Thêm về "Công
nghiệp ung thư": TỪ VIỆT MỸ ĐẾN CHIẾC GHẾ THỨ TRƯỞNG
4͏ ͏t͏h͏á͏n͏g͏ ͏9͏, 2026 ͏l͏ú͏c͏ ͏0͏0͏:͏3͏7͏
Thêm
về "Công nghiệp ung thư":
TỪ
VIỆT MỸ ĐẾN CHIẾC GHẾ THỨ TRƯỞNG
>
Vụ án tại Công ty CP Đầu tư Y tế Việt Mỹ, bị can Bùi Chân Phương và bị can Trần
Văn Thuấn đang trong giai đoạn điều tra mở rộng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ
Công an (C03), chưa có kết luận điều tra, chưa có cáo trạng và chưa có bản án.
Mọi phân tích dưới đây chỉ nhằm nhận dạng cơ chế vận hành của một mô hình kinh
tế - quyền lực, không quy kết tội danh cho bất kỳ cá nhân nào khi luật pháp
chưa lên tiếng.
Hôm
2/9/2026, giữa kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Bộ Công an phát đi một quyết định tố tụng
ít người ngờ tới: bổ sung khởi tố, bắt tạm giam ông Trần Văn Thuấn - Thứ trưởng
Bộ Y tế, giáo sư ngành ung thư, nguyên Giám đốc Bệnh viện K - để điều tra tội
"Nhận hối lộ".
Động
thái này nằm trong quá trình mở rộng điều tra vụ án xảy ra tại Công ty CP Đầu
tư Y tế Việt Mỹ, doanh nghiệp mà trước đó chưa đầy hai tháng, Chủ tịch HĐQT của
nó, ông Bùi Chân Phương, đã bị bắt vì buôn lậu và vi phạm quy định về kế toán.
Đặt
hai sự kiện cạnh nhau, một câu hỏi lớn hơn cả vụ án cụ thể bắt đầu hiện hình:
liệu Việt Nam có đang chứng kiến sự nhú mầm của một mô hình mà nước Mỹ đã mất nửa
thế kỷ để gọi tên: "ngành công nghiệp ung thư" - nơi giấy phép, giá
thầu và phác đồ điều trị không còn thuần túy là công cụ chữa bệnh, mà trở thành
hàng hóa được định giá bởi những người vừa có quyền cấp phép vừa có quyền thụ
hưởng?
Vì
thế cần đọc lại vụ Việt Mỹ qua lăng kính của hai cuốn sách Mỹ từng gây tranh
cãi dữ dội trong giới y học phương Tây, không phải để mượn kết luận của họ, mà
để mượn bộ khung phân tích cơ chế mà họ để lại.
Bệnh viện
K, chiếc ghế thứ trưởng & lĩnh vực phụ trách đúng những gì cần thiết
Theo
dữ liệu công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, giai đoạn 2018-2026
Công ty Việt Mỹ tham gia khoảng 276 gói thầu, trúng 246 gói, tổng giá trị tính
cả các gói liên danh xấp xỉ 6.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp này gần như độc quyền
trong một phân khúc thiết bị đặc thù: máy gia tốc xạ trị, dao mổ xạ phẫu Gamma
Knife, hệ thống Cyclotron, nguồn phóng xạ Co-60 và Ir-192 - những cỗ máy chỉ
vài nơi trên thế giới sản xuất, chỉ vài đơn vị trong nước đủ năng lực nhập khẩu
và bảo trì.
Bệnh
viện K, cơ sở đầu ngành cả nước về ung bướu, là khách hàng lớn nhất của Việt Mỹ,
với 9 lần cung cấp thiết bị và dịch vụ chỉ tính riêng từ năm 2023. Bệnh viện Chợ
Rẫy đứng ngay sau. Điểm đáng chú ý không nằm ở số lượng gói thầu, mà ở tính chất
của chúng: nhiều gói chỉ có Việt Mỹ (và công ty liên quan là Sao Kim) nộp hồ sơ
dự thầu, tỷ lệ giảm giá sau đấu thầu dưới 1%, có gói trúng đúng bằng giá dự
toán ban đầu, tức ngân sách không tiết kiệm được một đồng nào qua thủ tục vốn
được thiết kế để cạnh tranh.
Cơ
quan điều tra xác định Bùi Chân Phương dựng một mạng lưới gồm 3 pháp nhân trong
nước, 5 công ty tại Singapore và 3 công ty tại Hồng Kông để mua đi bán lại thiết
bị, nâng giá qua từng khâu trung gian trước khi nhập khẩu và bán cho các cơ sở
y tế trong nước. Song song, doanh nghiệp còn bị cáo buộc lợi dụng giấy phép nhập
khẩu cấp cho thiết bị chính để khai gian là "thiết bị đi kèm", đưa
thêm hàng hóa vào Việt Nam mà không qua đầy đủ thủ tục.
Trong
lúc đó, theo phân công công tác của Bộ trưởng Bộ Y tế hồi tháng 10/2025, ông Trần
Văn Thuấn trực tiếp phụ trách đúng những mảng va chạm với hoạt động của Việt Mỹ:
khám chữa bệnh, ứng dụng và phát triển kỹ thuật mới, theo dõi chỉ đạo Cục Quản
lý Khám, chữa bệnh, và trực tiếp phụ trách - trong danh sách các bệnh viện tuyến
Trung ương ông theo dõi - có Bệnh viện K, nơi ông từng làm giám đốc suốt tám
năm trước khi lên thứ trưởng.
Một
người từng đứng đầu bệnh viện, sau đó lên vị trí hoạch định chính sách và giám
sát chính bệnh viện ấy, trong khi bệnh viện ấy lại là khách hàng lớn nhất của một
nhà cung cấp gần như không có đối thủ, đó là cấu trúc mà bất kỳ nhà báo điều
tra nào cũng phải dừng lại và đặt câu hỏi, bất kể kết luận cuối cùng của tòa án
là gì.
Hai cuốn
sách Mỹ, hai cách vạch trần khác nhau
Cuốn
sách kinh điển nhất trong dòng phê phán y học ung thư phương Tây, như ở bài viết
trước là "The Cancer Industry" của Ralph W. Moss, xuất bản lần đầu
năm 1980. Moss không phải thầy lang ngoài luồng, ông từng là Phó giám đốc phụ
trách truyền thông của Memorial Sloan-Kettering, trung tâm ung thư hàng đầu nước
Mỹ, và tận mắt chứng kiến cách một liệu pháp rẻ tiền bị gạt khỏi dòng nghiên cứu
chính thống.
Cuốn
thứ hai, đã có bản dịch tiếng Việt, là "Ung thư - Sự thật, hư cấu, gian lận
& những phương pháp chữa lành không độc hại" của Ty Bollinger, do Nguyễn
Anh Tuấn chuyển ngữ. Bollinger không phải bác sĩ, sách của ông thiên về cổ vũ y
học thay thế và bị y học chứng cứ bác bỏ nhiều luận điểm.
Cần
nói thẳng: cả hai cuốn đều gây tranh cãi và mang màu sắc ý thức hệ chống lại hệ
thống y tế chính thống Mỹ nói chung, không phải tài liệu khoa học được kiểm chứng.
Người viết không mượn kết luận y khoa của họ, càng không gợi ý đông y hay
"phương pháp tự nhiên" thay thế xạ trị, hóa trị.
Điều
đáng lấy từ hai cuốn sách này là phần mô tả cơ chế kinh tế: một hệ sinh thái tự
nuôi sống mình bằng cách kiểm soát dòng tiền nghiên cứu, đội giá qua chuỗi
trung gian, lợi dụng giấy phép để lách kiểm định, biến bệnh viện đầu ngành
thành nơi định hình cả thị trường, và tạo ra một sự im lặng có giá cho những
người biết chuyện.
Vẽ lại
năm cơ chế ấy lên bản đồ Việt Nam
Đối
chiếu từng điểm với hồ sơ vụ Việt Mỹ, sự trùng khớp không nằm ở chi tiết văn
hóa hay địa lý, mà ở logic vận hành.
Về
đội giá qua chuỗi trung gian, Moss mô tả các công ty bình phong ở nước ngoài
mua bán lòng vòng thiết bị trước khi nhập vào Mỹ để hưởng bảo hiểm. Thông báo của
Bộ Công an về Việt Mỹ gần như là bản dịch sang bối cảnh Việt Nam: một mạng lưới
ba pháp nhân trong nước cùng tám công ty tại Singapore và Hồng Kông, dùng để
nâng giá thiết bị trước khi đưa về nước bán cho các cơ sở y tế.
Về
lợi dụng giấy phép để lách kiểm định, cơ chế trong vụ Việt Mỹ: xin phép nhập một
thiết bị chính rồi khai thêm thiết bị "đi kèm" để đưa hàng vào mà
không làm đầy đủ thủ tục - là phiên bản pháp lý hóa của điều Moss từng mô tả về
ngành thiết bị y tế Mỹ những năm 1970-1980.
Về
việc biến bệnh viện đầu ngành thành nơi định hình thị trường, khi một bệnh viện
có vị thế như Bệnh viện K - nơi xây dựng phác đồ, tham chiếu giá, và là
"khách quen" nhiều năm của một nhà thầu gần như độc quyền - thì việc
trúng thầu hàng nghìn tỷ đồng không còn là chuyện mua bán đơn lẻ, mà là quyền định
giá điều trị ung thư cho cả hệ thống y tế công.
Về
sự im lặng có giá, đây là phần khó chứng minh nhất bằng tài liệu công khai,
nhưng chính là phần mà việc khởi tố một thứ trưởng phụ trách khám chữa bệnh:
người có quyền lực đủ lớn để đặt câu hỏi về một nhà thầu gần như không có đối
thủ suốt nhiều năm, đang buộc dư luận phải đối diện.
Điểm
khác biệt căn bản, và phải nhấn mạnh, là bản chất pháp lý. Cuốn sách của Moss
là một bản cáo trạng ý thức hệ nhắm vào toàn bộ hệ thống FDA, NCI và ngành dược
Mỹ, ông cổ vũ y học thay thế - nhiều luận điểm trong đó nay đã bị y học chứng cứ
bác bỏ.
Vụ
Việt Mỹ, ngược lại, là một vụ án hình sự cụ thể về buôn lậu, vi phạm kế toán và
nhận hối lộ - không tranh luận đông y hay tây y tốt hơn, mà là có hay không
hành vi nâng khống giá để trục lợi và có hay không việc nhận tiền để tạo điều
kiện. Ông Trần Văn Thuấn chưa có bản án, vai trò cụ thể của ông trong vụ án còn
đang được C03 làm rõ. Gọi ông là một mắt xích của "ngành công nghiệp"
khi chưa có kết luận điều tra là vượt quá những gì báo chí được phép khẳng định.
Con số
không phải ngẫu nhiên
Nếu
chỉ dừng ở một vụ án, câu chuyện có thể coi là cá biệt. Nhưng nhìn lại năm năm
gần đây, ngành y tế Việt Nam đã đóng góp cho các trại tạm giam một chuỗi cán bộ
cấp cao mà mật độ của nó khó tìm thấy ở bất kỳ ngành nào khác.
Ở
cấp bộ trưởng, ông Nguyễn Thanh Long - Bộ trưởng Bộ Y tế - bị khởi tố năm 2022
và sau đó lãnh án 18 năm tù vì nhận hối lộ 2,25 triệu USD trong vụ kit xét nghiệm
Việt Á, mức án cao nhất trong số các bị cáo. Cùng vụ án, ông Chu Ngọc Anh, khi
đó là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ - cơ quan trực tiếp tham gia nghiên cứu
và chuyển giao kit xét nghiệm cùng Việt Á - cũng bị xử lý hình sự, dù không thuộc
biên chế Bộ Y tế. Mới đây là bà Nguyễn Thị Kim Tiến, do sai phạm trong xây dựng
hai bệnh viện công.
Ở
cấp thứ trưởng Bộ Y tế, con số tròn ba. Ông Trương Quốc Cường bị khởi tố năm
2021 vì thiếu trách nhiệm trong vụ thuốc giả nhãn mác Health 2000 Canada, sau
đó lãnh 4 năm tù. Ông Cao Minh Quang bị khởi tố liên quan vụ Công ty Dược Cửu
Long. Và nay là ông Trần Văn Thuấn, bị khởi tố vì nhận hối lộ trong vụ Việt Mỹ.
Ở
cấp cục, vụ, phòng, danh sách còn dài hơn: các cựu vụ trưởng Nguyễn Nam Liên (Vụ
Kế hoạch Tài chính) và Nguyễn Minh Tuấn (Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế)
bị khởi tố trong vụ Việt Á cuối năm 2021; cựu Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược
Nguyễn Việt Hùng cùng Trưởng phòng đăng ký thuốc Phạm Hồng Châu bị đề nghị truy
tố trong vụ Health 2000.
Xâu
chuỗi lại, ba vụ án lớn nhất trong năm năm qua: Việt Á, Health 2000/VN Pharma,
và nay Việt Mỹ đều có một mẫu số chung đáng suy ngẫm: chúng đều xảy ra ở đúng
những khâu mà quyền cấp phép, quyền thẩm định và quyền hoạch định chính sách nằm
trong tay rất ít người, và những người đó lại chính là các chuyên gia đầu ngành
được đào tạo bài bản, có uy tín xã hội thật sự trước khi vướng vòng lao lý.
Đây
không phải là dấu hiệu của những cá nhân đơn lẻ tha hóa ngẫu nhiên, mà là dấu
hiệu của một điểm nghẽn cấu trúc: nơi thị trường thiết bị y tế công nghệ cao có
quá ít người bán, quá ít người mua thay mặt nhà nước, và khoảng cách giữa hai
nhóm này quá hẹp để cạnh tranh thực sự có chỗ tồn tại.
Ranh giới
phải giữ
Viết
đến đây, thực sự muốn dừng lại ở một ranh giới mà nghề báo buộc phải tôn trọng.
Nguyên tắc suy đoán vô tội áp dụng cho ông Trần Văn Thuấn cũng như cho bất kỳ bị
can nào khác: bị khởi tố, bị tạm giam không đồng nghĩa với có tội, và vai trò cụ
thể của ông trong vụ án: nhận bao nhiêu, để tạo điều kiện gì, cho ai vẫn đang
chờ kết luận điều tra và phán quyết của tòa. Việc ông từng là người sáng lập Quỹ
Ngày Mai Tươi Sáng hỗ trợ bệnh nhân ung thư nghèo, từng có nhiều năm cống hiến
chuyên môn thực chất, cũng là một phần sự thật không thể xóa bỏ chỉ vì một cáo
buộc.
Tương
tự, việc mượn khung phân tích của Moss và Bollinger không có nghĩa xác nhận các
luận điểm y học thay thế trong hai cuốn sách đó là đúng. Ngược lại, chính vì
hai cuốn sách này thiên về ý thức hệ và có nhiều điểm bị y học chứng cứ bác bỏ,
người viết chỉ sử dụng phần mô tả cơ chế kinh tế: đội giá, lách giấy phép, chi
phối bệnh viện đầu ngành - chứ không dùng chúng như căn cứ để khuyên bất kỳ ai
từ chối xạ trị, hóa trị hay phẫu thuật để tìm đến "phương pháp tự
nhiên".
Câu
hỏi thật sự đáng đặt ra sau vụ Việt Mỹ không phải là "tây y có đáng tin
hay không", mà là câu hỏi mang tính thể chế: làm sao để một thị trường vốn
dĩ đã ít người bán vì rào cản công nghệ - máy gia tốc xạ trị, nguồn phóng xạ,
Cyclotron - không bị bó hẹp thêm bởi việc người cấp phép, người thẩm định và
người giám sát chính sách chỉ là một nhóm rất nhỏ những cá nhân đã ở với nhau, ở
cùng những vị trí liên quan, qua nhiều thế hệ.
Nếu
không trả lời được câu hỏi đó, mỗi vụ án được phanh phui chỉ là cắt bỏ một khối
u, trong khi cơ chế sinh u vẫn còn nguyên trong hệ thống.
------------------
THÊM
TÀI LIỆU
https://www.facebook.com/photo?fbid=28764174293168735&set=pcb.28764273706492127
https://www.facebook.com/photo?fbid=28764174573168707&set=pcb.28764273706492127
https://www.facebook.com/photo?fbid=28764174259835405&set=pcb.28764273706492127
-----0-----
TỪ "CÔNG NGHIỆP
UNG THƯ" ĐẾN "THỊ TRƯỜNG BỆNH TẬT"
4͏ ͏t͏h͏á͏n͏g͏ ͏9͏, 2026 ͏l͏ú͏c͏ ͏0͏0͏:͏3͏7͏
TỪ
"CÔNG NGHIỆP UNG THƯ" ĐẾN "THỊ TRƯỜNG BỆNH TẬT"
>
Giải phẫu cách thức "thị trường" thao túng dịch vụ y tế chuyên sâu
qua một số casestudy
Bài
trước đặt ra một câu hỏi hẹp: liệu ngành ung bướu Việt Nam có đang nhú lên một
"công nghiệp ung thư" theo nghĩa mà Ralph Moss từng mô tả. Nhưng khi
xâu chuỗi các vụ án thiết bị y tế đã được xét xử trong khoảng một thập niên
qua: từ robot phẫu thuật ở Hà Nội đến máy chụp mạch ở Cần Thơ - phạm vi của vấn
đề hóa ra rộng hơn nhiều so với một chuyên khoa.
Đó
không chỉ là ung thư. Đó là bất kỳ căn bệnh nào đủ nặng, đủ hiếm, đủ cần công
nghệ cao để người bệnh không còn khả năng mặc cả. Nói cách khác, cái đang hình
thành không chỉ là một ngành công nghiệp quanh một loại bệnh, mà là một thị trường
bệnh tật nói chung, nơi mức độ hiểm nghèo của bệnh nhân tỷ lệ thuận với dư địa
để trục lợi.
Bốn
vụ việc dưới đây, đã có bản án hoặc đang được xét xử công khai, đủ để vẽ lại tấm
bản đồ ấy - và cho thấy số phận của những người đứng ở tâm điểm nó khác nhau đến
mức nào.
Khi
bệnh viện đầu ngành trở thành "đối tác kinh doanh"
Năm
2016, ông Nguyễn Quốc Anh, khi đó là Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, ký đề án xã hội
hóa lắp đặt hai robot phẫu thuật Rosa và Mako với Công ty CP Công nghệ y tế
BMS. Cơ chế xã hội hóa vốn được thiết kế để bệnh viện công có thiết bị hiện đại
mà không cần ngân sách nhà nước: doanh nghiệp bỏ vốn mua máy, bệnh viện dùng
máy, hai bên chia doanh thu dịch vụ.
Vấn
đề nằm ở khâu định giá đầu vào. Robot Rosa nhập về thực tế chỉ hơn 7 tỷ đồng,
nhưng qua chứng thư thẩm định của Công ty VFS - do thẩm định viên Trần Lê Hoàng
cấp theo yêu cầu của Chủ tịch BMS Phạm Đức Tuấn dù chưa hề có hồ sơ, tài liệu
căn cứ và máy còn chưa về nước - giá trị được ghi khống lên 39 tỷ đồng, tức gấp
hơn năm lần.
Từ
mức giá khống ấy, giá mỗi ca phẫu thuật bị đẩy từ hơn 6,6 triệu đồng lên 23 triệu
đồng, phần chênh lệch hơn 16,5 triệu đồng mỗi ca chảy vào bệnh viện và doanh
nghiệp, còn 637 bệnh nhân gánh khoản thiệt hại hơn 10 tỷ đồng.
Phiên
tòa tháng 1/2022 tuyên Nguyễn Quốc Anh 5 năm tù, Phó Giám đốc Nguyễn Ngọc Hiền
3 năm 6 tháng tù, cả hai đều đã bị tạm giam trong quá trình điều tra. Nhóm cán
bộ tài chính - kế toán bệnh viện và phía doanh nghiệp thẩm định giá, dù bị xác
định là mắt xích trực tiếp tạo ra con số khống, chỉ nhận án treo hoặc mức án thấp
hơn nhiều: Trịnh Thị Thuận và Phạm Đức Tuấn cùng hưởng án treo, thẩm định viên
Trần Lê Hoàng, người ký chứng thư khống, chỉ 2 năm tù giam.
Tại
tòa, ông Nguyễn Quốc Anh phủ nhận việc thông đồng, nói rằng mục đích của mình
là giữ bệnh nhân trong nước thay vì phải ra nước ngoài chữa trị với chi phí gấp
nhiều lần - một lời biện hộ mà Hội đồng xét xử không chấp nhận là tình tiết miễn
trừ trách nhiệm, dù cũng không bác bỏ hoàn toàn ý nghĩa thực tế của nó.
Điều
đáng chú ý về mặt cơ chế là robot Rosa không hề là thiết bị cá biệt. Bệnh viện
Bạch Mai sau đó còn tiếp tục vướng vào một vụ án khác liên quan đến giá thiết bị
tim mạch, dưới thời một giám đốc kế nhiệm. Xã hội hóa thiết bị y tế công nghệ
cao, khi thiếu một cơ chế thẩm định giá độc lập với chính doanh nghiệp cung cấp,
tạo ra một khe hở có thể tái sử dụng ở bất kỳ chuyên khoa nào có thiết bị đắt
tiền: phẫu thuật thần kinh, chấn thương chỉnh hình, tim mạch, và như bài trước
đã chỉ ra, xạ trị ung thư.
Một
người phụ nữ, ba bệnh viện, và mô hình thông thầu lặp lại
Nếu
Bạch Mai là câu chuyện về định giá thiết bị xã hội hóa, thì Công ty AIC dưới sự
điều hành của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn là câu chuyện về việc dựng "quân
xanh, quân đỏ" để vô hiệu hóa hoàn toàn tính cạnh tranh của đấu thầu.
Tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, từ năm 2003 bà Nhàn thiết lập quan hệ với Bí
thư Tỉnh ủy Trần Đình Thành và Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Quốc Thái để AIC được chỉ
định tham gia và trúng 16 gói thầu thiết bị y tế, tổng giá trị 665 tỷ đồng.
Đổi
lại, bà Nhàn trực tiếp và qua cấp dưới đưa hối lộ 14,5 tỷ đồng cho mỗi ông
Thành và ông Thái, 14,8 tỷ đồng cho ông Phan Huy Anh Vũ - khi đó là Giám đốc Bệnh
viện Đa khoa Đồng Nai, sau lên làm Giám đốc Sở Y tế tỉnh - và 1 tỷ đồng cho
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bồ Ngọc Thu. Tổng thiệt hại cho ngân sách nhà nước
được xác định là 152 tỷ đồng.
Cùng
một mô hình ấy, gần một thập niên sau, được lặp lại ở một tỉnh khác với một bệnh
viện khác. Tại Bệnh viện Sản - Nhi Quảng Ninh, dự án mua sắm thiết bị hơn 238 tỷ
đồng do Sở Y tế làm chủ đầu tư, cán bộ Ban Quản lý dự án - trong đó có Phó Giám
đốc Hoàng Đình Sơn - thông đồng với đơn vị thẩm định giá để nâng giá thiết bị,
giúp AIC và một công ty liên quan là Mopha trúng trọn cả sáu gói thầu, thiệt hại
nhà nước 50-73 tỷ đồng tùy giai đoạn điều tra.
Số
phận của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn khác hẳn phần còn lại của bức tranh. Bà bỏ trốn
ngay từ giai đoạn khởi tố, hiện vẫn bị truy nã quốc tế và chưa rõ tung tích.
Tòa vẫn xét xử vắng mặt: 30 năm tù cho hai tội đưa hối lộ và vi phạm quy định đấu
thầu trong vụ Đồng Nai, cộng thêm 10 năm tù trong vụ Quảng Ninh, buộc bồi thường
103 tỷ đồng trong tổng thiệt hại 152 tỷ đồng của riêng vụ Đồng Nai.
Đây
là mức án nặng nhất trong tất cả các vụ án thiết bị y tế được nêu ở đây, nhưng
cũng là bản án khó thi hành nhất, vì người phải chấp hành đang ở ngoài tầm với
của cơ quan thi hành án. Ngược lại, hai cựu lãnh đạo tỉnh Đồng Nai nhận hối lộ
- ông Trần Đình Thành và ông Đinh Quốc Thái - có mặt tại tòa, chấp nhận bản án,
và im lặng trong lời nói sau cùng. Cấp cán bộ dự án ở Quảng Ninh, những người
trực tiếp ký các chứng thư nâng giá, chỉ nhận mức án phổ biến từ 24 đến 36
tháng, có người án treo.
Cần
Thơ: một kịch bản khác, cùng một đạo diễn
Nếu
AIC là ví dụ điển hình cho mô hình thông thầu ở quy mô tỉnh gắn với thiết bị y
tế công nghệ cao, thì vụ án tại Sở Y tế Cần Thơ cho thấy mô hình ấy không phải
độc quyền của một doanh nghiệp hay một nhóm lợi ích duy nhất.
Từ
năm 2017 đến 2019, bà Hoàng Thị Thúy Nga - Chủ tịch Hội đồng sáng lập Tập đoàn
NSJ, một cái tên khác với AIC nhưng vận hành đúng kịch bản tương tự - tiếp cận
Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ Bùi Thị Lệ Phi và người kế nhiệm Cao Minh Chu, dựng ba
bộ hồ sơ dự thầu trong đó chỉ một bộ của chính NSJ đủ tiêu chí, còn lại là hai
công ty "quân xanh" quen biết, để trúng trọn bốn gói thầu thiết bị
cho Bệnh viện Tim mạch và bệnh viện nhi thành phố, tổng giá trị gần 90 tỷ đồng,
gây thiệt hại hơn 32,6 tỷ đồng. Một tình tiết được nêu tại tòa cho thấy mức độ
trần trụi của giao dịch: một cấp dưới của bà Nga từng rút 3 tỷ đồng tiền mặt từ
ngân hàng, mang đến tận nhà bà Bùi Thị Lệ Phi.
Tháng
2/2023, Tòa án nhân dân TP.HCM tuyên bà Bùi Thị Lệ Phi 8 năm tù với vai trò người
đứng đầu, chịu trách nhiệm chính; ông Cao Minh Chu cùng 17 bị cáo còn lại - phần
lớn được xác định là "người làm công ăn lương, không được hưởng lợi trực
tiếp", nhận mức án nhẹ hơn. Bà Hoàng Thị Thúy Nga, người bị Hội đồng xét xử
xác định là kẻ khởi xướng, chủ động tiếp cận và mua chuộc cán bộ quản lý, có mặt
tại phiên tòa và chấp hành bản án, khác hẳn với việc bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn của
AIC chọn con đường bỏ trốn.
Bên
dưới các đại án là dòng chảy mao mạch
Bốn
vụ án trên đều là "đại án": có điều tra viên cấp Bộ, có phiên tòa được
truyền thông theo dõi, có bị cáo là lãnh đạo cấp tỉnh hoặc cấp bệnh viện đầu
ngành.
Nhưng
theo các kết luận kiểm toán và giám định của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, bên dưới
lớp đại án ấy còn một tầng thiệt hại khác, âm thầm hơn nhưng lặp lại đều đặn
hơn: chia tách một dịch vụ kỹ thuật thành nhiều dịch vụ thành phần để thanh
toán trùng, chỉ định chụp CT hay MRI vượt quá nhu cầu lâm sàng, dùng thiết bị
liên doanh chưa hoàn tất thủ tục pháp lý nhưng vẫn thống kê để nhận bảo hiểm y
tế, thậm chí kê khống vật tư tiêu hao đắt tiền như stent tim mạch hay khớp nhân
tạo, tái sử dụng vật tư một lần nhưng vẫn thu tiền theo giá vật tư mới.
Đây
là tầng khó khởi tố hình sự từng vụ việc riêng lẻ, vì mỗi khoản chênh lệch tại
một cơ sở y tế thường không đủ lớn để cấu thành tội danh nghiêm trọng, và người
thực hiện thường chỉ là bác sĩ điều trị hay điều dưỡng cấp khoa phòng, khôg phải
lãnh đạo có quyền quyết định chính sách.
Nhưng
cộng dồn trên quy mô toàn quốc, đây lại là khoản mà Bảo hiểm Xã hội Việt Nam mỗi
năm phải xuất toán và từ chối thanh toán tới hàng trăm tỷ đồng, và là áp lực trực
tiếp đe dọa cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế - quỹ mà phần lớn người dân, đặc biệt
người bệnh nặng, phụ thuộc vào để không phải một mình gánh chi phí điều trị.
Nếu
các đại án ở tầng Bạch Mai, Đồng Nai, Quảng Ninh hay Cần Thơ là những động mạch
lớn bị tắc nghẽn bởi lợi ích nhóm, thì tầng thanh quyết toán bảo hiểm y tế này
giống một hệ thống mao mạch bị rò rỉ liên tục, ít gây chú ý trên mặt báo, nhưng
về dài hạn có thể làm suy yếu chính quỹ bảo hiểm mà cả hệ thống y tế công dựa
vào.
Số
phận khác nhau, cùng một cấu trúc
Đặt
cạnh nhau, năm số phận nổi bật nhất trong các vụ án kể trên cho thấy một quy luật
không hoàn toàn công bằng nhưng dễ nhận ra. Người có vị trí quản lý nhà nước:
giám đốc bệnh viện, giám đốc sở y tế, lãnh đạo tỉnh phần lớn nhận án tù giam thực
sự nếu bị xác định vai trò chính (Nguyễn Quốc Anh 5 năm, Bùi Thị Lệ Phi 8 năm),
nhưng vẫn có ngoại lệ nhận án treo nếu vai trò được xem là thứ yếu hoặc "tạo
điều kiện" thay vì trực tiếp chủ mưu.
Người
đứng đầu doanh nghiệp cung cấp thiết bị hoặc thẩm định giá, nhóm trực tiếp tạo
ra con số khống, lại thường nhận mức án nhẹ hơn tương đối so với thiệt hại họ
gây ra, trừ trường hợp bị xác định là chủ mưu tuyệt đối như bà Nguyễn Thị Thanh
Nhàn, người phải trả giá bằng bản án nặng nhất nhưng đồng thời là người duy nhất
thoát khỏi việc thụ án trên thực tế nhờ bỏ trốn.
Cán
bộ cấp thực thi: kế toán viên, chuyên viên phòng ban, thẩm định viên ký tên
theo chỉ đạo gần như luôn nhận mức án nhẹ nhất hoặc án treo, dù chính chữ ký của
họ là mắt xích không thể thiếu để biến một chủ trương sai thành một con số trên
hợp đồng.
Nhìn
xa hơn từng bản án, điều gắn kết bốn vụ việc này với vụ Việt Mỹ đang được điều
tra không phải là mức độ nghiêm trọng hay tội danh cụ thể, mà là cấu trúc lặp lại:
một thị trường có rất ít người bán vì rào cản công nghệ hoặc quan hệ, một khâu
định giá hoặc thẩm định có thể bị thao túng vì thiếu cơ chế độc lập, và một người
ở vị trí vừa hoạch định chính sách vừa giám sát chính đối tượng mình từng gắn
bó trong sự nghiệp.
Khi
cấu trúc ấy tồn tại, việc căn bệnh cụ thể là gì, ung thư, tim mạch, sản khoa
hay chấn thương chỉnh hình, chỉ quyết định quy mô của khoản lợi bất chính,
không quyết định việc nó có xảy ra hay không.
Ranh
giới phải giữ
Cần
nhắc lại một lần nữa sự khác biệt về mức độ chắc chắn giữa các vụ việc trong
bài. Bốn vụ án tại Bạch Mai, Đồng Nai, Quảng Ninh và Cần Thơ đều đã qua xét xử,
có bản án hoặc đang trong quá trình tố tụng công khai với cáo trạng cụ thể - đó
là cơ sở để gọi tên trách nhiệm hình sự của từng cá nhân theo đúng những gì tòa
án đã tuyên.
Vụ
Việt Mỹ và ông Trần Văn Thuấn, như đã nói ở bài trước, còn đang điều tra, chưa
có cáo trạng, càng chưa có bản án, việc đặt nó trong cùng một khung phân tích cấu
trúc là hợp lý về mặt nhận diện mô hình, nhưng không được phép trở thành căn cứ
để suy đoán trước kết luận mà chỉ cơ quan tố tụng có thẩm quyền đưa ra.
Điều
mà năm vụ án, bốn đã xử, một đang điều tra cùng nói lên, là một thị trường bệnh
tật đã hình thành đủ lâu và đủ rộng để không còn là chuyện của riêng một chuyên
khoa hay một doanh nghiệp.
Câu
hỏi để lại cho những người làm chính sách y tế không phải là truy tìm và trừng
phạt thêm bao nhiêu cá nhân nữa, mà là liệu cơ chế thẩm định giá, đấu thầu và
xã hội hóa thiết bị y tế công nghệ cao có thể được thiết kế lại để không còn phụ
thuộc vào sự liêm chính cá nhân của từng người đang ngồi ở đúng vị trí then chốt
hay không.
----------
Xem
lại bài trước: https://www.facebook.com/share/p/1Ly1B47CNc/?mibextid=wwXIfr
HÌNH
:
https://www.facebook.com/photo?fbid=28777019698550861&set=pcb.28777106075208890
https://www.facebook.com/photo?fbid=28777020005217497&set=pcb.28777106075208890
https://www.facebook.com/photo?fbid=28777020088550822&set=pcb.28777106075208890
No comments:
Post a Comment