Thursday, 15 October 2026

CHỐNG CHIẾN TRANH HỖN HỢP : CHÂU ÂU THIẾU CƠ CHẾ hay THIẾU QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG? (Thùy Dương / RFI)

 



Chống chiến tranh hỗn hợp : Châu Âu thiếu cơ chế hay thiếu quyết tâm hành động ?

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 13/10/2026 - 12:09

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20261013-ch%E1%BB%91ng-chi%E1%BA%BFn-tranh-h%E1%BB%97n-h%E1%BB%A3p-ch%C3%A2u-%C3%A2u-thi%E1%BA%BFu-c%C6%A1-ch%E1%BA%BF-hay-thi%E1%BA%BFu-quy%E1%BA%BFt-t%C3%A2m-h%C3%A0nh-%C4%91%E1%BB%99ng

 

Các vụ phá hoại, tấn công mạng, tung tin sai lệch và những hành động gây sức ép khó quy trách nhiệm chính thức đang đặt châu Âu trước thách thức an ninh ngày càng phức tạp. Trước nguy cơ « chiến tranh hỗn hợp », Liên Hiệp Châu Âu muốn tăng cường phối hợp ứng phó, nhưng vẫn phải giải quyết những bất đồng với NATO về phạm vi trách nhiệm và cách thức hành động.

 

https://s.rfi.fr/media/display/d0d52b20-a778-11f1-a558-005056bfb2b6/w:1024/p:16x9/AP26245403686411.webp

(Ảnh minh họa) - Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và tổng thư ký NATO Mark Rutte tại Bruxelles, Bỉ, ngày 02/09/2026. AP Photo/Virginia Mayo - Virginia Mayo

 

Nhưng cụ thể, chiến tranh hỗn hợp là gì ?

 

Thực ra chiến tranh hỗn hợp không phải khái niệm mới có từ vài năm trở lại đây. Thuật ngữ này xuất hiện trong các nghiên cứu chiến lược từ cách nay 20 năm, lần đầu tiên được sử dụng chính thức tại Pháp là trong Sách trắng về quốc phòng và an ninh quốc gia năm 2013.

 

Theo giải thích của Thomas Gomart, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trong cuốn Guerres invisibles (Những cuộc chiến vô hình, Tallandier, 2021), được báo Pháp Le Monde trích dẫn, khái niệm chiến tranh hỗn hợp kết hợp « sự đe dọa chiến lược từ các quốc gia sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, các chiến dịch phối hợp giữa nhiều quân chủng, có sự tham gia của cả lực lượng đặc nhiệm và lính đánh thuê, cùng những hoạt động tung tin sai lệch trên quy mô lớn ».

 

Các chiến lược hỗn hợp kết hợp những phương thức hành động quân sự và phi quân sự, trực tiếp và gián tiếp, thường khó xác định được người đứng sau, đồng thời luôn được thiết kế để duy trì dưới ngưỡng mà đối phương có thể coi là đủ để đáp trả hoặc dẫn đến một cuộc xung đột công khai. Chiến tranh hỗn hợp cũng không nhất thiết bao gồm việc sử dụng vũ khí. Các hoạt động loan tin sai lệch, tấn công mạng và thao túng kinh tế cũng là một phần. Công nghệ dân sự và công nghệ quân sự không còn thực sự phân tách. Mọi bộ máy của Nhà nước đều có thể được huy động.

 

Elie Tenenbaum, nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), đồng tác giả cuốn La Guerre de vingt ans (Cuộc chiến hai mươi năm, Robert Laffont, 2021) cùng Marc Hecker, trong Revue Défense nationale (Tạp chí Quốc phòng), cũng được Le Monde trích dẫn, giải thích rằng chiến tranh hỗn hợp từng được mô tả là « phi quy ước », « bất đối xứng », có « cường độ thấp » hoặc thuộc « thế hệ thứ tư ». 

 

Tuy nhiên, nhìn chung cho đến nay, khái niệm « chiến tranh hỗn hợp » dường như còn mơ hồ, bao hàm rất nhiều hiện tượng khác nhau : từ quân sự, ngoại giao, thông tin, không gian, đến kinh tế hay pháp lý …

 

 

Sự gia tăng các cuộc tấn công được xem là mang tính « hỗn hợp » thời gian qua nhắm vào nhiều nước châu Âu đã khiến Liên Hiệp Châu Âu thúc đẩy kế hoạch đối phó ra sao ?

Đúng vậy. Sự gia tăng các vụ việc này buộc Bruxelles đẩy nhanh một kế hoạch từng được chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đề cập trong bài phát biểu về tình hình Liên Hiệp Châu Âu ngày 16/09. Bà đề xuất thành lập một « cơ chế an ninh khẩn cấp », theo kiểu Điều 4 của Hiệp ước NATO. Theo đó, khi một quốc gia thành viên yêu cầu, cơ chế này sẽ cho phép triệu tập 27 nước thành viên để phối hợp phản ứng trước một cuộc tấn công vẫn ở dưới ngưỡng cuộc xâm lược quân sự trực tiếp.

Tuy nhiên, những công tác chuẩn bị mà trang tin địa chính trị Politico tiết lộ cũng cho thấy sự bất đồng giữa các thành viên Liên Âu. Một số nước đặt câu hỏi về tính hữu ích của việc phát triển các cơ chế mới ở cấp độ châu Âu, trong khi Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, mà đa phần các nước thuộc Liên Âu, cũng là thành viên, thì đã có sẵn các cơ chế tham vấn và phòng thủ.

 

 

NATO đã cảnh báo Bruxelles rằng cơ chế an ninh khẩn cấp của Liên Âu « cạnh tranh » với Liên Minh Bắc Đại Tây Dương. Cụ thể ra sao ?

Theo Le Figaro, hôm 28/09, tướng Mỹ Alexus Grynkewich, tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại châu Âu (SACEUR), đã đến Nghị Viện Châu Âu, ở Bruxelles, dự phiên điều trần trước một ủy ban, và ông đã thẳng thừng nói rằng Liên Hiệp Châu Âu và NATO phải tôn trọng phạm vi trách nhiệm của mỗi bên, không được lấn sân của nhau. Có như vậy, mọi việc mới được vận hành đúng chức năng và trật tự.

 

Tướng Grynkewich nhấn mạnh : « Bất cứ điều gì Liên Hiệp Châu Âu triển khai cùng các quốc gia thành viên cũng không nên cạnh tranh với NATO (…) bởi sẽ gây ra những hậu quả rất tiêu cực. Liên Âu không nên sao chép những gì NATO đã xây dựng trong suốt 77 năm qua trong khuôn khổ Liên minh : từ các cơ cấu tổ chức, năng lực cho đến quy trình hoạt động. Làm như vậy sẽ gây xáo trộn nhiều hơn là mang lại lợi ích ».

 

 

Trên thực tế, liệu Liên Âu có đủ cơ cấu tổ chức và quyết tâm cần thiết để triển khai biện pháp đáp trả, hay nhất thiết phải thông qua NATO ?

Theo phân tích của Tsiporah Fried, chuyên gia Pháp về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương, trên trang tin địa chính trị Atlantico, thì dĩ nhiên là chiến dịch kết hợp các hành vi phá hoại, tấn công mạng, can thiệp và đe dọa quân sự đòi hỏi nhiều cấp độ ứng phó khác nhau. Do vậy, các quốc gia vẫn giữ những trách nhiệm cốt lõi trong các lĩnh vực an ninh quốc gia, tình báo, cảnh sát và tư pháp.

 

Về phần mình, Liên Âu có các công cụ kinh tế, pháp lý và điều phối đặc biệt phù hợp để bảo vệ các mạng lưới, cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng. Trong khi đó, NATO cung cấp khuôn khổ quân sự về hoạch định, chỉ huy và phòng thủ tập thể.

 

Do đó, chuyên gia Tsiporah Fried nhấn mạnh rằng sẽ là sai lầm nếu dành toàn bộ những gì thuộc phạm trù « hỗn hợp » cho Liên Âu và coi mọi vấn đề quân sự là lĩnh vực riêng của NATO. Hai khía cạnh này có thể kết hợp trong cùng một chiến dịch, và chính việc phối hợp mới là thách thức thực sự. Theo bà, đây có lẽ cũng là một trong những mục tiêu của quy trình mới vừa được công bố.

 

Vấn đề là cơ chế mới của Liên Âu có cho phép chia sẻ nhanh hơn đánh giá về tình hình hay không ? Có giúp huy động sự hỗ trợ cụ thể hay không ? Có làm rõ ai là người ra quyết định và ai là người thực thi hay không ? Cơ chế có được diễn tập và phối hợp đúng cách với các cơ chế hiện hành hay không ?

 

Nếu có thì Liên Âu có thể có những đóng góp thực sự. Tuy nhiên, chuyên gia này lưu ý là quyết tâm chính trị trước hết vẫn thuộc về các quốc gia thành viên Liên Âu. Dù có một cơ chế chung ở cấp châu Âu thì từng nước vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình.

 

 

Mọi người thường hay nhầm lẫn giữa các điều khoản của NATO và Liên Âu. Cụ thể các điều khoản này ra sao ?

Đây cũng chính là điều Tsiporah Fried, chuyên gia Pháp về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương hết sức lưu ý. Theo phân tích của bà, Điều 4 của NATO quy định việc tham vấn khi một nước đồng minh cho rằng toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị hoặc an ninh của mình bị đe dọa. Điều 5 của NATO quy định nghĩa vụ các nước đồng minh hỗ trợ quốc gia bị tấn công trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vũ trang ; điều khoản này không nghiễm nhiên bắt buộc tất cả các nước phải đưa ra một phản ứng quân sự giống hệt nhau. Điều 4 của NATO không phải là điều kiện tiên quyết, bắt buộc, cũng không phải bước pháp lý đầu tiên dẫn đến việc áp dụng Điều 5.

 

Khoản 7 Điều 42 của Hiệp ước về Liên Âu cũng là một điều khoản về hỗ trợ trong trường hợp lãnh thổ một quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang. Tuy nhiên, điều khoản này của Liên Âu không đơn thuần là bản sao của Điều 5 của NATO : cách diễn đạt và khuôn khổ thực thi có những điểm khác biệt, đồng thời hiệp ước quy định rằng các cam kết được thực hiện theo điều khoản này phải phù hợp với những cam kết trong khuôn khổ NATO, vốn vẫn là nền tảng phòng thủ tập thể đối với các thành viên của Liên Âu.

 

Trên thực tế, NATO cũng công nhận một số cuộc tấn công mạng nghiêm trọng và một số cuộc tấn công hỗn hợp có thể cấu thành một « cuộc tấn công vũ trang » theo nghĩa của Điều 5. Thế nên, đối với chuyên gia Tsiporah Fried, châu Âu không được để đối phương chắc chắn rằng chỉ vì được xếp vào diện « hỗn hợp » mà hành động đó dĩ nhiên sẽ nằm ngoài phạm vi phòng thủ tập thể của châu Âu.

 

 

Vậy đâu mới là điều thực sự còn thiếu để châu Âu ứng phó được với những hành động khiêu khích ngày càng gia tăng của Nga ?

Câu chuyện không chỉ là tái vũ trang châu Âu. Liên Âu còn phải có khả năng nhận diện một chiến dịch thù địch, bảo vệ các cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với công tác quốc phòng và duy trì hoạt động của đất nước khi những cơ sở hạ tầng này bị tấn công.

 

Điểm mới của cơ chế an ninh khẩn cấp của Liên Âu chủ yếu nằm ở mong muốn phối hợp chặt chẽ hơn các công cụ của Liên Âu với những công cụ của NATO. Theo chuyên gia Tsiporah Fried, sự phối hợp đó có lẽ là cần thiết : một chiến dịch hỗn hợp có thể bao gồm các khía cạnh dân sự, kinh tế, mạng và quân sự, vốn thuộc thẩm quyền của những cơ quan khác nhau và chịu sự điều hành của các hệ thống ra quyết định khác nhau.

 

Tuy nhiên, chỉ riêng điều đó không giải quyết được vấn đề cốt lõi. Trên hết, không nên nhầm lẫn giữa việc thiết lập một cơ chế và khả năng hành động. Nguy cơ là châu Âu tự trấn an và nghĩ rằng chỉ cần có một quy trình là đã giải quyết được vấn đề.

 

Tsiporah Fried nhắc lại là kể từ tháng 6 năm 2022, Liên Âu đã có một Khuôn  khổ phối hợp ứng phó với các chiến dịch hỗn hợp (Framework for a coordinated EU response to hybrid campaigns). Đây là một trong những thành phần trọng tâm của Bộ công cụ của Liên Âu ứng phó với chiến tranh hỗn hợp (EU Hybrid Toolbox), với mục tiêu chính xác là huy động các công cụ khác nhau của châu Âu, cả dân sự và quân sự. Vì vậy, vấn đề không nằm nhiều ở chỗ châu Âu có thêm một cơ chế mới hay không, mà là châu Âu muốn sử dụng cơ chế đó như thế nào và phối hợp nó ra sao với các cơ chế của NATO cũng như của các quốc gia thành viên.

 

Một quy trình có thể hữu ích : đó là xác định ai cần được cảnh báo, những thông tin nào cần được chia sẻ, những ai cần được triệu tập và trong thời hạn nào sẽ giúp tiết kiệm thời gian. Nhưng điều quan trọng là Liên Âu phải biết muốn đưa ra quyết định gì khi ngồi vào bàn họp.

Và theo chuyên gia Tsiporah Fried, đây mới chính là vấn đề thực sự. Câu hỏi đặt ra đối với châu Âu hiện nay không còn chỉ là khả năng phản ứng trước một hành động thù địch, mà còn là quyết tâm hành động ngay cả trước khi hành động đó gây ra hậu quả. Liên Âu muốn bảo vệ những lợi ích nào ? Muốn chấm dứt những hành vi nào ? Liên Âu sẵn sàng áp đặt những cái giá nào và chấp nhận những rủi ro nào để thực hiện điều đó ?

 

Kinh nghiệm gần đây cũng cho thấy vấn đề không chỉ xuất hiện khi châu Âu không phản ứng, mà còn khi phản ứng của châu Âu về cơ bản vẫn mang tính phòng thủ, chỉ giới hạn ở sự cố vừa xảy ra. Một chiến lược răn đe đáng tin cậy đòi hỏi phải có khả năng chuyển từ phản ứng sang hành động, kể cả bằng cách áp dụng những biện pháp khiến các chiến dịch của đối phương trở nên tốn kém hơn trước khi chúng được lặp lại.

 

Như John Walters, chủ tịch Viện Hudson (Hudson Institute), nhấn mạnh, việc xếp các hành động vào phạm trù « chiến tranh vùng xám » (grey zone war) không được dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của những hành vi thù địch, cũng không được trở thành cái cớ để trì hoãn vô thời hạn mọi biện pháp đáp trả.

 

Chuyên gia Tsiporah Fried về chiến lược quân sự, quốc phòng và quan hệ xuyên Đại Tây Dương kết luận châu Âu cần cho Nga hiểu rằng những chiến dịch hỗn hợp không giúp Matxcơva giành được lợi thế với chi phí thấp. Mà điều này thì đòi hỏi châu Âu phải có năng lực bảo vệ, tình báo và can thiệp, nhưng đồng thời cũng cần một quyết tâm chính trị đáng tin cậy.

 

-----------------------------

Các nội dung liên quan

Liên Hiệp Châu Âu lên án chiến tranh hỗn hợp của Nga tại Moldova

CHÂU ÂU - MOLDOVA - KHÍ ĐỐT

.

Phương Tây lo ngại cáp ngầm sẽ là mục tiêu mới của "chiến tranh hỗn hợp"

CÔNG NGHỆ - ĐỊA CHÍNH TRỊ

.

Châu Âu muốn tăng cường khả năng ứng phó chiến tranh hỗn hợp của Nga

LIÊN ÂU - NGA

 

 

 

 




PHẢI GIẢI GIỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO! (Phạm Hồng Lam / Báo Tiếng Dân)

 



Phải giải giới Trí Tuệ Nhân Tạo!

Phạm Hồng Lam  /  Báo Tiếng Dân

14/10/2026

https://baotiengdan.com/2026/10/14/phai-giai-gioi-tri-tue-nhan-tao/

 

Đâu là quan điểm của giáo hội công giáo trước những hứa hẹn và nguy cơ của Trí Tuệ Nhân Tạo? Giới thiệu tông thư (*) của giáo hoàng Leo XIV: “Magnifica Humanitas” – “Gìn giữ con người trước sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo”.

 

                                                      ***

 

Hiện trạng con người và thế giới

 

Sức mạnh và sự hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới, đặc biệt công nghệ Trí Tuệ Nhân Tạo (KI, AI) đang đặt nhân loại trước một tình huống mới, trước một ngã rẽ quyết định. Ảnh hưởng của KI bao trùm gần như trên toàn bộ cuộc sống hàng ngày. Chúng định hình các quyết định và ảnh hưởng sâu xa đến khả năng suy tưởng của tập thể. Một mặt, chúng mở ra những cơ hội bao la, nhưng mặt khác, tiềm năng của chúng phá vỡ cuộc sống và tiêu diệt con người cũng vô cùng đáng sợ.

 

“Chưa bao giờ nhân loại lại có nhiều quyền lực đối với chính mình đến vậy” [Laudato si, 104]. Nhưng, họ sẽ sử dụng quyền lực này như thế nào? Họ sẽ quyết định đi theo ngã rẽ nào?

 

Sẽ dùng nó để xây một tháp Babel hay để chung tay xây dựng một Jerusalem mới? Tháp Babel và thành Jerusalem mới là hai hình ảnh trong Kinh Thánh thiên chúa giáo. Tháp Babel biểu tượng cho lòng tham thống trị và sự bất hòa giữa các dân tộc, dẫn đến xung đột và chiến tranh. Thánh Jerusalem mới tượng trưng cho sự liên đới, hợp tác, cùng thăng tiến trong hòa bình.

 

Con đường Babel tất sẽ dẫn tới đổ vỡ và huỷ diệt. Vì thế, Giáo Hội thấy có trách nhiệm phải kịp thời cảnh báo. Thông điệp Magnifica Humanitas (Loài người tuyệt vời) được viết ra trong mục đích đó.

 

Vị trí và trách nhiệm của Giáo Hội

 

Từ hơn 60 năm qua giáo hội công giáo đã chính thức công nhận sự tách biệt và độc lập giữa thế quyền và thần quyền [Gaudium et Spes 76]; hai thực thể này có những quy luật hoạt động riêng. Chính trị, trong đó bao gồm gần như mọi sinh hoạt khác (xã hội, kinh tế, luật pháp, kỹ thuật v.v.) là lãnh vực thế tục. Sự vận hành độc lập của nó hoàn toàn khác với sự vận hành của Giáo Hội. Thế tục quan tâm đến “phần xác”; tôn giáo đáp ứng nhu cầu “phần hồn”.

 

Thế thì tại sao Giáo Hội lại cứ “mất giờ tốn công” hoặc cứ “nhúng tay” vào những chuyện thế sự, chẳng hạn như lên tiếng bảo vệ lao động, lên tiếng cảnh báo về hoạ chiến tranh, về sự bất toàn của các thể chế tư bản và cộng sản, về tương lai bất định của sự phát triển công kỹ nghệ?

 

Lời trách móc đó là điệp khúc luôn được thế quyền lặp đi lặp lại. Vì thế, Magnifica Humanitas (MH) đã dành một chương để trả lời lập luận này, đồng thời làm rõ vị trí và trách nhiệm của Giáo Hội: Vâng, chính trị và tôn gáo là hai thực thể độc lập; mỗi thực thể có vai trò riêng, nhưng cả hai đều có một đối tượng phục vụ chung: Con người. Cộng đồng Vaticano II – “cơ quan lập pháp” cao nhất của Giáo Hội công giáo – cũng cùng một quan điểm, khi tuyên bố:

 

“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” [GS 1].

 

Giáo Hội “không được phép xa rời những đau khổ cụ thể của con người” [21], vì Giáo Hội ở trong trần thế. Do đó, nơi đâu có những quyết định liên quan đến phẩm giá cá nhân, đến sự nối kết các cộng đồng và đến lợi ích chung, ở đó có sự tiếp tay của Giáo Hội. Nhưng cũng cần biết, sự lên tiếng và đồng hành của Giáo Hội không “nhằm chỉ trích hoặc thay thế thế quyền, mà là vì bổn phận phải quan tâm đến những vết thương của nhân loại, nhất là ở những nơi đâu chúng biểu hiện một cách đặc biệt nghiêm trọng” [21].

 

Mối liên kết hữu cơ giữa thế tục và Giáo Hội này cũng là nền móng cho một lối giáo huấn mới của Giáo Hội, vốn được bắt đầu từ giáo hoàng Leo XIII (1878-1903), khi, lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, vị này trực tiếp lên tiếng trước những vấn nạn xã hội nóng bỏng của thời đại mình, với thông điệp Rerum Novarum năm 1891.

Một vài lên tiếng điển hình:

 

– Leo XIII: Rerum Novarum (Sự Việc Mới, 1891) khẳng định, phẩm giá của lao động và của người lao động phải là tâm điểm của mọi quyết định kinh tế. Giá trị con người vượt trên cả tư bản lẫn lợi nhuận; họ có quyền được trả lương công bằng, có quyền tư hữu và quyền lập nghiệp đoàn để hợp tác với giới chủ như một giải pháp thay thế cho chủ trương “đấu tranh giai cấp”. Đó là thời của cách mạng kỹ nghệ và hậu quả của nó đã làm nảy sinh phong trào cộng sản.

 

– Pius XI: Quadragesimo Anno (Năm Thứ Bốn Mươi – kỷ niệm 40 năm Rerum Novarum, 1931) lên án sự tập trung quyền lực kinh tế vào tay một số ít người; chỉ trích cả việc cạnh tranh không giới hạn của Tư Bản lẫn các chương trình tập thể hóa huỷ diệt tự do và trách nhiệm cá nhân của Cộng Sản. Đó là thời kinh tế thế giới đại suy thóai, sau thế chiến I.

 

– John XXIII: Pacem in Terris (Hoà Bình Trên Địa Cầu, 1963) khẳng định, nhân quyền là nền tảng chung của mọi trật tự và hành động; và một nền hòa bình chân chính trên địa cầu phải đặt nền trên và được bảo vệ bởi công lý, tự do và tình yêu. Pacem in Terris xuất hiện sau khi thế giới vừa tránh được một cuộc đối đầu nguyên tử nguy hiểm giữa Mỹ và Liên Bang Xô-viết ở Cuba.

 

– John Paul II viết Centesimus annus (kỷ niệm 100 năm Rerum Novanrum, 1991), sau khi thế giới cộng sản vừa sụp đổ và thiên hạ giờ đây háo hức với nền dân chủ và kinh tế thị trường. Nhưng Centesimus annus chỉ cổ xuý cho nền dân chủ nào bảo đảm được sự tham gia hiệu quả của công dân, cho phép bầu cử và thay thế những người nắm quyền một cách ôn hòa; và chỉ cổ xuý cho nền kinh tế thị trường và sáng kiến ​​tư nhân nào, khi chúng tuân theo luật đạo đức và được hướng dẫn bởi nguyên tắc đoàn kết, mà không hy sinh những người dễ bị tổn thương nhất cho mục đích lợi nhuận.

 

– Benedictus XVI với Caritas in veritate (Tình yêu trong sự thật, 2009): Xét lại và đào sâu thêm khái niệm phát triển do giáo hoàng Paul VI đưa ra và đặt nó vào trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

– Francis, với Laudato si (Chúc tụng Thiên Chúa, 2015) đề cập vấn đề khủng hoảng môi sinh hiện nay của địa cầu và đề nghị xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, trong đó phải ưu tiên quan tâm đến các tầng lớp người nghèo.

 

Truyền thống tích cực lên tiếng này được tiếp nối bởi các giáo hoàng về sau. Để rồi những đóng góp đó từ từ góp phần hình thành nên “Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội” hoặc “HTXH Công Giáo” hiện đại.

 

HTXH “không phải là cuốn cẩm nang về các nguyên tắc và quy tắc để áp dụng, mà là phương tiện giúp cộng đồng phân định” [27].

 

Học thuyết này vận dụng các kiến thức khoa học hiện đại, được đọc dưới ánh sáng đức tin và truyền thống Giáo Hội, để từ đó rút ra những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và những đường hướng để hành động [Giáo Lý Công Giáo, 2423], nhằm giúp con người tổ chức cuộc sống thăng tiến cá nhân và hòa bình xã hội.

 

Thách đố của Trí Tuệ Nhân Tạo

 

Giữa thế kỷ XIX, phát triển kỹ thuật đã tạo ra cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ. Cuộc cách mạng này, bên cạnh những thành công to lớn của nó, đã đẩy một phần nhân loại vào cảnh lầm than và nô lệ.

 

Và hiện nay, bước vào thế kỷ XXI, nhân loại lại đứng trước một cuộc cách mạng mới, gọi là Cách Mạng Công Nghệ trên nền tảng Trí Tuệ Nhân Tạo.

 

“Công nghệ này đang có nguy cơ tạo ra những hình thức mới về lệ thuộc công nghệ, gây bất lợi cho các dân tộc nghèo; lạm dụng những sáng tạo mới cho chủ trương thực dân về mặt ý thức hệ và kinh tế; dùng thuật toán để khéo léo thống trị; tập trung quyền lực một cách vô trách nhiệm vào trong tay những nền tảng kỹ thuật số và dùng sự tối ưu hóa các hệ thống làm thước đo phẩm giá con người” [Leo XIV; Vatican News, 22.8.26].

 

Công nghệ tự nó không xấu, nhưng nó không trung tính về mặt đạo đức. Vì là sản phẩm của con người và mang nơi mình tính hai mặt, các mô hình công nghệ hàm chứa trong chúng những quyết định và những ưu tiên của người làm ra nó. Họ làm ra chúng với hậu ý gì? Họ quan niệm thế nào về con người? Họ đề cao những giá trị nào? Cũng một con dao, nếu dùng để cắt gọt là phương tiện tốt; nhưng nếu dùng để đâm chém, lại là vật khí xấu.

 

Như vậy, tóm lại Trí Tuệ Nhân Tạo là gì?

 

“Nó chỉ là sự bắt chước trí tuệ của con người, nhưng không phải là trí tuệ thật của con người. Nó không có kinh nghiệm, không có thân thể, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành trong các mối quan hệ, và không tự mình biết thế nào là tình yêu, làm việc, tình bạn và trách nhiệm. Nó cũng không có lương tâm đạo đức: Không phân biệt được thiện – ác, không nhận ra ý nghĩa thực sự của các tình huống, và không gánh chịu hậu quả. Nó có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và phán đoán (của con người). Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm hoặc thấu hiểu, nhưng không hiểu được tác động các hành động của mình, vì nó không hoạt động trong phạm vi cảm xúc, quan hệ và tinh thần, một phạm vi mà con người đạt được bằng sự khôn ngoan của mình” [99].

 

Do đó, để có thể phân định một sản phẩm công nghệ là tốt hay xấu, cần phải đặt nó trước những nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn đánh giá được HTXHCG đề ra, qua một số tra vấn như sau:

 

– Công nghệ này có gây phương hại nhân phẩm không? Nó giúp con người thăng tiến hay biến họ thành đối tượng để khai thác, khi “lấy hiệu quả, khả năng kiểm soát và lợi nhuận làm nền tảng duy nhất cho các quyết định cá nhân, xã hội và kinh tế?” [92].

 

– Công nghệ đó có đóng góp vào công ích và tạo đoàn kết trong xã hội và giữa các dân tộc không? Công ích vạch trần và lên án thế độc quyền bất cân xứng của TTNT. Đoàn kết cũng có nghĩa là các chủ thể nắm dữ liệu, thuật toán, các nền tảng và trí tuệ nhân tạo phải tính đến không chỉ lợi ích trước mắt của một số ít người, mà còn phải cho tất cả mọi người và các thế hệ tương lai [76].

 

– Công nghệ đó có tuân giữ nguyên tắc của cải là tài sản chung không? Không gian, địa cầu, biển, nước, khí, các tài nguyên thiên nhiên, và nay là các dữ liệu cá nhân được Thiên Chúa trao ban cho toàn thể gia đình nhân loại. Do đó, mọi người phải có quyền tiếp cận và không ai được phép chiếm giữ chúng làm của riêng [109].

 

– Công nghệ đó có góp phần tạo công bằng xã hội không?

 

“Công bằng trong thời đại kỹ thuật số có nghĩa là sự bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng các cơ hội cho tất cả mọi người, bảo vệ những người trẻ tuổi và dễ bị tổn thương nhất, chống lại sự thù hận và thông tin sai lệch, đặt việc sử dụng dữ liệu và công nghệ trước sự giám sát của công chúng, và bảo đảm rằng, thước đo thành công không chỉ đơn thuần là lợi nhuận, mà là phẩm giá của mỗi người và hạnh phúc của các dân tộc” [80].

 

Phải “giải giới” Trí Tuệ Nhân Tạo…

 

Trên đây là vài nguyên tắt trong nhiều nguyên tắc và tiêu chí định hướng của HTXHCG, giúp chúng ta đánh giá một quyết định, một chính sách, một định chế, một chế độ, một kỹ thuật hay công nghệ mới.

 

Như đã nói, TTNT mở ra viễn ảnh to lớn cho con người, nhưng đồng thời nguy cơ của nó cũng không nhỏ, nên cần phải rất cẩn thận trong sử dụng. Thật ra, thế giới chúng ta “không cần một thứ trí tuệ nhân tạo làm suy giảm con người; thay vào đó, thế giới cần một trí tuệ con người được soi sáng bởi sự khôn ngoan, một chính quyền được dẫn dắt bởi lương tâm, và một sự đổi mới công nghệ được thúc đẩy bởi lòng bác ái. Chỉ bằng cách này, trí tuệ nhân tạo mới không trở thành đối thủ của nhân loại, mà là người phục vụ lợi ích chung” [Leo XIV; Vatican News, 22.8.26].

 

Để có một TTNT phục vụ hữu hiệu lợi ích chung của con người, nhờ được dẫn dắt bởi sự khôn ngoan của những nhà thiết kế và được giám sát bởi một chính quyền có lương tâm, Magnifica Humanitas đề nghị một cuộc “giải giới” TTNT.

 

“Giải giới TTNT có nghĩa là loại bỏ nó khỏi nền tảng thi đua vũ trang, thứ vũ trang này ngày nay không chỉ mang tính quân sự, mà còn cả kinh tế và nhận thức. Cuộc đua này là làm sao để có được nền tảng thuật toán mạnh nhất và cơ sở dữ liệu lớn nhất, để củng cố lợi thế địa chính trị hoặc thương mại của mình trên tất cả mọi người khác. Giải giới có nghĩa là phá vỡ phương trình sức mạnh công nghệ với quyền thống trị. Giải giới không có nghĩa là từ bỏ công nghệ, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Có nghĩa là không cho nó nắm độc quyền, làm cho nó trở nên đáng nghi vấn và có thể tranh luận và nhờ đó trở nên thân thiện với cuộc sống, trả lại cho nó sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của con người” [110].

 

… để bảo vệ nhân tính

 

Đòi hỏi các nhà sản xuất TTNT phải có ý hướng trong sáng và đạo đức, đòi hỏi người tiêu dùng phải ý thức việc làm của họ, đòi hỏi các chính quyền phải có trách nhiệm giám sát, tất cả cũng chỉ với mục đích gìn giữ con người, bảo vệ nhân tính trước những thử thách dồn dập và khó lường của cuộc cách mạng kỹ thuật số.

 

Con người vốn bất toàn, nhưng là thụ tạo tuyệt vời so với mọi thụ tạo trần gian khác. Họ sẽ trở nên toàn hảo nhờ những thiếu sót đó, chứ không bằng cách bất chấp những thiếu sót này [118]. Họ sẽ đạt được nhân tính trọn vẹn, khi họ không chỉ là người, mà là khi họ sẵn sàng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để giúp mình vượt khỏi bản thân, để có thể đạt đến bản chất đích thực hơn của mình. Đấy là sự khác biệt căn bản so với giấc mơ của chủ nghĩa Siêu Nhân (Trans-humanismus) và Hậu Nhân (Posthumanismus) vốn thập thò đằng sau các thuật toán [128]. Hai thứ chủ nghĩa này coi con người là một thứ vật liệu chưa hoàn chỉnh, nên cần phải được gia tăng khả năng và hiệu năng hoặc phải được tối ưu hóa thông qua máy móc và công nghệ [116].

 

Gìn giữ con người, cách cụ thể, là bảo vệ Sự Thật, bảo vệ Lao Động và Sự Tự Do của họ.

 

Sự Thật là điều kiện phát triển nhân cách và nền tảng xây dựng quan hệ xã hội. Hiện nay nó đang bị nhiễu loạn khắp nơi trên các mạng truyền thông và các nền tảng xã hội. Dối trá làm hư nhân cách, hủy hoại lòng tin, tạo bất ổn xã hội. Việc thao túng các nội dung, hình ảnh và phim ảnh của TTNT làm sai lạc sự phán đoán của cá nhân, làm tập thể lạc hướng hoặc rơi vào những quan điểm một chiều. Dối trá hay thông tin sai lệch không bắt nguồn từ TTNT, nhưng nó đã tìm thấy ở đây một công cụ khuếch đại rất tốt. Các hình thức tuyên truyền không dựa trên sự thật vốn đã có từ lâu, nhưng nay nhờ TTNT chúng trở nên tinh xảo, hữu hiệu, dễ dàng và tỏa rộng hơn.

 

Gìn giữ con người cũng có nghĩa là bảo vệ phẩm giá của Lao Động và bảo vệ người lao động trước những bất an của thị trường lao động. HTXHCG coi Lao Động là chìa khóa thiết yếu để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi vì thông qua đó, con người phát huy được nhiều khía cạnh của cuộc sống mình. Lao Động không những là phương tiện sinh kế, mà còn là nơi để thể hiện bản thân; nó giúp con người trưởng thành, đồng thời là chỗ để cá nhân kết nối và đóng góp cho cộng đồng [149, 154].

 

TTNT đang làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc công việc. Nhiều nghành nghề vốn thông dụng như thư ký, kế toán, thông dịch, tư vấn, thảo chương, phục vụ, chế tạo và lắp ráp máy móc v.v. nay đang dần bị đào thải, trong lúc những loại công việc mới do TTNT hứa hẹn thì lại chưa hình thành. Thất nghiệp đang trở thành con ma ám ảnh, tạo bất an nơi toàn xã hội. HTXHCG khẳng định, việc cung cấp công ăn việc làm cho tất cả mọi người phải là mục tiêu hàng đầu của chính trị và các quá trình kinh tế; nó phải là một tiêu chí để đánh giá phẩm chất của một mô hình phát triển [Caritas in Veritate 32].

 

Gìn giữ nhân phẩm cũng có nghĩa là bảo vệ sự Tự Do. Điểm đặc trưng nhất nơi một con người là tự do. Tự do này được Thiên Chúa phú bẩm ngay từ đầu nơi bản chất của họ, và nay nó đang bị đe doạ bởi việc thu thập dữ liệu khổng lồ và bởi việc sử dụng các hệ thống thuật toán. Cá nhân trở thành hàng hóa, bị biến thành một mớ dữ liệu có thể kiểm soát, phân loại, định giá; tất cả rốt cuộc chỉ để tối đa hóa quyền lực và lợi nhuận của một số người. Mọi hành động như di chuyển, mua sắm, tương tác, sở thích đều dược ghi dấu, để người ta từ đó quyết định việc theo dõi, xếp hạng xã hội, cho vay tiền, nhận vào làm, được ký bảo hiểm…

 

Như vậy, có nghĩa là tự do con người bị xâm phạm, và những người yếu kém bị phân biệt đối xử.

 

Đấy là một hình thức nô lệ hóa mới, một bộ mặt mới của chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa này không còn chỉ kiểm soát thân xác, mà còn chiếm đoạt dữ liệu và biến cuộc sống cá nhân thành thông tin có thể buôn bán. Có lắm khu vực và nhiều quốc gia nghèo hiện đang bị chi phối bởi một nền tảng bóc lột mới. Các dữ liệu sức khoẻ, hồ sơ dịch tễ học, bản đồ di tử (gen) của người dân đang trở thành những “nguyên tố đất hiếm” mới của các tập đoàn quyền lực [178].

 

Xây dựng một nền Văn Minh Tình Thương

 

Một đề tài nghiêm trọng khác gắn liền với công nghệ TTNT là Chiến Tranh. Một khi TTNT tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm, lúc đó nó sẽ khiến các quyết định về việc sống hay chết trở nên nhanh chóng và vô cảm hơn, biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thời và khả thi. Là vì “những thành tựu khoa học và công nghệ, nếu không đi kèm với tiến bộ đạo đức và tiến bộ xã hội, rốt cuộc sẽ quay sang chống lại con người” [Paul VI; 117]. Thế giới liên lập và phân cực ngày nay ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, vì thế hòa bình là điều kiện tiên quyết cho việc sống chung và là thước đo sự trưởng thành về mặt đạo đức của các dân tộc, đặc biệt những dân tộc nắm giữ quyền lực.

 

Chiến tranh đang được khai thác dưới nhiều dạng: Xung đột vũ lực (Ukraine, Gaza, Lebanon, Venezuela, Iran …), tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và tự động hóa các quyết định chiến lược. TTNT đang tham gia vào các quá trình này với tính hai mặt của nó: Nó vừa tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ dân lại vừa giúp tấn công, vì thế ranh giới giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Nó làm giảm ngưỡng sử dụng vũ lực, làm lu mờ trách nhiệm giải trình và củng cố một nền văn hóa, trong dó kẻ thù bị thu nhỏ thành dữ liệu và nạn nhân thành “thiệt hại ngoài dự kiến” [183].

 

Hiện nay, khủng hoảng của toàn cầu hóa và những hậu ý đen tối mang màu sắc dân tộc và cực đoan đã khiến cho một số quốc gia và kẻ nắm quyền dấy lên một thứ văn hóa quyền lực, trong đó người ta coi chiến tranh là chuyện bình thường: Đó là một công cụ của chính trị quốc tế và là phương tiện đương nhiên phải có [189]. Luật pháp quốc tế vì thế bị chà đạp, thi đua vũ trang được cổ vũ, các ngành công nghiệp vũ khí được đôn đốc để hưởng lợi, trong khi các tiêu chí đạo đức hạn chế việc sử dụng vũ lực bị xói mòn.

 

Ở đây, ngoài việc góp phần tạo nên những thứ vũ khí tự hành chính xác và giúp cho việc chiến tranh trở nên dễ khả thi hơn, TTNT còn đóng góp to lớn cho việc hình thành diễn ngôn về một “cuộc chiến chính nghĩa”.

 

Thật ra, chẳng có cuộc chiến tranh nào có chính nghĩa cả. Mọi chiến tranh đều mang lại đau khổ và chết chóc. Giáo Hội công giáo cho đến nay vẫn chấp nhận một “cuộc chiến chính nghĩa”, khi đó là một cuộc tự vệ đích thật. Tuy nhiên quyền tự vệ này, trên thực tế, thường rất dễ bị giải thích một cách quá rộng. Người ta dùng nó để biện minh một cách bất hợp pháp ngay cả những cuộc tấn công hoặc phát động cuộc chiến tranh gọi là “phòng ngừa” [MH, ghi chú 182]. Vì thế, giáo hoàng Leo XIV muốn vượt qua khái niệm “chiến tranh chính nghĩa” này; và các giáo trụ (hồng y) trong công nghị ngày 26.6.2026 vừa qua đã đề nghị Giáo Hội từ nay nên thay thế nó bằng khái niệm “quyền tự vệ đúng mức” (Recht auf verhältnismäßige Verteidigung) hoặc “quyền tự vệ hợp pháp” (Recht auf rechtmäßige Verteidigung).

Để chống lại và hóa giải thứ văn hóa quyền lực này, MH đề nghị thế giới hãy chung tay xây dựng một nền Văn Minh Tình Thương, đặt nền trên công lý và yêu thương, với sự chung tay góp sức của mọi người. Mỗi người có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình như từng viên đá, mà dân Do-thái trước đây đã góp nhặt, để cùng nhau dựng lại tường thành Jerusalem đổ nát của họ.

 

Mỗi người chúng ta, trong phạm vi cá nhân mình, hãy bắt đầu với những bước nhỏ, như:

 

– Giải giới lời nói: Nói lời ngay thật, bình luận xây dựng, đối thoại chân thành và đặt những quy tắc này làm nền móng cho cuộc sống chung; mạnh mẽ lên tiếng trước bất công và nói không với chiến tranh [214, 219-223].

 

– Xây dựng hòa bình trong công lý: Ai ai trong chúng ta cũng có thể đóng góp vào nền tảng của hòa bình, nền tảng này là công lý. Nó xuất phát từ công lý cá nhân: “Công lý của mỗi người và hòa bình của mọi người có liên hệ mật thiết với nhau” [Gioan Paul II; 215]. Nó có nghĩa là điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì dừng gây ra cho người khác.

 

– Tập đồng cảm và nhìn từ góc độ của nạn nhân. Có những tình huống không cho phép chúng ta trốn tránh hoặc giữ thái độ trung lập: Đánh bom thường dân, tấn công bệnh viện, trường học hoặc bạo hành trẻ em… là những cái ác phải bị tố cáo và lên án [216, 217].

 

– Trên bình diện quốc tế, cần phải khởi động lại việc đối thoại, tuân thủ luật pháp quốc tế và tăng cường, cải tiến các định chế quốc tế, đặc biệt cơ quan Liên Hiệp Quốc. Càng phân cực, thế giới lại càng cần có những định chế chung để quy hướng, nối kết. Trong quan hệ quốc tế, đối thoại là công cụ không thể thiếu của ngoại giao, nhằm ngăn ngừa xung đột và khôi phục lòng tin. Nó càng đặc biệt cần thiết, vì không gian mạng hiện cũng đã trở thành một chiến trường: Các cuộc tấn công mạng, thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng do TTNT dàn dựng có thể làm bất ổn nền chính trị quốc gia ngay cả trước khi một cuộc xung đột vũ trang công khai nổ ra [225].

________

Chú thích:

 

(*) Thông Điệp hay Tông Thư: Là một phương tiện giáo huấn của vị đứng đầu giáo hội công giáo. Nó thường được đặt tên theo những chữ đầu của bản văn tiếng Latin.

 

Tông Thư đầu tay của một giáo hoàng thường là chương trình hành động của vị đó trong nhiệm kỳ của mình. Đối tượng của một Tông Thư liên quan tới Xã Hội không chỉ là những tín hữu công giáo, mà còn gởi tới “tất cả những người thiện chí”. Nội dung thông điệp cũng không phải là tín lý buộc phải tin, nhưng mức độ huấn giáo của nó rất cao đối với tín hữu công giáo.

 

Magnifica Humanitas được giáo hoàng Leo XIV ký ngày 15-5-2026, cũng là ngày cách đây đúng 135 năm giáo hoàng Leo XIII ký thông điệp xã hội đầu tiên Rerum Novarum (1891) nhằm góp phần khắc phục hậu quả của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ.

 

Muốn có bản PDF tiếng tiếng Việt, 145 trang khổ Din A5 do PTGDVNHN dịch, hãy liên lạc: cstongvietbuong@aol.com.





“THUYẾT CHIẾN THẮNG”, CHIẾN LƯỢC RĂN ĐE NGA CỦA NATO (Anh Vũ / RFI)

 



“Thuyết chiến thắng”, chiến lược răn đe Nga của NATO

Anh Vũ  -  RFI

Đăng ngày: 13/10/2026 - 12:30  -  Sửa đổi ngày: 13/10/2026 - 12:44

https://www.rfi.fr/vi/ph%C3%A2n-t%C3%ADch/20261013-thuy%E1%BA%BFt-chi%E1%BA%BFn-th%E1%BA%AFng-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-r%C4%83n-%C4%91e-nga-c%E1%BB%A7a-nato

 

Trong bối cảnh chiến tranh Ukraina kéo dài, các hoạt động chiến tranh hỗn hợp của Nga gia tăng và những nghi ngại về cam kết an ninh của Mỹ đối với châu Âu, ngày 12/10/2026, tại Diễn đàn An ninh Vacxava, tướng Alexus Grynkewich, tư lệnh cao nhất của Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương NATO đã trình bày « thuyết chiến thắng » nếu xảy ra xung đột với Nga.

 

https://s.rfi.fr/media/display/707a6bdc-c63b-11f1-9e0c-e362370cce2e/w:1024/p:16x9/2026-10-12T112240Z-543671160-RC2N1OA7UBKM-RTRMADP-3-UKRAINE-CRISIS-POLAND-SECURITY-FORUM.webp

Tư lệnh tối cao NATO tại châu Âu, tướng Alexus Hrinkiewicz, phát biểu tại Diễn đàn An ninh Vacxava, Ba Lan, ngày 12/10/2026. © Aleksandra Szmigie / Reuters

 

Đây là chiến lược mới nhằm khẳng định khả năng phòng thủ của NATO, đồng thời răn đe Nga mà không đẩy đối đầu đến nguy cơ leo thang mất kiểm soát.

 

Từ răn đe đến vô hiệu hóa đối phương

 

Trước hết là bối cảnh, chỉ huy NATO chọn Ba Lan để phát biểu, và đó là một biểu tượng. Washington xem Vacxava là đồng minh gương mẫu, vì Ba Lan đã nâng ngân sách quốc phòng lên 4,8% theo đúng yêu cầu của tổng thống Donald Trump. Trong khi đó, chiến tranh Ukraina sắp bước sang năm thứ năm, các cuộc tấn công hỗn hợp của Nga vào các nước thành viên Liên minh ngày một nhiều, và niềm tin trong NATO suy giảm kể từ khi ông Trump trở lại Nhà Trắng. Theo giới quan sát, bài phát biểu cứng rắn của chỉ huy quân sự Liên minh có hai mục đích: làm nản lòng kẻ muốn tấn công, và trấn an các thủ đô châu Âu.

 

Trên đài RFI Pháp ngữ, ông Jonathan Guiffard, nhà nghiên cứu thuộc Viện Địa chính trị Pháp nhận định :

 

« Kể từ khi Nga xâm lược Ukraina năm 2022, các đồng minh NATO đã xây dựng nhiều kịch bản, đặc biệt là các kịch bản Nga gây hấn. Gần như có thể chắc chắn rằng, với những khó khăn đang gặp phải ở Ukraina, Nga sẽ không phát động một cuộc chiến tranh quy ước toàn diện chống NATO. Dĩ nhiên, Nga không có đủ phương tiện quân sự để làm điều đó. Tuy nhiên, giới chức NATO vẫn nghiên cứu những kịch bản về một cuộc xâm lược của Nga, có thể nói là hạn chế, nhằm thử thách liên minh, và đặc biệt là chứng minh rằng liên minh không vững chắc như họ vẫn nói ».

 

Theo tướng Grynkewich, nếu một thành viên NATO bị tấn công, liên minh sẽ chặn đứng, đẩy lùi cuộc tiến công và phá hủy các lực lượng tiếp tục gây hấn. Mục tiêu không chỉ là đánh bại lực lượng trực tiếp tham chiến, mà còn vô hiệu hóa toàn bộ hệ thống bảo đảm cho hoạt động quân sự của đối phương, từ hậu cần, chỉ huy đến các phương tiện hỗ trợ.

 

Cách tiếp cận này phản ánh sự thay đổi trong tư duy chiến lược của NATO. Trong Chiến tranh Lạnh, Liên minh từng dựa vào khả năng trả đũa mạnh mẽ, kể cả bằng vũ khí hạt nhân, để ngăn Liên Xô phát động chiến tranh. Nay, NATO nhấn mạnh khả năng đáp trả linh hoạt, phối hợp nhiều lĩnh vực tác chiến và kiểm soát mức độ leo thang.

 

Đáng chú ý, tướng Grynkewich tuyên bố NATO không tìm cách giáng một thất bại chiến lược toàn diện cho đối phương. Liên minh muốn tập trung vào việc phá vỡ năng lực tiến hành cuộc tấn công, thay vì theo đuổi mục tiêu mở rộng chiến tranh.

 

Thuyết chiến thắng của NATO dựa trên sự kết hợp giữa vũ khí chính xác hiện đại và số lượng lớn các hệ thống có chi phí thấp, dễ triển khai, như drone và phương tiện tự động. Các hoạt động quân sự sẽ được tiến hành đồng bộ trên bộ, trên biển, trên không, trong không gian và không gian mạng.

 

NATO cũng đặt trọng tâm vào ưu thế tình báo và tốc độ ra quyết định. Khả năng thu thập, phân tích thông tin từ nhiều nguồn được kỳ vọng giúp liên minh phát hiện sớm nguy cơ tấn công, nhanh chóng triển khai lực lượng và giành lợi thế trước đối phương.

 

Tuy nhiên, ưu thế trên lý thuyết không đồng nghĩa với khả năng thực hiện hoàn hảo trên thực địa. Các chiến dịch hỗn hợp quy mô nhỏ, khó xác định thủ phạm và được tiến hành dưới ngưỡng xung đột quân sự công khai, vẫn có thể khiến NATO bị bất ngờ. Bên cạnh đó, năng lực triển khai drone, hệ thống tự động và các phương tiện tác chiến hiện đại chưa đồng đều giữa các thành viên.

 

Bài toán đoàn kết xuyên Đại Tây Dương

 

Một thách thức lớn khác là sự phụ thuộc của NATO vào Mỹ. Dù Washington có những tín hiệu điều chỉnh cam kết quân sự tại châu Âu, Liên minh vẫn khẳng định các kế hoạch phòng thủ hiện hành cơ bản không thay đổi. Theo một nguồn quân sự Pháp được Le Figaro trích dẫn, việc Mỹ giảm hiện diện có thể ảnh hưởng đến năng lực tác chiến, nhưng không nhất thiết làm thay đổi mục tiêu quân sự của NATO.

 

Tướng Grynkewich khẳng định không ai nên nghi ngờ cam kết của Mỹ với liên minh. Nhưng việc ông phải nhấn mạnh điều đó cho thấy những nghi ngờ vẫn tồn tại.

 

Dẫu vậy, khoảng cách giữa mục tiêu và phương tiện vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Một chiến lược đòi hỏi khả năng phối hợp nhanh chóng, chia sẻ tình báo và huy động nguồn lực quy mô lớn sẽ khó đạt hiệu quả nếu các đồng minh thiếu đồng thuận chính trị hoặc không có đủ năng lực quân sự cần thiết.

 

Đối với chiến tranh hỗn hợp của Nga, NATO chủ trương xác định trách nhiệm, duy trì hỗ trợ Ukraina và tăng cường phối hợp giữa các thành viên. Tuy nhiên, việc không công khai đầy đủ các lằn ranh đỏ cho thấy Liên minh vẫn muốn duy trì sự mơ hồ chiến lược, khiến đối phương khó dự đoán chính xác phản ứng của mình.

 

Về bản chất, thuyết chiến thắng mới của NATO tìm cách giải quyết hai yêu cầu : Liên minh muốn đủ mạnh để khiến Matxcơva từ bỏ ý định gây hấn, nhưng không đặt mục tiêu làm suy yếu đối phương đến mức buộc họ phải leo thang để bảo vệ lợi ích sống còn.

 

Vì vậy, thuyết chiến thắng của NATO không đơn thuần là kế hoạch đánh bại Nga trên chiến trường. Đó còn là nỗ lực định hình cách thức tiến hành và giới hạn một cuộc xung đột tiềm tàng, trong đó sức mạnh quân sự phải song hành với khả năng kiểm soát leo thang.

 

Sức răn đe của thông điệp này phụ thuộc vào ba điều : năng lực thực tế của quân đội châu Âu, độ tin cậy của cam kết Mỹ, và khả năng đối phó những đòn tấn công không nằm trong kịch bản chiến tranh quy ước. Đây cũng là những điểm mà tướng Grynkewich không thể trình bày trong một bài phát biểu công khai.

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

Chuyên gia Pháp : Nga dựng bệ phóng drone mới, NATO bị đe dọa hơn Ukraina

THEO DÒNG THỜI SỰ

NATO cảnh báo bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào một nước thành viên đều sẽ thất bại

NATO - NGA

Liên Âu và NATO lên tiếng ủng hộ Estonia sau cáo buộc Nga phá hoại

NATO - ESTONIA - NGA

 

 

 


View My Stats