KHÔNG CÓ BÀI MỚI NGÀY 24/03/2026
.
"Góp lại từ bốn phương, tung ra khắp bốn phương"
Báo
cáo quốc tế: Nền dân chủ Mỹ sụt hạng nghiêm trọng dưới thời Tổng thống Trump
Báo Điện tử Tin Tức Việt Đức
Điểm
tin thế giới / 21 Tháng ba 2026
Ba bản
phúc trình quan trọng được
công bố trong tháng
này đã đưa ra những nhận định sắc bén về hiện trạng chính
trị tại Mỹ. Theo ghi nhận từ NPR, các chuyên gia cho rằng nền dân
chủ Mỹ đang chịu những tác động tiêu cực đáng kể kể từ khi Tổng thống Donald
Trump trở lại Tòa Bạch Ốc
Sự tụt
hạng đáng báo động trên bản đồ dân chủ thế giới
Đáng
chú ý nhất là báo cáo thường niên từ Viện V-Dem, một cơ quan nghiên cứu danh tiếng
thuộc đại học University of Gothenburg tại Thụy Điển. Tổ chức này đã quyết định
hạ bậc nền dân chủ của Hoa Kỳ từ vị trí thứ 20 xuống hạng 51 trong tổng số 179
quốc gia được khảo sát.
Đây
được xem là một cú sốc lớn đối với hình ảnh của một quốc gia vốn luôn tự hào là
ngọn hải đăng của tự do. Việc rơi khỏi nhóm dẫn đầu cho thấy những biến động
sâu sắc trong cách thức vận hành bộ máy chính quyền hiện nay.
Những
góc nhìn chuyên sâu từ giới học giả và các tổ chức tư vấn
Không
chỉ V-Dem, tổ chức phi đảng phái Bright
Line Watch cũng
đưa ra những kết luận tương tự sau khi tiến hành khảo sát hơn 500 học giả hàng
đầu. Kết quả cho thấy hệ thống chính trị của Hoa Kỳ hiện đang đứng chông chênh
tại điểm giữa của dân chủ tự do và chế độ độc trị.
Bên
cạnh đó, Freedom House – một tổ chức tư vấn
dân chủ có trụ sở tại thủ đô Washington – cũng công bố dữ liệu đầy ám ảnh.
Trong danh sách các quốc gia tự do, Mỹ cùng với Bulgaria và Ý là những cái tên
ghi nhận mức sụt giảm quyền chính trị và tự do dân sự lớn nhất trong năm qua.
Ông
Staffan Lindberg, giám đốc sáng lập của Viện V-Dem, đã bày tỏ sự lo ngại sâu sắc
về xu hướng này. Ông cho rằng sự phát triển hiện tại đang đi ngược lại những
giá trị cốt lõi mà các bậc tiền nhân lập quốc đã dày công xây dựng.
Tốc độ
suy thoái nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ
Theo
phân tích của ông Staffan
Lindberg,
đây là giai đoạn suy giảm nhanh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử Hoa Kỳ.
Thậm chí, Mỹ hiện là một trong những khu vực có nền dân chủ suy thoái với tốc độ
đáng kinh ngạc nhất trên quy mô toàn cầu.
Để
đưa ra những con số này, V-Dem đã tổng hợp ý kiến và dữ liệu từ hơn 4.000 học
giả khắp thế giới. Sự đồng thuận từ cộng đồng quốc tế cho thấy tính nghiêm trọng
của vấn đề chứ không đơn thuần là những nhận định chủ quan.
Nguyên
nhân của sự hạ bậc này được cho là bắt nguồn từ các hành động cụ thể của chính
quyền đương nhiệm, bao gồm:
·
Sự
tập trung quyền lực quá mức vào nhánh hành pháp.
·
Các
quyết định gây tranh cãi làm ảnh hưởng đến tính thượng tôn pháp luật.
·
Nỗ
lực bỏ qua vai trò giám sát của Quốc Hội trong các quyết sách quan trọng.
·
Những
cuộc tấn công trực diện nhắm vào các đơn vị truyền thông và quyền tự do ngôn luận.
Phản ứng
quyết liệt từ phía Tòa Bạch Ốc
Trước
những cáo buộc gay gắt, bà Olivia Wales, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, đã chính
thức lên tiếng bác bỏ hoàn toàn nội dung của bản phúc trình. Bà gọi những nhận
định từ Viện V-Dem là các tuyên bố lố bịch và mang tính thiên vị rõ rệt.
Đại
diện Tòa Bạch Ốc khẳng định rằng Tổng thống Donald Trump luôn là người đi đầu trong cuộc
chiến bảo vệ tự do và dân chủ. Bà nhấn mạnh ông là vị tổng thống minh bạch và dễ
tiếp cận nhất trong lịch sử hiện đại của nước Mỹ.
Dòng
người tập trung đông đảo trong một sự kiện chính
trị tại Mỹ
Về
phần mình, Tổng thống Donald Trump cũng từng nhiều lần bác bỏ các chỉ trích cho
rằng ông đang cố gắng điều hành đất nước theo phong cách độc đoán. Ông luôn khẳng
định các hành động của mình đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích quốc gia và người
dân.
Sự
tương đồng với các mô hình lãnh đạo trên thế giới
Chuyên
gia Lindberg đã thực hiện một phép so sánh đáng chú ý về tốc độ thay đổi hệ thống
chính trị dưới thời chính quyền hiện tại. Ông chỉ ra rằng nền dân chủ Mỹ bị đảo
ngược chỉ trong vòng một năm, trong khi các quốc gia khác mất nhiều thời gian
hơn thế.
Cụ
thể, những thay đổi tương tự tại Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Narendra Modi hay Thổ
Nhĩ Kỳ dưới thời Tổng thống Recep Tayyip Erdogan phải mất tới một thập kỷ. Ngay
cả tại Hungary, Thủ tướng Viktor Orban cũng cần đến bốn năm để thực hiện tiến
trình này.
Điểm
chung của những nhà lãnh đạo này là họ đều đắc cử thông qua các cuộc bỏ phiếu
dân chủ hợp lệ. Tuy nhiên, giới quan sát nhận định rằng sau khi nắm quyền, họ
đã tìm cách làm suy yếu hệ thống kiểm soát và cân bằng để duy trì quyền lực tuyệt
đối.
Donald
Trump & Viktor Orban
Đáng
lưu ý, Tổng thống Donald Trump từng công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với ông
Viktor Orban. Ông không ngần ngại ca ngợi nhà lãnh đạo Hungary là một người mạnh
mẽ và cứng rắn trong việc điều hành đất nước.
------------------------------------------------
Nguyễn
Cẩm Chi / Báo TIN
TỨC VIỆT ĐỨC
SỰ
VÔ LIÊM SĨ LÀ KHÔNG GIỚI HẠN
SỰ
VÔ LIÊM SĨ LÀ KHÔNG GIỚI HẠN !
Theo
thói quen lịch sự bình thường, người ta thường ngã mũ khi có một đám tang đi
ngang để tỏ thái độ tôn trong người đã khuất.
Thế
nhưng, ngày 7/3 vừa qua, khi đón nhận xác của 6 binh sĩ Mỹ từ Iran trở về,
Trump đã thản nhiên giữ chiếc mũ kết trên đầu, một thái độ coi thường người đã
qua đời, ở đây, người qua đời lại là những quân nhân đã hy sinh cho quốc gia mà
Trump đang là tổng thống.
Hơn
một tuần sau đó, cũng chính Trump đã sử dụng hình ảnh của những chiếc quan tài
- mà Trump không hề có thái độ tôn trọng - Trump dùng nó để đánh động lương tâm
người dân Mỹ, dùng nó để kêu gọi gây quỹ cho PAC (Political Action Committee ) ủy
ban gây quỹ vận động chính trị cho đảng của ông, không liên quan gì đến ngân quỹ
quốc gia mà những người lính này đã hy sinh để bảo vệ.
Đạo
đức thì có giới hạn nhưng sự vô liêm sĩ của một số người là không giới hạn !
https://www.facebook.com/photo?fbid=3814979638635853&set=pcb.3814980538635763
Arturo Sarukhan
Akhtar Makoii | Foreign Affairs
Trà
Mi dịch
thuật
Posted
on March 19, 2026
https://dcvonline.net/2026/03/19/mexico-doi-dau-voi-my/
Sheinbaum
có thể đối phó với những đe dọa của Trump như thế nào
Có
một thứ choáng váng rất đặc biệt khi phải chứng kiến, ngay trong thời gian thực,
một kịch bản ngoại giao mà mình đã dành hàng chục năm tìm cách ngăn chặn nay trở
thành hiện thực. Trong hơn hai mươi năm, tôi phục vụ ở tiền tuyến của quan hệ Mỹ–Mexico,
kể cả thời gian làm Đại sứ Mexico tại Mỹ. Cùng với những đồng nghiệp trong
chính quyền, cũng như những tổ chức phi chính phủ và đối tác xã hội dân sự, tôi
đã trải qua nhiều năm thương thuyết phức tạp với những viên chức Mỹ, dưới cả
hai chính quyền Cộng hòa và Dân chủ, về hợp tác chống ma túy và nỗ lực xây dựng
một viễn kiến chung, toàn diện cho an ninh của hai quốc gia.
Tổng
thống Mexico Claudia Sheinbaum tại Dinh Quốc gia, Mexico City, tháng 2 năm
2026. Quetzalli Nicte-Ha / Reuters
Trong
thời gian đó, giới hoạch định chính sách Mỹ chấp nhận mức độ bạo lực cao của những
cartel, vì họ tin rằng phía Mexico đang chiến đấu cùng một trận tuyến. Họ ít
chú trọng đến con số “trùm” bị bắt hay số ma túy bị tịch thu, mà quan tâm nhiều
hơn đến ý chí chính trị và năng lực thể chế của đối tác trong việc giải quyết
những nguyên nhân định chế tạo ra những con số đó. Chúng tôi khi đó đều hiểu rằng
thời điểm nguy hiểm nhất trong quan hệ an ninh Mỹ–Mexico sẽ không đến từ việc bạo
lực gia tăng, mà từ lúc Washington đi đến kết luận rằng Mexico không thể hoặc
không muốn tự giải quyết vấn đề theo cách của mình—tức là khi họ cho rằng
Mexico City đã đạt một thứ “hòa ước riêng” với những cartel, hoặc ngầm dung
túng, hoặc trực tiếp thương lượng với chúng. Một khi nhận định đó trở thành sự
đồng thuận trong cộng đồng tình báo Mỹ, Quốc hội và những cơ quan chủ chốt, thì
logic của quan hệ song phương sẽ chuyển từ hợp tác sang cưỡng ép.
Thời
điểm đó nay đã đến—một cách kịch tính và sau một quá trình tích tụ dài lâu.
Trong sáu năm, bắt đầu từ 2018, cựu Tổng thống Andrés Manuel López Obrador theo
đuổi khẩu hiệu “ôm thay vì bắn”—mà nói đúng hơn là “ôm bọn tội phạm.” Chính
sách này đã tạo ra một thứ pax narca trên thực tế, nay trở
thành gánh nặng cho người kế nhiệm ông, Tổng thống Claudia Sheinbaum. Thiệt hại
mà chính sách đó gây ra cho an ninh Mexico và cho quan hệ với Mỹ là không thể
chấp nhận được và cuối cùng đã dẫn đến kịch bản mà chúng tôi từng lo sợ.
Tháng
11 năm 2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố: “Tôi có ra lệnh không kích
trên đất Mexico để chặn ma túy không? Tôi sẵn sàng—làm bất cứ điều gì cần thiết.”
Ông còn nhiều lần nói rằng những cartel, chứ không phải bà Sheinbaum, mới là kẻ
“điều hành” Mexico và đã tìm đến những biện pháp đơn phương như trừng phạt hay
chính thức xếp những cartel vào danh sách tổ chức khủng bố ngoại quốc để giải
quyết vấn đề.
Chuỗi
biến cố này phần nào giải thích quyết định của bà Sheinbaum cuối cùng đã nhắm
vào giới lãnh đạo của tổ chức tội phạm xuyên quốc gia hùng mạnh và bạo lực nhất
tại Mexico (và có lẽ cả Tây bán cầu). Cuối tháng hai, chính phủ Mexico đã tiến
hành một chiến dịch dẫn đến cái chết của trùm ma túy Nemesio Oseguera
Cervantes, còn gọi là El Mencho. Thành công này là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy
Mexico có thể hành động dứt khoát chống lại những tổ chức tội phạm có tổ chức.
Nhưng hậu quả sau đó cũng cho thấy con đường còn dài: cartel Jalisco New
Generation đã trả đũa dữ dội. Bạo lực bùng phát tại gần một chục tiểu bang—xe bị
đốt, xa lộ bị phong tỏa, nổ súng tại phi trường quốc tế Guadalajara, và 25
thành viên Vệ binh Quốc gia Mexico thiệt mạng trong những cuộc tấn công phối hợp.
Thời
điểm này đặc biệt nguy hiểm, vì một khi Mỹ không còn xem Mexico là một đối tác
đang vật lộn mà là một đối tác thiếu thiện chí, thì không một thành công riêng
rẽ nào đủ để khôi phục giả định thiện chí trước đây. Tuy nhiên, lập luận mạnh
nhất của Mexico chống lại chủ trương hành động đơn phương của Mỹ là: hợp tác
đem lại kết quả tốt hơn so với cưỡng ép. Nói thì dễ; khó là chứng minh điều đó
bằng thực tế—bằng việc giảm bạo lực cartel một cách đo lường được và cải thiện
pháp trị, công lý và dân chủ. Mỗi thất bại trên những phương diện đó không chỉ
làm Mexico mất mặt và suy yếu vị thế ngoại giao với Mỹ, mà còn cung cấp cho
Washington cái cớ để vượt qua những định chế của Mexico trong cuộc chiến chống
tội phạm xuyên quốc gia. Nói cách khác, lập luận đó chỉ mạnh khi có kết quả thực
tế nâng đỡ.
Mexico
phải chứng minh—bằng việc đem lại an ninh và xây dựng những liên minh khu vực lẫn
quốc tế—rằng chủ quyền của mình không phải là trở ngại, mà là điều kiện tiên
quyết để giải quyết bền vững vấn đề cartel. Và tuy việc Mỹ đơn phương sử dụng
vũ lực chưa phải là điều tất yếu, Mexico vẫn phải chuẩn bị cho việc có thể xảy
ra chuyện đó, đồng thời giữ cánh cửa hợp tác an ninh luôn rộng mở.
SỐ
PHẬN ĐAN XEN
Việc
mô tả áp lực của Mỹ lên Mexico như một hành động đế quốc hay xâm phạm chủ quyền
có thể thỏa mãn tâm lý dân tộc nhất thời—đặc biệt với cử tri cánh tả của bà
Sheinbaum—nhưng không thể thay thế cho một chiến lược. Không thể phủ nhận rằng
chính quyền Trump đã làm đảo lộn một nguyên tắc then chốt của quan hệ Mỹ–Mexico—đó
là trách nhiệm chung là cách duy nhất để giải quyết những thách thức xuyên quốc
gia như an ninh biên giới, tội phạm có tổ chức, di dân, hay tài nguyên nước
khan hiếm. Tuy nhiên, trong suốt thập niên qua, cả những chính quyền Dân Chủ lẫn
Cộng Hòa tại Washington đều đã bày tỏ mối quan tâm thực sự đối với an ninh lâu
dài của Mexico.
Những
tiếng nói hiếu chiến ở Washington hiện nay đánh giá thấp hoặc bỏ qua là: một cuộc
can thiệp quân sự đơn phương của Mỹ trên lãnh thổ Mexico sẽ gây ảnh hưởng tiêu
cực một cách thảm khốc đối với chính an ninh quốc gia của Mỹ. Nó sẽ làm sụp đổ
những cơ chế hợp tác tình báo song phương từng giúp phá vỡ hoạt động của
cartel, làm kết tinh dư luận Mexico chống lại hợp tác với Washington, làm rạn nứt
cấu trúc hội nhập Bắc Mỹ, củng cố tâm lý chống Mỹ tại châu Mỹ La-tinh, tạo cơ hội
tuyên truyền cho Trung Hoa và Nga, và có thể khiến những cartel tái cấu trúc
theo hướng phân tán và bền bỉ hơn.
Một
cuộc can thiệp quân sự trên lãnh thổ Mexico sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực một cách
thảm khốc.
Cuộc
đột kích nhằm vào El Mencho thành công chính vì nó dựa trên hợp tác Mỹ–Mexico
mà không làm phương hại đến chủ quyền của Mexico: phía Mexico chỉ huy tác chiến
trên thực địa, dùng tình báo và có thể cả hỗ trợ tác chiến của Mỹ. Chính kiểu hợp
tác này đã bị López Obrador làm suy yếu và né tránh, khi ông thường xuyên công
kích cái mà ông xem là chủ nghĩa can thiệp của Mỹ—kể cả việc tài trợ cho những
tổ chức dân sự chống tham nhũng—và cho rằng Mexico City không thể hợp tác với
Washington vì thiếu lòng tin. Nhưng thực tế, lịch sử quan hệ hai nước cho thấy
chính hợp tác mới là yếu tố xây dựng lòng tin lẫn nhau.
Những
vấn đề nội trị và đối ngoại đan xen chặt chẽ trong quan hệ Mỹ–Mexico, và thứ chủ
nghĩa dân tộc cực đoan mà cả Trump lẫn Sheinbaum dùng trên diễn đàn của mình
càng làm cho mối quan hệ phức tạp đó thêm rối rắm. Để đối phó với thứ luận điệu
không giúp ích này, chính phủ Mexico phải chứng minh với Washington—qua mọi
phương tiện có thể—rằng việc sử dụng vũ lực đơn phương sẽ gây bất ổn chính trị
tại Mexico và là một tai họa đối với Mỹ. Tuy nhiên, để tránh kịch bản chính quyền
Trump thực sự đi đến bước đó, lời nói thôi sẽ không đủ.
Trên
phương diện này, Sheinbaum phải đối diện một vấn đề cơ cấu cấp bách mà người tiền
nhiệm của bà phần lớn đã né tránh: sự cấu kết sâu sắc và ăn mòn giữa tội phạm
có tổ chức và những định chế chính trị của Mexico. Sự bành trướng của cartel suốt
nhiều thập niên không diễn ra trong khoảng trống; nó được nuôi dưỡng, trong nhiều
trường hợp, do sự tiếp tay của những viên chức địa phương, cảnh sát tiểu bang,
công tố viên, thống đốc, và nhiều viên chức chính phủ khác—những người đã dung
dưỡng, làm trung gian, hoặc trực tiếp hợp tác với những tổ chức tội phạm. Nếu hợp
tác chống ma túy Mỹ–Mexico muốn vượt qua mức trao đổi tình báo và dẫn độ mang
tính giao dịch, Sheinbaum phải dám gọi đúng tên mối liên hệ chính trị–tội phạm
này và truy quét nó bằng toàn bộ sức mạnh của công tố liên bang. Nếu không, những
nỗ lực thực thi song phương sẽ chỉ ngừng lại ở bề mặt, làm gián đoạn hoạt động
hậu cần của tội phạm xuyên quốc gia ở mức cục bộ, trong khi vẫn để nguyên bộ
khung chính trị giúp những mạng lưới buôn lậu tái sinh.
Sheinbaum
cũng nên tuyên bố công khai và dứt khoát rằng mối đe dọa lớn nhất đối với chủ
quyền Mexico không phải vì áp lực của Mỹ, mà vì hoạt động phi pháp và bạo lực của
những tổ chức tội phạm hoạt động ở cả hai phía biên giới chung. Một tuyên bố
như vậy không chỉ giúp định hình lại cuộc tranh luận về chủ quyền theo cách có
lợi cho Mexico, mà còn củng cố vị thế của những cơ quan an ninh trong nước muốn
tăng cường hợp tác với Mỹ, đồng thời buộc xã hội phải nhìn nhận thẳng thắn nguồn
gốc thực sự của sự xâm phạm chủ quyền.
Hệ
quả thiết thực của lập trường đó là cam kết khôi phục toàn diện cơ chế hợp tác
an ninh và chia sẻ tình báo mà hai nước đã xây dựng qua Sáng kiến Mérida—khởi đầu
dưới thời Bush năm 2007, mở rộng dưới thời Obama năm 2009, nhưng bị phá vỡ khi
López Obrador đóng lại những băng tần đối thoại và hợp tác then chốt. Điều này
đòi hỏi những chiến dịch chống ma túy song phương do phía Mexico chủ trì, vượt
ra ngoài những điều chỉnh chiến thuật tạm thời hay những vụ dẫn độ đơn lẻ—những
biện pháp không đủ để củng cố thể chế và năng lực quốc gia, và do đó không thể
tạo chuyển biến thực sự cho an ninh của Mexico và toàn Bắc Mỹ.
TOÀN
DIỆN ỨNG PHÓ
Một
phương cách thật sự toàn diện đối với an ninh Bắc Mỹ không thể chỉ ngừng lại ở
việc truy quét những băng đảng ma túy tại Mexico. Hãy xét đến cuộc khủng hoảng
fentanyl xuyên biên giới. Việc buôn bán loại ma túy này mang lại lợi nhuận khổng
lồ cho những tổ chức tội phạm Mexico, đồng thời nuôi dưỡng bạo lực của những
nhóm tội phạm đó. Nhưng sự bành trướng của fentanyl cũng là hệ quả từ việc
ngành dược phẩm Mỹ đã kê toa thuốc opioid một cách vô trách nhiệm vào đầu thập
niên 2000, cùng với tình trạng đầu tư thiếu hụt kéo dài vào việc điều trị nghiện
ngập. Thị trường này hiện hữu nhờ nhu cầu từ Mỹ, chuỗi cung ứng tiền chất
fentanyl phần lớn đi qua Trung Hoa trước khi đến những phòng thí nghiệm tại
Mexico, và dòng vũ khí trang bị cho những cartel— mua bất hợp pháp tại những cửa
tiệm và hội chợ súng ở Mỹ rồi luồn qua biên giới với con số khổng lồ. Bất kỳ
khuôn khổ an ninh Bắc Mỹ nào cũng phải giải quyết toàn bộ những phương diện đó
thì mới có thể chấm dứt khủng hoảng.
Mexico
cũng cần chứng tỏ với những nước láng giềng và chính người dân mình rằng chính
phủ đang có tầm nhìn rộng. Nước này nên đề nghị một định chế an ninh mới, gồm cả
Canada và Mỹ: một ban thư ký an ninh Bắc Mỹ thường trực, với chức chủ tịch luân
phiên, những thủ tục tham vấn và phối hợp có tính ràng buộc, cùng một bộ tham
mưu kỹ thuật gồm nhân sự của cả ba quốc gia. Sự thiếu vắng tính định chế hóa
như vậy chính là điểm yếu lớn nhất của mô hình hợp tác hiện nay. Một ban thư ký
thường trực có thể giám sát một cơ quan biên giới và hải quan chung Mỹ–Mexico,
cũng như một đơn vị tình báo tài chính ba bên chuyên theo dõi hoạt động rửa tiền
của những cartel, tạo điều kiện phối hợp giữa những cơ quan hữu quan của Mỹ,
Mexico và Canada. Một quỹ chung nhằm giảm nhu cầu và điều trị con nghiện cũng
có thể được thành lập, để phát triển những chương trình giảm tiêu thụ ma túy,
giảm tác hại, và đầu tư vào những phương thức điều trị bền vững.
Những
yếu tố quan trọng khác của một khuôn khổ an ninh Bắc Mỹ gồm một đơn vị chuyên
ngăn chặn buôn lậu vũ khí—chính thức hóa việc theo dõi dòng vũ khí chảy xuống
phía nam và ma túy chảy lên phía bắc—cũng như một cơ chế ba bên giám sát tiền
chất hóa học, nhằm chặn những luồng vận chuyển fentanyl và nguyên liệu qua đường
biển và đường bộ trước khi vào Bắc Mỹ. Ba quốc gia cũng cần điều hợp những quy
trình và chính sách an ninh mạng, nhằm bảo vệ hạ tầng thiết yếu phục vụ những
năng lực này. Việc hợp nhất những chương trình “khách du hành đáng tin cậy” hiện
có—Global Entry giữa Mexico và Mỹ, và Nexus giữa Canada và Mỹ—thành một chương
trình thống nhất cho toàn Bắc Mỹ cũng sẽ giúp củng cố kiểm soát biên giới và thủ
tục di trú.
Việc
xây dựng một cấu trúc an ninh Bắc Mỹ sẽ cần thời gian và vốn chính trị đáng kể.
Trước mắt, Mexico có thể tập trung chứng minh năng lực chủ quyền của mình bằng
cách bảo đảm an ninh cho World Cup 2026, sẽ diễn ra mùa hè này tại 16 thành phố
trên khắp Bắc Mỹ. Chính phủ Mexico cần sử dụng hữu hiệu Vệ binh Quốc gia và
quân đội tại ba thành phố tổ chức World Cup (Guadalajara, Mexico City,
Monterrey); đồng thời phối hợp với những viên chức Mỹ và Canada trong khuôn khổ
những chiến dịch do Mexico chỉ huy và làm việc với FIFA để thiết lập những quy
trình an ninh công cộng.
CHUẨN
BỊ TINH THẦN
Mexico
không được giản lược chính sách an ninh thành những cử chỉ tượng trưng—chẳng hạn
như những vụ bắt giữ “đình đám” những tay chân hay trùm cartel nhằm thu hút báo
chí hoặc xoa dịu Washington, nhưng không đi kèm hành động thực chất và lâu dài
đối với những mạng lưới tài chính, những kẻ bảo kê chính trị, hay cơ cấu chỉ
huy duy trì tổ chức tội phạm. Cũng không nên vì lo ngại chính đáng trước những
đe dọa từ Mỹ mà làm suy yếu việc chia sẻ tình báo và hợp tác. Rút vào chủ nghĩa
dân tộc phòng thủ chỉ khiến đóng lại cánh cửa hợp tác mà cả hai nước đều cần để
giải quyết lợi ích an ninh chung.
Đồng
thời, Mexico cũng không thể tự trấn an rằng vì hành động quân sự đơn phương của
Mỹ gây ảnh hưởng ngược nên nó sẽ không xảy ra. Nhiều lần trong quá khứ, nhu cầu
chính trị nội bộ đã lấn át tính toán chiến lược. Mexico phải chuẩn bị cho tình
trạng đó, nếu và khi nó xảy ra.
Việc
chính quyền Trump xếp cartel Jalisco và những nhóm khác vào danh sách tổ chức
khủng bố ngoại quốc, tuyên bố sẵn sàng tấn công lãnh thổ cartel, và đưa máy bay
không người lái vào không phận Mexico—tất cả có thể là bước dọn đường cho một
chiến dịch quân sự quy mô hơn. Nếu Mỹ hành động đơn phương, phản ứng của Mexico
phải chừng mực, hợp pháp và bền bỉ—tránh rơi vào chủ nghĩa dân tộc bột phát làm
tê liệt khả năng hợp tác về sau.
Trong
kịch bản đó, Mexico có thể lập tức yêu cầu triệu tập phiên họp khẩn của Hội đồng
Bảo an Liên Hiệp Quốc, viện dẫn Điều 2(4) của Hiến chương LHQ—cấm những quốc
gia sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ nước khác—để
đòi một nghị quyết lên án vi phạm chủ quyền. Ở cấp khu vực, Mexico có thể kích
hoạt những điều khoản không can thiệp của Hiến chương Tổ chức đối với những quốc
gia châu Mỹ, đồng thời vận động sự ủng hộ rộng rãi nhằm củng cố những chuẩn mực
bảo vệ những quốc gia tầm trung trước sức ép của cường quốc.
Mexico
cũng nắm trong tay những đòn bẩy kinh tế đáng kể đối với Mỹ. Trước đây, vào những
năm 2009 và 2019, nước này từng soạn danh sách đánh thuế nhắm vào nông sản Mỹ từ
những tiểu bang “dao động”—thịt heo từ Iowa, táo từ Washington, phô mai từ
Wisconsin—để đáp trả những vi phạm NAFTA và thuế thép của Mỹ. Mexico cũng có thể
đe dọa hạn chế hoặc ngưng xuất cảng những mặt hàng then chốt trong chuỗi cung ứng
liên quan đến an ninh quốc gia Mỹ, như phụ tùng hàng không; gây trở ngại hoặc
trì hoãn quy định thương mại, kiểm tra lao động, hay giấy phép đối với những cơ
sở sản xuất thuộc sở hữu Mỹ từng gắn kết chặt chẽ qua biên giới; giảm hợp tác về
kiểm soát di dân; hoặc ngưng cung cấp nước từ sông Rio Grande. Những công ty Mỹ
đã đầu tư hàng tỷ đô-la vào sản xuất tại Mexico không thể nhanh chóng di dời mà
không chịu tổn thất khủng khiếp. Trong trường hợp xảy ra hành động quân sự đơn
phương, Mexico City cần lập tức tiếp xúc với giới doanh nghiệp Mỹ—không phải để
đe dọa, mà để làm rõ rằng hành động quân sự sẽ gây nguy hại trực tiếp đến đầu
tư của chính họ.
THỬ
LỬA
Tuy
vậy, nhiệm vụ khó khăn nhất mà cả hai nước phải đối phó với một hành động đơn
phương của Mỹ trên đất Mexico chính là duy trì hợp tác chống ma túy. Nếu xảy ra
can thiệp quân sự, Mexico không được—dù phải trả giá chính trị nặng nề—lấy đó
làm cớ để từ bỏ việc chia sẻ tình báo hay hợp tác an ninh song phương. Những tổ
chức tội phạm xuyên quốc gia luôn hưởng lợi từ mọi sự đứt gãy trong phối hợp giữa
những chính phủ; trao cho chúng lợi thế đó sẽ gây tổn hại cho an ninh và đời sống
người dân Mexico nhiều hơn là việc hợp tác làm tổn thương lòng tự ái quốc gia.
Để
đạt thế cân bằng tối ưu, Mexico nên phản đối vi phạm chủ quyền của Mỹ qua mọi
phương tiện pháp lý và ngoại giao, đồng thời duy trì những mối quan hệ công tác
giúp những chiến dịch chống ma túy đạt hiệu quả.
Lập
luận mạnh mẽ nhất của Mexico chống lại hành động đơn phương của Mỹ cũng chính
là lập luận đòi hỏi nhiều nhất từ chính phủ Mexico: chứng minh rằng họ có thể
và sẽ giải quyết hiệu quả mối đe dọa của cartel bằng chính những cơ chế chủ quyền
của mình. Bài học rút ra từ nhiều chục năm điều hợp mối quan hệ này là: Mexico
hiệu quả nhất khi giao tiếp với Mỹ ở vị thế tự tin, chứ không phải lo âu. Và sự
tự tin đó phải được chứng minh bằng hành động, không chỉ bằng lời nói. Chiến dịch
El Mencho—bằng chứng mạnh mẽ nhất từng có về năng lực chủ quyền của quốc gia—phải
được xem là khuôn mẫu, chứ không phải là điểm kết thúc.
Sự
bảo vệ bền vững nhất của Mexico trước chủ trương đơn phương của Mỹ chính là làm
xói mòn lý do biện minh cho nó.
Những
thử thách đối với năng lực an ninh của Mexico vẫn còn phía trước. Diễn biến kế
vị sau khi một “trùm” bị hạ là điều đã được hiểu rõ và không mấy khả quan.
Cartel Jalisco có thể phân rã thành nhiều phe tranh giành, kéo theo một giai đoạn
bạo lực leo thang khi những tay chân cũ tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên. Sau
khi thủ lĩnh cartel Sinaloa là Joaquín “El Chapo” Guzmán bị bắt năm 2017, cũng
đã xảy ra tình trạng tương tự: một cấu trúc cartel phân tán hơn, linh hoạt hơn,
và phải mất nhiều năm mới phần nào tái cấu trúc. Những biến động nội bộ của những
cartel sau khi mất lãnh đạo càng làm cho nhu cầu hợp tác Mỹ–Mexico mang tính định
chế và sâu rộng trở nên cấp thiết hơn, chứ không phải ít đi.
Sheinbaum
phải áp dụng một chiến lược chống ma túy bền vững, có uy tín quốc tế, và được bảo
vệ trước những biến động chính trị. Điều đó đòi hỏi cải tổ bộ máy an ninh
Mexico—giải quyết tham nhũng trong lực số cảnh sát liên bang và cơ quan công tố,
đồng thời đầu tư vào năng lực tư pháp để khi bắt được những mục tiêu quan trọng,
họ sẽ bị truy tố trong điều kiện không thể tiếp tục điều hành mạng lưới tội phạm.
Điều đó cũng có nghĩa là truy tố những chính trị gia cao cấp có liên hệ với
cartel, triệt phá mạng lưới tài chính của chúng, và giảm một cách kiểm chứng được
dòng tiền chất fentanyl. Và điều đó còn đòi hỏi phác thảo một khuôn khổ an ninh
Bắc Mỹ toàn diện, có thể hiện hữu vượt qua mọi chính quyền tại Mexico City,
Washington và Ottawa.
Không
có yếu tố nào đã nêu trên là dễ dàng. Một số nỗ lực sẽ vấp phải sự chống đối
chính trị từ những nhóm trong nước hưởng lợi từ hiện trạng hỗn loạn. Nhưng
logic chiến lược là không thể đảo ngược: sự bảo vệ lâu dài nhất của Mexico trước
chủ trương đơn phương của Mỹ chính là làm suy giảm lý do hiện hữu của nó.
Mối
đe dọa về việc Mỹ đơn phương dùng vũ lực là có thật và nghiêm trọng. Nó đòi hỏi
một đối sách tương xứng—chuẩn bị đầy đủ về pháp lý, tinh vi về ngoại giao, và đặt
nền tảng trên sự thật có thể chứng minh: rằng hợp tác song phương tôn trọng chủ
quyền của Mexico là hữu hiệu. Nhiệm vụ của Mexico là làm cho lập luận đó trở
nên không thể phủ nhận—và phải làm ngay từ bây giờ.
--------------------
Tác
giả: Arturo
Sarukhan là một cố vấn quốc tế và cựu chuyên gia ngoại giao chuyên nghiệp. Ông
từng là đại sứ Mexico tại Mỹ từ 2007 đến 2013.
©
2026 DCVOnline
Nếu
đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”
Nguồn: Can Mexico
Avoid a Confrontation With the United States? | Akhtar Makoii | Foreign
Affairs| March 19, 2026
Donald Trump không bao giờ im miệng. Đó là một bí quyết nắm quyền lực của ông
Lawrence Martin
DCVOnline
Posted on March 16, 2026
Trong thời chiến, Tổng thống Hoa Kỳ thường giữ vai trò kín đáo ở hậu trường. Nhưng với Donald Trump trong vấn đề Iran thì không như vậy. Lúc thì ông nói chiến tranh sẽ sớm kết thúc; lúc khác lại bảo rằng nó chưa chấm dứt.
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nói chuyện với báo chí tại Tòa Bạch Ốc hôm thứ Tư. Brian Snyder/Reuters
Ông đăng bài liên miên trên Truth Social, tổ chức họp báo, trả lời phỏng vấn chớp nhoáng, nhận điện thoại riêng của từng ký giả và diễn thuyết hàng giờ liền.
Ông là vị Tổng thống không bao giờ chịu im tiếng. Ông đã biến Phòng Bầu dục thành một cái loa phóng thanh. Ông xuất hiện trên truyền thông nhiều hơn bất cứ Tổng thống Mỹ nào khác — và điều đó cũng hợp lý: như vậy, phía ông sẽ tuyên truyền nhiều hơn phía đối phương.
Tài năng nổi bật nhất của ông Trump từ trước đến nay luôn là tài tuyên truyền. Với ông, mọi thứ là một chuỗi kịch tính không ngừng nghỉ, từ màn trình diễn đậm mùi cay độc này đến màn khác. Ông nói năng không theo kịch bản. Không ai biết ông sắp gọi ai là hạng người bỉ ổi. Cũng chẳng ai biết ý tưởng kỳ quặc nào sẽ tuôn ra từ cái đầu đang quay cuồng của ông.
Khác với tượng đài của thói tự đề cao mình như ngày nay, phần lớn những Tổng thống Mỹ trước đây đều cố tránh việc xuất hiện quá nhiều trước công chúng. Tốt hơn hết là giữ mình ở trên vòng tranh chấp. Và người ta thường nghĩ rằng nói càng nhiều thì càng dễ chuốc lấy chỉ trích.
Calvin Coolidge, Tổng thống từ năm 1923 đến 1929, là một thí dụ điển hình. “Silent Cal”, như người ta thường gọi ông, rất hiếm khi gặp gỡ báo chí; và khi ông có nói điều gì thì cũng không phải là những ý tưởng sâu sắc lắm. Không nổi tiếng về trí lực, ông từng nhận xét rằng: “Khi người ta thất nghiệp thì kết quả là có nạn thất nghiệp.”
Lyndon B. Johnson thì gặp báo chí thường xuyên hơn, nhưng lại bực bội với cách mình bị đối xử. Ông từng càu nhàu: “Nếu một buổi sáng tôi đi trên mặt nước qua sông Potomac, thì chiều hôm đó báo chí sẽ chạy hàng tít: ‘Tổng thống không biết bơi!’”
Phương pháp của ông Trump là đối đầu trực diện với truyền thông. Ông có đủ gan để làm điều đó và về nhiều phương diện ông đã thành công. Trong nhiệm kỳ đầu, ông lặp đi lặp lại lời buộc tội “tin giả” của mình đến phát chán, đến nỗi nó trở thành một phần của ngôn ngữ thời đại, góp phần làm mất uy tín của báo chí thiên tả và khiến bức tranh truyền thông càng thêm phân cực.
Sang nhiệm kỳ thứ hai, ông lại càng chủ động hơn. Bằng cách chiếm lĩnh làn sóng truyền thông, ông lý luận rằng mình có thể thao túng báo chí nhiều hơn là báo chí thao túng ông.
Nếu một ngày có một hàng tít bất lợi, thì ngày hôm sau ông Trump sẽ dập tắt nó bằng cách tung ra một câu chuyện lớn hơn để chuyển hướng chú ý. Đó không phải là chiến thuật mới, nhưng ông dùng nó nhiều hơn bất cứ Tổng thống Mỹ nào trước đây.
Chỉ vài tuần trước, vụ bê bối Jeffrey Epstein đang siết chặt lấy ông. Ông vừa thua một vụ kiện lớn tại Tối cao pháp viện liên quan đến các mức thuế khẩn cấp của ông. Tỉ lệ ủng hộ ông trong các cuộc thăm dò đang sụt giảm. Vì thế, cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu một phần tính toán của ông khi tấn công Iran là nhằm đẩy những câu chuyện ấy vào hậu trường.
Một dấu ấn của thời kỳ ông cầm quyền là cuộc chiến của ông chống lại sự thật. Trước kia, khi một tổng thống nói dối trắng trợn, đó là một tin lớn. Nay thì không còn như vậy nữa. Việc vị Tổng thống này phổ biến những lời hoang đường và bịa đặt đã trở nên quá thường xuyên đến mức không còn được coi là tin tức nữa — một chiến thắng lớn đối với giới truyền thông. Ký giả có làm những bài kiểm chứng sự thật, nhưng ảnh hưởng của chúng rất nhỏ. Ông Trump chẳng bận tâm, cứ giữ lấy những ảo tưởng của mình, rồi hôm sau lại lặp lại chúng. Tờ The Washington Post trước đây từng có bảng thống kê hằng ngày về những lời nói dối của ông. Nay thì họ đã ngưng.
Một lĩnh vực khác mà ông Trump cũng ghi điểm trong việc khuất phục truyền thông là chiến thuật hăm dọa của ông. Những vụ kiện tụng, những lời nhục mạ và những lời đe dọa đã gây ảnh hưởng lớn. Ông đã thắng nhiều vụ dàn xếp. Ông đưa những tiếng nói thuận lợi cho mình vào các mạng lưới truyền hình và báo chí; ông cắt ngân sách của Dịch vụ Truyền thông Đại chúng; và ông khiến nhiều nhà báo e dè hơn khi điều tra ông.
Khi xét đến việc ông từng là một thỏi nam châm truyền thông như thế nào trước khi bước vào chính trị, và cách ông độc chiếm những bản tin từ đó đến nay, Donald Trump hẳn phải được xếp vào hàng những người tạo ra sự chú ý của công luận lớn nhất của thời hiện đại. Trong thời gian không nắm quyền từ 2020 đến 2024, ông thường xuyên chi phối chu kỳ tin tức nhiều hơn cả Joe Biden, người lúc ấy thực sự là Tổng thống.
Điều này đòi hỏi một khả năng đặc biệt. Xung đột là thứ làm cho kim chỉ báo dư luận nhích lên, và ông Trump hiểu rõ điều đó. Ông không sợ hãi, khó đoán, có tính giải trí, luôn ở thế tấn công. Và ông còn có một yếu tố khác khiến ông trở thành nhân vật thu hút đặc biệt: hình ảnh kẻ ngoài vòng pháp luật, sức hấp dẫn của “tay phản diện”. Nhiều người Mỹ muốn một kẻ nổi loạn nắm quyền.
Đối với mục tiêu tuyên truyền của ông, thời đại này mang lại nhiều lợi thế. Mạng xã hội Truth Social của ông là một công cụ tuyệt vời để vượt qua bộ lọc của báo chí. Bên cạnh đó là Fox News vốn đầy những tiếng nói tâng bốc, nền tảng X (Twitter) của người bạn của ông là Elon Musk, sự cúi mình của các ông trùm đại công ty kỹ thuật và sự suy thoái của báo chí.
Người ta nói nhiều về việc ông Trump đã tích lũy được quyền lực lớn nhờ một Quốc hội nhu nhược và một TCPV Mỹ thiên về bảo thủ. Nhưng việc ông tích lũy được quyền lực truyền thông nhiều hơn bất cứ tổng thống nào trong lịch sử cũng là một lợi thế phi thường thứ ba.
© 2026 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”
Nguồn: Donald Trump never shuts up. That’s a key to his power | Lawrence Martin | The Globe and Mail | March 13, 2026
Nước Mỹ và lời nguyền
của những 'cuộc chiến tầm trung'
Robert D. Kaplan - Foreign Affairs
Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/03/18/nuoc-my-va-loi-nguyen-cua-nhung-cuoc-chien-tam-trung/
Tại
Iran, Trump có nguy cơ rơi vào cái bẫy quen thuộc.
Năm
1988, nhà sử học quân sự James Stokesbury nhận định rằng các nền dân chủ tham
chiến tốt nhất trong hai trường hợp: một là những cuộc chiến nhỏ, dành riêng
cho giới “chuyên nghiệp” và không dính líu đến công dân bình thường; hai là những
cuộc chiến thực sự lớn nhằm huy động toàn xã hội. Ông nói thêm, những nền dân
chủ này “gặp vấn đề rất lớn khi cố gắng tiến hành một cuộc chiến tầm trung, nơi
một số người ra trận còn những người khác ở nhà.”
Những
cuộc chiến tầm trung (middle-sized war) đủ lớn để gây ra sự tàn phá và đổ máu
kinh hoàng, nhưng lại đủ nhỏ để không đòi hỏi toàn bộ hậu phương phải tham gia.
Không nên nhầm lẫn chúng với điều mà nhà lý luận quân sự Carl von Clausewitz gọi
là chiến tranh hạn chế (limited war), trong đó mục tiêu thường chỉ là gây tổn
thất cho kẻ thù chứ không phải tiêu diệt họ hoàn toàn. Chiến tranh hạn chế là
có chủ đích từ trước, trong khi chiến tranh tầm trung lại bùng phát từ những gì
ban đầu được dự định chỉ là một cuộc chiến nhỏ. Các tướng lĩnh và nhà lãnh đạo
chính trị biết họ đang làm gì trong một cuộc chiến hạn chế. Nhưng các nhà lãnh
đạo Mỹ trong những cuộc chiến tầm trung ngày nay thì không.
Bạn
có lẽ sẽ cảm thấy khó chịu khi xem những “cuộc chiến vĩnh cửu” ở Trung Đông – vốn
đã khiến hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ thương vong và cướp đi sinh mạng của vô số
người ở tất cả các bên – chỉ đơn thuần là những cuộc chiến tầm trung. Nhưng
quan điểm của Stokesbury mang tính chất so sánh. Các cuộc chiến ở Afghanistan
và Iraq, cũng như ở Hàn Quốc và Việt Nam, dù tàn khốc đến đâu, cũng không thể
sánh với hai cuộc thế chiến lớn của thế kỷ 20. Chúng cũng không thể được xếp
chung với những cuộc chiến nhỏ, như cuộc xâm lược Grenada năm 1983 và Panama
năm 1989, tuy gây xôn xao dư luận trong vài ngày, nhưng về cơ bản chỉ là các
hành động giữ gìn an ninh kiểu đế quốc. Sự can thiệp quân sự của Mỹ ở Bosnia
năm 1995 và Kosovo năm 1999 cũng chỉ dẫn đến thương vong cực thấp cho người Mỹ
và chủ yếu bao gồm các chiến dịch không quân được tiến hành trong những giới hạn
nghiêm ngặt.
Đối
với nước Mỹ, các cuộc chiến tầm trung đặt ra một vấn đề đặc thù. Chúng hủy hoại
các chính quyền tổng thống, đồng thời làm xói mòn niềm tin của công chúng Mỹ
vào khả năng điều hành chính sách đối ngoại của chính phủ. Dường như người dân
Mỹ đã quá ngán ngẩm với những cuộc chiến tầm trung và không bao giờ muốn lặp lại
chúng nữa. Trên thực tế, sau mỗi cuộc chiến tầm trung gần đây của Mỹ, cả công
chúng lẫn các chính trị gia đều tuyên bố những sự kiện như vậy sẽ chấm dứt mãi
mãi. Điều này đặc biệt đúng sau chiến tranh Việt Nam và Iraq, những cuộc chiến
đã hủy hoại danh tiếng của các nhà hoạch định chính sách hàng đầu. Tuy nhiên,
nước Mỹ có thể lại đang đứng trên bờ vực của một cuộc chiến khác. Cuộc chiến của
chính quyền Trump ở Iran có nguy cơ leo thang thành một cuộc chiến tầm trung nếu
chế độ giáo sĩ không đầu hàng như Tổng thống Mỹ Donald Trump yêu cầu, và nếu
các cuộc ném bom liên tục của Mỹ và Israel dẫn đến tình trạng vô chính phủ ở
Iran, gây bất ổn khắp Vịnh Ba Tư. Khoảng cách giữa việc lật đổ một trật tự hiện
có và thiết lập một trật tự mới, dễ kiểm soát hơn, có thể là vô cùng lớn.
Nên
nhớ rằng Mỹ tồn tại trên thế giới như một đế chế trên thực tế, và
những cuộc chiến sai lầm vốn gắn liền với chính lịch sử của chủ nghĩa đế quốc.
Đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc là kéo đế chế vào những nơi có thể mang lại lợi
ích, nhưng không nhất thiết mang tính sống còn đối với lợi ích quốc gia. Việc
liên tục vướng vào các cuộc chiến tầm trung định kỳ, ngay cả khi cả quan chức
và dân thường đều tuyên bố chúng sẽ không bao giờ xảy ra nữa, phản ánh tình trạng
đế quốc hiện đại của nước Mỹ. Nếu các nhà lãnh đạo không cẩn thận, những cuộc
chiến tầm trung này sẽ làm suy yếu nước Mỹ và góp phần vào sự sụp đổ cuối cùng
của nó.
NHỮNG
TÍNH TOÁN SAI LẦM NGUY HIỂM
Trong
một thế giới dễ xảy ra khủng hoảng, một cường quốc như Mỹ không thể đơn giản là
trốn tránh, giữ mình ẩn dật, hay luôn chờ đợi người khác hành động. Sau cuộc
xâm lược Iraq, một số nhà phân tích đã phân biệt giữa “chiến tranh lựa chọn” và
“chiến tranh tất yếu.” Nhưng sự phân biệt đó cũng chỉ có giới hạn. Nó chắc chắn
hữu ích, nhưng nó không phải là giải pháp vạn năng. Một cuộc chiến có thể mang
vẻ là “tất yếu” cho đến khi nó thất bại; rồi sau đó, người ta sẽ nhìn lại
nó như một “lựa chọn.” Như Clausewitz từng viết, “Chiến tranh là lĩnh vực của sự
không chắc chắn; ba phần tư những điều mà hành động trong chiến tranh dựa vào đều
bị che khuất dưới lớp sương mù của sự không chắc chắn ở mức độ lớn hoặc nhỏ.” Một
tổng thống thường thiếu thông tin toàn diện về thực tế trên thực địa ở cách xa
nửa vòng trái đất, nhưng ông vẫn phải đưa ra lựa chọn nhị nguyên là có tham chiến
hay không – một lựa chọn mà sau này sẽ khiến ông bị phán xét bởi hậu thế.
Việc
ra quyết định trong những hoàn cảnh này chứa đựng rủi ro tính toán sai lầm cơ bản.
Mọi người có thể dễ dàng đồng ý rằng những thành phần cực đoan và các nhà cai
trị thần quyền nắm giữ vũ khí hạt nhân là rất nguy hiểm, nhưng việc lựa chọn thời
điểm tiến hành hành động quân sự chống lại họ lại không hề đơn giản. Chiến
tranh Iraq đã chứng minh sự điên rồ của việc hành động quá vội vã. Chế độ Iran
trong năm 2026 đúng là đã tiến gần đến khả năng sở hữu vũ khí hạt nhân hơn nhiều
so với nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein hồi năm 2003, nhưng vẫn chưa rõ liệu tiến
trình đó có nhất thiết phải đánh đổi bằng rủi ro xảy ra một cuộc chiến tầm
trung hay không – điều mà giờ đây chính quyền Trump đã biến thành một khả năng
có thể xảy ra.
Căng
thẳng với Trung Quốc và Đài Loan minh họa cho thách thức của việc ra quyết định
trong những kịch bản mà tính toán sai lầm vừa rất dễ xảy ra, lại vừa rất nguy
hiểm. Khu vực Tây Thái Bình Dương có tầm quan trọng lớn hơn đối với lợi ích của
Mỹ so với Ukraine và Trung Đông. Nhìn chung, những cuộc chiến không hồi kết ở
Trung Đông chỉ có tác động hạn chế đến thị trường tài chính, và các thị trường
này đã định giá những biến động địa chính trị của khu vực suốt những thập kỷ gần
đây. Nhưng câu chuyện sẽ hoàn toàn khác nếu từng xảy ra chiến tranh toàn diện ở
Tây Thái Bình Dương, nơi có các tuyến đường biển, chuỗi cung ứng, và nền kinh tế
quan trọng nhất thế giới. Đối với người Mỹ bình thường, một cuộc chiến Thái
Bình Dương, nếu không được cân nhắc kỹ lưỡng, có thể làm lu mờ quy mô sai lầm
và bi kịch trong các cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq, và Việt Nam, chủ yếu là do
tác động kinh tế nhưng cũng vì sự phá hủy các vật tư quan trọng, chẳng hạn như
chất bán dẫn. Tuy nhiên, việc lên kế hoạch cho một cuộc xung đột như vậy vẫn
đang diễn ra ở cả Bắc Kinh và Washington, làm tăng khả năng nó có thể xảy ra
vào một ngày nào đó. Việc bước vào một cuộc chiến vì Đài Loan và Biển Đông, thậm
chí có thể là một cuộc chiến tầm trung, thì dễ. Chấm dứt một cuộc chiến như vậy
mới khó. Kết cục đó sẽ đến như thế nào và ra sao, có thể trải dài từ tình trạng
vô chính phủ và sự chấm dứt của chính quyền cộng sản ở Trung Quốc, cho đến một
lệnh ngừng bắn quân sự nảy sinh do sự kiệt quệ sau khi các thị trường chứng
khoán thế giới sụp đổ. Bất chấp tất cả những trò chơi chiến tranh mô phỏng gọn
gàng về một cuộc xung đột ngắn gọn, chớp nhoáng ở Đài Loan, những cuộc chiến thực
sự luôn có thể biến thành những thực tế bao trùm tất cả theo cách riêng của
chúng.
Xung
đột với Triều Tiên cũng có thể một ngày nào đó leo thang thành một cuộc chiến tầm
trung. Nước này không có các tổ chức xã hội đáng tin cậy vì không tồn tại các yếu
tố của xã hội dân sự ở đó, nghĩa là bất kỳ cuộc xung đột nào đe dọa lật đổ chế
độ cũng đe dọa châm ngòi cho hỗn loạn trong nước. Sự hỗn loạn này rất có thể sẽ
kéo theo những lời kêu gọi can thiệp quốc tế (đặc biệt là từ Mỹ), thậm chí có
thể là xây dựng dân chủ. Và tàn dư lực lượng an ninh của nhà lãnh đạo Triều
Tiên Kim Jong Un có thể sẽ quay sang tàn sát lẫn nhau trong một cuộc nội chiến,
nơi các cường quốc toàn cầu khác có thể không có lựa chọn nào tốt khi phải chọn
phe.
NHỮNG
VÒNG XOÁY CHẾT CHÓC
Trump
từng hứa sẽ chấm dứt những cuộc chiến vĩnh cửu. Nhưng qua những lời lẽ thiếu cẩn
trọng, quá trình lập kế hoạch tồi, thiếu kỷ luật trong chính sách, cộng với những
sai lầm và tính toán sai lệch thông thường mà bất kỳ nhà lãnh đạo cá nhân nào
cũng mắc phải trong một thế giới đầy biến động, ông lại vô tình lao vào những
cuộc chiến mới. Chính quyền của ông chưa đưa một lượng lớn lực lượng bộ binh
vào đội quân hùng hậu trên không và trên biển đang được triển khai để chống lại
Iran. Nhưng vòng xoáy leo thang từng bước lại đặt ra một vấn đề. Nếu một cuộc nội
chiến, hoặc một cái gì đó tương tự, nổ ra ở Iran, chính quyền Mỹ có thể thấy buộc
phải cử lực lượng đặc nhiệm và cố vấn đến hỗ trợ một phe nào đó. Và thế là rủi
ro leo thang sẽ bắt đầu xoáy sâu. Chiến tranh Việt Nam đã mất nhiều năm để phát
triển thành một cuộc chiến tầm trung, kéo dài suốt nhiệm kỳ của chính quyền
Kennedy sang đầu nhiệm kỳ của chính quyền Johnson. Tình hình ở Iran có thể diễn
biến theo một quỹ đạo tương tự.
Iran
không phải là xung đột duy nhất có thể vượt tầm kiểm soát dưới thời Trump.
Chính quyền của ông cũng đứng trước nguy cơ xảy ra chiến tranh với các băng đảng
ma túy ở Mexico, mà Trump đã chính thức liệt vào danh sách tổ chức khủng bố. Một
cuộc xung đột quân sự với các băng đảng sẽ có đầy đủ các yếu tố của một cuộc
chiến tầm trung tàn khốc, bất quy tắc, trong đó việc xác định vị trí kẻ thù sẽ
rất khó khăn và việc đánh bại chúng vĩnh viễn là điều gần như không thể. Chiến
dịch quân sự của chính quyền Trump nhằm lật đổ Tổng thống Nicolás Maduro ở
Venezuela và các cuộc không kích bằng tên lửa ở Nigeria là những ví dụ khác về
các cuộc xung đột có tính toán trong nước mơ hồ và khó đoán không kém gì Iraq
năm 2003. Một Venezuela thời hậu Maduro cuối cùng có thể chuyển mình thành một
nền dân chủ vận hành tốt, nhưng cũng có thể rơi vào tình trạng vô chính phủ. Tại
Nigeria, chính quyền Trump dường như không nhận ra rằng các cuộc tấn công nội bộ
nhằm vào các tín đồ Thiên Chúa giáo chỉ là một phần trong sự sụp đổ chậm chạp
và phức tạp của chính nhà nước Nigeria, đặc biệt là ở các vùng xa xôi hẻo lánh,
điều có khả năng leo thang thành một cuộc chiến rộng lớn hơn.
Dấu
hiệu nguy hiểm cho thấy một cuộc chiến nhỏ hoặc một chiến dịch quân sự có thể mở
rộng thành một cuộc chiến tầm trung là khi người ta nói quá nhiều về địa chính
trị mà không quan tâm đúng mức đến các điều kiện chính trị và văn hóa địa
phương. Nhà sử học Barbara Tuchman lập luận rằng Mỹ lẽ ra đã làm tốt hơn nhiều ở
Việt Nam nếu họ ít suy nghĩ về mặt địa chính trị hơn và tập trung nhiều hơn vào
yếu tố địa phương. Những thảm họa lớn nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ xảy
ra vì các nhà hoạch định chính sách quá ám ảnh với những hậu quả ở tầm khu vực
và toàn cầu mà họ thường không thể quản lý tốt, và theo đó phớt lờ các điều kiện
quan trọng trên thực địa. Ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo Mỹ đã bỏ qua lịch sử và
bản chất của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam; ở Iraq, đó là chủ nghĩa giáo phái.
Tuchman khuyến khích các nhà lãnh đạo tin tưởng các chuyên gia khu vực học, hơn
là những nhà chiến lược vĩ mô hay những nhân vật thúc đẩy dân chủ. Theo quan
sát của bà, kiến thức văn hóa cụ thể và tinh tế có ích hơn rất nhiều so với những
con số thống kê và các kế hoạch mờ ám.
Những
cuộc chiến tầm trung thường bắt nguồn từ hiểu lầm về nơi mà sự can thiệp được
cho là để nhằm giúp đỡ. Do đó, điểm mấu chốt là quốc gia can thiệp phải biết
mình đang vướng vào chuyện gì. Điều này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng nó có thể là
phần khó nhất trong hoạch định chính sách. Đề cập đến các vấn đề và sự khác biệt
văn hóa là một điều nhạy cảm bởi nó có thể dễ dàng bị hiểu nhầm là thành kiến,
khiến người ta né tránh các cuộc thảo luận quan trọng về thực tế trên thực địa.
Nhưng chính những cuộc thảo luận như vậy mới có thể giúp một siêu cường tránh
khỏi rắc rối. Các chuyên gia về Trung Quốc của Bộ Ngoại giao Mỹ từng cảnh báo về
việc phe cộng sản tiếp quản đại lục nhiều năm trước khi điều đó xảy ra vào năm
1949. Việc không chấp nhận thực tế đó và đối phó sớm với chế độ cộng sản tàn bạo
đã đóng một vai trò trong những nỗ lực sau này của Mỹ nhằm kiềm chế chủ nghĩa cộng
sản ở cả Hàn Quốc và Việt Nam. Và các chuyên gia Trung Đông ở Bộ Ngoại giao Mỹ,
những người am hiểu văn hóa và điều kiện địa phương, cũng đã cảnh báo không nên
can thiệp quân sự vào Iraq hồi năm 2003.
NHỮNG
CON ĐƯỜNG GẬP GHỀNH
Luôn
rình rập trong những trường hợp này là mối nguy của danh dự hão huyền – phản ứng
bạo lực bốc đồng khi lòng tự ái bị tổn thương – điều mà các cường quốc lớn nhỏ
đều dễ mắc phải từ thuở bình minh của lịch sử. Nhà sử học Hy Lạp Thucydides đã
chỉ ra danh dự là một nguyên nhân gây xung đột giữa các quốc gia. Trong một thế
giới bạo lực và hỗn loạn như hiện nay, danh dự của các quốc gia đôi khi sẽ bị
xúc phạm – chẳng hạn bằng việc bắt giữ con tin, hoặc bao vây đại sứ quán ở một
đất nước bị chiến tranh tàn phá. Trong những tình huống này, các nhà lãnh đạo
thường bị cám dỗ can thiệp bằng vũ lực. Về phần mình, Trump có xu hướng nguy hiểm
là phản ứng lại các lời xúc phạm cá nhân, theo đó có thể dẫn đến phản ứng thái
quá về mặt quân sự.
Những
lời lẽ leo thang, nặng tính cảm xúc có thể thúc đẩy những cuộc chiến nhỏ biến
thành những cuộc chiến tầm trung. Ví dụ, vào tháng 03/2004, bốn nhà thầu tư
nhân Mỹ đã bị giết, đốt xác, và treo cổ trên một cây cầu ở Fallujah, miền tây
Iraq. Fallujah vốn nổi tiếng là đặc biệt thù địch với sự chiếm đóng của quân đội
Mỹ, và các sĩ quan Thủy quân Lục chiến đã khuyến nghị nên phong tỏa thị trấn
này vì không có nhu cầu chiến thuật nào đòi hỏi phải đánh chiếm hay cai quản
nó. Nhưng các quan chức cấp cao trong Lục quân Mỹ và chính quyền George W. Bush
tin rằng phải dạy cho Fallujah một bài học vì danh dự của nước Mỹ đã bị xem thường.
Cuộc chinh phạt thị trấn sau đó dẫn đến thương vong của hàng chục lính Thủy
quân Lục chiến, và khiến thêm nhiều người khác thiệt mạng trong lần đối đầu thứ
hai vào tháng 11 cùng năm. Chuỗi sự kiện ở Fallujah chứng minh rằng quyền lực
càng lớn thì càng phải tự kỷ luật chính mình. Việc tránh những cuộc chiến nhỏ
và thậm chí là tầm trung bắt đầu từ chính thái độ kiềm chế này.
Giao
tranh trên bộ đặc biệt nguy hiểm vì chúng có thể nhanh chóng biến thành những
vũng lầy. Trong tất cả các chiến dịch quân sự của mình cho đến nay – ở Nigeria,
Venezuela, Iran – Trump hầu như chỉ sử dụng các lực lượng không quân và hải
quân. Đó là một quyết định đúng đắn. Nước Mỹ nên đặc biệt cảnh giác với các cuộc
giao tranh trên bộ ở Đông Bán Cầu, nơi tất cả các cuộc chiến tầm trung của họ
đã diễn ra kể từ sau Thế chiến II. Nguyên nhân không chỉ vì những thách thức do
khoảng cách địa lý quá lớn, mà còn vì chất lượng tình báo của Mỹ ở đó nhìn
chung yếu hơn so với khu vực “sân sau” của Mỹ (và ngay cả sân sau thì Mỹ vẫn có
thể gặp phải những rắc rối không đáng có). Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald
Rumsfeld hình dung Iraq giống như một Panama khác – tiến vào và rút ra chỉ
trong vài tuần hoặc vài tháng, với một lượng binh sĩ hạn chế. Nhưng thông tin
tình báo của Mỹ về Panama vượt trội hơn rất nhiều so với Iraq, chưa kể Iraq lại
là một đất nước lớn hơn nhiều. Rumsfeld và chính quyền George W. Bush đã không
chú ý đến lời khuyên của Tuchman và không tin tưởng các chuyên gia khu vực học
đã cảnh báo không nên can thiệp. Họ cũng thiếu một kế hoạch đầy đủ và thực tế
cho Iraq sau cuộc xâm lược. Hậu quả là một cuộc chiến tầm trung tốn kém. Mọi
chiến dịch quân sự của Mỹ, dù nhỏ đến đâu, cũng cần phải đi kèm với một kế hoạch
hậu chiến toàn diện và được cập nhật liên tục, để tích hợp sâu hơn kiến thức
chuyên môn khu vực từ bộ máy chuyên gia vào quá trình đưa ra các quyết định
chính sách đối ngoại.
Trong
thời gian giữ chức Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân vào giai đoạn đầu
sau Chiến tranh Lạnh, Colin Powell, người sau này trở thành Ngoại trưởng Mỹ, đã
lập luận rằng nước Mỹ không nên can dự vào một cuộc chiến trừ phi có một lực lượng
áp đảo, một chiến lược rút lui, một lợi ích quốc gia sống còn, một mục tiêu rõ
ràng, và sự ủng hộ rộng rãi. Ý tưởng này, sau này được gọi là Học thuyết
Powell, đã bị gạt ra bên lề suốt những năm gần đây. Dù vậy, nó vẫn còn nguyên
giá trị. Có lẽ mục tiêu tối thượng của Học thuyết Powell thực chất không phải
là để tránh thất bại, mà là để tránh những cuộc chiến tầm trung. Và đối với các
cường quốc như Mỹ, việc tránh các cuộc chiến tầm trung đồng nghĩa là phải rất cẩn
trọng với những cuộc chiến nhỏ mà nước này can dự vào.
Suy
cho cùng, các đế chế và cường quốc tồn tại lâu nhất là những quốc gia đã tránh
được các cuộc chiến tầm trung. Ví dụ, Đế chế Byzantine tồn tại hơn một ngàn năm
nhờ làm mọi cách có thể để tránh chiến tranh mở. Khi chuẩn bị kỷ niệm 250 năm
thành lập, nước Mỹ cũng đang phải đối mặt với một loạt các cuộc xung đột leo
thang. Nếu không thể tránh được những cuộc chiến tầm trung từng khiến họ điêu đứng
trong quá khứ, thì một rạn nứt chí mạng có thể sẽ xảy ra giữa công chúng và giới
tinh hoa cai trị. Những tác động của nó có thể chưa đến ngay lập tức, nhưng những
sự chia rẽ như vậy chính là điều khiến các nền cộng hòa chết mòn.
--------------------
Robert
D. Kaplan là giảng viên cấp cao tại Đại học Texas ở Austin và cuốn sách mới nhất
của ông là “Waste Land: A World in Permanent Crisis.”
Nguồn: Robert
D. Kaplan, “The Curse of Middle-Sized Wars,” Foreign Affairs, 11/03/2026
Hồi kết cho cuộc chiến Iran sẽ ra sao?
Colin H. Kahl - Foreign Affairs
Viên
Đăng Huy, biên
dịch
https://nghiencuuquocte.org/2026/03/19/hoi-ket-cho-cuoc-chien-iran-se-ra-sao/
Sương
mù chiến tranh đang bao trùm dày đặc Iran, nhưng có hai điều đã hiện rõ mồn một.
Không còn ai có thể nghi ngờ sức mạnh quân sự vô song mà Mỹ và Israel đã phô diễn.
Kể từ ngày 28 tháng 2, lực lượng Mỹ và Israel đã tiêu diệt Lãnh tụ Tối cao Ali
Khamenei cùng các chỉ huy cao cấp của Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, tấn
công hàng ngàn mục tiêu quân sự trên khắp Iran, đồng thời làm suy yếu đáng kể
các bệ phóng tên lửa, kho chứa drone và các khí tài hải quân của nước này. Cũng
không ai nên nghi ngờ sự tàn bạo của chế độ Iran mà họ đang nhắm tới, một chế độ
đã dành nhiều thập kỷ để sát hại người Mỹ, ngược đãi chính nhân dân mình, đe dọa
các nước láng giềng bằng tên lửa và các lực lượng ủy nhiệm khủng bố, đồng thời
chạy đua xây dựng chương trình hạt nhân.
Nhưng
còn quá nhiều điều khác về cuộc chiến tranh tự lựa chọn này vẫn chưa rõ ràng,
và những câu hỏi lớn nhất vẫn chưa được chính quyền Trump giải đáp. Cụ thể hơn,
cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào? Và những hệ lụy chiến lược cuối cùng của
canh bạc Iran sẽ là gì? Lịch sử các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ đưa ra một
bài học nhất quán: những cuộc chiến bắt đầu mà không có mục tiêu chính trị rõ
ràng hiếm khi kết thúc tốt đẹp. Khi các mục tiêu chính trị không được xác định
hoặc còn gây tranh cãi, cuộc chiến sẽ thiếu đi một điểm dừng logic. Những thành
công về mặt chiến thuật sẽ làm dấy lên câu hỏi tiếp theo là gì, trong khi những
bước lùi chiến thuật lại trở thành cái cớ để dấn sâu hơn. Nhiệm vụ mở rộng, thời
gian kéo dài, và lý do ban đầu dần mờ nhạt khi cuộc chiến tự tạo ra động lực của
riêng nó. Nhà lý luận quân sự người Phổ thế kỷ 19 Carl von Clausewitz đã có câu
nói nổi tiếng rằng chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng các phương tiện
khác. Nhưng hệ quả của nó cũng quan trọng không kém: không có mục đích chính trị
rõ ràng, chiến tranh tự nó sẽ trở thành mục đích.
Thế
tiến thoái lưỡng nan của kẻ đứng ngoài
Các
mục tiêu của Washington khi phát động cuộc chiến ở Iran còn rất mơ hồ. Chính
quyền Trump bắt đầu cuộc chiến với mục tiêu đã tuyên bố là thay đổi chế độ.
“Hãy tự tiếp quản chính phủ của các bạn”, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói trong
một video đăng trên Truth Social vào ngày 28 tháng 2. “Đây có lẽ là cơ hội duy
nhất của các bạn trong nhiều thế hệ”. Tuy nhiên, trong những ngày sau đó, các
quan chức chính quyền lại đưa ra những thông tin trái ngược. Liệu mục tiêu là lựa
chọn một chính phủ “dễ chấp nhận” hơn, như cách Mỹ đã làm ở Venezuela? Hay là một
sự “đầu hàng vô điều kiện”? Là để phá hủy chương trình hạt nhân? Hay đơn giản
là khiến bất cứ ai còn sống sót không còn khả năng phô trương sức mạnh quân sự
rồi tuyên bố chiến thắng? Việc xác định rõ mục tiêu rất quan trọng, bởi vì đạt
được mục tiêu thay đổi chế độ, thay đổi hành vi, chấm dứt chương trình hạt nhân
và làm suy yếu khả năng phô trương sức mạnh của Iran không phải là các biến thể
của cùng một mục tiêu. Chúng đòi hỏi những cuộc chiến cơ bản khác nhau, với nguồn
lực, mốc thời gian, định nghĩa về chiến thắng và kế hoạch hậu xung đột khác
nhau.
Sự
bất định này càng được củng cố trong những ngày gần đây khi ông Trump gửi đi những
tín hiệu mâu thuẫn về thời gian kéo dài của cuộc chiến. Vào thứ Hai, ông tìm
cách xoa dịu thị trường và kìm hãm giá dầu đang tăng vọt bằng cách gợi ý rằng
quân đội Mỹ đang “vượt xa kế hoạch” và cuộc chiến có thể sớm kết thúc. Nhưng chỉ
vài giờ sau, ông lại rút lời. “Chúng ta đã thắng về nhiều mặt, nhưng vẫn chưa đủ”,
ông nói với một nhóm các nhà lập pháp Đảng Cộng hòa, và thêm rằng: “Chúng ta tiến
công với quyết tâm cao hơn bao giờ hết để đạt được chiến thắng cuối cùng, nhằm
chấm dứt mối nguy hiểm kéo dài này một lần và mãi mãi”.
Sự
mơ hồ về chiến lược đẩy cả người dân Iran lẫn quân đội Mỹ vào thế bí. Nhiều người
Iran đã ăn mừng cái chết của Khamenei và muốn thấy chế độ sụp đổ. Các quan chức
tình báo Mỹ được cho là nhận định việc thay đổi chế độ khó có thể xảy ra. Nhưng
chuyện gì sẽ xảy ra nếu những người Iran dũng cảm nắm lấy cơ hội lịch sử mà ông
Trump tuyên bố đã mang lại, và chế độ đáp trả bằng bạo lực cực đoan, như họ đã
làm vào tháng Giêng khi sát hại hàng ngàn người biểu tình dân sự?
Lịch
sử đưa ra những lời cảnh báo nghiệt ngã. Sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm
1991, Tổng thống Mỹ George H. W. Bush đã khuyến khích người Iraq nổi dậy—và rồi
đứng nhìn từ bên ngoài khi Tổng thống Iraq Saddam Hussein tàn sát họ. Tại Libya
năm 2011, chính quyền Obama đã làm ngược lại—can thiệp để bảo vệ thường dân
đang thách thức nhà độc tài Muammar al-Qaddafi, chỉ để thấy việc thay đổi chế độ
dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước và nội chiến. Ngày nay, nếu người Iran nổi dậy
và chế độ đàn áp, ông Trump sẽ đối mặt với một tình thế lưỡng nan tương tự: đứng
ngoài với cái giá rất đắt cho uy tín của Mỹ, hoặc dấn thân hoàn toàn và đối mặt
với rủi ro sa lầy, vướng mắc và hỗn loạn.
Thay
vì giải quyết tình thế lưỡng nan này, chính quyền Trump dường như đang làm cho
nó trở nên trầm trọng hơn. Khi triển vọng thay đổi chế độ trong ngắn hạn mờ nhạt
dần, cả Mỹ và Israel dường như đang có ý định kích động sự phân rã nội bộ như một
phương án dự phòng. Các báo cáo chỉ ra rằng CIA đang vũ trang cho các lực lượng
dân quân người Kurd ở Iran tại miền bắc Iraq, trong khi Israel ném bom các tiền
đồn biên giới, đồn cảnh sát và các vị trí quân sự dọc biên giới phía bắc
Iran-Iraq để dọn đường. Trong những ngày gần đây, ông Trump đã gợi ý rằng ông
đang rút lui khỏi kế hoạch này, nhưng Israel thì không. Thật vậy, các nhà lãnh
đạo Israel dường như coi việc gây mất ổn định Iran là một phương án dự phòng ưa
thích nếu việc thay đổi chế độ tỏ ra bất khả thi, có khả năng đẩy Iran vào tình
trạng phân rã quốc gia như đã thấy ở Libya, Syria và Iraq sau năm 2003. Ở một đất
nước 90 triệu dân nằm tại ngã tư của lục địa Á-Âu, kết quả đó sẽ gây mất ổn định
sâu sắc, không chỉ đối với người Iran mà còn đối với lợi ích của Mỹ trong khu vực
và xa hơn thế.
Trong
thế phòng thủ
Ngay
cả khi cuộc chiến kết thúc vào ngày mai, một vài câu hỏi và hệ lụy chiến lược lớn
vẫn sẽ còn tồn tại. Một là vấn đề hạt nhân—và ở đây, sự mơ hồ về cách đạt được
mục tiêu chấm dứt chương trình hạt nhân Iran của ông Trump thực sự đáng báo động.
Tháng 6 năm ngoái, các thanh tra của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế
(IAEA) ước tính rằng Iran nắm giữ hơn 400 kg uranium được làm giàu ở mức 60%—đủ
nguyên liệu phân hạch, nếu được xử lý thêm, cho khoảng mười vũ khí hạt nhân.
Sau các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran vào cuối tháng đó, IAEA không
còn có thể xác nhận quy mô và vị trí của kho dự trữ này. Nói một cách đơn giản,
hiện nay không ai biết chính xác hàng trăm kg nguyên liệu phân hạch gần mức vũ
khí này đang ở đâu hoặc làm thế nào để tiếp quản chúng.
Một
Iran bị tổn thương có thể bước ra từ cuộc xung đột hiện tại với quyết tâm cao
hơn nữa trong việc vũ khí hóa năng lượng hạt nhân còn sót lại để răn đe các cuộc
tấn công tương lai. Vấn đề này không thể được giải quyết chỉ bằng ném bom. Nếu
không đưa một lượng lớn bộ binh Mỹ hoặc Israel vào để đảm bảo an toàn cho số vật
liệu này, một lựa chọn cực kỳ rủi ro mà ông Trump được cho là đã cân nhắc, thì
chính quyền sẽ cần phải đưa ra một kế hoạch cụ thể cho việc giám sát hậu xung đột,
một kế hoạch tập trung cụ thể vào việc xác minh vị trí kho dự trữ hiện có của
Iran và tiếp quản vật liệu đó trước khi nó có thể được vũ khí hóa. Nhưng đây
chính là loại chiến lược ngoại giao không thể phát triển được khi các mục tiêu
cuối cùng của cuộc chiến vẫn chưa được xác định.
Bên
cạnh những câu hỏi về mục tiêu tức thời của cuộc chiến là những câu hỏi lớn hơn
nữa về hệ lụy đối với việc bảo vệ lợi ích của Mỹ trên toàn thế giới. Trước cuộc
chiến, Tướng Dan Caine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, được cho
là đã bày tỏ lo ngại sâu sắc rằng một cuộc xung đột cường độ cao, kéo dài ở
Trung Đông có thể làm cạn kiệt các loại đạn dược quan trọng của Mỹ, làm giảm khả
năng sẵn sàng đáp trả các mối đe dọa ở nơi khác. Những ngày đầu của cuộc chiến
hiện tại đã xác thực những lo ngại đó. Mỹ đã tiêu tốn một lượng lớn kho dự trữ
đạn dược tấn công tầm xa và các loại tên lửa đánh chặn phòng không cao cấp, vốn
có số lượng hạn chế, để bảo vệ các căn cứ Mỹ, các quốc gia vùng Vịnh và Israel
khỏi các đợt mưa tên lửa và drone của Iran. Với việc kho đạn dược của Mỹ đã bị
kéo căng và nền công nghiệp quốc phòng đang chật vật để tăng tốc sản xuất đủ
nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu cho các tình huống tiềm tàng với Trung Quốc hoặc Nga
trong tương lai, Lầu Năm Góc có nguy cơ phải nhận một chiến thắng kiểu Pyrrhic”,
một chiến thắng mà thành công ở Iran khiến Mỹ mất khả năng răn đe hoặc đánh bại
sự xâm lược lớn ở bất kỳ nơi nào khác.
Thách
thức đó còn phức tạp hơn bởi viễn cảnh hàng chục ngàn binh sĩ Mỹ sẽ cần phải ở
lại Trung Đông trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi các chiến dịch tác chiến
lớn kết thúc, bị trói buộc bởi các nhiệm vụ kiềm chế hậu chiến, các hoạt động
trấn an đối tác vùng Vịnh đang lo âu, và yêu cầu thực hiện các cuộc không kích
định kỳ khi Iran tất yếu cố gắng tái thiết quân đội. Đó chính xác là những gì
đã xảy ra sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, cuộc chiến đã thiết lập sự
hiện diện thường trực của các căn cứ Mỹ tại Trung Đông để kiềm chế Saddam
Hussein tồn tại cho đến tận ngày nay. Giờ đây, đây chính là vũng lầy mà những
người ủng hộ cuộc chiến tuyên bố đang thoát khỏi bằng cách chấm dứt mối đe dọa
từ Iran một lần và mãi mãi. Thế nhưng Washington có thể một lần nữa đang lội thẳng
vào chính vũng lầy đó.
Có
một nghịch lý đau đớn ở đây. Sự phô diễn sức mạnh quân sự của Mỹ là vô cùng ấn
tượng, và các đối thủ sẽ phải lưu tâm. Nhưng Mỹ có thể bước ra khỏi cuộc chiến
này trong tình trạng dàn trải quân lực quá mức, cạn kiệt nguồn lực, mất thế bố
trí quân sự và do đó yếu thế hơn so với Trung Quốc và Nga trong nhiều năm tới.
Hồi
kết
Câu
hỏi lớn nhất có lẽ là cuộc chiến này có ý nghĩa gì đối với trật tự quốc tế
tương lai. Cho đến nay trong năm nay, Mỹ đã tiến hành hai chiến dịch quân sự lớn—nhắm
vào Venezuela và Iran—mà không có các liên minh quốc tế rộng rãi, không có sự
cho phép của Liên Hợp Quốc, hoặc một nền tảng pháp lý vững chắc. Chính quyền
Trump đã phát động cuộc chiến này mà không có một cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội và
không đưa ra các bằng chứng tình báo cho người dân Mỹ theo cách mà ngay cả trường
hợp đầy sai sót của cuộc chiến Iraq đã thực hiện trong những tháng trước khi
xâm lược.
Các
nhà lãnh đạo ở Moscow và Bắc Kinh đang theo dõi sát sao cuộc xung đột đang diễn
ra, không phải vì họ phản đối việc tiêu diệt các đối thủ—họ không phản đối—mà
vì việc Mỹ sẵn sàng hành động đơn phương, nằm ngoài các rào cản pháp lý truyền
thống, khiến Washington mất đi vị thế chính nghĩa nếu và khi Nga tiến hành các
cuộc xâm lược sâu hơn đối với các nước láng giềng hoặc Trung Quốc động binh với
Đài Loan. Mỗi chuẩn mực mà Mỹ làm xói mòn lúc này là một chuẩn mực mà họ
không thể buộc kẻ khác phải tôn trọng trong tương lai.
Các
cuộc chiến không được đánh giá qua việc chúng bắt đầu tốt ra sao. Chúng được
đánh giá qua cách chúng kết thúc—và qua việc liệu quốc gia khơi mào cuộc chiến
mạnh hơn hay yếu đi khi tiếng súng cuối cùng lặng xuống. Các binh sĩ Mỹ đang thực
thi các chiến dịch này với sự chuyên nghiệp phi thường, nhưng điều đó không thể
thay thế cho sự rõ ràng về mục đích. Những câu hỏi đang được đặt ra quá yếu ớt
lúc này chính là những câu hỏi cuối cùng sẽ quyết định liệu cuộc chiến này có
đáng để đánh hay không.
-------------------------------------------------------------------
COLIN
H. KAHL là Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế Free
Nguồn: Colin
H. Kahl, “What Is the Endgame
in Iran?”, Foreign
Affairs, 10/03/2026