có thể thích nghi và quen với tay nghề.

Nhưng có một thuận lợi khá rõ là những ứng viên khi tham gia những thị trường châu Âu thì thường được đào tạo và có bằng cấp cao đẳng hoặc đại học trở lên và họ có năng lực học tiếng cho nên học tay nghề, học công việc rất nhanh và họ có định hướng rất cụ thể khi ra nước ngoài. Họ xác định là sẽ đi nước ngoài trong một thời gian dài. Về đào tạo thì chúng tôi cũng tạo điểm nhấn vào việc này khá nhiều, xây dựng cho họ một môi trường học tập và đào tạo để có thể thích nghi lâu dài với quốc gia tiếp nhận. Người lao động không chỉ tập trung vào ngoại ngữ, mà chúng tôi sẽ phải trang bị tốt hơn cho họ về pháp luật hay văn hóa, quyền và nghĩa vụ của họ khi làm việc ở những môi trường, đặc biệt là châu Âu, vốn là nơi rất đa phong cách, đa văn hóa.

 

 

Về cấp độ nhà nước thì hiện nay nhà nước Việt Nam có những hiệp định hay thỏa thuận nào với các quốc gia tiếp nhận lao động phổ thông ? Các cơ chế này hỗ trợ doanh nghiệp cũng như người lao động ra sao ?

Thứ trưởng bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2025 đã sát nhập vào bộ Nội Vụ, có rất nhiều biên bản ghi nhớ để hai quốc gia, hai bộ có thể xúc tiến và đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Trong đó, các doanh nghiệp cần phải có giấy phép và khi triển khai thì cần phải báo cáo đầy đủ và chúng tôi cũng phải thực hiện những đợt tập huấn, những hướng dẫn và phải đảm bảo những tiêu chí rất cụ thể cho mỗi thị trường.

Đối với các thị trường truyền thống thì người lao động sang thì ít nhiều sẽ được đảm bảo tốt hơn, với các chính sách, ví dụ như thị trường Nhật chẳng hạn, năm 2016 sau khi hai bên ký kết thì người lao động được nhận lương tháng, nhà ở phải đảm bảo nhiều tiêu chí, các đơn vị triển khai bắt buộc phải đảm bảo năng lực chuyên môn. Điều đó có nghĩa là quốc gia ký những thỏa thuận rất sát sao, không phải là trả lương theo giờ nữa mà là bắt buộc phải trả lương theo tháng và có các chế độ phúc lợi.

Hiện nay, những thị trường châu Âu cũng chưa thực sự có những hỗ trợ sát sao như vậy. Và tôi nghĩ là để thực hiện những chương trình sát sao như vậy thì cũng hơi khó.

Nhưng phía Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thì cũng có những đợt tập huấn, hướng dẫn để triển khai những chương trình như chương trình xuất khẩu lao động sang Đức. Chúng tôi cũng đã tham gia những buổi hội thảo do Cục Quản lý lao động ngoài nước đứng ra tổ chức để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với những doanh nghiệp Đức để có thể triển khai, hoặc họ cũng có những lưu ý nhất định để các doanh nghiệp chúng tôi cần phải chú trọng để tránh rủi ro cho người lao động.

 

 

RFI chân thành cảm ơn ông Nguyễn Đức Việt, tổng giám đốc công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam đã tham gia chương trình !

 

 

 





View My Stats