Thượng
viện Mỹ sáng nay 19/5 (giờ Việt Nam) đã phê chuẩn bà Jennifer Wicks McNamara
làm tân đại sứ Mỹ tại Việt Nam.
Trang
web chính thức của Thượng viện Mỹ cho hay gói phê chuẩn gồm 49 đề cử nhân sự,
trong đó có chức vụ đại sứ Mỹ tại Việt Nam, đã được thông qua.
Hiện
chưa rõ khi nào bà Jennifer Wicks McNamara sẽ đến Việt Nam nhận nhiệm vụ. Đại sứ
Mỹ nhiệm kỳ gần nhất là ông Marc E. Knapper đã
rời Hà Nội vào đầu năm nay.
Vào
thời điểm được phê chuẩn, bà Wicks là quan chức cấp cao của chính phủ Mỹ, giữ
chức giám đốc Văn phòng bổ nhiệm của Tổng thống tại Nhà Trắng.
Bà
đã giữ vị trí này từ từ năm 2012, qua bốn đời tổng thống Mỹ liên tiếp.
Trong
vai trò này, bà thường xuyên làm việc với các quan chức cấp cao tại Nhà Trắng
và Bộ Ngoại giao Mỹ.
Trang
web của Thượng viện Mỹ giới thiệu bà Wicks đã có 31 năm kinh nghiệm trong chính
phủ Mỹ và kinh qua nhiều chức vụ trong Bộ Ngoại giao, bên cạnh thời gian công
tác tại Lục quân Mỹ.
Bà
cũng được giới thiệu là một nhà lãnh đạo có tư duy đổi mới và chiến lược, từng
dẫn dắt nhiều sáng kiến liên ngành quan trọng, bao gồm hiện đại hóa chính sách
chức danh ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ để phản ánh chính xác hơn môi trường
ngoại giao đang thay đổi trên toàn thế giới hiện nay.
Bà
còn giữ vai trò chủ chốt trong việc lập kế hoạch và triển khai quá trình chuyển
giao tổng thống. Bên cạnh đó, bà cũng đảm nhiệm vai trò huấn luyện viên lãnh đạo
cấp cao tại Trung tâm Đào tạo Đối ngoại Quốc gia của Mỹ.
Những
kinh nghiệm nói trên cùng sự hiểu biết về chính sách và quản lý, khiến bà Wicks
trở thành ứng viên phù hợp để giữ chức đại sứ Mỹ tại Việt Nam.
Bà
Wicks nhận bằng thạc sĩ khoa học về chiến lược an ninh quốc gia tại trường Đại
học Chiến tranh Quốc gia năm 2008 và trước đó là bằng thạc sĩ quản trị công tại
Đại học Hoa Kỳ năm 2003.
Trong
phiên điều trần phê chuẩn ngày 11/12/2025, bà Wicks cho biết sẽ tập trung vào
việc điều chỉnh quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và Mỹ – một ưu tiên cốt lõi của chính quyền Trump.
"Mối
quan hệ thương mại hiện nay là mất cân bằng," bà Wicks phát biểu trước Ủy
ban Đối ngoại Thượng viện tháng 12/2025.
Khi
đó, bà cam kết sẽ "thúc đẩy khả năng tiếp cận thị trường công bằng cho
hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, bao gồm công nghệ, năng lượng và nông sản; hỗ trợ
phát triển các chuỗi cung ứng đa dạng và có khả năng chống chịu; đồng thời khuyến
khích đầu tư của Việt Nam vào Mỹ."
Trước
bà Wicks, đã có 8 đời đại sứ Mỹ tại Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa
quan hệ ngoại giao vào năm 1995, bao gồm:
Chính phủ
Hàn Quốc ngày 18/5 công bố Sách
trắng Thống nhất 2026, trong đó lần đầu tiên đưa vào quan điểm “quan hệ
hai Nhà nước hòa bình hướng tới thống nhất” — một chủ đề đang gây tranh luận
trong chính sách liên Triều. Đây là Sách trắng Thống nhất đầu tiên dưới thời
chính quyền tổng thống Lee Jae-myung, đồng thời cũng là lần đầu văn kiện thường
niên này có phụ đề: “Ghi chép về chung sống hòa bình trên bán đảo Triều Tiên
năm 2025”.
HÌNH
:
Hình
minh họa: Du khách quan sát phía Bắc Triều Tiên từ Đài quan sát Thống nhất ở
Paju, Hàn Quốc, biên giới với miền Bắc, 10/08/2025. AP - Ahn Young-joon
Từ Seoul,
thông tín viên Trần Công cho biết thêm thông tin :
Theo
bộ Thống Nhất Hàn Quốc, phụ đề về « chung sống hòa bình trên bán đảo
Triều Tiên năm 2025 » phản ánh định hướng của Seoul nhằm chuyển
quan hệ liên Triều từ tình trạng đứt đoạn sang cùng tồn tại hòa bình. Sách trắng
nêu ba nguyên tắc chính trong chính sách mới gồm: tôn trọng chế độ Bắc Triều
Tiên, không theo đuổi thống nhất bằng sáp nhập và chấm dứt các hành động thù địch.
Văn kiện cũng đánh giá các biện pháp như dừng rải truyền đơn và ngừng phát loa
chống Bắc Triều Tiên là những bước đi nhằm giảm căng thẳng quân sự và khôi phục
lòng tin giữa hai miền.
Sách
trắng đồng thời đề cập các nhiệm vụ tiếp theo như khôi phục Hiệp định quân
sự liên Triều ngày 19/9, thúc đẩy đối thoại liên Triều và xây dựng nền tảng thể
chế cho chung sống hòa bình thông qua một hiệp định cơ bản mới giữa
hai miền. So với năm trước, các nội dung về nhân quyền Bắc Triều Tiên, người
đào tẩu, tù binh, người bị bắt cóc, cũng như các nghị quyết và lệnh trừng phạt
của Liên Hợp Quốc đối với Bình Nhưỡng đã bị thu hẹp rõ rệt.
Trong
bối cảnh Bắc Triều Tiên coi quan hệ liên Triều là “hai quốc gia thù địch”,
bộ Thống Nhất Hàn Quốc cho rằng Seoul cần hướng tới mô hình hai thực thể cùng tồn
tại hòa bình, nhưng vẫn duy trì mục tiêu thống nhất bán đảo Triều Tiên. Tuy
nhiên, việc đưa khái niệm “quan hệ hai Nhà nước hòa bình” vào văn
kiện chính thức đã gây tranh luận, do có ý kiến cho rằng điều này có thể mâu
thuẫn với Hiến Pháp Hàn Quốc. Bộ Thống Nhất bác bỏ lập luận này, khẳng định đây
là sự kế thừa lập trường của các chính phủ trước: tôn trọng thực thể chính trị
của nhau, duy trì tính chất đặc biệt của quan hệ liên Triều và hướng tới thống
nhất trong hòa bình.
Từ
cuối năm 2023, nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã định nghĩa quan hệ
liên Triều không còn là quan hệ đồng bào, mà là quan hệ giữa “hai quốc
gia thù địch” và “hai bên tham chiến đang trong tình trạng chiến
tranh”. Bình Nhưỡng cũng liên tục đưa ra các phát ngôn cứng rắn với Seoul tại
nhiều sự kiện chính trị lớn, đồng thời gần đây đã hoàn tất sửa đổi Hiến Pháp thể
hiện Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc là hai Nhà nước độc lập.
Chiến
tranh Trung Đông và việc phong tỏa eo biển chiến lược Hormuz một lần nữa cho thấy
tầm quan trọng sống còn của biển. Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và liên kết
chặt chẽ, hơn 90% trao đổi thương mại thế giới, tính theo trọng lượng, được thực
hiện qua đường biển. Do đó, bất kỳ sự gián đoạn nào của hệ thống vận tải hàng hải
đều có thể gây ra các hiệu ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến tất cả mọi người.
HÌNH
:
Hàng
không mẫu hạm Mỹ, USS Dwight D. Eisenhower, tại eo biển Hormuz ngày 26/11/2023.
AP - Information Technician Second Class Ruskin Naval
Việc
Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã có tác động ngay lập tức đến giá nhiên liệu và
giao thương phân bón hóa học. Trước cuộc khủng hoảng, khoảng 25% dầu mỏ và 30%
phân bón được trao đổi trên toàn cầu đi qua eo biển này. Từ tháng 03/2026, chỉ
một số ít tàu có thể đi qua tuyến đường này, trong khi trước đây trung bình có
129 tàu mỗi ngày. Tác động về kinh tế và đối với con người được dự báo là rất lớn.
Việc
đóng cửa hoàn toàn Hormuz đã có thể dự đoán trước, vậy mà hải quân Mỹ - lực lượng
thống trị các đại dương từ sau Đệ nhị Thế chiến - không thể mở lại một eo biển
do một đối thủ kiểm soát, dù hải quân và không quân của đối thủ Iran phần lớn
đã bị phá hủy. Đối với sử gia Ian Speller, thành viên của hội học thuật lịch sử
Royal Historical Society, cũng là giám đốc Trung tâm Lịch sử Quân sự và Nghiên
cứu Chiến lược tại Maynooth University của Ireland, thực trạng này đặt ra hàng
loạt câu hỏi. Và cuộc
khủng hoảng Hormuz đã minh họa rất rõ câu châm ngôn « trước khi hành động
phải có chiến lược ».
Sức
mạnh hàng hải có giá trị thế nào đối với các nước ?
Sử
gia Ian Speller nhắc lại là có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chiến
lược hàng hải, vốn được xem là thuộc lĩnh vực chiến lược quốc gia, nghiên cứu
những nguyên tắc áp dụng trong các tình huống mà biển đóng vai trò quyết định.
Dù
mỗi nhà bình luận có cách tiếp cận khác nhau, nhưng tất cả đều đồng thuận rằng
trong lịch sử, quyền thống trị trên biển là nền tảng không thể thiếu của sức mạnh
quốc gia : biển có chức năng kép, vừa là một phương tiện thiết yếu của
thương mại quốc tế, vừa là không gian nơi các lực lượng quân sự di chuyển trong
các chiến dịch.
Khả
năng sử dụng không gian, tức là kiểm soát biển, và tước đoạt quyền sử dụng đó của
kẻ thù, tức là ngăn chặn đối thủ tiếp cận biển, từ hàng ngàn năm nay đã là một
bộ phận cấu thành chiến lược quân sự hoàn chỉnh. Ví dụ, nhờ sức mạnh hàng hải
và khả năng triển khai lực lượng hướng tới bờ biển của một quốc gia khác mà
Vương quốc Anh đồng thời có thể làm giàu thông qua thương mại và làm nghèo các
đối thủ bằng các cuộc phong tỏa. Nói cách khác lực lượng hải quân Anh tấn công
các bờ biển ấy, đồng thời ngăn cản đối phương làm điều tương tự với mình.
Nhưng
sẽ là vô ích nếu lao vào một cuộc đối đầu hải quân với một kẻ thù mà mình không
thể đánh bại ?
Đúng
như vậy. Cũng vì thế mà các nước thường nỗ lực làm suy yếu đối phương bằng cách
nhắm vào một điểm yếu mang tính phổ quát : sự phụ thuộc vào thương mại hàng hải.
Những cuộc tấn công đơn lẻ nhằm vào hạm đội thương mại là cách tiếp cận được
Pháp, Hoa Kỳ rồi Đức ưu tiên áp dụng trong các cuộc chiến chống lại Vương quốc
Anh vào các thế kỷ 18-20. Nhưng kết quả, thường là Anh giành chiến thắng, khiến
các nhà chiến lược hàng hải truyền thống cho rằng giải pháp phong tỏa sẽ phù hợp
hơn khi phải đối đầu hải quân với một kẻ thù mạnh hơn.
Tuy
nhiên, chuyên gia Ian Speller nhấn mạnh là khi đối phó với một cường quốc hàng
hải thống trị, phong tỏa cũng là lựa chọn phi thực tế. Vì vậy, mới xuất hiện chiến lược làm gián đoạn thương mại
hàng hải,
kể cả với hoạt động thương mại của các nước trung lập và không tham chiến. Chiến
lược làm gián đoạn thương mại hàng hải đã được sử dụng suốt nhiều thế kỷ và đã
chứng tỏ là một phương tiện chắc chắn gây tổn hại cho kẻ thù.
Nói
một cách khái quát, theo sử gia Ian Speller, các quốc gia sở hữu lực lượng hải
quân yếu thường có xu hướng tập trung vào phòng thủ ven biển nhằm giữ các đối
thủ mạnh ở cách xa bờ biển của mình. Điều này đòi hỏi phải kết hợp các thành phần
thuộc lực lượng hải quân với lực lượng trên bộ (pháo binh, pháo đài, lực lượng
dự bị cơ động). Sự phát triển của thủy lôi và ngư lôi vào thế kỷ XIX, rồi đến
máy bay và sau này là tên lửa chống hạm trong thế kỷ XX, đã tạo cho các lực lượng
hải quân quy mô nhỏ một khả năng gây thiệt hại đáng kể, đặc biệt tại các vùng
biển ven bờ.
Ví
dụ tiêu biểu là Thổ Nhĩ Kỳ đã bảo vệ thành công eo biển Dardanelles năm 1915
khi đối mặt với hạm đội Anh-Pháp. Gần đây hơn, Ukraina đã cho thấy khả năng gây
ra những tổn thất đáng kể cho hạm đội Nga ở Hắc Hải, thậm chí đã gần như vô hiệu
hóa đối phương, bằng cách sử dụng tên lửa và drone có thiết bị dẫn đường nhờ
thông tin tình báo. Trong cả hai trường hợp nói trên, lực lượng hải quân Anh -
Pháp - Nga, đều được xem là hùng mạnh, đã bị các đối thủ yếu hơn, là Thổ Nhĩ Kỳ
và Ukraina, đánh bại với đòn đáp trả bất đối xứng.
Trở
lại trường hợp eo biển Hormuz, do tàu thuyền không có tuyến đường biển nào khác
đi vòng, Iran càng có cơ hội tấn công quyền tự do lưu thông hàng hải ?
Theo
tác giả bài viết, có nhiều khả năng Iran sẽ lấy cảm hứng từ những tư tưởng của
Liên Xô trong các thập niên 1920 - 1930, hoặc của hải quân Trung Quốc những năm
1950 - 1960, xây dựng chiến lược dựa trên việc phát triển một hệ thống phòng thủ
nhiều tầng, chìa khóa để bảo vệ bờ biển đối phó với các lực lượng hải quân mạnh
hơn. Teheran cũng sẽ khai thác yếu tố địa lý địa phương, vốn cho phép Iran
phong tỏa một eo biển chiến lược bằng cách sử dụng tập hợp các phương tiện quân
sự hàng hải phi truyền thống.
Nói
cách khác, đối với những quốc gia có lực lượng hải quân khiêm tốn, việc kiểm
soát cục bộ trên biển là lựa chọn hợp lý nhất khi phải đối mặt với các đối thủ
mạnh hơn. Và nếu họ nằm gần một nút thắt hàng hải chiến lược, thì các lựa chọn
gần như đã quá rõ ràng. Tính dễ tổn thương của thương mại toàn cầu do các quyết
định của Iran trong khu vực này có thể giải thích tại sao các chính quyền Mỹ
trước đây dè dặt trong việc dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự không cần
thiết chống lại một đối thủ như Iran.
Chiến
lược phản phong tỏa dưới thời Trump ra sao ?
Hoàn
toàn có thể hiểu sự dè dặt của Hoa Kỳ trong việc triển khai phương tiện hải
quân tại eo biển Hormuz, trong khi các lực lượng thù địch kiểm soát bờ phía bắc.
Sự thận trọng của các đồng minh của Mỹ khi phải can thiệp và làm điều mà chính
Hoa Kỳ còn từ chối thực hiện cũng rất dễ hiểu. Phương án đổ bộ lực lượng mặt đất
để bảo đảm an ninh cho eo biển từ phía bờ biển Iran là một lựa chọn hoàn toàn
khó chấp nhận, xét đến quy mô lực lượng cần thiết, khả năng vấp phải sự kháng cự
trên bộ của Iran, cũng như thái độ ác cảm công khai của tổng thống Donald Trump
về việc khởi động một « cuộc chiến dài bất tận » mới ở Trung Đông.
Trong
thập niên 1980, phản ứng đối với việc Iran rải thủy lôi trong khu vực này là
huy động tàu chiến Mỹ, châu Âu và Liên Xô để hộ tống các tàu hàng, đồng thời
triển khai một chiến dịch quốc tế quy mô lớn để rà phá thủy lôi, đi kèm với các
đòn không kích trừng phạt của Mỹ nhằm mục đích răn đe. Chuyên gia Ian Speller
nhận định cách tiếp cận đó phù hợp với bối cảnh thời bấy giờ, tức bối cảnh « vùng
xám », thì ngày nay trong bối cảnh chiến tranh công khai với
Iran, nó ít còn phù hợp. Iran đã cho thấy rằng hiện nay họ có rất ít lý do để
phải tỏ ra thận trọng, và giới lãnh đạo Teheran đã chứng minh quyết tâm chấp nhận
cái giá của các cuộc oanh kích quy mô lớn.
Theo
hướng đó, một cuộc phong tỏa của Mỹ, nhằm buộc Iran phải chia sẻ gánh nặng từ sự
gián đoạn thương mại quốc tế này, có thể trở thành một nước cờ hiệu quả. Lựa chọn
chiến lược này thực sự cho phép tránh đặt các tài sản chiến lược quan trọng vào
tình thế nguy hiểm, bởi các con tàu có thể bị chặn bắt ở bất kỳ giai đoạn nào
trên hành trình đến hoặc rời khỏi Iran. Tuy nhiên, vẫn còn phải chờ xem liệu sức
ép đó có đủ để buộc Teheran phải nhượng bộ hay không, bởi vì giới lãnh đạo Iran
có thể cho rằng họ đang nắm giữ lợi thế đàm phán lớn hơn để đối phó với Hoa Kỳ,
do cuộc phong tỏa lẫn nhau gây ra những tác động rộng lớn hơn đối với kinh tế
toàn cầu.
Sức
mạnh hải quân của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho một cuộc tấn công quy mô lớn nhằm
vào Iran và cho phép thiết lập một cuộc phong tỏa có thể thực sự gây tác động mạnh
đến nền kinh tế Iran trong những tuần và tháng sắp tới. Tuy nhiên, bất chấp sự
tàn phá do chiến dịch không kích mà Mỹ - Israel gây ra, việc Iran đóng cửa eo
biển Hormuz vẫn là điều vừa dễ dự đoán vừa có sức gây rối loạn cực kỳ lớn.
Chính vì vậy, đối với chuyên gia Ian Speller, thật đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ
dường như đã không chuẩn bị cho kịch bản này.
Cuộc
tấn công của Mỹ và Israel đã biến chiến dịch quân sự thành một cuộc đối đầu trước
hết là về hải quân, trong khi ban đầu chủ yếu xoay quanh các cuộc không kích.
Biến chuyển của cuộc xung đột đã mang lại cho Washington một bài học cay đắng.
Việc không thể giành được chiến thắng nhanh chóng đã phơi bày những giới hạn của
sức mạnh Mỹ, và hiện nay Lầu Năm Góc vẫn đang phải đối mặt với một thách thức
chưa có lời giải đáp.
Dù
còn quá sớm để dự đoán kết cục thực sự của cuộc xung đột, nhưng ngay từ bây giờ
chúng ta đã có thể rút ra một số bài học ?
Bài
học đầu tiên và hiển nhiên nhất, đối với sử gia Ian Speller, là sự cần thiết của
việc phải có một kế hoạch xác đáng trước khi sử dụng vũ lực. Quyền bá chủ trên
biển và trên không chỉ có giá trị nếu nó cho phép đạt được một lợi thế bền vững
sau khi chiến sự kết thúc.
Thứ
hai, như các cuộc đối đầu gần đây cho thấy, một nước hoàn toàn có thể thua một
cuộc chiến trên biển ngay cả khi hạm đội đối phương đã bị tiêu diệt trong một
chiến dịch cực kỳ bất đối xứng : đối thủ đó có thể có trong tay những phương tiện
khác để gây sức ép hoặc vô hiệu hóa ưu thế của đối phương. Điều này có nghĩa là
Iran hoàn toàn có thể trở thành bên chiến thắng trong cuộc chiến hải quân này.
Và
cuối cùng, tự do hàng hải vẫn giữ một tầm quan trọng mang tính nền tảng để hiểu
được chiến lược hàng hải. Đó là một quyền tự do có thể sẽ bị thách thức và có
thể sẽ cần được bảo vệ. Vì thế, hải quân sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định
trong các lực lượng tác chiến liên quân, nhưng các lực lượng đó chỉ thực sự hiệu
quả nếu được triển khai để phục vụ một chiến lược phù hợp và thực tế.
Sau khi tổ chức các cuộc biểu tình nhằm lật đổ chính phủ Iran bất thành, Trump và Netanyahu đã tiến hành một cuộc chiến tranh “giải phóng dân Iran khỏi ách độc tài của chế độ thần quyền” nhưng thực chất như Trump thú nhận công khai là: “Tôi muốn sở hữu các mỏ dầu của Iran như tôi từng làm ở Venezuela”.
Vì vậy, đó là một cuộc chiến phi nghĩa, bá đạo và man rợ. Man rợ vì từ đầu cuộc chiến đến nay có hơn 5.000 người chết (kể cả Lebanon) và Iran bị thiệt hại vật chất hơn 300 tỉ USD, chưa kể Lebanon, Israel. Riêng Mỹ đã xài tiền thuế của dân mỗi ngày 2 tỉ nếu nhân cho 5 tuần ác chiến thì cũng gần 100 tỉ USD, chưa kể các máy bay và tàu sân bay bị bắn rơi hoặc hư hại hoặc phải tự phá hủy trước khi rút chạy.
Người chết nhiều như vậy, tiền của đem đốt nhiều như vậy, nhưng kết quả được gì?
-Mỹ trớc quớc, chẳng những thua, mà thua toàn tập, thua nhục nhã và tởn cho tới… ngày tận thế.
Thực ra đó không phải là Mỹ thua mà là Trump thua vì láu táu, “làm ăn không tính, ở lính cả đời”, Trump thua vì nhẹ dạ bị Netanyahu nó dụ khị, nó bắt cầm cu cho nó đái.
Khi nghe tin Israel không kích giết cả nhà giáo chủ Ali Khamenei, ngoại trưởng Marco Rubio nói với Trump: “Ối trời! Thằng Netanyahu nó đẩy chúng ta vào chân tường rồi!”. Và thế là Trump lãnh đủ cơn thịnh nộ chẳng những của Ông Thần Đèn mà của cả dân tộc Iran.
Vụ tàn sát ấy, về sau này, Trump thường nói gỡ gạc là “Chúng ta chiến thắng ngay từ trận không kích đầu tiên”, nhưng bất cứ ai biết suy nghĩ và có chút hiểu biết về tâm lý quần chúng thì cuộc tàn sát ấy đã giúp toàn dân, toàn giáo hội Hồi Giáo chẳng những ở Iran mà trên toàn thế giới đoàn kết một lòng đánh Mỹ.
Và có lẽ tôi không cần nói, bạn cũng biết, rằng di hại của vụ đó sẽ kéo dài nhiều thế hệ. Đó là những cuộc khủng bố trả thù sẽ diễn ra ở bất cứ đâu trên thế giới.
Bạn có còn nhớ vụ đánh bom khủng bố đẫm máu ở đảo du lịch Bali (Indonesia) ngày 12/10/2002 với 202 người chết không? Bạn có còn nhớ Bin Laden tấn công tòa tháp đôi WTC làm chết 6.000 dân Mỹ không? Và còn vô số vụ khác… bây giờ và mai sau, ở đây, ở kia và ở khắp nơi trên thế giới…
Giết ông Ali Khamenei chẳng đem lại chút lợi lộc gì cho Mỹ, vì ông đã 86 tuổi rồi, sắp về với thánh Allah rồi… nhưng cái chết ấy sẽ kéo theo những hệ lụy khó lường cho người Mỹ trong nhiều thế hệ. Đó là sự ngu xuẩn của Netanyahu và Trump-kẻ-cầm-cu-nổi-tiếng và quyền lực nhất thế giới.
*
Cuộc chiến Iran đã làm lộ rõ nhiều sự thật mà bấy lâu nay giấu kín:
– Trump công khai với thế giới rằng cuộc chiến Iran thực chất là “chiếm các mỏ dầu” (Nhưng cho tới giờ này thì vẫn chưa cướp được giọt dầu nào vì không thắng nổi Iran).
– Netanyahu rất sợ và thù Iran nhưng không dám chơi tay đôi, bèn đích thân đem kẹo tới Nhà Trắng dụ khị thằng con nít 80 tuổi kéo quân đến hợp đồng tác chiến.
Thực ra ai cũng biết Iran không phải là mối đe dọa cùa Mỹ vì hai nước ở cách xa nhau hơn 10.000 km và vì Mỹ giàu mạnh hơn Iran gấp nhiều lần. Iran cũng không hề chọc ghẹo, đe dọa hay xúc phạm gì tới Mỹ.
Ngày 28 tháng 3 năm 2026, trong cuộc biểu tình vĩ đại mang tên NO KING (không có vua – ám chỉ Trump) Chín triệu dân Mỹ đã biểu tình khắp 50 tiểu bang, hô khẩu hiệu: “Đó là cuộc chiến của Israel. Không phải cuộc chiến của chúng ta. Tại sao chúng ta phải chết cho người Do Thái?”
Nhưng bé Trump đã “ăn kẹo” của Netanyahu rồi và nhất là đã bị nó dồn vào chân tường (lời Marco Rubio) lại còn “cầm cu cho nó đái” (chọc quê chơi)… nên đành “phóng lao phải theo lao”
– Lâu nay mọi người đều cho rằng NATO là một liên minh hùng mạnh nhất thế giới, nhưng cuộc chiến Iran đã làm lộ rõ tính ô hợp của một quần thể lỏng lẻo, rời rạc với nhiều rạn nứt khó hàn gắn. Đã thế lại bị Trump coi như một đám chư hầu. Trump gọi NATO là con hổ giấy, rồi lại đòi chiếm Greenland bằng vũ lực, sáp nhập Canada làm tiểu bang thứ 51.
Chính sự kiêu ngạo của Trump đã khiến cho Châu Âu xa lánh và cô lập Mỹ. Đó là bi kịch của Trump.
Nhưng bi kịch lớn nhất của lão già 80 tuổi này là BI KỊCH TƯỞNG BỞ.
Xuất thân là doanh nhân bất động sản, nhưng đó là tôi nói cho “văn chương” một chút chứ thực ra Trump là một tay “cò nhà đất” chính hiệu.
Với vốn liếng ban đầu chỉ 200.000 USD, trump đã dùng ba tấc lưỡi để “mua đi bán lại” nhiều căn hộ, nhiều đất đai có giá trị gấp trăm lần vốn liếng mà lão có. Những bất động sản này là tài sản của người khác nhưng Trump vẫn đem bán được (theo kiểu “mượn đầu heo nấu cháo”). Và vẫn kiếm lời.
Trump đã đem những ngón nghề ấy để mở những cuộc chiến tranh. Lão đã khống chế Venezuela và bán dầu của nước này được 500 triệu USD, gởi vào ngân hàng của mình 300 triệu và chỉ đưa cho Venezuela có 200 triệu. Đó là “phi vụ” do chính lão khoe, còn những áp-phe khác có lẽ thô bạo hơn mà chúng ta chưa biết đến.
Tuy nhiên, thắng lợi của Trump ở Venezuela đã hình thành trong lão một ảo tưởng lớn về bản thân mình: Một nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, chỉ cần ngồi nhà ra một cái lệnh là có thế còng tay một tổng thống của quốc gia khác. Cuộc đột kích huyền thoại, chỉ tốn có 3 tiếng đồng hồ và không hề rụng một sợi lông chân.
Một thành tích vô tiền khoáng hậu. “Chỉ có tôi mới làm được chuyện đó”, Trump đã nói câu ấy rất nhiều lần trên các phương tiện truyền thông.
Năm 1939 Hitler tấn công châu Âu và chiến thắng dễ dàng như “chẻ tre”:
1/9/1939: chiếm Ba Lan trong 5 ngày. Tháng 4/1940: tấn công Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Tháng 6/1940: nuốt trọn Pháp chỉ sau một tuần.
Những chiến thắng dễ dàng ấy đã khiến Hitler tự coi mình là một vị thần chiến tranh vô địch. Nhưng đó chỉ là hoang tưởng. Và sự hoang tưởng ấy đã thúc đẩy hắn quyết định tấn công một đất nước rộng gấp 40 lần mình. Đó là Liên Xô.
Hitler đã thất bại thảm hại. Và tự sát.
Sự chiến thắng dễ dàng của Trump ở Venezuela ngày nay cũng đã biến Trump thành một kẻ “vĩ cuồng” (megalomaniac).
Cộng với sự “dụ khị” của Netanyahu, Trump đã trở thành một gã Erostrates.
Vào năm 356 TCN, Erostrates đã cố tình đốt cháy Đền thờ Artemis – một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại.
Khi bị bắt và tra tấn, hắn thú nhận rằng mình thực hiện hành động này chỉ để tên tuổi của mình được lưu danh mãi mãi trong lịch sử.
Nhưng Trump không chỉ “đốt đền”, lão còn giết vô số người dân Iran, Libăng… và ném bom san bằng nhiều thành phố, làng mạc, trường học…. giết chết các thầy cô và 178 em nữ sinh cấp 2 vô tội.
Nhưng Iran không phải là Venezuela.
Trump và Netanyahu tưởng bở rằng Iran sẽ đầu hàng chỉ ngay sau cuộc ném bom đầu tiên.
Tiếc thay, thực tế lại trái ngược.
Iran chẳng những không đầu hàng mà còn chống trả quyết liệt.
Nhưng chống trả như thế nào khi quân Mỹ ở tận ngoài khơi xa không hề nhìn thấy mặt mũi?
Iran đã tìm ra câu trả lời từ 20 năm trước. Đó là các căn cứ quân sự của Mỹ khắp Trung Đông.
Tính đến tháng 4 năm 2026, Hoa Kỳ duy trì mạng lưới quân sự dày đặc tại Trung Đông với ít nhất 19 căn cứ và cơ sở quân sự chính thức. Một số báo cáo điều tra và dữ liệu công khai còn cho thấy con số thực tế có thể lên tới 64 cơ sở nếu tính cả các địa điểm hậu cần và điểm tiếp cận quân sự nhỏ lẻ khác.
Nhưng vẫn còn những “mục tiêu” khác. Đó là các cơ sở làm ăn của Mỹ khắp Trung Đông, kể cả những công ty của người bản xứ mà Mỹ có phần hùn.
Và chuyện gì đã xảy ra ở quê hương của chàng Aladin?
Tuy Mỹ đã san bằng Tehran và các thành phố khác nhưng chế độ Khamenei vẫn tồn tại. Kho Uranium vẫn tồn tại. Các nhà máy sản xuất tên lửa vẫn tồn tại và dân tộc Iran vẫn tồn tại.
Chỉ có những “vùng lãnh thổ” của Mỹ tại Trung Đông là tan nát, các căn cứ quân sự Mỹ tan nát. Và rất nhiều khả năng là sau chiến tranh, chúng sẽ lại trở về với Trung Đông. Ở đó sẽ mọc lên nhiều trường học, bệnh viện cùng những nhà máy hiện đại.
Sẽ không còn bóng dáng một lính Mỹ nào trên vùng đất văn minh Lưỡng Hà rực rỡ giữa hai con sông Tigris và Euphrates huyền thoại.