Wednesday, 9 September 2026

CARNEY CẢNH CÁO NHỮNG NGÀY KHÓ KHĂN TRƯỚC MẮT KHI THUẾ NHẬP CẢNG TRẢ ĐŨA BẮT ĐẦU CÓ HIỆU LỰC (Nick Murray – Canadian Press)

 



Carney cảnh cáo những ngày khó khăn trước mắt khi thuế nhập cảng trả đũa bắt đầu có hiệu lực

Nick Murray  -  Canadian Press 

Sep 8, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/08/carney-canh-cao-nhung-ngay-kho-khan-truoc-mat-khi-thue-nhap-cang-tra-dua-bat-dau-co-hieu-luc/ 

 

TTAWA — Thủ tướng Mark Carney nói với dân Canada rằng việc nước này chuyển hướng khỏi Mỹ sẽ phải trả một giá nào đó, nhưng giải pháp thay thế còn tệ hại hơn nhiều.

 

https://assets-nnw.nationalnewswatch.com/articles/_rectangle/591919/8271670e8e6bcfd95ca689194fcbbd132d846959f047eedac13acb9a5f540a89.webp

Thủ tướng Mark Carney nói chuyện với giới truyền thông khi đến Văn phòng Thủ tướng và Hội đồng Cơ mật tại Ottawa, Thứ Ba, ngày 1 tháng 9 năm 2026. THE CANADIAN PRESS/Justin Tang

 

Trong một bài diễn văn bằng video phát hình trên toàn quốc, dự tính công bố vào Thứ Ba — chỉ vài giờ sau khi những biện pháp thuế nhập cảng trả đũa của Canada bắt đầu có hiệu lực — Carney nhắc lại kế hoạch của Canada nhằm đối phó với cuộc chiến thương mại của Mỹ bằng cách ký kết những thỏa ước thương mại mới với những quốc gia khác, để giảm bớt sự lệ thuộc vào Mỹ.

 

Ông Carney nói:

 

“Chúng ta có đủ mọi điều cần thiết để chuyển hướng và phát triển thịnh vượng.”

 

“Việc chuyển hướng đó sẽ phải trả một giá nhất định. Hành động bao giờ cũng có cái giá của nó. Nhưng cái giá ấy chẳng thấm vào đâu so với cái giá của việc đứng yên.”

 

Đây là video mới nhất trong một loạt video mà ông Carney bắt đầu thực hiện từ mùa xuân năm ngoái, nhằm thông báo cho người dân Canada về những chính sách của chánh phủ cũng như cách chánh phủ đối phó với những biện pháp thương mại của Mỹ.

 

Ông Carney nói mục tiêu là đưa Canada trở thành một quốc gia mạnh hơn và có sức chống chịu tốt hơn, để “không một quốc gia nào có thể bắt chúng ta làm con tin, và chúng ta có thể sống theo cách mà chúng ta muốn sống.”

 

Tháng trước, ông Carney đã chấm dứt những cuộc thương thuyết thương mại với Mỹ sau khi hai bên không đạt được một thỏa thuận trước thời hạn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đặt ra. Theo đó, Mỹ sẽ áp dụng một đợt thuế nhập cảng mới 50 % đối với gần 28 tỷ CAD hàng hóa Canada.

 

Trong bài diễn văn bằng video, ông Carney nhắc lại những điều ông từng tuyên bố trước đây rằng Mỹ đã tìm cách đưa ra những biện pháp hạn chế khả năng của Canada trong việc giao thương với những quốc gia khác, cũng như hạn chế khả năng quảng bá và bảo vệ ngôn ngữ và văn hóa Pháp.

 

Trong cuối tuần qua, phe Bảo thủ Liên bang tiếp tục yêu cầu ông Carney công bố đầy đủ chi tiết của thỏa thuận mà Canada đã quyết định không tiếp tục theo đuổi, đồng thời yêu cầu chánh phủ triệu tập Quốc hội trở lại sớm hơn ngày dự trù là 21 tháng 9.

 

Ông Poilievre nói tại một cuộc họp báo ở Regina hôm Chủ nhật:

 

“Chúng tôi yêu cầu Thủ tướng phải nói thẳng với dân chúng. Chúng ta biết thương thuyết với Tổng thống Mỹ không phải là chuyện dễ. Nhưng cách tốt nhứt để giữ mọi người đoàn kết và cùng chèo thuyền theo một hướng là phải minh bạch về những phí tổn, những quyết định và kế hoạch sắp tới.”

 

“Những người duy nhứt chưa được xem thỏa thuận đó chính là người dân Canada. Họ có quyền được xem để có thể phán đoán xem chúng ta đang đấu tranh vì điều gì và đang chống lại điều gì.”

 

Trong bài diễn văn bằng video, ông Carney nói những biện pháp thuế nhập cảng của ông Trump nhằm gây thiệt hại cho một số người Canada nhiều hơn những người khác. Mỹ liên tục nhắm vào những ngành thép, nhôm, xe hơi và gỗ xẻ của Canada, chủ yếu ảnh hưởng đến công nhân tại Ontario, Québec và British Columbia, trong khi công nhân tại những tỉnh như Alberta và Saskatchewan ít bị ảnh hưởng hơn.

 

Ông Carney nói trong bài diễn văn bằng video hôm Thứ Ba:

 

“Vào mùa xuân năm ngoái, tôi đã cảnh cáo rằng Mỹ đang tìm cách bẻ gãy chúng ta để rồi họ có thể làm chủ chúng ta. Và tôi đã hứa rằng điều đó sẽ không bao giờ, không bao giờ xảy ra.”

 

Trong gần hai năm qua, ông Trump nhiều lần nói tới ý tưởng biến Canada thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ; ông từng chế giễu và gọi ông Carney là “thống đốc” — cũng như từng gọi cựu Thủ tướng Justin Trudeau như vậy — và gần đây còn cáo buộc Canada muốn được đối xử “như một tiểu bang.”

 

Tháng Giêng năm 2025, trước khi tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump loại trừ việc sử dụng võ lực để sáp nhập Canada, nhưng nói ông sẽ cân nhắc sử dụng “võ lực kinh tế” để buộc Canada trở thành một phần của Mỹ.

 

Những biện pháp thuế nhập cảng hỗ tương của Canada bắt đầu có hiệu lực hôm Thứ Ba, để đáp lại đợt thuế nhập cảng 50 % mới nhứt của ông Trump hồi tháng trước, nhắm vào hàng chục sản phẩm, trong đó có mật ong, gậy khúc côn cầu, sữa và phô mai.

 

Thuế nhập cảng của Canada, từ 15 đến 50 %, chỉ nhắm vào những sản phẩm nằm trong danh sách của Mỹ, với tổng trị giá bằng đúng giá trị hàng xuất cảng bị đánh thuế, tức 27,8 tỷ CAD.

 

Ông Carney nói trong bài diễn văn:

 

“Tôi không tin vào việc leo thang cuộc xung đột; đó không phải là một điều có tính cách xây dựng.”

 

“Nhưng thuế nhập cảng của chúng ta là cần thiết để bảo vệ công nhân, bảo vệ những công ty và những cộng đồng của chúng ta. Chúng ta không thể để hàng hóa Mỹ vào Canada mà không chịu thuế, trong khi họ lại đánh thuế những công ty của chúng ta khi những công ty ấy xuất cảng hàng hóa sang Mỹ.”

 

Bài tường thuật này do The Canadian Press thực hiện và đăng lần đầu ngày 8 tháng 9 năm 2026.

 

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Carney warns of tough times ahead in Nick Murray | Canadian Press | September 8, 2026





TRUMP SẼ TÌM CÁCH ĐÁNH CẮP CUỘC BẦU CỬ GIỮA NHIỆM KỲ, CHỦ TỊCH DIỄN ĐÀN AN NINH QUỐC TẾ HALIFAX CẢNH CÁO (Robert Fife  - The Globe and Mail)

 



Trump sẽ tìm cách đánh cắp cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, Chủ tịch Diễn đàn An ninh Quốc tế Halifax cảnh cáo

Robert Fife   -   The Globe and Mail 

DCVOnline.net

Sep 8, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/08/trump-se-tim-cach-danh-cap-cuoc-bau-cu/

 

Người đứng đầu Diễn đàn An ninh Quốc tế Halifax danh tiếng cảnh cáo rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump đang chuẩn bị đánh cắp cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026.

 

https://www.theglobeandmail.com/resizer/v2/AD2I46FRCREXHMJXLBU6AOI25Y.JPG?auth=f43aa038a19909a9e4a67af2b182bb98f086020e5f7c49bbc7f6c50f470afc44&width=1200&quality=80

Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ nói dối về cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 nếu đảng Cộng hòa thất cử, theo lời Peter Van Praagh trong một bài tiểu luận. Evelyn Hockstein/Reuters

 

Peter Van Praagh, chủ tịch tổ chức nghiên cứu chính sách đặt tại Washington, viết trong một bài tiểu luận vừa được công bố rằng nhiều người Mỹ đã lầm khi tin rằng cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sẽ diễn ra một cách công bằng và ngay thẳng.

Ông nói rằng đối với một số người, những dấu hiệu cảnh cáo về kế hoạch được cho là của ông Trump nhằm đánh cắp cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11 đã quá rõ ràng — cũng giống như đã từng có rất nhiều lời cảnh cáo về những cuộc tấn công khủng bố nhắm vào lãnh thổ Mỹ trong những năm trước ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ông viết:

 

“Phải rút ra bài học chính từ thảm họa 11 tháng 9 — nối kết những điểm thông tin sẵn có và vận dụng trí tưởng tượng dựa trên hiểu biết của mình — để ngăn chặn cuộc tấn công mới nhắm vào dân chúng Mỹ: ý định của chính phủ Mỹ nhằm đánh cắp cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026.”

Peter Van Praagh

 

Ông Praagh đã gởi bài tiểu luận này hồi tuần rồi cho mạng lưới những giới chức phụ trách chính sách đối ngoại và an ninh của ông. Dan Dugas, cố vấn truyền thông của diễn đàn, cho biết ông Praagh không có lời bình luận nào thêm.

 

 

https://www.theglobeandmail.com/resizer/v2/CKLU6OTOVJBHZEQ7V3XNEDMSPQ.jpg?auth=6c525680c7032252d7851ca03d2dd5a4fa92bddc9fcfabe2070b3b8dab062070&width=1200&quality=80

Những người biểu tình giơ cao một biểu ngữ khi tham dự cuộc tập họp “Bảo vệ Lá phiếu” tại Đài tưởng niệm Lincoln ở Washington ngày 28 tháng 8. KEN CEDENO/AFP/Getty Images

 

Ông Praagh nói Tổng thống sẽ nói dối về cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 nếu đảng Cộng Hòa thất cử theo “một cách có phương pháp, có hệ thống và áp đảo đến mức”, nếu thuyết phục được đủ số người, “sẽ gây hỗn loạn, gieo sợ hãi và làm suy giảm niềm tin rằng những định chế dân chủ đủ mạnh để bảo vệ dân chúng Mỹ.”


Ông nói thêm:

 

“Nếu những nỗ lực này thành công, đó sẽ là dấu chấm hết cho nước Mỹ như chúng ta từng biết.”

 

Ông Praagh, một chuyên gia Canada về chính sách đối ngoại và cựu giám đốc cao cấp của German Marshall Fund of the United States, đã thành lập Diễn đàn An ninh Quốc tế Halifax năm 2009. Bộ Quốc phòng Canada cung cấp ngân khoản hằng năm cho tổ chức này.

Diễn đàn tổ chức những hội nghị thượng đỉnh hằng năm tại Halifax, quy tụ những dân biểu và nghị sĩ cao cấp của Quốc hội Mỹ cùng những tướng lãnh Mỹ và Canada, trong số những giới chức khác, để thảo luận những vấn đề an ninh quốc tế, chẳng hạn như cuộc chiến của Nga chống Ukraine.

Tuy nhiên, kể từ khi ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc, chính phủ của ông đã ngăn không cho những sĩ quan quân đội Mỹ tham dự hội nghị Halifax, mặc dù những nghị sĩ Mỹ vẫn tiếp tục tham dự.

Ông Praagh không phải là người duy nhất lên tiếng lo ngại rằng Tổng thống và những người theo ông sẽ tìm cách chiếm đoạt nền dân chủ Mỹ. Những nhân vật lãnh đạo đảng Dân Chủ, như Thống đốc California Gavin Newsom, và chính cựu luật sư của ông Trump, Ty Cobb, cũng đã lập luận rằng Tổng thống có ý định đánh cắp cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ nếu đảng Cộng Hòa thất bại trước đảng Dân Chủ.

Ông Praagh nhắc lại rằng ông Trump từng tuyên bố cuộc bầu cử năm 2020 — cuộc bầu cử mà ông thất bại trước Joe Biden — đã bị gian lận. Ông đã khuyến khích những người ủng hộ mình xông vào Quốc hội ngày 6 tháng 1 năm 2021.

Theo ông, sự khác biệt giữa lúc đó và hiện nay là những viên chức địa phương phụ trách bầu cử, cũng như những giới chức tại Bộ Tư pháp, FBI, Bộ Nội an, và cả Phó Tổng thống lúc bấy giờ là Mike Pence, đã từ chối làm theo lời dối trá về cuộc bầu cử ấy.

Nhưng lần này, ông Praagh nói, Tổng thống đã đặt những người ủng hộ mình vào vị trí lãnh đạo những cơ quan nói trên, “tất cả đều đã phủ nhận kết quả thực sự của cuộc bầu cử năm 2020 và ủng hộ những nỗ lực của ông ta nhằm đảo ngược kết quả ấy.”

Ông ghi nhận rằng trong mùa hè này, những thanh tra liên bang về bầu cử thuộc Bộ Tư pháp đã bất ngờ đến những địa điểm bỏ phiếu tại địa phương để phỏng vấn cử tri và kiểm tra những máy bỏ phiếu.

Ông nói người Mỹ nên lo ngại rằng ông Trump cũng có thể đưa những nhân viên Cơ quan Thực thi Di trú và Quan thuế (ICE) cùng những lực lượng Vệ binh Quốc gia đến những phòng phiếu trong kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Ông dẫn lại một bài báo của The Washington Post hồi tháng Hai, nói về một bản ghi nhớ dài 17 trang đang được lưu hành trong Tòa Bạch Ốc. Bản ghi nhớ này khuyến cáo Tổng thống nên tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia vào khoảng thời gian bầu cử giữa nhiệm kỳ và cáo buộc có sự can thiệp của ngoại quốc vào cuộc bầu cử năm 2020. Ông Praagh nói,

 

“Còn nữa, đầu năm 2026, Tổng thống nói với NBC News rằng ông chỉ chấp nhận kết quả cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ nếu ông xét thấy cuộc bầu cử đó trung thực; cũng trong cuộc phỏng vấn ấy, ông nói rằng nếu những cuộc bầu cử không thể được tổ chức một cách trung thực, ‘thì phải có một chuyện gì khác xảy ra.’”

 

Ông Praagh dự đoán rằng Tổng thống sẽ sử dụng quyền hạn của mình để tịch thu những máy đếm phiếu liên bang và những lá phiếu gởi qua bưu điện nếu đảng Dân Chủ thắng trong tháng 11, chiếm được Hạ viện và có thể cả Thượng viện.

Ông Praagh nói:

 

“Cách chắc chắn nhất để giải quyết những mối đe dọa đối với nền dân chủ Mỹ ngày nay cũng chính là lời khuyên thường được đưa ra nhất và dễ thực hiện nhất: Hãy đi bỏ phiếu.
Tin tốt lành là một số cử tri đi bầu áp đảo sẽ khiến kế hoạch của Tổng thống trở nên phức tạp hơn và khó thành công hơn rất nhiều.”


© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net

 

-------------------------

Nguồn: Trump will try to steal midterms, president of Halifax International Security Forum warns | Robert Fife | The Globe and Mail | 09/07/2026

 




CANADA HIỂU ĐIỀU CHÚNG TA KHÔNG CHỊU HIỂU : TRUMP CHỈ LÀ MỘT TRÒ CƯỜI (Rex Huppke – USA TODAY)

 



 

 

Canada hiểu điều chúng ta không chịu hiểu: Trump chỉ là một trò cười

Rex Huppke  -  USA TODAY 

Sep 9, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/09/canada-hieu-dieu-chung-ta-khong-chiu-hieu/

 

Người Canada đang nhìn rõ hơn thực tế về một vị tổng thống rõ ràng đã mất khả năng suy xét sáng suốt. Họ dường như còn nhìn rõ điều này hơn cả Đảng Cộng hòa, khoảng 30% người Mỹ, và một bộ phận đáng kinh ngạc trong giới truyền thông Mỹ.

 

https://www.usatoday.com/gcdn/authoring/authoring-images/2026/09/06/USAT/91641712007-20260904-t-193216-z-1523549726-rc-2-jcnaf-4-utj-rtrmadp-3-usatrump.JPG?width=1320&height=882&fit=crop&format=pjpg&auto=webp

Trump tại Tòa Bạc Ốc, 4 tháng 9 năm 2026. Evelyn Hockstein/Reuters

 

Thuế nhập cảng trả đũa của Canada đối với hàng nhập cảng từ Mỹ nay đã bắt đầu có hiệu lực; và, dù có thể bị cho là thiếu tinh thần ái quốc, tôi vẫn đứng về phía những người láng giềng phương Bắc trong cuộc chiến mậu dịch ngu xuẩn này — một cuộc chiến do chính tổng thống của chúng ta khởi xướng.

 

Lý do thật đơn giản. Thủ tướng Mark Carney và tỷ lệ người dân Canada ủng hộ ông một cách đáng kinh ngạc trong việc đối đầu với thái độ thù nghịch vô cớ của Tổng thống Donald Trump đang làm điều mà tất cả người Mỹ chúng ta đáng lẽ phải làm. Họ nhìn vào chính phủ này, nhận ra rằng Trump điên khùng, và dứt khoát nói: “Chúng tôi không chấp nhận chuyện đó.”

 

Người Canada đang đối diện với thực tế về một vị tổng thống rõ ràng là mất trí sáng suốt hơn cả Đảng Cộng hòa, khoảng 30 % người Mỹ, và một bộ phận đáng kinh ngạc trong giới truyền thông Mỹ.

 

 

Người Canada biết Trump điên khùng, nên thủ tướng của họ đứng lên đối đầu với ông ta

 

Tổng thống Donald Trump phát biểu trong một sinh hoạt tại Phòng Bầu Dục ngày 4 tháng 9, 2026.

 

Hãy xét cách Trump hành động trong dịp cuối tuần Lễ Lao Động. Vị tổng thống 80 tuổi này đã đưa lên danh mục Truth Social của ông ta hàng chục video và hình ảnh do AI tạo ra hôm 6 tháng 9, từ một tấm hình AI cho thấy ông ta đứng với một đám người máy, kèm dòng chữ “CHÚNG SẼ KHÔNG BAO GIỜ NGỦ NỮA”, cho đến một bài viết nói rằng tiểu bang New Mexico nên được đổi tên thành “Tân Mỹ.”

 

Ông ta còn chia sẻ một hình vẽ biếm họa chính mình trong vai một cầu thủ hockey đứng trên Carney đang ngã nằm trên mặt băng; rồi ngày 7 tháng 9 lại đưa lên một hình ảnh cho thấy bản đồ Canada và toàn thể Bắc Mỹ được tô màu đỏ, trắng và xanh, ngụ ý rằng Mỹ đã chiếm toàn bộ lục địa.

 

Ông ta cũng tuyên bố trên mạng xã hội, như thể chỉ cần phán một câu là thành luật, rằng đại công ty hàng không Bombardier của Canada không còn được bán máy bay tại Mỹ:

 

“KHÔNG ĐƯỢC BÁN BOMBARDIER NỮA TẠI Mỹ!”

 

Gác sang một bên chuyện Trump không thể đơn giản muốn cấm Bombardier là cấm, và giọng điệu của ông ta nghe chẳng khác gì một đứa trẻ tám tuổi thô lỗ đang ăn vạ, công ty Canada này đã gắn bó sâu đậm với nền kinh tế Mỹ.

 

Đài CTV News, dẫn lời Bombardier, ghi nhận rằng: “Bombardier tạo ra hàng chục ngàn công ăn việc làm cho 3.500 nhân viên trực tiếp tại Mỹ và gần 2.800 công ty cung cấp đặt tại Mỹ trên 47 tiểu bang,” cùng với năm trung tâm dịch vụ tại Mỹ, một kho phụ tùng ở Chicago và trụ sở Mỹ tại Wichita.

 

 

“Đừng làm meme nữa, đừng móc máy nữa, đừng cố tỏ ra cứng rắn”

 

https://www.usatoday.com/gcdn/authoring/authoring-images/2026/08/24/USAT/91440293007-20260822-t-170244-z-675973054-rc-2-r-3-nalrp-00-rtrmadp-3-usatrumptariffscanada.JPG?width=1320&height=876&fit=crop&format=pjpg&auto=webp

Thủ tướng Canada Mark Carney nói chuyện với giới truyền thông sau khi đình chỉ các cuộc thương thuyết mậu dịch với Mỹ, tại Ottawa, Ontario, Canada, ngày 22 tháng 8, 2026. Chris Tanouye/Reuters

 

Rõ ràng Carney nhìn thấu những lời lảm nhảm ngu xuẩn của Trump và hiểu rằng thương thuyết với một tên hề hoàn toàn vô ích. Gần đây ông nói:

 

“Khi người Mỹ ngưng làm meme, ngưng móc máy, ngưng cố tỏ ra cứng rắn và bắt đầu nghiêm chỉnh về việc thảo luận — thì chúng ta có thể thảo luận.”

 

Đó chính xác là phản ứng thích hợp đối với Trump, vị vua meme AI đầu óc lú lẫn của nước Mỹ. Và dân Canada hết lòng ủng hộ Carney.

 

Một cuộc thăm dò do The Globe and Mail thực hiện cho thấy 85 % người được hỏi “ủng hộ hoặc phần nào ủng hộ việc ông Carney bác bỏ” đề nghị thỏa thuận mậu dịch của chính phủ Trump. Và 80 % ủng hộ hoặc phần nào ủng hộ các biện pháp thuế nhập cảng trả đũa.

 

Đó là những con số làm người ta phải trố mắt. Chúc may mắn nếu muốn tìm được 85 % người Mỹ đồng ý với nhau về bất cứ chuyện gì.

 

 

Canada đang cho thấy Trump trẻ con đến mức nào

 

https://www.usatoday.com/gcdn/authoring/authoring-images/2026/09/04/USAT/91606419007-20260901-t-151936-z-1847696710-rc-20-vlakpe-60-rtrmadp-3-usatrumptariffscanada.JPG?width=1320&height=882&fit=crop&format=pjpg&auto=webp

Tổng thống Donald Trump, bên trái, nói chuyện với Thủ tướng Canada Mark Carney trong một bữa ăn trưa làm việc với các nhà lãnh đạo G7 và Trung Đông, tại Évian-les-Bains, Pháp, ngày 16 tháng 6 năm 2026. Evelyn Hockstein/Reuters

 

Lori Turnbull, giáo sư khoa Chính trị học tại Đại học Dalhousie ở Canada, gần đây nói với CTV News:

 

“Donald Trump đang hành động theo cái cách ông ta đang hành động, còn thủ tướng thì nói: ‘Này, chúng tôi sẽ không ngồi vào bàn với một người đang tham dự vào cái thứ rác rưởi này; chúng tôi sẽ chờ cho đến khi phía bên kia có thể đưa ra một người lớn nào đó để nói chuyện.’”

 

Turnbull khuyên Carney cứ tiếp tục làm ngơ trước tính trẻ con của Trump:

 

“Điều đó có thể thực sự khiến người Mỹ phải nghĩ: ‘Tên này đang làm cái quái gì vậy? Đây không phải là cách người ta tiến hành một mối quan hệ mậu dịch, hay bất cứ mối quan hệ nào.’”

 

Điểm cuối cùng đó mới chính là vấn đề. Những gì chúng ta chứng kiến từ Trump trong suốt cuối tuần vừa rồi — và những gì chúng ta chứng kiến nơi ông ta mỗi ngày — đáng lẽ phải khiến từng người Mỹ tự hỏi: Tên đó đang làm cái quái gì vậy?

 

Chúng ta không đang đối phó với một người có đầu óc hoàn toàn bình thường. Đó không phải là một ý kiến. Đó là một sự kiện hiển nhiên đến chói mắt đối với bất cứ ai chịu khó chú ý; và bất cứ ai vẫn còn giả vờ rằng tổng thống của chúng ta đang hành xử theo một cung cách gần với bình thường đều chỉ đang tự lừa dối mình.

 

Coi Trump như một người bình thường là không khách quan. Đó là vô trách nhiệm.

 

Tại sao những nhà báo chuyên theo dõi vị tổng thống này không liên tục đặt câu hỏi về cách hành xử thất thường của Trump — chẳng hạn như việc khởi động một cuộc chiến mậu dịch lố bịch với các đồng minh Canada của chúng ta?

 

Tại sao họ không truy vấn, truy vấn mãi, và truy vấn mãi nữa những viên chức trong chính phủ hoặc giới chức Đảng Cộng hòa, buộc họ phải giải thích tại sao tổng thống dường như bị ám ảnh với việc đưa lên mạng xã hội những thứ rác AI quái đản từ một thế giới đảo điên?

 

Những câu hỏi về cách hành xử bất thường của ông ta lúc nào cũng phải ở ngay đầu môi những nhà báo.

 

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Canada understands what we refuse to: Trump is a joke | Rex Huppke | USA TODAY | USA TODAY | Sept. 8, 2026

 





CÔNG TY VIỆT NAM DÙNG TIN GIẢ DO AI TẠO RA ĐỂ KIẾM TIỀN --- NHẮM VÀO ĐỘC GIẢ CANADA (CBC News)

 



Công ty Việt Nam dùng tin giả do AI tạo ra để kiếm tiền — nhắm vào độc giả Canada

Eric Szeto, Jeff Yates, Christian Paas-Lang, Jordan Pearson, Ivan AngelovskiCBC News

Sep 9, 2026

https://dcvonline.net/2026/09/09/cong-ty-viet-nam-dung-tin-gia-do-ai-tao-ra-de-kiem-tien/

 

HÌNH : https://dcvonline.net/wp-content/uploads/2026/09/NgoAnhTan_HTV_Network.jpg

Ngô Anh Tân là CEO của một công ty chuyên làm tràn ngập bảng tin Facebook trên toàn thế giới bằng tin giả và những bài đăng "câu view" (clickbait) do AI tạo ra. Nhóm điều tra hình ảnh của đài CBC và chương trình Decrypteurs thuộc đài Radio-Canada đã lần ra dấu vết của anh ta tại Việt Nam — dưới đây là cách chúng tôi thực hiện điều đó.

 

Cuộc điều tra của CBC/Radio-Canada phanh phui mạng lưới hàng trăm trang Facebook và trang mạng

 

Những bài viết “hoàn toàn lừa dối” xuyên tạc cảnh tàn phá một thành phố Mỹ và khơi dậy xung đột tôn giáo

 

https://i.cbc.ca/ais/87abb97b-25ce-4b9b-afe4-c656cc969689,1787759644830/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Một cuộc điều tra của CBC/Radio-Canada đã phanh phui hàng trăm trang Facebook và trang mạng xuất phát từ Việt Nam, chuyên đăng tải những nội dung giả tạo và sai lạc. (Ảnh tổng hợp: Daniel Rofusz/CBC; Juana Gibbs/YouTube, Life is Colorful/Facebook)

 

Tóm lược

 

Theo cuộc điều tra của CBC News, HTV Network Company Limited là một công ty truyền thông được thành lập tại Việt Nam năm 2024, với số vốn ban đầu 7 tỷ đồng, tương đương khoảng 350.000 CAD . Hồ sơ công ty ghi tên Ngô Anh Tân ở chức vụ Tổng Giám đốc.

 

Mạng lưới hoạt động như thế nào?

 

Theo cuộc điều tra của CBC/Radio-Canada, HTV Network có liên hệ với một mạng lưới gồm gần 200 trang Facebook, với hơn 55 triệu người theo dõi, dẫn độc giả tới khoảng 50 trang mạng. Những trang này phổ biến những nội dung chính trị, tôn giáo và tin tức giả mạo hoặc sai lạc, nhiều khi được tạo ra bằng AI.

 

·        Điều hành một mạng lưới rất rộng trên mạng xã hội: Hàng trăm trang Facebook được dùng để phổ biến nội dung và dẫn độc giả tới những trang mạng bên ngoài. Một số trang còn liên hệ với những trương mục TikTok và những hoạt động tuyển dụng nhân viên sản xuất nội dung của HTV.

 

·        Dùng AI để sản xuất nội dung hàng loạt: Công ty sử dụng AI để tạo ra những bài viết, hình ảnh và nội dung có tính giật gân với số lượng lớn. Loại nội dung rẻ tiền, kém phẩm chất này thường được gọi là “AI slop”, tức nội dung rác do AI sản xuất.

 

·        Nhắm vào độc giả quốc tế, trong đó có Canada: Mạng lưới này hướng tới người sử dụng tại Anh, Âu Châu, Mỹ và Canada. Nội dung nhằm thu hút sự chú ý bằng những câu chuyện gây sốc hoặc những tựa đề có tính câu độc giả.

 

·        Kiếm tiền bằng quảng cáo: những bài đăng trên Facebook thường kèm theo đường dẫn đưa người đọc tới những trang mạng đầy quảng cáo. Qua đó, mạng lưới có thể tạo doanh thu từ quảng cáo và sự truy cập của độc giả. Trong số những quảng cáo mà CBC ghi nhận, có quảng cáo của Ngân hàng Montréal, ngành du lịch Nova Scotia và thuốc trị nấm.

 

Nói một cách đơn giản, mô thức hoạt động là: dùng AI sản xuất hàng loạt nội dung gây chú ý phổ biến qua mạng lưới Facebook câu người đọc bấm vào đường dẫn đưa họ tới những trang mạng chứa đầy quảng cáo biến số lượt truy cập thành doanh thu. Đây là những gì mà cuộc điều tra của CBC cho thấy đang hoạt động như một kỹ nghệ sản xuất nội dung rác nhằm kiếm tiền từ quảng cáo.

 


 

Một cuộc điều tra của CBC/Radio-Canada đã phanh phui hàng trăm trang Facebook và trang mạng xuất phát từ Việt Nam, chuyên đăng tải những nội dung giả tạo và sai lạc.

 

Đầu năm 2026, trong một buổi tiệc của công ty với những linh vật mặc y phục hóa trang nhảy múa và pháo bông nổ sáng, Tổng Giám đốc HTV Network bước lên sân khấu, tay cầm một tấm bảng viết bằng tiếng Việt: “Doanh Thu Đột Phá.” Dịch ra tiếng Anh là: “Record Revenue” — Doanh thu kỷ lục.

 

Ngô Anh Tân, Tổng Giám đốc công ty, có lý do để ăn mừng đêm hôm đó. Gần hai năm sau ngày ra đời như một “công ty truyền thông quốc tế”, tự giới thiệu là cơ quan nối liền “thế giới với nền báo chí có thẩm quyền”, HTV nay đã có ít nhất 100 nhân viên, theo một bản tin tuyển dụng của công ty tại Việt Nam.

 

Nhưng những gì công ty này tự quảng cáo về hoạt động của họ lại khác hẳn với sự thật, theo kết quả điều tra của Đơn vị Điều tra Hình ảnh thuộc CBC và chương trình Décrypteurs của Radio-Canada.

 

Phanh phui một “đế quốc” tin giả bằng AI tại Việt Nam

 

VIDEO :

We exposed a secret AI slop empire operating from Vietnam

 

 

Từ Hà Nội, Ngô Anh Tân và nhóm cộng sự bí mật điều hành một mạng lưới sản xuất hàng loạt nội dung rác bằng AI, làm ô nhiễm những nguồn tin trên mạng xã hội khắp thế giới.

Mục tiêu của họ là lôi kéo người sử dụng bằng những câu chuyện giả tạo và giật gân — từ chuyện Elon Musk sẽ cấm xe Tesla tại Canada cho tới những bài viết theo lối câu độc giả, lợi dụng vụ nổ súng tại Tumbler Ridge.

 

Nhóm điều tra tìm thấy gần 200 trang Facebook, với hơn 55 triệu người theo dõi, chia sẻ đường dẫn tới khoảng 50 trang mạng có liên hệ với HTV. Những trang mạng này kiếm tiền bằng cách đặt quảng cáo, thường ngay bên cạnh những bài viết chính trị hoặc tôn giáo có tính kích động hay sai lạc.

 

https://i.cbc.ca/ais/11873473-c42c-4df4-b26c-56e4e749731f,1787759664437/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Những bài đăng nhắm đến người dùng trên toàn thế giới, gồm cả Canada. Một số bài tuyên truyền rằng Elon Musk sắp cấm xe Tesla tại Canada, trong khi số khác dùng tựa đề giật gân để lợi dụng vụ nổ súng ở Tumbler Ridge. Những trang này đều có liên kết với HTV Network tại Việt Nam. (Ảnh tổng hợp: Daniel Rofusz/CBC; Locker Room Talk/Facebook; Milano Gaming/Facebook)

 

Fenwick McKelvey, giáo sư chuyên ngành truyền thông tại Đại học Concordia ở Montréal, nói:

 

“Phạm vi của những việc đang diễn ra ở đây thật đáng kinh ngạc. Hoàn toàn là một sự lừa dối.”

 

HTV Network lại mang cùng tên với một đài truyền hình Việt Nam hợp pháp của nhà nước. Sự trùng tên này càng làm cho việc truy tìm hoạt động của công ty nói trên thêm khó khăn.

 

https://i.cbc.ca/ais/cc12ee1a-bb64-4d89-b9a5-6ee2c25f2e68,1787759690517/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Ngô Anh Tân, chủ công ty HTV, cầm tấm biển có dòng chữ “Doanh thu kỷ lục” trong một buổi tiệc của công ty. Buổi tiệc có màn bắn pháo bông và những tiết mục nhảy của linh vật hình ếch. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; Nhung Nhung/Facebook, Trang Dang/Facebook)

 

 

“Ai cũng được lợi, trừ người Canada”

 

Cách làm của công ty tương đối đơn giản.

 

Họ dùng AI sản xuất hàng loạt những bài viết giả tạo — chẳng hạn một bài mô tả chuyện “Mỹ mất thành phố chính” sau cuộc tấn công của Tổng thống Nga Vladimir Putin — rồi đưa những bài này lên những trang Facebook do họ điều hành, kèm theo một đường dẫn.

 

Người đọc bấm vào đường dẫn sẽ được đưa tới một trong rất nhiều trang mạng của HTV. Tại đây, những bài viết phủ đầy quảng cáo, từ quảng cáo thuốc trị nấm cho tới quảng cáo của Ngân hàng Montréal và ngành du lịch Nova Scotia.

 

https://i.cbc.ca/ais/1dacc177-142f-44ab-a1ce-40c8de0bde23,1787759709769/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Những trang này – do một văn phòng tại Hà Nội, Việt Nam điều hành – thường đăng tải nội dung chính trị hoặc tôn giáo giả mạo hay gây hiểu lầm nhằm lôi kéo người dùng nhấp vào đường dẫn đến một trang web bên ngoài. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; Life is Colorful/Facebook)

 

Những quảng cáo mà CBC xem được do những hệ thống quảng cáo của những công ty thứ ba cung cấp, chứ không phải do chính những công ty được quảng cáo đăng lên.

 

Cuộc phân tích của CBC/Radio-Canada cũng cho thấy trong một số trường hợp, họ khai thác những trang Facebook này để kiếm tiền.

 

Qua những tin nhắn trao đổi, Tổng Giám đốc HTV là Ngô Anh Tân nói với CBC/Radio-Canada rằng ông không có những trang Facebook hay trang mạng nào.

 

https://i.cbc.ca/ais/6d74229a-857b-4160-9619-2a0523fc7ca3,1787759731423/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Khi người dùng nhấp vào đường dẫn, họ sẽ được đưa đến những trang web tràn ngập quảng cáo. Những quảng cáo đa dạng này, từ dịch vụ của Ngân hàng Montreal hay thông tin du lịch Nova Scotia cho đến thuốc trị nấm chân. Việc kiếm tiền từ một số trang Facebook chính là cách công ty tạo ra phần lớn doanh thu của mình. (Daniel Rofusz/CBC)

 

Khi được hỏi tại sao số điện thoại của ông lại trùng với số điện thoại ghi trên trang mạng HTV, ông trả lời: “Có lẽ có người đã lấy thông tin của tôi.”

 

Tuy nhiên, hồ sơ công ty và giấy tờ đăng ký tên miền cũng phù hợp với những dữ kiện cá nhân của Ngô Anh Tân.

 

Ông ta nhiều lần phủ nhận rằng ông biết đến những trang mạng hay trang Facebook của HTV. Khi được CBC/Radio-Canada yêu cầu trả lời bằng văn bản, ông chỉ đáp: “Tôi không hiểu quý vị muốn nói gì.”

 

https://i.cbc.ca/ais/1ae8a019-9d79-4310-9542-64f0554e420f,1787771055758/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Số điện thoại của CEO Ngô Anh Tân trùng khớp với thông tin trên trang web HTV, dữ liệu tên miền và hồ sơ doanh nghiệp. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; HTV Network, DomainTools, Nguyễn Thanh Tú)

 

Ngày hôm sau, trang mạng của công ty HTV bị đóng. Danh mục Facebook của Ngô Anh Tân chuyển sang trạng thái riêng tư; nhiều dấu vết trên mạng mà CBC/Radio-Canada đã dùng để nối công ty này với những danh mục và trang mạng liên hệ cũng biến mất.

 

https://i.cbc.ca/ais/87d820f5-9749-42b4-a4ee-8dfbf9277413,1787759783433/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Vào ngày 30 tháng 7, một ngày sau khi CBC liên hệ với Ngô Anh Tân về vai trò của ông tại HTV Network, trang web của công ty này đã bị gỡ bỏ. Nhiều manh mối dùng để liên kết công ty với những trang Facebook và trang web liên quan cũng biến mất. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; HTV Network)

 

Ngày 30 tháng 7, một ngày sau khi CBC liên lạc với Ngô Anh Tân để hỏi về vai trò của ông trong mạng lưới HTV, trang mạng của công ty bị đóng. Nhiều manh mối dùng để liên kết công ty với những trang Facebook và trang mạng khác cũng biến mất.

 

Aengus Bridgman, giám đốc Media Ecosystem Observatory — một dự án phối hợp giữa Đại học McGill và Đại học Toronto — cho rằng chính Facebook đã tạo ra những điều kiện khuyến khích loại nội dung kém phẩm chất nhưng dễ khiến người ta bấm vào.

 

Công ty Meta, chủ nhân Facebook, gần đây đã mời người sử dụng tham gia chương trình dành cho những người sáng tạo nội dung, trong đó họ có thể kiếm tiền qua những đoạn phim ngắn, hình ảnh và bài viết.

 

Bridgman nói muốn giải quyết vấn đề này thì Meta phải chịu một cái giá thực sự vì đã tạo điều kiện cho kiểu lừa đảo nói trên — chẳng hạn một khoản tiền phạt đáng kể.

 

Theo ông, Meta thu được sự tương tác của người sử dụng trên hệ thống của mình và thu được tiền.

 

“Ai cũng được lợi, trừ người Canada, những doanh nghiệp Canada và nền dân chủ Canada.”

 

Meta không trả lời yêu cầu bình luận của CBC/Radio-Canada.

 

 

CBC/Radio-Canada lần ra mạng lưới này như thế nào

 

Bằng cách phối hợp hồ sơ công ty, những cuộc điều tra tại chỗ ở Việt Nam và những nhu liệu như DomainTools, Darkside và OSINT Industries, nhóm điều tra CBC/Radio-Canada đã phanh phui cách thức mạng lưới những trang Facebook và trang mạng này liên hệ với HTV Network.

 

Mạng lưới nói trên nhắm tới độc giả tại Anh, Âu Châu, Mỹ và Canada.

 

Cuộc điều tra bắt đầu từ một phúc trình tháng 6 năm 2026 của Media Ecosystem Observatory về “Nền kinh tế tin rác của Facebook”, trong đó xác định hàng trăm trang Facebook và trang mạng điều hành từ Việt Nam.

 

CBC/Radio-Canada tiếp tục lần theo những dấu vết trong phúc trình ấy và tìm thấy một địa chỉ điện thư đặc biệt — có chứa chuỗi chữ “kolax9843” — trên một trong những trang mạng do MEO xác định.

 

Địa chỉ điện thư này là địa chỉ liên lạc chính của hàng chục trang mạng kém phẩm chất, được dựng theo cùng một khuôn mẫu. Một trong số đó có tên Autulu.

 

Riêng những bài viết đầy quảng cáo từ trang này đã được hơn 20 trang Facebook chia sẻ, trong đó có “Man City Daily News” và “Wonderful World News”, với tổng cộng hơn 50.000 người theo dõi.

 

https://i.cbc.ca/ais/5bc630c8-1cc8-4746-b0d0-83df4747e8bc,1787680709560/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C2259%2C1080%29%3BResize%3D1280

Danny Fernandes – một trang Facebook có hơn một triệu người theo dõi – đã đăng tải nội dung chính trị giả mạo để thu hút tương tác. Bài đăng có chứa liên kết dẫn đến một trang web sử dụng địa chỉ email “kolax9843”; CBC/Radio-Canada đã xác định địa chỉ này có liên hệ với HTV Network tại Việt Nam. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; Danny Fernandes/Facebook)

 

Một trang Facebook đã được xác nhận danh tánh, mang tên “Danny Fernandes” theo tên một nhạc sĩ Canada, có hơn một triệu người theo dõi.

 

Trang này từng phổ biến những bài viết với những tựa như “tám triệu phiếu của đảng Dân Chủ vừa biến mất”, hay “con gái riêng của Kamala bất ngờ đưa ra một thông điệp mạnh mẽ vào ngày Trump nhậm chức.”

 

Fernandes không trả lời CBC.

 

Ông Bridgman nói:

 

“Càng đào sâu, người ta càng thấy nản lòng.”

 

Với số người theo dõi và số lượng trương mục lên tới mức này, theo ông, đây rất có thể là một hoạt động kinh doanh kiếm tiền đáng kể.

 

CBC/Radio-Canada còn tìm thấy một trang mạng khác sử dụng địa chỉ điện thư “kolax9843”. Đó là trang mạng của công ty FG Media Corp., trong đó có một bức hình chụp một nhóm người đứng trước một tấm bảng.

 

https://i.cbc.ca/ais/dcf2ffef-dc8d-4ca2-87be-a87c7f965eee,1787759823159/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1894%2C1062%29%3BResize%3D1280

HTV Network đã đăng tin tuyển dụng chuyên viên tiếp thị nội dung (content marketer) để tập trung vào các xu hướng tại Mỹ và châu Âu, đồng thời quản lý các trang Facebook bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Mức lương cho các vị trí này cao gấp hai lần mức lương trung bình tại Việt Nam. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; HTVONE1/TikTok)

 

 

Công ty HTV Network

 

Những hình ảnh do những nhân viên HTV đăng trên Facebook và TikTok, được CBC/Radio-Canada nhận diện, cho thấy một văn phòng khá đông người làm việc.

 

Công ty cũng thường xuyên đăng quảng cáo tuyển nhân viên tiếp thị nội dung trên Facebook, với mức lương có thể cao hơn gấp đôi mức lương trung bình hằng năm tại Việt Nam.

 

Một nhân viên HTV còn đăng trên Facebook cá nhân một bức hình của mình tại nơi làm việc. Trên màn ảnh máy điện toán phía sau, trình duyệt cho thấy người này đang đăng nhập với tư cách quản trị viên của một trang Facebook mang tên “I Love Rugby – Kelce.”

 

https://i.cbc.ca/ais/8852737e-ad71-43a5-b0f4-a1fc0d0eb08b,1787759850306/full/max/0/default.jpg?im=Crop%2Crect%3D%280%2C0%2C1920%2C1080%29%3BResize%3D1280

Một nhân viên của HTV đang điều hành trang Facebook có tên ‘I Love Rugby – Kelce’ (hiển thị ở góc trên bên trái). Trang này dẫn đến trang web Autulu – một trang có liên kết với Mạng lưới HTV. (Ảnh phối hợp: Daniel Rofusz/CBC; I Love Rugby – Kelce/Facebook, Facebook)

 

Những đường dẫn trên trang Facebook này đưa người sử dụng tới trang mạng Autulu.

 

Địa chỉ điện thư “kolax9843” cũng xuất hiện trên một trang mạng tên Longbientruck, ghi danh dưới tên Ngô Anh Tân. Dữ liệu tên miền cho thấy số điện thoại tại đây trùng với số điện thoại trên trang mạng HTV Network.

 

Hồ sơ công ty cho thấy HTV Network Company Limited thành lập năm 2024, với số vốn khởi đầu là 7 tỷ đồng Việt Nam, tương đương khoảng 350.000 CAD. Hồ sơ cũng ghi cùng số điện thoại nói trên.

 

Ngô Anh Tân là Tổng Giám đốc trong hồ sơ đó.

 

Sau khi CBC/Radio-Canada liên lạc với công ty, HTV thêm vào những trang mạng một lời ghi chú, tuyên bố rằng những bài viết trên đó là “hư cấu và chỉ nhằm mục đích giải trí.”

 

 

Nội dung AI kém phẩm chất

 

Sự xuất hiện của AI đã làm phát sinh cả một kỹ nghệ sản xuất nội dung rẻ tiền, kém phẩm chất với số lượng lớn.

 

Craig Silverman, đồng sáng lập The Indicator — một ấn phẩm chuyên phanh phui những hình thức lừa đảo trên môi trường kỹ thuật số — cho rằng sự phát triển của AI, cộng với những thay đổi trong chính sách kiếm tiền của Meta từ năm 2025, đã làm cho loại nội dung này lan tràn.

 

Silverman nói loại “nội dung rác do AI tạo ra” này rõ ràng không phải là một ưu tiên của Meta.

 

Theo ông, trong nhiều năm Meta đã chú trọng tới việc đưa ra nhiều biện pháp kỹ thuật, đồng thời sử dụng nhân viên kiểm soát, nhằm loại trừ chính loại nội dung này.

 

Thế nhưng nay, bằng chính những quyết định của họ, Meta dường như đã “buông xuôi” việc ấy.

 

Ông nói đó là điều “hoàn toàn đáng kinh ngạc.”

 

Meta không trả lời những câu hỏi về việc liệu những trang Facebook nói trên có vi phạm chính sách của công ty về Hành xử giả tạo có phối hợp (Coordinated Inauthentic Behavior) hay không.

 

Tại Việt Nam, Facebook phục vụ khoảng 60 đến 70 triệu người. Riêng năm 2018, hệ thống này đã đem lại cho công ty khoảng 1 tỷ Mỹ kim doanh thu hằng năm.

 

Victoire Rio, giám đốc điều hành tổ chức bất vụ lợi What To Fix, chuyên vận động thay đổi chính sách và đòi hỏi những đại công ty kỹ thuật phải chịu trách nhiệm, cho rằng điều đáng chú ý tại Việt Nam là quốc gia này có một lực lượng thanh niên rất đông đảo, có tinh thần kinh doanh cao và được học hành khá tốt.

 

Bà nói:

 

“Rất nhiều tác nhân … đang hoạt động hết sức công khai mà không thấy có một hình thức trách nhiệm nào rõ rệt.”

 

© 2026 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net

 


Nguồn: Vietnamese firm targets Canadians with fake AI news for profit, CBC/Rad-Can investigation reveals | Eric Szeto, Jeff Yates, Christian Paas-Lang, Jordan Pearson, Ivan Angelovski · CBC News · Sep 09, 2026

 

 

 

 


CHỦ QUYỀN AI, và AI ĐANG NẮM GIỮ NÓ (Phạm Vũ Thiều Quang / Nghiên Cứu Quốc Tế)

 



Chủ quyền AI, và ai đang nắm giữ nó

Phạm Vũ Thiều Quang     -    Nghiên Cứu Quốc Tế  

09/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/09/chu-quyen-ai-va-ai-dang-nam-giu-no/

 

Mỹ vừa chào bán cho các đối tác khái niệm “chuỗi AI có chủ quyền”, nhưng đồng thời cảnh báo các chính phủ đừng dại dột tự tái tạo toàn bộ chuỗi công nghệ này trong biên giới của mình. Đằng sau nghịch lý ấy là một bài học lịch sử từ hơn sáu thập kỷ trước. Một nguyên tắc ra đời nhằm bảo vệ quyền tự chủ của các quốc gia yếu thế không đồng nghĩa với việc những quốc gia đó đương nhiên có đủ năng lực để tận dụng nó một cách hiệu quả.

 

Tháng 6/2026, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách Kinh tế Jacob Helberg lên tiếng cảnh báo các quốc gia về “bẫy chủ quyền số”. Mở đầu bài bình luận, Helberg nhận xét rằng hiếm có khái niệm nào dễ làm hài lòng các chính phủ như “chủ quyền số”. Cụm từ này mang đầy sức nặng của sự độc lập, phẩm giá tự chủ và lời hứa về quyền tự quyết vận mệnh quốc gia. Đáng chú ý, chính Helberg lại là kiến trúc sư trưởng của Pax Silica, sáng kiến do Washington dẫn dắt nhằm tái cấu trúc chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược, bán dẫn và hạ tầng AI giữa những đối tác mà Mỹ coi là đáng tin cậy. Nói cách khác, Washington vừa khuyên thế giới đừng quá say mê theo đuổi một nền chủ quyền công nghệ hoàn toàn độc lập, vừa ráo riết xây dựng một khuôn khổ để định hình lại chuỗi AI cho phần còn lại của thế giới.

 

Lập luận của Helberg nhắm thẳng vào quan niệm rằng mỗi quốc gia cần tự xây dựng một hệ sinh thái đám mây, một mô hình ngôn ngữ và một “nhà vô địch quốc gia” trong lĩnh vực AI. Ông viện dẫn nỗ lực của Liên Hợp Quốc nhằm thu hẹp khoảng cách số toàn cầu, trong đó có đề xuất bảo đảm mức năng lực tối thiểu về điện toán, dữ liệu và mô hình, đi kèm một quỹ toàn cầu trị giá 1–3 tỷ USD. Dù trên thực tế tài liệu của Liên Hợp Quốc không hề yêu cầu mỗi nước phải nội địa hóa toàn bộ chuỗi AI, Helberg vẫn cảnh báo gay gắt rằng nếu “bốn mươi chính phủ lần lượt đứng lên” theo đuổi cách hiểu đó, kết quả sẽ chỉ là “một sự tầm thường được đồng bộ hóa, một hành tinh của những bản sao dưới quy mô”.

 

Để hiểu rõ hơn toan tính này, cần nhìn vào tốc độ mở rộng của Pax Silica. Sáng kiến được khởi động từ tháng 12/2025 với chỉ 7 quốc gia ký tuyên bố chung, nhưng đến cuối tháng 6/2026 đã quy tụ 24 thành viên. Đỉnh điểm là tại hội nghị thượng đỉnh Pax Silica lần thứ hai ở Washington, nơi 35 nền kinh tế cùng Liên minh châu Âu ký Tuyên bố chung về Cơ hội AI. Cốt lõi của nỗ lực tập hợp lực lượng này được Helberg tóm gọn trong một câu: nếu thế kỷ XX vận hành bằng dầu mỏ và thép, thì thế kỷ XXI sẽ vận hành bằng năng lực tính toán và những loại khoáng sản nuôi dưỡng nó.

 

Song song với mặt trận ngoại giao, Bộ Thương mại Mỹ cũng triển khai Chương trình Xuất khẩu AI Mỹ, mở đường cho các liên danh doanh nghiệp chào bán trọn gói toàn bộ chuỗi công nghệ, từ phần cứng, trung tâm dữ liệu và mô hình nền tảng đến ứng dụng và an ninh mạng, ra thị trường quốc tế. Giám đốc Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng Michael Kratsios cũng sử dụng chính khái niệm “chủ quyền” để quảng bá chương trình, gọi đây là cách Mỹ chia sẻ với thế giới một hệ thống AI vừa đáng tin cậy vừa có chủ quyền.

 

KHI “CHỦ QUYỀN” TRỞ THÀNH CÔNG CỤ

 

Nghịch lý không đơn giản nằm ở chỗ Washington vừa ủng hộ vừa phản đối chủ quyền AI. Chính Kratsios từng nói các nước nên phát triển doanh nghiệp AI bản địa và coi “tự chủ chiến lược” là một mục tiêu cần thiết. Điều Mỹ phản đối là cách hiểu chủ quyền đồng nghĩa với tự cung tự cấp: mỗi nước phải tự có chip, đám mây, dữ liệu, mô hình và ứng dụng riêng mới đủ tư cách tham gia nền kinh tế AI.

 

Theo cách nhìn của Washington, một quốc gia vẫn có thể sở hữu một nền AI có chủ quyền ngay cả khi sử dụng nền tảng công nghệ Mỹ, miễn là họ kiểm soát được chính sách, dữ liệu, cách thức triển khai và xây dựng được năng lực bản địa trên nền tảng đó. Vì vậy, cốt lõi của nghịch lý nằm ở quyền định nghĩa. Mỹ khuyến khích các quốc gia phát triển năng lực nội tại, nhưng theo một cấu trúc xoay quanh hệ sinh thái công nghệ do Washington làm trung tâm. Mọi nỗ lực xây dựng một chuỗi cung ứng hoàn toàn tách biệt đều bị nhìn nhận với sự nghi ngờ.

 

Ẩn sau cuộc tranh luận khái niệm này còn là một khoảng cách lớn về năng lực thực tế. Việc một quốc gia mong muốn kiểm soát dữ liệu, mô hình hay năng lực tính toán không có nghĩa họ sẵn có vốn, hạ tầng điện, công nghệ, nhân lực và quy mô thị trường để hiện thực hóa tham vọng ấy. Quyền bình đẳng về nguyên tắc chưa bao giờ tự động san bằng khoảng cách về năng lực thực thi giữa các quốc gia.

 

Rộng hơn, sự phân hóa này gợi lại một logic kinh tế chính trị đã tồn tại hàng trăm năm. Chủ nghĩa trọng thương cổ điển thường gắn với bảo hộ, theo đuổi thặng dư thương mại và tích lũy các nguồn lực chiến lược cho nhà nước. Nhưng căn nguyên sâu xa của các chính sách đó chính là nỗi ám ảnh về sự phụ thuộc. Một quốc gia không chỉ tính toán lợi ích thu được từ thương mại, mà còn cân nhắc xem hai bên đang phụ thuộc vào nhau tới mức nào. Khi quan hệ thuận lợi, giao thương mang lại lợi ích chung; nhưng khi quan hệ rạn nứt, ưu thế sẽ thuộc về bên có nhiều lựa chọn thay thế hơn và chịu ít tổn thất hơn. Nói cách khác, sức mạnh tương đối nhằm vô hiệu hóa khả năng gây sức ép của đối phương thường được đặt cao hơn lợi ích kinh tế tuyệt đối. Cùng nhìn vào một giao dịch xuyên biên giới, nếu Adam Smith thấy một nguồn lợi cần khai thác, thì người theo chủ nghĩa trọng thương lại nhìn thấy một điểm yếu có thể bị đối phương thao túng.

 

Đặt lăng kính này vào cuộc đua AI hiện nay, khát vọng kiểm soát năng lực tính toán, dữ liệu và mô hình của các chính phủ trở nên hoàn toàn dễ hiểu. “Chủ quyền” giờ đây vượt khỏi ý nghĩa của quyền tự quyết để trở thành thước đo khả năng chống chịu: một quốc gia sẽ thiệt hại đến đâu nếu nguồn cung công nghệ bị gián đoạn, và đối tác có thể sử dụng chính sự phụ thuộc đó làm đòn bẩy gây sức ép ở mức nào. Thế giới từng trải qua một kịch bản tương tự trong quá khứ, chỉ khác về bối cảnh và loại tài nguyên.

 

BÀI HỌC NĂM 1962

 

Ngày 14/12/1962, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 1803 về chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên. Hoàn cảnh ra đời của văn kiện phản ánh rõ thời cuộc: hàng loạt quốc gia vừa thoát khỏi ách thuộc địa nhưng thiếu trầm trọng cả vốn lẫn công nghệ, trong khi các nguồn tài nguyên chiến lược trên chính lãnh thổ của họ vẫn bị ràng buộc bởi những hợp đồng nhượng quyền do phương Tây thiết lập từ thời họ chưa có vị thế thương lượng. Nghị quyết 1803 vì thế được kỳ vọng sẽ củng cố nền độc lập kinh tế, tạo điểm tựa pháp lý để các nước đang phát triển giành lại quyền định đoạt việc thăm dò và khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, quyền pháp lý trên giấy chỉ thực sự tạo ra sức mạnh khi người nắm giữ có đủ công cụ và năng lực để thực thi nó.

 

Thực tế khắc nghiệt đó được phơi bày rõ vào ngày 17/10/1973. Ngay sau khi chiến tranh Yom Kippur bùng nổ, 11 thành viên Tổ chức các nước Arab xuất khẩu dầu mỏ (OAPEC) bắt đầu sử dụng năng lượng làm vũ khí bằng cách liên tục cắt giảm sản lượng. Sau đó là lệnh cấm vận dầu mỏ nhằm vào Mỹ và các đồng minh, cùng quyết định đơn phương nâng giá niêm yết thêm 70% của sáu thành viên OPEC vùng Vịnh. Dù nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng là địa chính trị, chứ không phải Nghị quyết 1803, sự kiện năm 1973 vẫn phơi bày một sự thật cốt lõi: sức mạnh của một nhóm quốc gia trở nên ghê gớm khi họ vừa kiểm soát được tài nguyên, vừa nắm giữ một nguồn cung mà thị trường không thể tìm ra phương án thay thế trong ngắn hạn.

 

Sự đảo chiều đó đồng thời làm lộ rõ một nghịch lý nội tại của luật pháp quốc tế. Nghị quyết 1803 không thể dành riêng quyền định đoạt tài nguyên cho các nước nghèo, bởi điều đó sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của Liên Hợp Quốc. Văn kiện phải trao quyền ngang nhau cho mọi thành viên. Nhưng bình đẳng trên giấy chưa bao giờ tự động tạo ra năng lực bình đẳng ngoài thực tế. Một nguyên tắc được thiết kế để khắc phục bất cân xứng cuối cùng vẫn vấp phải một giới hạn căn bản: nó có thể san bằng tuyên bố pháp lý, nhưng không thể xóa bỏ chênh lệch về năng lực thực thi.

 

Nếu lịch sử chỉ dừng ở đó, năm 1973 sẽ mãi là câu chuyện truyền cảm hứng về việc các quốc gia yếu thế cuối cùng tích lũy đủ năng lực vật chất để biến quyền pháp lý thành quyền lực thương lượng. Nhưng dầu mỏ có một đặc tính then chốt mà năng lực tính toán không có, và chính khác biệt này quyết định số phận của hai thời đại. Dầu mỏ gắn với lãnh thổ. Để giành lại quyền định đoạt, các quốc gia Arab chỉ cần một sắc lệnh quốc hữu hóa để thu hồi tài sản vốn đã nằm trên lãnh thổ của mình. Ngược lại, chip bán dẫn, mô hình ngôn ngữ và hạ tầng phần mềm không tồn tại theo logic địa lý như vậy. Một quốc gia đi sau trong năm 2026 không có bất kỳ “mỏ AI” nào dưới lòng đất để quốc hữu hóa ở những tầng công nghệ mang tính quyết định. Vì vậy, kịch bản năm 1973 chỉ có thể lặp lại một nửa: những người nắm giữ các “nút thắt cổ chai” vẫn là những cường quốc vốn đã mạnh, nhưng sẽ không có một cú sốc nào tự động giúp khối các nước yếu thế đảo ngược cán cân như OPEC từng làm.

 

Khác biệt còn nằm ở chỗ điểm nghẽn bền vững nhất của AI không phụ thuộc vào một nguyên liệu vật chất riêng lẻ mà ăn sâu vào toàn bộ hệ sinh thái công cụ và nhân lực. GPU, framework, dịch vụ đám mây, chuẩn dữ liệu và đội ngũ kỹ sư thường được xây dựng xoay quanh một kiến trúc lõi trong nhiều năm. Nếu một mỏ dầu có thể đổi chủ chỉ sau một quyết định hành chính, thì một hệ sinh thái phần mềm gần như bất động trước các mệnh lệnh chính trị. Giá trị cốt lõi của nó được kết tinh từ hàng triệu giờ lao động kỹ thuật, và nền tảng tri thức đó không thể được sao chép hay dịch chuyển tức thời sang một hệ thống khác. Chính vì vậy, chi phí chuyển đổi (switching cost), chứ không phải quyền sở hữu trên danh nghĩa, mới là thước đo thực chất nhất của thứ được gọi là chủ quyền công nghệ.

 

Thực tế đó định hình lại toàn bộ giới hạn kỳ vọng của các quốc gia đi sau. Cuộc khủng hoảng năm 1973 từng kết thúc bằng một cuộc đảo chiều ngoạn mục, biến những bên phải chấp nhận luật chơi thành những người có quyền đặt ra điều kiện. Với AI ngày nay, phép màu đó sẽ không xảy ra, và cũng không có chính sách nào đủ sức tự tạo ra một kết cục tương tự. Điều khả thi hơn nằm ở việc mở rộng “biên độ chịu đựng”: giảm thiểu thiệt hại nếu đối tác bất ngờ thay đổi điều kiện, đồng thời tối đa hóa cái giá đối phương phải trả nếu muốn biến sự phụ thuộc thành công cụ gây sức ép. Hiểu theo cách này, chủ quyền thực chất là bài toán quản trị rủi ro và hạn chế tổn thất, chứ không phải cuộc đua giành lấy quyền lực tuyệt đối. So với những kỳ vọng lớn lao thường gắn với hai chữ “chủ quyền”, đây là một mục tiêu khiêm tốn hơn nhưng thực tế hơn nhiều.

 

NHỮNG NÚT THẮT MỚI

 

Năm 2026, khoảng cách giữa ngôn ngữ chủ quyền và năng lực thực thi hiện lên rất rõ trong dữ liệu. Dữ liệu của Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS), theo dõi 185 dự án AI do nhà nước hậu thuẫn, cho thấy mức độ tập trung nguồn lực đáng kinh ngạc. Hạ tầng chiếm tới 59% số dự án, mô hình 32% và dữ liệu chỉ 9%, nhưng dòng tiền lại tập trung mạnh hơn nhiều. Trung Đông và Đông Á chiếm hơn 80% tổng giá trị đầu tư được công khai; 10 quốc gia chi tiêu lớn nhất chiếm khoảng 90%, trong đó riêng UAE và Nhật Bản đã chiếm gần hai phần ba. Dù những con số này bao gồm cả ngân sách cam kết lẫn tiền đã giải ngân, mức chênh lệch vẫn quá rõ ràng. Mọi quốc gia đều có thể nói về tự chủ, nhưng năng lực tài chính để biến khẩu hiệu đó thành cơ sở hạ tầng chỉ nằm trong tay một nhóm nhỏ những nước giàu.

 

Đáng chú ý hơn, sự phụ thuộc không biến mất chỉ vì một cụm máy chủ được gắn nhãn “có chủ quyền”. Hơn 60% số dự án CNAS theo dõi có ít nhất một đối tác nước ngoài, và 80% trong số đó có sự tham gia của doanh nghiệp Mỹ, trong đó riêng NVIDIA cung cấp GPU cho 45% các dự án hạ tầng. Ở tầng mô hình, xu hướng tương tự cũng xuất hiện: Llama của Meta hiện diện trong 14 trên tổng số 25 dự án, theo sau là Mistral của Pháp, Google và Alibaba. Từ bộ dữ liệu này, CNAS rút ra một kết luận thẳng thắn: đối với phần lớn nền kinh tế, chủ quyền AI thực chất là nghệ thuật quản lý sự phụ thuộc. Các chính phủ phải xác định tầng công nghệ nào có ý nghĩa sống còn để tự chủ, đồng thời chấp nhận phụ thuộc bên ngoài ở các tầng còn lại.

 

Ấn Độ và Liên minh châu Âu là hai ví dụ tiêu biểu. New Delhi chọn chiến lược “phân tán sự phụ thuộc”. Với ngân sách khoảng 1,25 tỷ USD cho IndiaAI Mission, nước này trải rộng danh mục nhà cung cấp từ NVIDIA, AMD đến Intel và Google TPU nhằm xây dựng năng lực tính toán trong nước mà không theo đuổi ảo tưởng về một chuỗi phần cứng hoàn toàn thuần Ấn Độ. Brussels lại chọn con đường đắt đỏ hơn: dùng tiền để mua năng lực nội địa hóa. Gói đầu tư có thể lên tới 30 tỷ euro, gồm cả vốn công lẫn tư, dành cho các “AI Gigafactories” của châu Âu vẫn đi kèm khẳng định rằng EU không chủ trương tách rời khỏi công nghệ bên ngoài. Tuy nhiên, cả hai mô hình đều vấp phải giới hạn về quy mô. Theo Báo cáo Chỉ số AI 2026 của Đại học Stanford, nỗ lực của nhà nước vẫn lép vế trước sức mạnh của thị trường: riêng vốn đầu tư tư nhân vào AI tại Mỹ trong năm 2025 đã đạt 285,9 tỷ USD, trong khi Goldman Sachs dự báo con số này sẽ tăng hơn gấp đôi lên 581 tỷ USD trong năm 2026.

 

Ở một thái cực khác, các quốc gia Vùng Vịnh lại phơi bày giới hạn mang tính pháp lý. Tháng 11/2025, Cục Công nghiệp và An ninh (BIS) thuộc Bộ Thương mại Mỹ cấp phép cho G42 của UAE và HUMAIN của Ả Rập Xê Út mỗi bên mua tối đa 35.000 chip NVIDIA Blackwell GB300, kèm các cơ chế giám sát an ninh nghiêm ngặt. Nhưng đến tháng 7/2026, Washington quyết định nâng riêng UAE lên nhóm nước A:5. Quy định được đăng trên Công báo Liên bang này mở đường cho Ngoại lệ Giấy phép về Thẩm quyền Thương mại Chiến lược theo 15 CFR §740.20, cùng một danh sách người dùng cuối được chỉ định, trong khi Ả Rập Xê Út chưa được hưởng cơ chế tương tự.

 

Khoảng cách giữa hai địa vị này không nằm ở số lượng chip. Một giấy phép xuất khẩu chỉ cho phép chuyển giao một lượng hàng nhất định, có thời hạn và có thể bị rút lại; trong khi một quyết định phân loại lại đi cùng danh sách người dùng cuối tạo ra một địa vị pháp lý ổn định hơn, không tự động hết hạn và làm thay đổi căn bản khả năng hoạch định chiến lược dài hạn của bên mua. Đây là điểm mà những phân tích bề nổi về “quyền tiếp cận chip” thường bỏ qua. Năng lực xây dựng hạ tầng AI của một quốc gia cuối cùng không chỉ phụ thuộc vào việc họ được phép mua bao nhiêu chip, mà còn nằm ở hình thức pháp lý của đặc quyền đó và mức độ dễ dàng mà Washington có thể thu hồi nó.

 

Hai cường quốc từng sử dụng dầu mỏ để nâng cao vị thế mặc cả trên bàn cờ quốc tế nay lại chật vật vì phụ thuộc vào một loại đầu vào rất khó thay thế trong ngắn hạn. Khả năng xây dựng hạ tầng AI của họ, xét cho cùng, không hoàn toàn được quyết định tại Abu Dhabi hay Riyadh, mà phần lớn vẫn nằm trong các quy chế xuất khẩu được xây dựng ở Washington.

 

MỘT LỰA CHỌN KHÁC TỪ TRUNG QUỐC

 

Từng là mục tiêu chịu sức ép lớn nhất từ những nút thắt công nghệ do Mỹ kiểm soát, đến năm 2026 Trung Quốc đã bước sang một vị thế mới. Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bắt đầu cung cấp cho các quốc gia khác những lựa chọn thay thế, trước hết ở tầng phần mềm. Báo cáo Chỉ số AI 2026 của Stanford cho thấy khoảng cách hiệu năng giữa các mô hình ngôn ngữ hàng đầu của Mỹ và Trung Quốc về cơ bản đã thu hẹp mạnh. Nếu tháng 5/2023 Mỹ dẫn trước từ 17,5 đến 31,6 điểm phần trăm trên các thước đo tổng hợp, thì đến tháng 3/2026 khoảng cách chỉ còn 2,7%. Mỹ vẫn giữ lợi thế áp đảo về vốn và tạo ra nhiều mô hình nổi bật hơn, nhưng Trung Quốc dẫn đầu về số lượng công bố khoa học và chiếm tới 69,7% bằng sáng chế AI toàn cầu.

 

Đối với các nước đi sau, hấp dẫn hơn cả thứ hạng là việc Trung Quốc lấy tính mở, chi phí thấp và khả năng tùy biến làm giá trị cốt lõi khi xuất khẩu công nghệ. Riêng mô hình Qwen của Alibaba đã tạo ra hơn 100.000 phiên bản phái sinh trên Hugging Face. Các mô hình “trọng số mở” (open-weight) như Kimi K3 của Moonshot AI hay dòng GLM của Z.AI cũng đã chen chân vào nhóm dẫn đầu trên nhiều bảng xếp hạng năng lực tổng hợp. Cùng với sự trỗi dậy của DeepSeek, những bước tiến này gửi đi một thông điệp rõ ràng: lựa chọn một hệ sinh thái ngoài Mỹ không còn đồng nghĩa với việc phải chấp nhận công nghệ hạng hai.

 

Bắc Kinh nhanh chóng chuyển hóa lợi thế kỹ thuật này thành một lập trường đối ngoại sắc nét. Thông qua Sáng kiến Quản trị Trí tuệ nhân tạo Toàn cầu năm 2023, Trung Quốc tuyên bố mọi quốc gia, bất kể quy mô hay thể chế, đều có quyền bình đẳng trong phát triển AI. Đỉnh điểm là tháng 7/2026, khi đại diện 29 quốc gia tập trung tại Thượng Hải để ký Hiệp định thành lập Tổ chức Hợp tác Trí tuệ nhân tạo Thế giới (WAICO). Tại đây, Chủ tịch Tập Cận Bình cam kết cung cấp 5.000 suất đào tạo AI trong vòng 5 năm cho các nước đang phát triển, đồng thời thiết lập nhiều trung tâm hợp tác với ASEAN, Liên minh châu Phi và Liên đoàn Arab.

 

Tuy nhiên, nếu áp dụng chính lăng kính “chi phí chuyển đổi” để đánh giá công nghệ Trung Quốc, bức tranh lập tức trở nên phức tạp hơn. Ở tầng mô hình, Bắc Kinh thực sự mang lại những giá trị đáng kể. Các mô hình mở cho phép một quốc gia tải về, tùy biến và vận hành trên hạ tầng nội địa, qua đó giúp họ dễ dàng chuyển sang lựa chọn khác nếu nhà cung cấp thay đổi điều kiện. Nhưng ở tầng phần cứng, câu chuyện gần như ngược lại. Dòng chip Ascend của Huawei bị gắn chặt với một hệ sinh thái phần mềm riêng. Một đội ngũ kỹ sư vốn quen với nền tảng NVIDIA nếu chuyển sang Huawei có thể phải viết lại phần đáng kể mã nguồn. Chi phí chuyển đổi này có thể bào mòn phần lớn lợi thế về giá, trong khi sản lượng chip Ascend còn bị hạn chế bởi các nút thắt về bộ nhớ và phải ưu tiên thị trường trong nước.

 

Vì vậy, ở tầng hạ tầng phần cứng, Trung Quốc vẫn chưa thể cung cấp một phương án thay thế hoàn chỉnh cho phần còn lại của thế giới. Dù mô hình có thể là nguồn mở, cuối cùng chúng vẫn phải chạy trên phần cứng của một ai đó. Nếu một quốc gia thay mô hình Mỹ bằng mô hình Trung Quốc nhưng vẫn vận hành trên GPU Mỹ, họ thực chất chỉ chuyển sự phụ thuộc từ một mắt xích sang mắt xích khác.

 

Có lẽ quan trọng hơn, lập trường ủng hộ tính mở của Bắc Kinh gắn chặt với vị thế hiện tại của nước này hơn là với một nguyên tắc bất biến. Tháng 7/2026, Financial Times đưa tin Bộ Thương mại Trung Quốc đang tham vấn các doanh nghiệp trong nước về khả năng siết kiểm soát xuất khẩu đối với trọng số mô hình tiên tiến, dữ liệu huấn luyện và thiết kế chip, thậm chí bao gồm phương án cấm các xưởng đúc nước ngoài sản xuất chip dựa trên thiết kế của doanh nghiệp Trung Quốc.

 

Dù những đề xuất đó chưa được thông qua, xu hướng đã khá rõ: khi một công nghệ trở thành tài sản chiến lược độc tôn, bên nắm giữ nó sẽ có động cơ dựng lên các hàng rào bảo hộ, bất chấp những tuyên bố trước đó về quyền tiếp cận bình đẳng. Việc sử dụng AI như công cụ cấm vận cũng không còn chỉ là một nguy cơ lý thuyết. Việc Anthropic của Mỹ đình chỉ quyền truy cập hai mô hình Claude Fable và Mythos trong gần ba tuần vào tháng 6/2026 đã tạo ra một tiền lệ đáng chú ý: chính phủ nước sở tại có thể thu hồi quyền tiếp cận một mô hình tiên tiến, và rủi ro cuối cùng lại rơi vào khách hàng ở nước khác.

 

Cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung vì thế đang trực tiếp thu hẹp dư địa lựa chọn của các quốc gia. Tháng 8/2026, một bản dự thảo nội bộ của Bộ Ngoại giao Mỹ, được Reuters đưa tin, đã gửi tín hiệu cảnh báo tới 35 thành viên ký Tuyên bố chung Pax Silica, ám chỉ rằng việc “bắt cá hai tay”, tức tham gia đồng thời cả các khuôn khổ do Mỹ và Trung Quốc thiết kế, khó có thể tương thích với tư cách một đối tác đáng tin cậy của Washington. Động thái này có thể liên quan đến Kazakhstan, quốc gia hiếm hoi vừa tham gia Pax Silica vừa có mặt tại WAICO, đồng thời sở hữu nguồn khoáng sản lớn có vai trò quan trọng đối với chuỗi sản xuất chip. Bài học năm 1973 một lần nữa hiện lên: quyền lực thực sự trên trường quốc tế không sinh ra từ tuyên ngôn pháp lý, mà từ việc nắm giữ thứ tài nguyên mà người khác cần nhưng không thể dễ dàng thay thế. Hơn nửa thế kỷ trước đó là dầu mỏ; ngày nay, AI đang tái tạo cùng một cán cân khắc nghiệt ở những tầng công nghệ mới.

 

CHỦ QUYỀN BÊN TRONG SỰ PHỤ THUỘC

 

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu chỉ xem khát vọng chủ quyền công nghệ như một vỏ bọc của chủ nghĩa bảo hộ. Nó cần được đặt trong bối cảnh những bất cân xứng sâu sắc trên toàn cầu. Châu Phi, chẳng hạn, chiếm khoảng 18% dân số thế giới nhưng nắm chưa tới 1% công suất trung tâm dữ liệu toàn cầu. Những hạn chế về điện lưới, kết nối, vốn và khả năng tiếp cận điện toán đám mây khiến chi phí phát triển AI ở nhiều quốc gia châu Phi cao hơn đáng kể so với các nền kinh tế phát triển.

 

Bên cạnh hạ tầng vật chất, ngôn ngữ và văn hóa cũng tạo ra một dạng bất bình đẳng tinh vi không kém. Việc AI Singapore phải phát triển SEA-LION bắt nguồn từ một thực tế rõ ràng: các mô hình toàn cầu hiện vẫn chủ yếu được huấn luyện trên dữ liệu tiếng Anh và vì thế không phản ánh đầy đủ những sắc thái ngôn ngữ, văn hóa đặc thù của Đông Nam Á. Một nghiên cứu của Carnegie Endowment công bố tháng 1/2025 từng cho thấy khi được yêu cầu dịch 30 câu từ tiếng Anh sang tiếng Sunda, ngôn ngữ được hàng chục triệu người sử dụng tại Indonesia, phiên bản ChatGPT lúc đó không dịch đúng trọn vẹn bất kỳ câu nào. Dù các thế hệ AI sau này tiếp tục cải thiện, bất cân xứng về dữ liệu ngôn ngữ vẫn là một điểm nghẽn mang tính cấu trúc và sẽ không tự biến mất nếu các quốc gia đi sau chỉ chờ các tập đoàn công nghệ nước ngoài dành sự chú ý cho mình.

 

Khát vọng xây dựng các hệ thống AI thấm nhuần ngôn ngữ, pháp luật, tập quán và ký ức lịch sử của một dân tộc hoàn toàn không đồng nghĩa với chủ nghĩa bảo hộ mù quáng. Tuy nhiên, với những quốc gia hạn chế về vốn và hạ tầng, tham vọng nội địa hóa mọi tầng của hệ sinh thái AI là thiếu thực tế. Theo một bản góp ý chính sách dành cho Kenya của Global Center on AI Governance tháng 8/2026, phương án khả thi nhất là kết hợp linh hoạt giữa năng lực tính toán trong nước ở quy mô vừa phải với việc thuê ngoài dịch vụ quốc tế, đồng thời xây dựng một hành lang pháp lý đủ chặt để xác định loại dữ liệu lõi nào bắt buộc phải lưu trữ trong nước và những điều kiện nghiêm ngặt nào được áp dụng đối với nhà cung cấp.

 

Cũng cần thẳng thắn thừa nhận lập luận mạnh nhất của những người phản đối việc phân tán năng lực: kinh tế học quy mô. Hiệu suất của AI tăng mạnh theo quy mô hạ tầng. Vì vậy, nếu mỗi nước tự xây một hệ thống nhỏ, phân mảnh, năng lực chung có thể bị kéo xuống, trong khi từng quốc gia có thể hưởng lợi nhiều hơn nếu kết nối trực tiếp với những hệ thống tiên tiến nhất thế giới. Duy trì kiến trúc đa nhà cung cấp để tránh phụ thuộc cũng luôn đắt đỏ hơn, chậm hơn và đòi hỏi năng lực vận hành cao hơn. Trong một số giai đoạn, việc chính phủ chấp nhận đánh đổi một phần tự chủ để lấy tốc độ triển khai hoàn toàn có thể là một tính toán hợp lý. Đó là một sự đánh đổi thực tế bằng ngân sách thật, chứ không phải một ngụy biện lý thuyết.

 

Tuy nhiên, kinh tế học quy mô không thể tự giải quyết rủi ro chính trị. Lập luận về chi phí chỉ còn nguyên giá trị khi quan hệ quốc tế diễn ra thuận lợi, nhưng nó né tránh một câu hỏi cốt lõi: điều gì xảy ra khi điều kiện tiếp cận đột ngột bị siết lại? Chính ở điểm mù đó, giá trị của chủ quyền mới thực sự xuất hiện. Một quốc gia không nhất thiết phải tự đúc từng con chip hay tự huấn luyện mọi mô hình nền tảng mới có thể được coi là có quyền tự chủ. Điều sống còn là họ phải kiểm soát được các lớp ứng dụng thiết yếu nhất, hiểu sâu hệ thống đang vận hành, có khả năng kiểm định độc lập, giữ dữ liệu nhạy cảm trong phạm vi an toàn và luôn duy trì một lối thoát để chuyển sang nhà cung cấp khác khi cần. Chủ quyền, theo cách hiểu này, không đối lập với hội nhập; nó là khả năng duy trì vị thế mặc cả ngay trong chính mạng lưới hội nhập.

 

Nhìn từ góc độ đó, bước đi của Brazil vào tháng 8/2026 là một ví dụ đáng chú ý. Brasilia công bố gói ngân sách khoảng 2,3 tỷ real để phát triển song song hai siêu máy tính AI: một dự án hợp tác với Huawei và iFlytek của Trung Quốc, dự án còn lại sử dụng công nghệ NVIDIA của Mỹ. Brazil đồng thời nằm trong nhóm 29 quốc gia sáng lập WAICO. Mục tiêu mà chính phủ công khai rất thực dụng: tránh rơi vào tình trạng phụ thuộc độc quyền. Hai dự án này không tự động tạo ra chủ quyền, nhưng chúng gửi đi một tín hiệu quan trọng: cạnh tranh giữa các siêu cường không nhất thiết chỉ tạo ra bế tắc cho các nước nhỏ. Nguy cơ mất tự chủ chỉ thực sự xuất hiện khi một hệ sinh thái bắt đầu áp đặt luật chơi độc quyền, buộc các quốc gia phải chọn phe và tước đi những lựa chọn cuối cùng của họ.

 

Việt Nam hiện đang đứng ngay trước khoảng trống chiến lược đó.

 

QUYỀN LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM

 

Nhìn vào bản đồ phân cực trong khu vực, vị trí của Hà Nội mang sắc thái đặc biệt. Trong khi nhiều quốc gia ASEAN như Indonesia, Malaysia, Campuchia, Lào và Myanmar là thành viên sáng lập WAICO, còn Singapore đã ký Tuyên bố Pax Silica, Việt Nam vẫn đứng ngoài cả hai khuôn khổ. Với thị trường hơn 100 triệu dân, vị trí ngày càng rõ trong chuỗi cung ứng điện tử khu vực và một hệ sinh thái công nghệ đang được cả hai siêu cường chú ý, sự vắng mặt này có thể trở thành lợi thế đàm phán nếu đó là một lựa chọn có chủ đích, nhưng cũng có thể chứa đựng nhiều rủi ro nếu chỉ phản ánh sự chần chừ.

 

Trường hợp Kazakhstan cho thấy khoảng trống chiến lược này đang nhanh chóng thu hẹp. Khi Washington bắt đầu sử dụng các khuôn khổ hợp tác để gây sức ép buộc đối tác “chọn phe”, chi phí của việc trì hoãn sẽ không còn cố định. Càng để lâu, khả năng Việt Nam tham gia có chọn lọc vào cả hai hệ sinh thái càng thu hẹp, nhường chỗ cho kịch bản phải chấp nhận luật chơi do các cường quốc định đoạt. Dĩ nhiên, ngoài hai cực này vẫn còn Đối thoại Toàn cầu về Quản trị AI do Liên Hợp Quốc thiết lập, vừa tổ chức phiên họp đầu tiên tại Geneva vào tháng 7/2026. Là diễn đàn duy nhất không yêu cầu thành viên gắn chặt với một hệ sinh thái công nghệ cụ thể, đây có thể là không gian phù hợp để Việt Nam củng cố vị thế mà không phải đánh đổi quan hệ song phương với bất kỳ cường quốc nào.

 

Ở trong nước, các chuỗi công nghệ cũng đang đan xen theo những cách phức tạp, khó chia thành các khối tách biệt. Đầu tháng 2/2026, G42 của Abu Dhabi ký Thỏa thuận Hợp tác Khung với liên danh FPT và Việt Thái, đặt mục tiêu triển khai năng lực điện toán đám mây tại ba trung tâm dữ liệu lớn ở Việt Nam với cam kết tiêu thụ dịch vụ lên tới 1 tỷ USD. Khi nói về bước đi này, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình thẳng thắn thừa nhận Việt Nam không thể đơn độc. Trong các lĩnh vực lõi như bán dẫn, AI, điện toán đám mây và an ninh mạng, việc xây dựng liên minh chiến lược với những đối tác đáng tin cậy là điều kiện sống còn.

 

Dù thỏa thuận này chưa công bố chi tiết về loại chip hay mô hình được sử dụng, dấu ấn công nghệ Mỹ đã hiện diện sâu trong nhiều mảng khác của hệ sinh thái AI Việt Nam. Đầu tháng 6/2026, FPT và NVIDIA ra mắt Nemotron-Personas-Vietnam, một tập dữ liệu quy mô lớn phản ánh đặc điểm nhân khẩu học, ngôn ngữ và bối cảnh xã hội của Việt Nam phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, Viettel AI đang tinh chỉnh Nemotron 3 Super cho các ứng dụng pháp lý, còn FPT vận hành hạ tầng GPU Cloud dựa trên nền tảng NVIDIA.

 

Sự hiện diện này không đồng nghĩa với việc chủ quyền công nghệ của Việt Nam bị xói mòn. Ngược lại, Nemotron-Personas-Vietnam cho thấy một khả năng quan trọng: sử dụng công nghệ bên ngoài để tạo ra một tài sản dữ liệu mang tính bản địa mà đối tác ngoại không thể dễ dàng tự xây dựng. Vấn đề thực sự nằm ở mức độ kiểm soát mà Việt Nam giữ lại: dữ liệu được quản lý ra sao, hệ thống có cho phép kiểm định độc lập hay không, khối lượng công việc có dễ dàng chuyển sang kiến trúc khác hay không, và mức độ gián đoạn sẽ lớn đến đâu nếu nhà cung cấp bất ngờ thay đổi điều kiện tiếp cận.

 

Sự trỗi dậy của các mô hình Trung Quốc rõ ràng đã mở rộng không gian lựa chọn. Các mô hình open-weight như Kimi, GLM hay DeepSeek tạo thêm nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam thử nghiệm, tinh chỉnh và triển khai trong nước. Nhưng sự tồn tại của hai nhóm nhà cung cấp đối nghịch không tự động đồng nghĩa với việc một quốc gia đã thoát khỏi sự phụ thuộc. Hạ tầng GPU, framework, đám mây, chuẩn dữ liệu và thói quen kỹ thuật của đội ngũ nhân sự thường đã hình thành quanh một kiến trúc lõi trong nhiều năm. Nếu chi phí chuyển đổi vẫn quá cao, việc rời NVIDIA để chuyển sang chip Trung Quốc, hay thay một nền tảng Mỹ bằng một nền tảng Trung Quốc, có thể chỉ đơn thuần là dịch chuyển “điểm nghẽn” phụ thuộc từ bờ này sang bờ kia Thái Bình Dương.

 

Vì vậy, hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn hoàn toàn không phải là lựa chọn sai đối với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia đi sau nào. Nội địa hóa toàn bộ chuỗi từ chip, đám mây đến mô hình và ứng dụng vừa tốn kém vừa thiếu thực tế. Ngược lại, hợp tác chiến lược có thể giúp mua được thời gian, năng lực và tri thức mà thị trường trong nước chưa thể tự xây dựng. Điều quan trọng là phải tận dụng khoảng thời gian đó để tạo ra thêm lựa chọn, thay vì tự trói mình sâu hơn vào một hệ sinh thái duy nhất.

 

Nếu quá tập trung vào mục tiêu tái tạo toàn bộ chuỗi công nghệ, ngân sách quốc gia có thể bị hút vào những trung tâm dữ liệu khổng lồ trong khi vẫn phụ thuộc vào nhiều đầu vào nhập khẩu. Ngược lại, nếu mục tiêu là gia tăng quyền tự quyết, những khoản đầu tư ít phô trương hơn đôi khi tạo ra sức mạnh mặc cả lớn hơn: xây dựng kho dữ liệu tiếng Việt độc quyền mà đối tác nước ngoài không thể tự tạo; thiết kế quy tắc mua sắm công nhằm hạn chế tình trạng khóa chặt nhà cung cấp; phát triển năng lực kiểm định hệ thống độc lập; xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép dữ liệu và khối lượng công việc dễ dàng dịch chuyển giữa các nền tảng; và quan trọng nhất, đào tạo một đội ngũ kỹ sư đủ giỏi để làm chủ, tùy biến và sẵn sàng thay đổi công nghệ khi cần.

 

Nhìn lại cảnh báo của Jacob Helberg, có thể ông đúng ở một điểm: nếu hàng chục quốc gia cùng đổ tiền để xây dựng những “bản sao manh mún”, đó có thể là một sự lãng phí khổng lồ. Nhưng cũng không nên quên rằng lời khuyên ấy được đưa ra từ chính cường quốc đang muốn công nghệ của mình trở thành nền móng cho hạ tầng AI toàn cầu. Việc Bắc Kinh cung cấp một lựa chọn thay thế có thể làm suy yếu vị thế độc tôn của Washington, nhưng không có gì bảo đảm một cường quốc công nghệ mới sẽ đứng ngoài quy luật của quyền lực chính trị. Nghị quyết 1803 từng tạo cho các quốc gia yếu thế một hành lang pháp lý để bảo vệ tài nguyên, nhưng cú sốc dầu mỏ năm 1973 mới cho thấy thực tế khắc nghiệt: quyền lợi chỉ biến thành đòn bẩy khi một bên nắm giữ thứ mà người khác cần nhưng không thể thay thế. Hơn sáu thập kỷ sau, cuộc đua AI đang lặp lại bài học đó dưới một hình thức mới.

 

Xét cho cùng, chủ quyền AI không đồng nghĩa với bài ngoại hay biệt lập. Nó được đo bằng vị trí của một quốc gia trong mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau: đối tác cần họ đến đâu, họ cần đối tác đến mức nào, và khi luật chơi bất ngờ thay đổi, họ còn bao nhiêu dư địa để xoay xở. Một nguyên tắc được sinh ra để bảo vệ quyền tự quyết của bên yếu chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó giúp ngăn bất kỳ thế lực mạnh nào biến mình thành con đường phát triển duy nhất và không thể thay thế.

 





View My Stats