Sunday, 13 September 2026

THÔNG BÁO CHUYỂN GIAO TALAWAS CHO LUẬT KHOA (Phạm Thị Hoài / Facebook)

 



THÔNG BÁO CHUYỂN GIAO TALAWAS CHO LUẬT KHOA  

Phạm Thị Hoài

12/9/2026  04:03   

https://www.facebook.com/procontra.asia/posts/pfbid036SgmkXx35amYNzkvBwWcFNJwW86upDQEFsAF3CKvG1rvt6uRpq1txhhq6WMEAqHPl

 

Dự định đóng cửa trang talawas may mắn đã không thành hiện thực. Tôi nhanh chóng nhận được từ Trịnh Hữu Long, Giám đốc điều hành tổ chức Legal Initiatives for Vietnam (LIV) và Tổng biên tập Luật Khoa tạp chí, lời đề nghị bảo tồn talawas.

 

Sau nhiều tháng giải quyết các vấn đề kỹ thuật, talawas đã được khôi phục và từ hôm nay, 12 tháng Chín 2026, được hoàn toàn chuyển giao cho LIV và Luật Khoa quản lý, khai thác, lưu trữ, bảo trì và tiếp tục được tự do truy cập, với tên miền không thay đổi (www.talawas.org).

 

Thay mặt nhóm phụ trách, các tác giả, độc giả và bạn bè của talawas, tôi hân hạnh được nói lời cảm ơn và sự tin cậy với LIV và Luật Khoa. Chặng đường ngắn của chúng tôi đã được thế hệ sau nối dài. Chúc các bạn có thêm nhiều nguồn lực, vững bước và đi xa trong sứ mệnh xây dựng một nền báo chí độc lập cho Việt Nam.

 

Berlin, 12 tháng Chín 2026

Phạm Thị Hoài

 

123 BÌNH LUẬN    

 

 

 


NĂM THAY ĐỔI ĐƠN GIẢN ĐỂ TỔ CHỨC SỰ KIỆN KHÔNG RÁC THẢI TRONG MÙA HÈ NÀY (Sue Vang / Crossings TV)

 



 

Năm Thay Đổi Đơn Giản Để Tổ Chức Sự Kiện Không Rác Thải Trong Mùa Hè Này

Sue Vang (chuyên viên khoa học môi trường cấp cao, CalRecycle)

Crossings TV

September 4, 2026

https://www.crossingstv.com/calrecycle-zero-waste-event-vn/

 

HÌNH  : https://www.crossingstv.com/wp-content/uploads/2026/08/5-Simple-Swaps-to-Reduce-Event-Waste-081926-1187x1536.jpg

 

Lớn lên trong một gia đình người Châu Á, tôi đã sớm học được rằng mọi tài nguyên đều cần được trân trọng và không nên lãng phí. Những bữa cơm gia đình luôn tận dụng tối đa nguyên liệu, từ thịt đến rau củ, để hầu như không còn gì bị bỏ đi. Gia đình tôi cũng ưu tiên sử dụng những gì đã có, sửa chữa khi có thể và chia sẻ đồ dùng với nhau. Ngày đó, chúng tôi không gọi đó là “không rác thải”, nhưng đó chính là những giá trị cốt lõi của lối sống bền vững ngày nay.

 

Trong mùa hè này, khi cùng gia đình và bạn bè tham gia các buổi tiệc, lễ hội và những dịp sum họp, tôi mong mọi người sẽ mang những giá trị ấy trở lại bằng cách áp dụng các thói quen không rác thải vào mỗi sự kiện. Chỉ với một vài thay đổi nhỏ, chúng ta có thể tạo nên tác động tích cực lớn đối với môi trường. Dưới đây là năm thay đổi đơn giản để bắt đầu:

 

1.    Thay thiệp mời giấy bằng thiệp mời điện tử. Tiết kiệm giấy, chi phí bưu điện và thời gian bằng cách sử dụng thiệp mời điện tử và biểu mẫu xác nhận tham dự (RSVP) trực tuyến. Đây là cách đơn giản để giảm rác thải ngay từ khi lên kế hoạch cho sự kiện

 

2.    Thay một thùng rác bằng trạm phân loại ba thùng. Hãy giúp khách dễ dàng phân loại rác đúng cách bằng cách đặt ba thùng ủ phân hữu cơ (compost), tái chế (recycle) và rác chôn lấp (landfill) cạnh nhau. Sử dụng bảng hướng dẫn rõ ràng hoặc hình ảnh minh họa để mọi người biết vật liệu nào nên bỏ vào từng thùng. (Lưu ý: Quy định có thể khác nhau tùy từng địa phương.) Nếu có thể, hãy nhờ một tình nguyện viên hướng dẫn khách phân loại rác đúng cách. Việc bố trí thùng ủ phân và tái chế cũng góp phần thực hiện các mục tiêu bắt buộc của California về tái chế và giảm rác hữu cơ. Khi cung cấp các lựa chọn này, bạn đang góp phần thu hồi những vật liệu có giá trị và giảm lượng rác hữu cơ được đưa đến bãi chôn lấp.

 

3.    Thay nước đóng chai bằng trạm nước uống. Thay vì phát từng chai nước riêng lẻ, hãy chuẩn bị bình nước hoặc trạm nước uống để khách tự lấy và khuyến khích mọi người mang theo bình nước cá nhân hoặc sử dụng cốc có thể tái sử dụng. Nếu cần sử dụng đồ uống đóng chai hoặc đóng lon, hãy thu gom các vỏ chai và lon đủ điều kiện nhận Giá Trị Hoàn Trả California (California Redemption Value – CRV), bao gồm cả chai rượu vang và rượu mạnh, để mang đến điểm tái chế và nhận lại tiền hoàn trả.

 

4.    Thay đồ trang trí dùng một lần bằng đồ trang trí có thể tái sử dụng. Đồ trang trí và vật dụng cho sự kiện có thể được sử dụng nhiều lần nếu bạn chọn các sản phẩm bền như khăn trải bàn bằng vải, bộ chén đĩa thật, đèn dây trang trí, đèn lồng, bình hoa hoặc các vật dụng theo mùa có thể cất giữ và dùng lại. Đồ trang trí có thể tái sử dụng thường tạo cảm giác đẹp mắt và chuyên nghiệp hơn, đồng thời có thể chia sẻ hoặc mượn từ người khác, giúp giảm rác thải và tiết kiệm chi phí về lâu dài.

 

5.    Thay lãng phí thực phẩm bằng kế hoạch chuẩn bị hợp lý. Thực phẩm là một trong những nguồn phát sinh rác thải lớn nhất sau các buổi tiệc và sự kiện. Tuy nhiên, chỉ cần lên kế hoạch cẩn thận, bạn có thể giảm đáng kể lượng thực phẩm bị lãng phí.

 

6.    Hãy sử dụng các công cụ như Guestimator để lập thực đơn và ước tính lượng thức ăn phù hợp với số lượng khách mời, từ đó vừa giảm lãng phí vừa tiết kiệm chi phí. Sau sự kiện, hãy khuyến khích khách mang phần thức ăn còn lại về nhà hoặc chủ động phối hợp với các tổ chức thu hồi thực phẩm tại địa phương để quyên góp phần thức ăn dư còn sử dụng được.

 

Những Thay Đổi Nhỏ Tạo Nên Khác Biệt Lớn

Tổ chức một sự kiện không rác thải không có nghĩa là mọi thứ phải hoàn hảo. Điều quan trọng là đưa ra những lựa chọn có ý thức để giảm rác thải và ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và chi phí, đồng thời truyền cảm hứng để nhiều người cùng chung tay bảo vệ môi trường. Mọi sự thay đổi đều có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ và phát triển theo thời gian.

 

Hãy truy cập RecyclingReimaginedCA.com để tải về Bộ Công Cụ Tổ Chức Sự Kiện Không Rác Thải (Zero-Waste Event Toolkit) của CalRecycle. Bộ tài liệu bao gồm danh sách kiểm tra khi lập kế hoạch, biển hướng dẫn phân loại rác có thể in sẵn, các câu hỏi thường gặp và nhiều tài nguyên hữu ích giúp sự kiện tiếp theo của bạn vừa đáng nhớ vừa thân thiện với môi trường.

 

Để tìm hiểu thêm về CalRecycle, vui lòng truy cập CalRecycle.ca.gov.

 

 




DIỆN MẠO CHIẾN TRANH SAU XUNG ĐỘT NGA – UKRAINE (Sergiy Korsunsky – Nikkei Asia)

 



Diện mạo chiến tranh sau xung đột Nga - Ukraine

Sergiy Korsunsky  -  Nikkei Asia

Phạm Ánh Minh, biên dịch

10/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/10/dien-mao-chien-tranh-sau-xung-dot-nga-ukraine/

 

AI, các đàn máy bay không người lái quy mô lớn và các cuộc tấn công mạng đang định hình lại chiến tranh hiện đại, và các nền dân chủ cần phải chuẩn bị ngay từ bây giờ.

 

Những tranh luận về việc cuộc chiến của Nga tại Ukraine sẽ kết thúc như thế nào và những hệ quả mà nó để lại cho thế giới dường như không có hồi kết. Tuy nhiên, ngày càng rõ rằng chúng ta cần đặt ra một câu hỏi khác: không chỉ hòa bình sau cuộc chiến này sẽ mang diện mạo ra sao, mà cả cuộc chiến tiếp theo sau thời kỳ hòa bình ấy sẽ như thế nào.

 

Chiến tranh Nga – Ukraine là một cuộc xung đột chưa từng có tiền lệ trên nhiều phương diện. Đây là cuộc chiến tranh mang tính thực dân đầu tiên do một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sở hữu vũ khí hạt nhân tiến hành. Cuộc xâm lược Georgia của Nga từng là một lời cảnh báo sớm, nhưng không mang cùng bản chất thực dân, bởi những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng khi đó không được chính thức sáp nhập vào Liên bang Nga. Các cuộc chiến của Mỹ tại Trung Đông cũng không phải là những cuộc chiến tranh thực dân theo nghĩa đó. Ngược lại, mục tiêu của Moscow tại Ukraine là phá hủy tư cách quốc gia của Ukraine và sáp nhập lãnh thổ nước này.

 

Đáng chú ý hơn nữa, cuộc chiến đã làm thay đổi căn bản cả công cụ lẫn nguyên tắc tiến hành chiến tranh. Những bài học từ chiến trường Ukraine đang được hấp thụ với tốc độ đáng kinh ngạc, không chỉ vào các nền tảng kỹ thuật số của Palantir mà còn vào các hệ thống quân sự của Trung Quốc, thậm chí cả Triều Tiên. Bản thân Nga cũng liên tục điều chỉnh tên lửa và UAV theo thời gian thực nhằm vượt qua những năng lực phòng thủ mới mà lực lượng vũ trang Ukraine phát triển. Cho đến nay, Ukraine vẫn giữ lợi thế trong cuộc đua công nghệ này, nhưng cuộc cạnh tranh còn lâu mới kết thúc.

 

Các cuộc chiến trong tương lai khó có khả năng mở màn bằng những đoàn xe thiết giáp vượt biên giới, việc triển khai ồ ạt các tàu chiến hạng nặng hay các đợt pháo kích quy mô lớn. Thay vào đó, chúng nhiều khả năng sẽ bắt đầu bằng những cuộc tấn công mạng diện rộng nhằm vào hệ thống chỉ huy và kiểm soát quân sự, mạng lưới thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng năng lượng, hệ thống tài chính và các hạ tầng dân sự thiết yếu khác. Xã hội càng phụ thuộc sâu vào kết nối kỹ thuật số, giai đoạn mở màn này càng có khả năng gây hậu quả tàn khốc.

 

Gần như chắc chắn, thế hệ vũ khí mạng tiếp theo sẽ được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo. Dù hoạt động hoàn toàn tự chủ hay dưới sự giám sát chặt chẽ của con người, những hệ thống này sẽ được huấn luyện trên các bộ dữ liệu có tính đặc thù cao về đối thủ tiềm tàng, từ cơ cấu lực lượng vũ trang, điểm yếu của hạ tầng trọng yếu, các cuộc tập trận quân sự và học thuyết tác chiến cho đến kinh nghiệm chiến trường.

 

Làn sóng tấn công thứ hai nhiều khả năng sẽ gồm hàng nghìn máy bay không người lái tích hợp AI hoạt động đồng thời. Nhiệm vụ của chúng sẽ là làm tê liệt hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, phá hủy hạ tầng trọng yếu và tấn công những cơ sở dân sự nhạy cảm, kể cả bệnh viện. Đồng thời, mạng lưới hậu cần, các đầu mối giao thông và kho dự trữ nhiên liệu, thuốc men, lương thực cũng sẽ trở thành mục tiêu. Chỉ sau khi những nhiệm vụ này hoàn tất, lực lượng quân sự thông thường mới được tung vào chiến trường — nếu khi đó chúng vẫn còn cần thiết.

 

Ngay cả những mô hình toán học tương đối đơn giản về chiến tranh hiện đại, trong đó con người và các hệ thống tự chủ cùng tham gia, cũng liên tục dẫn tới một kết luận quan trọng: một khi các nền tảng tự chủ đạt hiệu quả tác chiến đủ cao, nhu cầu đưa binh sĩ trực tiếp vào vòng chiến sẽ giảm đáng kể. Các hệ thống không người lái tầm xa và năng lực tác chiến mạng đang dần xóa nhòa chiều sâu chiến lược của đối phương. Địa lý, vốn từng là một trong những lợi thế phòng thủ quan trọng nhất của bất kỳ quốc gia nào, đang nhanh chóng mất đi phần lớn ý nghĩa truyền thống.

 

Khả năng triển khai sức mạnh từ xa mà không cần tiếp xúc vật lý trực tiếp sẽ làm thay đổi căn bản khái niệm chiến trường. Khi drone thường xuyên bay qua không phận của nước thứ ba, còn nguồn gốc của các cuộc tấn công mạng tinh vi không thể được xác định một cách chắc chắn, những khái niệm truyền thống như tiền tuyến, kiểm soát lãnh thổ, thậm chí cả hành vi xâm lược, sẽ ngày càng trở nên mơ hồ.

 

AI với năng lực suy luận tiệm cận con người cuối cùng có thể đủ khả năng lựa chọn không chỉ hành động chiến thuật mà cả mục tiêu chiến lược mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người. Khi đó, ngay cả việc xác định thế nào là chiến thắng cũng sẽ trở thành một vấn đề. Quan trọng hơn, rất khó hình dung một hệ thống AI vận hành theo logic tối ưu hóa riêng sẽ hiểu lợi ích của việc “chiến thắng” theo cách nào.

 

Tuy nhiên, có một điều ngày càng rõ ràng: chủ quyền số sẽ sớm trở nên quan trọng đối với một quốc gia không kém gì chủ quyền lãnh thổ. Các trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán sẽ trở thành những tài sản chiến lược phải được bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời cũng là những mục tiêu hàng đầu của đối phương. Gián điệp kỹ thuật số, thao túng dữ liệu và phá hoại mạng nhằm làm sai lệch thông tin mà các hệ thống AI dựa vào để ra quyết định nhiều khả năng sẽ trở thành những đặc điểm định hình của các cuộc xung đột trong tương lai, đồng thời mở ra những công cụ mới cho chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh phòng ngừa.

 

Các chiến dịch quân sự gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran cũng cho thấy một bài học quan trọng khác. Cơ cấu chỉ huy dựa trên mạng lưới đã chứng tỏ khả năng chống chịu cao hơn đáng kể so với các hệ thống tập trung. Chúng cho phép các cơ quan quân sự và dân sự tiếp tục hoạt động ngay cả khi lãnh đạo chính trị hoặc quân sự cấp cao không thể liên lạc hay ra lệnh. Điều này cho thấy các chính phủ cần xem xét lại một cách căn bản cả hệ thống quản trị dân sự lẫn cơ cấu chỉ huy quân sự, xây dựng những mô hình phi tập trung với thẩm quyền được phân cấp rõ ràng ở từng cấp, đồng thời thường xuyên diễn tập trong các điều kiện sát với thực tế.

 

Những sự chuẩn bị này có thể bị xem là quá sớm. Nhưng thực tế không phải vậy. Chúng cần được bắt đầu ngay từ bây giờ.

 

Hy vọng rằng Nga và các thực thể cấu thành nước này sẽ sớm tự chuyển hóa thành một cộng đồng các quốc gia dân chủ cùng chung sống hòa bình với láng giềng là điều khá viển vông nếu nhìn từ góc độ chiến lược thực tế. Tương tự, cũng khó có cơ sở để kỳ vọng Trung Quốc sẽ thay đổi theo hướng đó.

 

Nhân loại vừa trải qua có lẽ là giai đoạn dài nhất trong lịch sử hiện đại, gần 80 năm không xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trực tiếp giữa các cường quốc. Tuy nhiên, thời kỳ đó nay đã kết thúc cùng với sự trở lại của những tư tưởng mà nhiều người từng tin đã bị lịch sử loại bỏ: chủ nghĩa phát xít, sự thống trị đế quốc, diệt chủng và chinh phục thuộc địa. Điều này xảy ra bất chấp những tiến bộ công nghệ chưa từng có và nhiều thập kỷ xây dựng một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ thay vì sức mạnh.

 

Vì vậy, thách thức trước mắt không chỉ là bảo đảm hòa bình sau cuộc chiến hiện tại. Quan trọng không kém là chuẩn bị cho tính chất của những cuộc chiến có thể diễn ra trong tương lai và bảo đảm rằng các xã hội dân chủ đã sẵn sàng trước khi chúng bắt đầu.

 

----------------------------

Sergiy Korsunsky là cựu Đại sứ Ukraine tại Nhật Bản. Hiện ông là cố vấn cấp cao tại Nihon Cyber Defence và học giả toàn cầu xuất sắc tại cơ sở Nhật Bản của Đại học Temple.

 

Nguồn: Sergiy Korsunsky, “What will war look like after peace?”, Nikkei Asia, 04/09/2026

 





BƯỚC NGOẶT CHIẾN LƯỢC CỦA NHẬT BẢN (Eliot A. Cohen – The Atlantic)

 



Bước ngoặt chiến lược của Nhật Bản

Eliot A. Cohen  -  The Atlantic

Viên Đăng Huy, biên dịch

11/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/11/buoc-ngoat-chien-luoc-cua-nhat-ban/

 

Khi tôi lần đầu đến Nhật Bản cách đây hơn 30 năm, Chiến tranh Lạnh vừa kết thúc, Trung Quốc vẫn chưa trỗi dậy, và Nhật Bản — dù không còn giữ vị thế “Nhật Bản là số một” như tiêu đề cuốn sách bán chạy năm 1979 của Ezra Vogel — vẫn là một cường quốc đáng gờm. GDP của Nhật Bản khi đó không thua kém Mỹ quá xa, lớn hơn tổng GDP của phần lớn các nước châu Á còn lại cộng lại, và gấp khoảng bảy lần Trung Quốc.

 

Trong chuyến thăm gần đây, tôi nhận thấy Nhật Bản đã trở thành một đất nước rất khác. Ngay từ năm 1995, những dấu hiệu đáng lo ngại đã xuất hiện: giá bất động sản sụp đổ và nền kinh tế bước vào nhiều năm trì trệ, rồi kéo dài thành nhiều thập kỷ. Tỷ suất sinh giảm xuống dưới mức thay thế, còn khoảng 1,4 con trên mỗi phụ nữ, và kể từ đó tiếp tục giảm xuống chỉ còn hơn 1,1. Nhưng những thay đổi sâu sắc nhất lại nằm ở môi trường địa chính trị xung quanh Nhật Bản.

 

Ngày nay, GDP của Nhật Bản chỉ còn bằng khoảng một phần năm của Trung Quốc. Dù quy mô lực lượng vũ trang nước này không thay đổi quá nhiều so với trước, Nhật Bản giờ đã bị người láng giềng lục địa vượt xa về sức mạnh quân sự. Năm 1995, Triều Tiên vẫn còn cách cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên khoảng một thập kỷ; hiện nay, Bình Nhưỡng sở hữu hàng chục, thậm chí có thể nhiều hơn, đầu đạn hạt nhân cùng các phương tiện mang phóng. Khi đó, Nga vẫn đang chật vật với quá trình chuyển đổi hậu cộng sản; ngày nay, Moscow đã xích lại gần Bắc Kinh và thường xuyên cung cấp công nghệ quân sự cho cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

 

Không có gì ngạc nhiên khi các nhà lãnh đạo chính trị, quân sự và tình báo, cũng như các học giả Nhật Bản mà tôi trò chuyện gần đây, đều mang tâm trạng khá u ám. Họ vẫn bám chặt vào hiệp ước an ninh với Mỹ, nhưng đồng thời chính phủ Nhật Bản cũng đang làm những điều từng bị xem là không thể tưởng tượng nổi nhằm tăng cường khả năng tự phòng thủ.

 

Trong phần lớn thời kỳ hậu chiến, Nhật Bản dựa vào liên minh quốc phòng với Mỹ và sức mạnh kinh tế của chính mình. Chi tiêu quốc phòng được giữ quanh mức 1% GDP, nhưng vì nền kinh tế Nhật Bản lớn hơn nhiều so với các nước láng giềng, con số đó vẫn tương đương một khoản đầu tư đáng kể cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản. Bất chấp niềm say mê với phim samurai và võ thuật, Nhật Bản vẫn duy trì bản sắc của một quốc gia hòa bình: không xuất khẩu vũ khí, tập trung vào nhiệm vụ phòng thủ, đồng thời tuân thủ ba nguyên tắc không sở hữu, không sản xuất và không cho phép đưa vũ khí hạt nhân vào lãnh thổ.

 

Tất cả những điều đó giờ đây đang thay đổi. Theo các kế hoạch được thông qua năm 2022, Nhật Bản đã tăng chi tiêu quốc phòng lên khoảng 1,4% GDP, và Thủ tướng Sanae Takaichi đã phát tín hiệu rằng tỷ lệ này sẽ tăng lên 2%. Chi tiêu quốc phòng thậm chí có thể còn vượt mức đó, với khả năng tiến tới mục tiêu 3,5% GDP hiện ngày càng được chấp nhận rộng rãi ở châu Âu. Nhờ vậy, Nhật Bản không chỉ nâng cấp toàn diện hệ thống vũ khí trong khi quy mô nhân lực tương đối ổn định, mà còn mua sắm nhiều năng lực tác chiến mới. Nước này hiện công khai phát triển và mua sắm cái mà họ gọi là năng lực “phản công”, tức các loại tên lửa tầm xa có thể đánh trúng mục tiêu trên lãnh thổ Trung Quốc. Nhật Bản cũng tăng đầu tư vào tác chiến mạng và không gian, cũng như vào các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa mạnh hơn nhiều. Nước này đang xây dựng các hầm trú ẩn bằng bê tông và hệ thống đường hầm nhằm tăng khả năng sống sót của căn cứ trước các cuộc tấn công của Trung Quốc — điều mà Mỹ vẫn chưa làm được đầy đủ tại cả châu Á lẫn Trung Đông. Nhật Bản cũng ngày càng sẵn sàng duy trì năng lực của ngành công nghiệp quốc phòng thông qua xuất khẩu vũ khí. Năm nay, nước này còn thành lập cơ quan tình báo tập trung đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, mang tên Cục Tình báo Quốc gia.

 

Đáng chú ý hơn cả là sự thay đổi trong thái độ của Nhật Bản đối với vũ khí hạt nhân. Chính sách hạt nhân thời hậu chiến của nước này bắt nguồn từ chấn thương lịch sử khi Nhật Bản trở thành quốc gia duy nhất từng hứng chịu các cuộc tấn công bằng bom nguyên tử. Nhưng trong chuyến đi lần này, tôi hầu như không nghe thấy ai nhắc đến Hiroshima hay Nagasaki; thay vào đó, các cuộc thảo luận tập trung rất nhiều vào vấn đề răn đe.

 

Cụ thể hơn, các quan chức và chuyên gia Nhật Bản dường như ngày càng đồng thuận rằng ít nhất một trong ba nguyên tắc phi hạt nhân của đất nước cần được xem xét lại: nguyên tắc không cho phép vũ khí hạt nhân được đưa vào lãnh thổ Nhật Bản. Họ tỏ ra rất quan tâm đến khả năng xây dựng với Mỹ những thỏa thuận tương tự cơ chế chia sẻ hạt nhân mà Washington duy trì với Đức và một số đồng minh châu Âu, theo đó hai bên cùng tham gia kiểm soát việc sử dụng vũ khí hạt nhân thông qua cơ chế “hai chìa khóa” (dual key). Một loại tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân mà Mỹ đang phát triển dường như được xem là lựa chọn đặc biệt hấp dẫn.

 

Nhật Bản hoàn toàn có khả năng tự phát triển vũ khí hạt nhân. Nước này sở hữu lượng plutonium đáng kể và đội ngũ kỹ sư xuất sắc. Tuy nhiên, Tokyo không muốn lựa chọn con đường đó vì nhiều lý do, trong đó có sự phản đối lâu dài trong nước và nỗi lo bị tấn công phủ đầu. Điều đáng chú ý là những lập luận tôi nghe được nhằm phản đối một lực lượng răn đe hạt nhân hoàn toàn độc lập của Nhật Bản hiện nay chủ yếu dựa trên những tính toán chiến lược thận trọng, chứ không còn dựa nhiều vào cảm xúc hay ký ức lịch sử như trước.

 

Những thay đổi này bắt nguồn từ cảm giác bị đe dọa ngày càng lớn trong xã hội và giới hoạch định chính sách Nhật Bản. Gần như mỗi ngày, tàu hải cảnh Trung Quốc đều tiến vào vùng tiếp giáp lãnh hải, tức khu vực nằm từ 12 đến 24 hải lý quanh quần đảo Senkaku, kéo dài về phía vùng biển gần Đài Loan; chúng cũng thường xuyên đi vào lãnh hải Nhật Bản quanh khu vực này. Cần lưu ý rằng nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc có kích thước tương đương tàu hộ vệ hoặc tàu khu trục của hải quân các nước khác và được trang bị pháo tự động phù hợp với tác chiến hơn là thực thi pháp luật. Giọng điệu quyết liệt của các lực lượng này khi đối đầu với phía Nhật Bản cũng phản ánh khá rõ lập trường cứng rắn của chính phủ Trung Quốc.

 

Các cuộc tuần tra không quân chung giữa Trung Quốc và Nga cũng khiến lực lượng phòng không Nhật Bản ngày càng lo ngại, tương tự như sự gia tăng hoạt động của drone Trung Quốc gần các đảo của Nhật Bản. Yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Senkaku vốn đã tồn tại từ lâu nhưng ngày càng được thể hiện quyết liệt hơn trong những năm gần đây. Đồng thời, Nhật Bản đặc biệt lo lắng trước kho vũ khí hạt nhân đang mở rộng nhanh chóng của Trung Quốc, cũng như kho hạt nhân của Triều Tiên. Cả Bắc Kinh và Bình Nhưỡng lại đang xích lại gần một nước Nga mà lực lượng hải quân và không quân vẫn hoạt động tích cực tại Thái Bình Dương bất chấp những đòi hỏi lớn từ cuộc chiến ở Ukraine.

Nhật Bản vì vậy đang ở trong một tình thế chiến lược đặc biệt khó khăn, và cũng chính vì lý do đó mà thái độ của nước này đối với Mỹ khác hẳn nhiều quốc gia châu Âu. Ở Nhật Bản, người ta hiếm khi nghe những lời phàn nàn về sự suy thoái của nền dân chủ Mỹ hay những cáo buộc Washington phản bội đồng minh. Thay vào đó, Nhật Bản đang cố gắng hết sức để tiếp tục đặt niềm tin vào Mỹ trong bối cảnh nước này hầu như không có lựa chọn thay thế khả dĩ nào.

 

Không tồn tại một phiên bản NATO ở Thái Bình Dương, và ngay cả cơ chế chỉ huy liên hợp giữa quân đội Mỹ và Nhật Bản cũng chưa có mức độ tích hợp tổ chức sâu như liên minh Mỹ – Hàn. Những gì Nhật Bản có chủ yếu là sự hiện diện của lực lượng Mỹ — phần lớn được bố trí với trọng tâm hướng tới bán đảo Triều Tiên và Đài Loan — cùng với cam kết an ninh của Washington, bên cạnh quyết tâm của chính Nhật Bản trong việc chống lại sự lấn tới, hay theo ngôn ngữ trong các tài liệu quốc phòng là “xâm lược”, từ một Trung Quốc ngày càng đối đầu.

 

Nỗi lo của Nhật Bản về Đài Loan đặc biệt sâu sắc. Ngay cả việc Trung Quốc giành quyền kiểm soát hòn đảo bằng biện pháp hòa bình cũng sẽ là một bước lùi chiến lược lớn đối với Tokyo. Điều đó sẽ làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của Nhật Bản và Mỹ tại Đông Á, đồng thời có thể khuyến khích, theo cách nhìn của Nhật Bản, một số nước láng giềng của Trung Quốc nhượng bộ Bắc Kinh hoặc thậm chí đi xa hơn. Trong một phát biểu có vẻ bộc phát vào cuối năm 2025, Thủ tướng Takaichi ám chỉ rằng một cuộc phong tỏa hải quân của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể được coi là một “tình huống đe dọa sự tồn vong” của Nhật Bản, qua đó có thể mở đường cho Tokyo sử dụng vũ lực theo quyền phòng vệ tập thể. Bất chấp làn sóng phản ứng dữ dội sau đó, bà vẫn chưa rút lại phát biểu này.

 

Những năm tới có thể sẽ đặc biệt nguy hiểm tại Đông Á nếu Trung Quốc cho rằng một nước Mỹ đang bị phân tâm và thiếu chuẩn bị đã tạo ra cơ hội để hoàn tất mục tiêu thống nhất với một Đài Loan không muốn bị sáp nhập vào đại lục. May mắn là quan hệ Mỹ – Nhật cho đến nay vẫn là một liên minh mà chính quyền Trump chưa vô tình hoặc cố ý phá hoại. Vì lợi ích không chỉ của Tokyo mà của cả hòa bình khu vực, người ta chỉ có thể hy vọng tình trạng đó sẽ tiếp tục được duy trì.

 

------------------------------

Eliot A. Cohen là cây bút cộng tác của The Atlantic. Ông là Giáo sư Danh dự tại Đại học Johns Hopkins và là tác giả cuốn sách sắp xuất bản The Strategist: How to Think About War and Politics.

 

Nguồn: Eliot A. Cohen, “Japan’s Strategic Turn”, The Atlantic, 06/09/2026

 

 

 

 

 


ĐÀI LOAN CÓ THỂ GIÀNH CHIẾN THẮNG NHƯ THẾ NÀO? (Holmes Liao và Dennis Blair – Foreign Affairs)

 



Đài Loan có thể giành chiến thắng như thế nào?

Holmes Liao và Dennis Blair  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế 

11/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/11/dai-loan-co-the-gianh-chien-thang-nhu-the-nao/

 

Một lực lượng hải quân linh hoạt hơn có thể giúp Đài Loan ngăn chặn Trung Quốc.

 

Nằm cách Trung Quốc một eo biển rộng khoảng 160 km, Đài Loan dựa vào hải quân như tuyến phòng thủ đầu tiên trước nguy cơ bị xâm lược. Lực lượng này phải có khả năng ngăn chặn các tàu đổ bộ lớn của quân đội Trung Quốc vượt Eo biển Đài Loan. Từ lâu, Đài Loan vẫn lấy những tàu chiến lớn như tàu khu trục và tàu hộ vệ làm nòng cốt cho hạm đội. Chúng vừa là biểu tượng phô trương sức mạnh quốc gia, vừa là công cụ thể hiện quyết tâm trước sức ép từ đại lục. Kế hoạch đóng tàu hiện nay của Đài Loan cũng tiếp tục đi theo hướng này, với mục tiêu thay thế hạm đội tàu mặt nước già cỗi bằng những chiến hạm mới, lớn hơn và đắt tiền hơn.

 

Vấn đề là các tàu mặt nước cỡ lớn lại đặc biệt dễ bị tổn thương trong vùng biển chật hẹp như Eo biển Đài Loan, nhất là khi những tiến bộ công nghệ đang khiến chúng ngày càng dễ bị phát hiện, theo dõi và tấn công. Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào các hệ thống tình báo, giám sát và trinh sát tiên tiến, gọi chung là ISR, cũng như tác chiến điện tử, máy bay không người lái và tên lửa. Vì vậy, những tàu mặt nước lớn của Đài Loan đang dần trở thành một điểm yếu. Nhưng Đài Loan vẫn có một lợi thế: chính những công nghệ đó cũng khiến các tàu đổ bộ lớn của Trung Quốc dễ bị tấn công hơn trong vùng biển hẹp, trong khi Bắc Kinh không thể thay thế chúng bằng những phương tiện nhỏ hơn và khó bị phát hiện hơn. Đài Bắc có thể khai thác sự bất đối xứng này bằng cách thay thế tàu khu trục và tàu hộ vệ cỡ lớn bằng số lượng lớn tàu chiến mặt nước nhỏ hơn, có khả năng sống sót cao hơn qua đợt tấn công đầu tiên của Trung Quốc nhưng vẫn đủ hỏa lực để đánh vào hạm đội xâm lược.

 

Hải quân Đài Loan hiện dự kiến đầu tư mạnh vào các tàu mặt nước cỡ lớn, bao gồm một chiến hạm mới khoảng 7.000 tấn và tối đa 12 tàu hộ vệ hạng nhẹ khoảng 3.000 tấn. Nhưng chính những con tàu lớn như vậy lại cản trở cuộc chuyển đổi căn bản mà Hải quân Đài Loan cần thực hiện để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc. Nếu muốn những con tàu đó sống sót trong một cuộc chiến tại Eo biển Đài Loan, Đài Bắc sẽ phải trang bị cho chúng các tính năng tàng hình và hệ thống phòng thủ cực kỳ tốn kém. Nhưng nếu không có những năng lực này, chúng sẽ quá dễ bị tổn thương để thực hiện nhiệm vụ chính trong thời chiến: ngăn chặn lực lượng xâm lược Trung Quốc vượt eo biển. Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy việc chế tạo những tàu chiến có năng lực tương đương vừa khó vừa tốn kém. Chương trình tàu hộ vệ lớp Constellation của Hải quân Mỹ, chẳng hạn, ban đầu được dự toán khoảng 1 tỷ USD mỗi tàu, sau đó chi phí tăng lên khoảng 1,5 tỷ USD trước khi chương trình bị hủy. Ngay cả với mức giá đó, các tàu này vẫn thiếu một số năng lực cần thiết để chiến đấu với đối thủ mạnh hơn trong vùng biển hẹp. Trong khi đó, toàn bộ chương trình đóng tàu của Đài Loan chỉ có ngân sách khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm.

 

Thay vì dồn nguồn lực vào những chiến hạm lớn, Đài Bắc nên chế tạo các tàu hộ tống nhỏ, có khả năng tàng hình, lượng giãn nước khoảng 700–1.000 tấn, được trang bị tên lửa và máy bay không người lái. Những tàu này khó bị phát hiện và nhắm mục tiêu hơn nhưng vẫn có đủ hỏa lực để tấn công các tàu Trung Quốc vượt eo biển. Nếu kết hợp chúng với các kế hoạch hiện nay về bệ phóng tên lửa di động trên bờ, máy bay mang tên lửa chống hạm và tám tàu ngầm, Đài Loan có thể xây dựng một hệ thống phòng thủ phân tán, khó bị phá hủy, đủ sức chịu đựng các đòn tấn công ban đầu và đẩy lùi một chiến dịch đổ bộ.

 

NHỮNG MỤC TIÊU DỄ BỊ TẤN CÔNG

 

Các tàu chiến lớn có thể là biểu tượng đầy uy lực của sức mạnh quốc gia, nhưng chúng cũng là những mục tiêu tương đối dễ bị tấn công và cái giá chính trị của việc mất chúng có thể rất lớn. Trong vùng biển chật hẹp bị bao phủ bởi mạng lưới giám sát dày đặc, việc dễ bị phát hiện nhanh chóng trở thành một điểm yếu chí tử. Một chiến hạm lớn bị đánh chìm không chỉ gây thiệt hại quân sự trước mắt mà còn có thể khiến lãnh đạo chính trị và quân sự trở nên dè dặt hơn trong việc mạo hiểm những tàu chiến còn lại nếu xung đột tiếp diễn.

Trong hơn bốn thập kỷ qua, các cuộc đụng độ hải quân lớn cho thấy bất kỳ lực lượng nào dự định chiến đấu gần bờ biển đối phương đều phải thận trọng trước việc xây dựng cấu trúc lực lượng dựa quá nhiều vào những chiến hạm đắt đỏ và khó thay thế. Chiến tranh Falkland năm 1982 giữa Argentina và Anh là một ví dụ điển hình. Argentina bước vào cuộc chiến với những tàu chiến đáng gờm, bao gồm tàu tuần dương General Belgrano và tàu sân bay Veinticinco de Mayo. Nhưng sau khi một tàu ngầm Anh đánh chìm Belgrano, Argentina giữ phần lớn hạm đội mặt nước còn lại, kể cả Veinticinco de Mayo, ở gần bờ hoặc trong cảng cho đến khi chiến tranh kết thúc.

 

Sáu năm sau, tại Vịnh Ba Tư, khả năng kết hợp trinh sát, máy bay, tàu chiến và vũ khí chính xác của Hải quân Mỹ đã gây thiệt hại nặng cho hải quân Iran trong Chiến dịch Praying Mantis. Chỉ trong một ngày, lực lượng Mỹ đánh chìm hoặc làm hư hại nặng một số tàu mặt nước Iran hoạt động trong vùng Vịnh chật hẹp, bao gồm hai tàu hộ vệ lớn. Nếu Chiến tranh Falkland cho thấy hậu quả chính trị của việc mất một chiến hạm lớn, thì Chiến dịch Praying Mantis làm nổi bật mối nguy khi phải đối đầu với một đối thủ sở hữu “chuỗi tiêu diệt” hiệu quả hơn nhiều, tức một mạng lưới cảm biến và thông tin liên lạc cho phép phát hiện, nhận dạng, theo dõi, nhắm mục tiêu và tấn công lực lượng đối phương. Đối với Đài Loan, bài học rất rõ: sức mạnh chiến đấu của một tàu lớn là vô nghĩa nếu nó không thể sống sót đủ lâu để tham chiến, và một tổn thất sớm có thể tạo hiệu ứng dây chuyền đối với toàn bộ hoạt động tác chiến sau đó của hải quân.

 

Về cả phương diện chính trị lẫn quân sự, mất một tàu chiến nhỏ sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với mất một chiến hạm lớn. Năm 2006, một tên lửa hành trình của Hezbollah đã đánh trúng tàu hộ tống Hanit của Israel ngoài khơi Lebanon. Con tàu hầu như không được cảnh báo trước, chỉ có rất ít thời gian để phát hiện và phản ứng với tên lửa được phóng từ bờ cách chưa đầy 20 km, trong khi một số hệ thống phòng thủ chưa được kích hoạt đầy đủ. Vụ tấn công khiến bốn thủy thủ thiệt mạng và gây hư hại cho con tàu, nhưng thủy thủ đoàn vẫn kiểm soát được tình hình và đưa tàu trở về. Israel cũng không vì vậy mà từ bỏ tàu hộ tống; ngược lại, nước này tiếp tục đóng các tàu hộ tống lớn hơn và được trang bị vũ khí mạnh hơn.

 

Quan trọng nhất đối với Đài Loan, chiến dịch trên Biển Đen của Ukraine sau khi Nga phát động cuộc xâm lược năm 2022 cho thấy một bên yếu hơn vẫn có thể kiềm chế một đối thủ mạnh hơn tại vùng biển tranh chấp mà không cần giành quyền kiểm soát biển hay sở hữu một hạm đội tương đương. Ukraine đã kết hợp tên lửa hành trình chống hạm phóng từ bờ, các đàn tàu mặt nước không người lái, máy bay không người lái và tình báo từ bên ngoài để khiến hoạt động hải quân Nga ở Biển Đen phải trả giá đắt, qua đó đẩy phần lớn hạm đội Nga ra xa bờ biển Ukraine. Việc soái hạm Moskva bị đánh chìm chứng minh rằng ngay cả một chiến hạm có hệ thống phòng không nhiều lớp cũng có thể bị khuất phục nếu đối phương xây dựng được một chuỗi tiêu diệt hiệu quả. Cuộc chiến hiện nay ở Iran cũng củng cố quy luật đó: Mỹ và Israel đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lực lượng tàu mặt nước Iran ngay từ đầu cuộc xung đột, nhưng lại gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiêu diệt các bệ phóng tên lửa phân tán, UAV, tàu tuần tra và tàu rải mìn. Vì vậy, dù mất phần lớn sức mạnh hải quân thông thường, Iran vẫn duy trì được khả năng đe dọa tuyến hàng hải và cản trở việc tiếp cận Eo biển Hormuz.

 

KHI NHỎ BÉ LÀ LỢI THẾ

 

Những ví dụ trên cho thấy một lực lượng hải quân yếu hơn không nhất thiết phải kiểm soát vùng biển ven bờ của mình để ngăn đối thủ mạnh hơn sử dụng khu vực đó. Vì vậy, tại Eo biển Đài Loan, mục tiêu hợp lý hơn là “chống xâm nhập trên biển” (sea denial): ngăn Trung Quốc tự do sử dụng vùng biển này để tiến hành một cuộc xâm lược. Để đạt được điều đó, Đài Loan không cần từ bỏ lực lượng tàu mặt nước. Nhưng họ phải xây dựng hạm đội theo cách khác: dựa trên số lượng lớn các tàu nhỏ có thể hoạt động độc lập nhưng vẫn chia sẻ thông tin và phối hợp tấn công, qua đó giúp toàn bộ lực lượng có khả năng sống sót cao hơn trước đợt tấn công đầu tiên và đủ sức đánh trả lực lượng xâm lược.

 

Phần Lan và Thụy Điển là những hình mẫu đáng tham khảo. Cả hai nước đều phải răn đe và phòng thủ trước một đối thủ lớn hơn và mạnh hơn là Nga, đồng thời đối phó với các thách thức chủ quyền tại vùng biển do mình kiểm soát và chuẩn bị trước nguy cơ bị tấn công đổ bộ. Với lực lượng hải quân xây dựng chủ yếu quanh các tàu cỡ tàu hộ tống, Phần Lan và Thụy Điển đã thành công trong việc đối phó với sức ép từ Nga, xua đuổi tàu ngầm Nga xâm phạm lãnh hải, áp giải các tàu Nga rời khỏi vùng biển của mình và gửi công hàm phản đối tới Moscow. Cả hai nước cũng sở hữu những mạng lưới trinh sát, thông tin liên lạc và hỗ trợ ra quyết định rộng khắp, tinh vi và liên tục được nâng cấp.

 

Việc tái cấu trúc hạm đội mặt nước của Đài Loan hoàn toàn nằm trong khả năng của nước này. Tháng 7 vừa qua, Tổng thống Lại Thanh Đức tham dự lễ biên chế tàu tuần tra tên lửa thứ tám và mới nhất của hải quân, một tàu hộ tống hạng nhẹ nhưng được trang bị hỏa lực mạnh, đóng trong nước theo thiết kế hai thân cải tiến giúp tăng tốc độ và độ ổn định. Dự kiến thêm bốn tàu loại này sẽ được biên chế vào cuối năm. Ngành đóng tàu Đài Loan đã có khả năng sản xuất nhanh các tàu như vậy, và quy mô sản xuất càng lớn thì hiệu quả càng cao. Duy trì dây chuyền sản xuất liên tục cũng giúp giảm chi phí, đồng thời cho phép từng lô tàu mới tích hợp thêm vũ khí, cảm biến và hệ thống không người lái khi các công nghệ này được phát triển. Mỗi tàu hiện có giá dưới 200 triệu USD, trong khi một chiến hạm 7.000 tấn có thể tốn khoảng 2 tỷ USD.

 

Những thay đổi đó cần đi kèm với một chương trình nâng cấp rộng hơn đối với mạng lưới cảm biến, thông tin liên lạc, UAV và tên lửa của lực lượng vũ trang Đài Loan. Hòn đảo này đã bắt đầu đầu tư vào một số lĩnh vực như vậy. Gói ngân sách đặc biệt gần đây cùng kế hoạch phát triển hải quân tiếp theo sẽ củng cố chuỗi tiêu diệt thông qua UAV giám sát trên biển, mạng lưới chỉ huy và kiểm soát được nâng cấp để điều phối lực lượng, cùng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định tác chiến có AI trợ giúp. Đây là những nền tảng thiết yếu cho một hệ thống đủ sức ngăn Trung Quốc tự do di chuyển qua Eo biển Đài Loan. Nhưng chính những công nghệ giúp chuỗi tiêu diệt của Đài Bắc hiệu quả hơn cũng khiến các tàu mặt nước lớn của nước này dễ bị tấn công hơn. Chỉ bằng cách tái cấu trúc và hiện đại hóa hạm đội mặt nước, Đài Loan mới có thể chuẩn bị đầy đủ cho nguy cơ bị xâm lược.

 

Một hạm đội mặt nước được tái cấu trúc cũng sẽ bổ trợ cho kế hoạch đóng tám tàu ngầm mới của Đài Loan, chiếc đầu tiên hiện đang trong quá trình thử nghiệm trên biển. Tàu ngầm di chuyển chậm hơn nhưng có khả năng tàng hình vượt trội so với tàu hộ tống. Tên lửa và UAV phóng từ tàu hộ tống có thể vô hiệu hóa tàu đối phương bằng cách đánh vào các mục tiêu phía trên mặt nước, trong khi ngư lôi từ tàu ngầm có thể đánh chìm chúng. Nói cách khác, thay đổi cách tiếp cận đối với hạm đội mặt nước là một phần thiết yếu để giúp các khoản đầu tư hải quân khác của Đài Loan phát huy hiệu quả cao hơn.

 

ĐƯA HẠM ĐỘI ĐI ĐÚNG HƯỚNG

 

Những trở ngại lớn nhất đối với quá trình chuyển đổi Hải quân Đài Loan mang tính thể chế nhiều hơn là kỹ thuật. Vì dễ nhìn thấy và gây ấn tượng, các tàu chiến lớn luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với giới chính trị. Chúng tạo ra hợp đồng cho các xưởng đóng tàu, những lễ biên chế hoành tráng, cảm giác về thành tựu quốc gia và bằng chứng trực quan cho thấy chính phủ nghiêm túc với quốc phòng. Trong khi đó, công chúng không thể nhìn thấy một nhà kho chứa đầy UAV hay một bệ phóng tên lửa di động được giấu trong núi. Đối với giới lãnh đạo hải quân cũng vậy, duy trì hiện trạng luôn dễ hơn thúc đẩy thay đổi căn bản. Các tàu khu trục và tàu hộ vệ hiện nay của Đài Loan, nhiều chiếc dựa trên thiết kế của Mỹ từ khoảng nửa thế kỷ trước, đã được vận hành lâu năm và rất quen thuộc, nên về mặt thể chế luôn là lựa chọn an toàn hơn.

 

Nhưng thay vì tiếp tục nâng cấp những tàu chiến già cỗi, thậm chí lỗi thời, Đài Loan nên từng bước cho chúng ngừng hoạt động và chuyển nguồn lực hạn chế sang các tàu mặt nước nhẹ mà nước này thực sự cần. Từ bỏ những nền tảng vũ khí quen thuộc đòi hỏi lãnh đạo chính trị và quân sự phải chấp nhận rủi ro, đồng thời vượt qua những khó khăn và chỉ trích vốn luôn đi kèm với thay đổi thể chế. Chẳng hạn, chương trình tàu ngầm nội địa đầu tiên của Đài Loan hiện đang chậm tiến độ. Nhưng những khó khăn như vậy là điều khó tránh khỏi khi phát triển các hệ thống phức tạp và không nên trở thành lý do để từ bỏ những khoản đầu tư cần thiết. Lãnh đạo chính phủ và quốc phòng cần tiếp tục ủng hộ các chương trình này và giải thích rõ cho công chúng vì sao chúng quan trọng, ngay cả khi đối mặt với chỉ trích từ phe đối lập.

 

Sau nhiều năm trì trệ và suy giảm, chi tiêu quốc phòng của Đài Loan cuối cùng cũng đang tăng lên. Ngân sách quốc phòng đề xuất cho năm 2027 nhiều khả năng sẽ vượt 3% GDP, trong khi cơ quan lập pháp đã thông qua một gói ngân sách quốc phòng đặc biệt trị giá 25 tỷ USD vào tháng 5, dù thấp hơn đáng kể so với mức 40 tỷ USD mà hành pháp đề xuất ban đầu. Nhưng Đài Loan sẽ không trở nên an toàn hơn nếu nguồn lực mới vẫn được chi theo những tư duy quốc phòng lỗi thời và tiếp tục đổ vào một số ít chiến hạm lớn, đắt đỏ và dễ bị tổn thương. Hòn đảo này cần một cấu trúc lực lượng phân tán, linh hoạt và có sức sát thương cao để đánh bại Trung Quốc tại eo biển. Một lực lượng hải quân như vậy có thể không gây nhiều ấn tượng trong các lễ duyệt binh, nhưng sẽ tạo ra sức răn đe hiệu quả hơn nhiều trước một cuộc tấn công tiềm tàng từ Trung Quốc.

 

----------------------

Holmes Liao là Cố vấn Cấp cao tại Cơ quan Vũ trụ Đài Loan và cựu Chủ tịch Danh dự tại Đại học Chiến tranh thuộc Đại học Quốc phòng Đài Loan.

 

Dennis Blair từng là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ từ năm 1999 đến năm 2002 và Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ từ năm 2009 đến năm 2010.






KẾ HOẠCH CHI TIÊU MẠNH TAY CỦA BÀ TAKAICHI SANAE GÂY LO NGẠI CHO THỊ TRƯỜNG (The Economist)

 



Kế hoạch chi tiêu mạnh tay của bà Takaichi Sanae gây lo ngại cho thị trường

The Economist  

Phạm Ánh Minh, biên dịch   -  Nghiên Cứu Quốc Tế

12/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/12/ke-hoach-chi-tieu-manh-tay-cua-ba-takaichi-sanae-gay-lo-ngai-cho-thi-truong/

 

Bà Takaichi đang đưa nhà nước trở lại vị trí trung tâm của nền kinh tế Nhật Bản.

 

Năm 1999, một nữ nghị sĩ mới bước sang nhiệm kỳ thứ hai và chưa được nhiều người biết đến đã đóng góp một bài viết đầy tham vọng cho một ấn phẩm bàn về tương lai của Nhật Bản. Takaichi Sanae hình dung rằng đến tháng 10/2010, bà sẽ đắc cử thủ tướng và thực hiện một chương trình truyền hình định kỳ vào sáng Chủ nhật để trực tiếp giao tiếp với công chúng. Dự đoán của bà Takaichi chỉ sai về thời điểm và phương tiện truyền tải: bà trở thành thủ tướng vào tháng 10/2025, và thay vì lên truyền hình, bà truyền tải thông điệp qua nền tảng X. Tuyển tập bài viết năm đó quy tụ các cựu học viên của Viện Quản trị và Chính phủ Matsushita, nơi bà Takaichi từng học hỏi từ nhà sáng lập Panasonic về cách nhìn chính trị như một nghệ thuật “quản trị quốc gia”.

 

Trên cương vị thủ tướng, bà Takaichi đang vận dụng bài học đó một cách rõ rệt. Wakatabe Masazumi, cựu Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản và là một trong những cố vấn kinh tế thân cận nhất của bà, nhận xét: “Bà ấy tư duy như một CEO của Nhật Bản.” Và với tư duy của một CEO, bà tin rằng đã đến lúc cần thực hiện những khoản đầu tư quy mô lớn. Khi bản ngân sách toàn diện đầu tiên dưới thời Takaichi dần thành hình, quy mô kế hoạch vực dậy nền kinh tế của bà cũng trở nên rõ ràng hơn. Chiến lược tăng trưởng dự kiến huy động 370 nghìn tỷ yên, tương đương 2,3 nghìn tỷ USD hay khoảng 55% GDP, vốn đầu tư từ cả khu vực công lẫn tư vào 17 lĩnh vực trong giai đoạn từ năm tới đến đầu năm 2041. Để tạo điều kiện cho kế hoạch này, bà đã thay đổi quy trình lập ngân sách, cho phép các bộ ngành đề xuất chi tiêu theo lộ trình nhiều năm. Các đề xuất sơ bộ cho ngân sách năm tới, công bố ngày 4/9, đạt mức kỷ lục 143 nghìn tỷ yên, tăng mạnh so với 122,5 nghìn tỷ yên trước đó. Thị trường bắt đầu lo ngại: quan ngại về triển vọng tài khóa đã có lúc đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm vượt 3% lần đầu tiên trong ba thập kỷ.

 

Trong nhiều năm, bà Takaichi mô tả chính sách kinh tế của mình như sự tiếp nối “Abenomics”, chương trình thân thiện với thị trường do cố Thủ tướng Shinzo Abe, một trong những người có ảnh hưởng lớn đối với bà, khởi xướng. Trong thời gian làm thủ tướng từ năm 2012 đến 2020, ông Abe triển khai chính sách tiền tệ siêu nới lỏng nhằm chống giảm phát, đồng thời coi cải cách quản trị doanh nghiệp là công cụ quan trọng để chấn chỉnh bộ máy lãnh đạo trì trệ của các doanh nghiệp Nhật Bản. Vào cuối nhiệm kỳ của ông, Morgan Stanley thậm chí còn so sánh di sản Abe với di sản của Margaret Thatcher.

 

Bà Takaichi chia sẻ với ông Abe khát vọng phục hưng đất nước, cũng như phần nào tinh thần quyết đoán của “Bà đầm thép”. Nhưng “Sanaenomics”, tên gọi bà dành cho chương trình kinh tế của mình, lại không thực sự mang tinh thần của “Abenomics”, càng không giống “Thatcherism”. Nhà kinh tế Jesper Koll nhận xét: “Bà Takaichi không có niềm tin cốt lõi rằng thị trường là cơ chế vận hành tối ưu.” Thay vào đó, bà đặt nhiều niềm tin hơn vào vai trò của nhà nước. Nếu đội ngũ cố vấn của ông Abe từng tập trung vào những biện pháp giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, thì các cố vấn của bà Takaichi lại bàn nhiều hơn về việc nên hướng dòng vốn vào những ngành công nghiệp nào.

 

Mục tiêu là sử dụng vốn mồi của chính phủ để kéo theo đầu tư tư nhân vào hàng loạt lĩnh vực được coi là chiến lược. Bà Takaichi đã trao thêm quyền lực cho các quan chức Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, cơ quan từng đóng vai trò định hướng nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng thần kỳ hậu chiến, đồng thời kiềm chế ảnh hưởng của phe chủ trương kỷ luật tài khóa tại Bộ Tài chính. Rapidus, công ty bán dẫn tiên tiến được chính phủ hậu thuẫn, là hình mẫu tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Tobias Harris thuộc công ty tư vấn Japan Foresight nhận xét: “Họ muốn áp dụng mô hình Rapidus cho mọi lĩnh vực.”

 

Các đồng minh của bà Takaichi cho rằng xu hướng toàn cầu hiện nay tạo cơ sở hợp lý cho cách tiếp cận đó. Một quan chức nhận định: “Thế giới đã thay đổi kể từ thời Abenomics. Bà ấy không chống lại cơ chế thị trường, nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ dựa vào thị trường là chưa đủ.” Dưới thời Tổng thống Joe Biden, Mỹ đã quay lại mạnh mẽ với chính sách công nghiệp, trong khi các doanh nghiệp được nhà nước hậu thuẫn của Trung Quốc ngày càng cạnh tranh quyết liệt hơn ở những phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị.

 

Những người ủng hộ bà Takaichi cũng cho rằng quỹ đạo tài khóa hiện tại của Nhật Bản đang mở ra một khoảng không thuận lợi cho việc chi tiêu mạnh tay hơn. Nhờ lạm phát và nguồn thu thuế tăng, tổng nợ công đã giảm từ mức đỉnh khoảng 230% GDP xuống dưới 210%; nếu tính tới khối tài sản tài chính đáng kể do chính phủ nắm giữ, nợ ròng hiện vào khoảng 130% GDP. Chính quyền lập luận rằng miễn tỷ lệ nợ trên GDP tiếp tục giảm trong dài hạn, việc không đạt thặng dư ngân sách cơ bản trong ngắn hạn, một mục tiêu từng được các chính phủ trước đặc biệt coi trọng, không nhất thiết là vấn đề nghiêm trọng. Các đề xuất ngân sách ban đầu tuy mang tính mở rộng nhưng chưa đến mức quá mạnh tay: tổng mức chi đề xuất chỉ cao hơn khoảng 2.400 tỷ yên so với tổng ngân sách chính thức cộng ngân sách bổ sung của năm trước, trong khi bà Takaichi muốn từng bước loại bỏ chính các gói ngân sách bổ sung này.

 

Tuy vậy, sự hoài nghi vẫn rất lớn. Trong một cuộc khảo sát gần đây với 48 nhà kinh tế học hàng đầu của Nhật Bản, có tới 35 người không tin rằng các kế hoạch đầu tư của chính phủ sẽ tạo ra mức tăng trưởng đủ lớn để duy trì xu hướng giảm của tỷ lệ nợ công trên GDP. Ngân sách mới cũng có nguy cơ phình to nhanh chóng. Dù chính quyền cam kết giảm phụ thuộc vào các ngân sách bổ sung, trên thực tế những gói này thường được sử dụng để ứng phó với các cú sốc bất ngờ. Bản ngân sách còn có một hạng mục đầu tư không đặt trần chi tiêu cho chương trình “Nước Nhật hùng cường và thịnh vượng”, được tài trợ bằng các loại “trái phiếu bắc cầu”, tức những khoản vay không được tính vào tỷ lệ nợ công trên GDP chính thức. Các bộ ngành đã đề xuất tới 12 nghìn tỷ yên chi tiêu qua cơ chế này, chủ yếu cho các dự án AI và không gian. Bộ Quốc phòng vẫn chưa công bố đề xuất cụ thể. Trong khi đó, cam kết cắt giảm thuế tiêu dùng của bà Takaichi sẽ có hiệu lực từ tháng 4 tới, tạo thêm áp lực lên ngân sách.

 

Chi phí trả nợ cũng đang tăng nhanh. Ngân sách năm tới dự kiến dành mức kỷ lục 36,6 nghìn tỷ yên cho nghĩa vụ trả nợ, tăng 17% so với năm trước. Bà Takaichi muốn Ngân hàng Trung ương Nhật Bản duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài hơn; hai nhân sự đầu tiên do bà bổ nhiệm vào hội đồng chính sách của ngân hàng đều là những người ủng hộ mạnh mẽ chính sách tiền tệ nới lỏng. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã nâng lãi suất từ 0,75% lên 1% vào tháng 6, và tình trạng lạm phát dai dẳng cùng đồng yên yếu càng củng cố lý do để tiếp tục thắt chặt. Các quan chức Mỹ cũng tỏ ra không hài lòng trước các chính sách tài khóa mở rộng của bà Takaichi, vốn bị cho là gây bất ổn thị trường trái phiếu, đồng thời chỉ trích Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vì không tăng lãi suất nhanh hơn. Thị trường hiện kỳ vọng một đợt tăng lãi suất nữa tại cuộc họp ngày 17–18/9; trong bối cảnh đó, đồng yên đã tăng lên mức cao nhất so với USD kể từ tháng 2.

 

Ngay cả khi bà Takaichi có thể đẩy dư địa tài khóa của Nhật Bản tới giới hạn, vẫn chưa rõ liệu lượng chi tiêu khổng lồ đó có tạo ra mức tăng trưởng như kỳ vọng hay không. Thành tích của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp trong việc lựa chọn những doanh nghiệp có khả năng trở thành “nhà vô địch” không mấy ấn tượng. Ngay cả Rapidus, dù đã đạt một số tiến bộ, vẫn chưa chứng minh được rằng họ có thể thực hiện đầy đủ những lời hứa ban đầu. Trong khi đó, các cải cách cơ cấu lại bị sao nhãng. Bà Takaichi đang mở rộng các kênh đầu tư của nhà nước nhưng đồng thời thu hẹp con đường dành cho lao động nhập cư vào Nhật Bản, dù nhập cư là một trong những yếu tố cần thiết để hạn chế tác động của tình trạng dân số suy giảm nhanh. Nỗ lực đáng kể nhất của bà trong việc nới lỏng quy định lại tập trung vào việc gỡ bỏ các hạn chế về giờ làm thêm.

 

Dù vậy, người đứng đầu bộ máy điều hành Nhật Bản vẫn không hề nao núng. Sau khi các đề xuất ngân sách ban đầu được công bố, bà Takaichi lên mạng xã hội X để bảo vệ cách tiếp cận của mình. Bà viết: “Các mức trần chi tiêu không nên trở thành rào cản khiến những ý tưởng tốt không nhận được nguồn lực cần thiết. Điều đó không có nghĩa là mọi đề xuất đều sẽ được thông qua. Chúng tôi sẽ đánh giá kỹ xem mỗi chính sách có thực sự mang lại hiệu quả hay không.” Xét cho cùng, phần lớn thành bại của chiến lược này sẽ phụ thuộc vào khả năng phán đoán của vị “CEO” đang điều hành đất nước.

 

----------------------

 

Nguồn: “Takaichi Sanae’s big-spending plans are unnerving markets”, The Economist, 09/09/2026







CÔNG GIÁO MIỀN NAM VIỆT NAM CÓ PHẢI LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẾ QUỐC? (Nguyen-Marshall, V. / 2009 – Journal of the Canadian Historical Association)

 



 

Công Giáo Miền Nam Việt Nam có phải là công cụ của đế quốc?

Nguyen-Marshall, V. (2009)  -   Journal of the Canadian Historical Association  

Lê Văn Luận, biên dịch

Lê Hồng Hiệp, biên tập

03/05/2020

https://nghiencuuquocte.org/2020/05/03/cong-giao-mien-nam-viet-nam-co-phai-la-cong-cu-cua-de-quoc/

 

 

Nguồn: Nguyen-Marshall, V. (2009). “Tools of Empire? Vietnamese Catholics in South Vietnam”, Journal of the Canadian Historical Association, 20 (2), 138–159.

 

 





View My Stats