Phải chăng Thế Chiến III đã bắt
đầu?
Bret Stephens - New
York Times
Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch
30/08/2026
https://nghiencuuquocte.org/2026/08/30/phai-chang-the-chien-iii-da-bat-dau/
Ngay sau
cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, tôi đã viết một bài báo với
tựa đề “This Is How World War III Begins” (Đây là cách Thế chiến III bắt đầu).
Hơn bốn năm sau, tôi tự hỏi mình đã đúng được bao nhiêu phần.
Lập luận của
tôi dựa trên nguồn gốc của Thế chiến II, vốn không đơn thuần chỉ bắt đầu từ việc
Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 01/09/1939. Thay vào đó, cuộc chiến là sự tích tụ
của các cuộc chiến và khủng hoảng cấp khu vực, bắt đầu bằng việc Nhật Bản xâm
lược Mãn Châu vào năm 1931, sau đó dần dần gộp lại thành một cuộc xung đột toàn
cầu duy nhất.
Sự tích tụ
đó, được tiếp tay bởi những tham vọng hội tụ của các quốc gia toàn trị cùng với
sự chia rẽ và dao động của các nền dân chủ, đã dẫn đến thảm họa. Thêm vào đó là
một cuộc cách mạng về công nghệ và chiến thuật quân sự đã mang lại cho các chế
độ độc tài lợi thế bước đầu trong tác chiến tấn công. Một lợi thế khác là thái
độ sẵn sàng của họ trong việc gây ra – và chịu đựng – một mức độ tàn bạo và đau
khổ mà đối thủ của họ thoạt đầu còn ngần ngại không muốn đáp trả tương đương.
Vào năm
2022, tôi nhận thấy một mô hình tương tự đang diễn ra: Nhiều thập kỷ phương Tây
nhượng bộ Vladimir Putin đã mang lại cho nhà lãnh đạo cứng rắn của Nga cảm giác
rằng ông có thể thoát tội trong gần như mọi chuyện. Mối quan hệ ngày càng phát
triển của ông với Triều Tiên, Iran, và đặc biệt là Trung Quốc – được ghi dấu bằng
cam kết về quan hệ đối tác “không giới hạn” với Bắc Kinh, được công bố vài tuần
trước cuộc xâm lược Ukraine – càng giúp ông thêm sự tự tin. Sự yếu kém của Mỹ
trong cuộc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan chỉ sáu tháng trước đó cũng có
tác động tương tự.
Nhưng
Ukraine đã không, như tôi từng lo ngại, trở thành nước Pháp của năm 1940. Họ giống
nước Anh hơn, sẵn sàng chiến đấu, như Churchill đã nói vào tháng 5 cùng năm đó,
“bất kể con đường có dài và gian nan đến đâu.” Chính quyền Biden, dù đã do dự một
cách tai hại trong việc cho phép Kyiv đưa cuộc chiến vào lãnh thổ Nga, chí ít
đã giúp đảm bảo rằng Ukraine không thua. Ukraine cũng giữ được lợi thế công nghệ,
tiên phong trong các thiết bị và chiến thuật đang khuyến khích việc suy nghĩ lại
đáng lẽ phải có từ lâu về cách các cuộc chiến trong tương lai sẽ diễn ra.
Đó là tin
tốt. Nhưng tin xấu thì còn nhiều hơn thế.
Thứ nhất,
giống như trong thập niên 1930 và 1940, phạm vi xung đột đã mở rộng và đang hợp
nhất.
Những thất
bại trên chiến trường của Nga dường như chẳng làm sự liều lĩnh của Putin giảm
đi chút nào. Ngược lại, ông còn mở rộng chiến dịch của mình, thông qua các cuộc
tấn công và đe dọa gần như không che giấu nhắm vào Moldova, Ba Lan và Đức, cùng
các quốc gia khác, trong khi các đồng minh chính trị của ông liên tục kêu gọi tấn
công trực tiếp vào châu Âu và sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Ukraine. Cuộc tấn
công của Hamas vào Israel năm 2023 lần lượt trở thành một cuộc chiến giữa
Israel và Hezbollah, Houthi và Iran; sau đó là một cuộc chiến giữa Iran, Mỹ và
các quốc gia Vùng Vịnh. Gần đây hơn, Ukraine đã tiến hành các cuộc tấn công tầm
xa ở Biển Caspi để làm gián đoạn nguồn cung khí tài của Iran cho Nga. Và các
quyết định ở một chiến trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết cục ở chiến trường
khác: Việc tiêu hao các tên lửa đánh chặn ở Trung Đông đồng nghĩa với việc hiện
có rất ít tên lửa có thể được dành ra cho Ukraine.
Thứ hai,
Trục Chuyên chế (Axis of Authoritarians) đã trở thành một liên minh quân sự hoạt
động ở mọi cấp độ.
Nga đang hỗ
trợ Triều Tiên hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, trong khi Bình Nhưỡng cũng
đáp lại bằng cách gửi cho Moscow hàng triệu quả đạn pháo và hiện được cho là đã
sẵn sàng điều thêm hàng nghìn binh sĩ sang chiến đấu cho Nga tại Ukraine. Về phần
mình, Trung Quốc cung cấp cho Nga phần lớn các linh kiện điện tử được sử dụng
trong máy bay không người lái và các thiết bị quân sự khác. Nga đã cung cấp cho
Iran những thông tin tình báo quan trọng về mục tiêu, giúp nước này tấn công
các căn cứ và tàu chiến của Mỹ ở Trung Đông. Trong trường hợp Trung Quốc tấn
công Đài Loan, Bắc Kinh có thể yêu cầu chi viện từ Moscow bằng cách huy động hạm
đội tàu ngầm hùng mạnh của Nga ở Thái Bình Dương, như được phân tích trong một
báo cáo mới của Viện Chính sách Chiến lược Australia.
Thứ ba,
phương Tây đang là một mớ hỗn độn.
Tổng thống
Trump liên tục phàn nàn về sự yếu kém của các đồng minh, còn các đồng minh phàn
nàn về thói bắt nạt, tính thất thường, sự non nớt, dối trá, và kém cỏi của
Trump. Cả hai bên đều đúng. Đợt áp thuế mới nhất của Mỹ đối với Canada là một
ví dụ điển hình: tồi tệ về mặt chính trị, tự chuốc lấy tổn hại về mặt kinh tế,
và gây suy yếu về mặt chiến lược.
Tuy nhiên,
không điều nào trong số đó xóa bỏ được sự thật rằng Canada, một quốc gia phụ
thuộc vào thương mại với đường bờ biển dài nhất thế giới, gần như không có một
lực lượng hải quân nào đáng kể, hoặc rằng quan hệ “đối tác chiến lược mới” của
chính phủ nước này với Trung Quốc là vô đạo đức, thiếu khôn ngoan, và không vững
chắc – trừ phi Thủ tướng Mark Carney thực sự nghĩ rằng những cơn bộc phát ngu
ngốc của Trump là một mối đe dọa dài hạn nghiêm trọng hơn đối với Canada và
toàn bộ thế giới tự do so với những toan tính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Thứ tư,
chúng ta chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt quân sự.
Cuộc chiến
chống lại Iran đã phơi bày không chỉ tình trạng thiếu hụt đạn dược, thứ đã góp
phần khiến cuộc chiến phải kết thúc sớm hơn dự kiến, mà còn cho thấy Mỹ đặc biệt
nhạy cảm với thương vong quân sự và nỗi đau kinh tế, từ đó mang lại cho các nhà
lãnh đạo Iran một lợi thế bất đối xứng nhờ vào khả năng chấp nhận nỗi đau nhân
mạng bền bỉ hơn nhiều. Cuộc chiến ở Ukraine đã chứng minh rằng ngay cả những
thiết bị quân sự tinh vi nhất của Mỹ cũng đang trở nên lỗi thời nhờ vào sự xuất
hiện của chiến tranh bằng máy bay không người lái có sự hỗ trợ của AI. Các xe
tăng mà Mỹ và các đồng minh cung cấp cho Kyiv dưới thời chính quyền Biden “giờ
đây đang nằm im, ẩn giấu trong các khu rừng và bám đầy mạng nhện,” như tờ Times đã
đưa tin trong tuần này.
Thế nhưng
Pete Hegseth, vị Bộ trưởng Quốc phòng bị ám ảnh bởi hormone nam giới của chúng
ta, tuần trước đã quyết định loại bỏ dần một đơn vị máy bay không người lái của
Quân đội, dường như chỉ vì đơn vị này được những vị tướng mà ông không thích ủng
hộ. Thêm vào đó, những khó khăn của tàu sân bay USS Abraham Lincoln trong đợt
triển khai dài hạn là một vụ bê bối cấp quốc gia. Nhưng chúng nên khiến chúng
ta chú ý đến quy mô hạm đội hiện đang ở mức thấp chưa từng thấy trong lịch sử,
và cơ sở công nghiệp đã cạn kiệt của chúng ta, vốn đang phải vật lộn để chế tạo
và bảo trì các con tàu. Việc các nghị sĩ Đảng Dân chủ ngăn cản dự luật phân bổ
ngân sách quốc phòng cũng chẳng giúp tình hình khá hơn chút nào.
Thứ năm,
chúng ta có thể đang tiến đến bờ vực thẳm kinh tế.
Một khác
biệt lớn giữa những năm 1930 và hiện tại là, không giống như lúc đó, chúng ta
không ở giữa một cuộc suy thoái toàn cầu. Nhưng các dấu hiệu cảnh báo về một đợt
suy thoái mạnh và đột ngột đang hiện diện khắp mọi nơi. Điều gì sẽ xảy ra nếu,
hoặc khi, cơn sốt AI bắt đầu hạ nhiệt, giống như cách cơn sốt dot-com đã sụp đổ
vào đầu thế kỷ này? Hoặc nếu cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Nhật Bản khiến nước này
bắt đầu bán tháo trái phiếu Kho bạc Mỹ? Nhà đầu tư huyền thoại Stanley
Druckenmiller gần đây đã cảnh báo trên tờ Wall Street Journal rằng
các đợt mua lại trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ gần như chắc chắn sẽ thất bại:
Cuối cùng, cái giá của khoản nợ quốc gia 40 nghìn tỷ USD sẽ được cảm nhận qua mức
lãi suất tăng vọt và những rủi ro mà lãi suất đó gây ra cho mọi lĩnh vực của nền
kinh tế vốn đã phụ thuộc quá lâu vào tín dụng giá rẻ.
Một cuộc
suy thoái sâu rộng ở nước Mỹ, hay một cơn hoảng loạn tài chính toàn cầu, chắc
chắn sẽ khiến mọi xu hướng đã đề cập trên đây càng thêm tồi tệ. Trong những thời
kỳ kinh tế khó khăn, các nền dân chủ gần như luôn trở nên thận trọng và e ngại
rủi ro hơn, trong khi các chế độ độc tài lại có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều
hơn. Đó là một quy luật lịch sử đáng để nhớ lại, khi chúng ta vẫn đang mơ hồ,
thiếu cảnh giác, trôi về phía cơn bão đang ngày một lớn dần.
-------------------------------------
Bret
Stephens là
chuyên gia bình luận của New York Times, tập trung vào chính sách đối ngoại,
chính trị trong nước Mỹ, và các vấn đề văn hóa.
Nguồn: Bret Stephens, “Has World War III Already Started?,” New York Times, 25/08/2026
---------------------------------------
Có thể
bạn quan tâm:
1.
Nixon và Việt Nam cho chúng ta biết gì
về tính toán của Putin?
2.
Cơ hội lịch sử của Biden và Macron để
củng cố quan hệ xuyên Đại Tây Dương
3.
Học thuyết chiến thắng mới của Nga và
triển vọng Chiến tranh Ukraine
4.
Làm thế nào để quản lý rủi ro từ một
Trung Quốc suy yếu?
5.
Khí cầu do thám Trung Quốc ảnh hưởng
quan hệ với Mỹ như thế nào?
6.
Putin đã sẵn sàng cho một cuộc chiến
đường dài với phương Tây?
7.
Chuyến thăm Nga của Tập thực sự có ý
nghĩa gì?
8.
Trung Quốc có thể cứu vãn cuộc chiến của
Putin ở Ukraine như thế nào?
No comments:
Post a Comment