Tuesday, 4 August 2026

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KẾT THÚC CHIẾN TRANH IRAN? (Allison Minor và Nate Swanson / Foreign Policy)

 



 

Làm thế nào để kết thúc Chiến tranh Iran?

Allison Minor và Nate Swanson  -  Foreign Policy

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -   NCQT

01/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/01/lam-the-nao-de-ket-thuc-chien-tranh-iran/

 

Trump cần học nghệ thuật ngoại giao để biết cách thua một cách khéo léo.

 

Trong lúc Washington và Tehran trao đổi thông điệp nhằm tìm kiếm một lệnh ngừng bắn mới, chính quyền Trump cần nghiêm túc xem xét lại những giả định sai lầm đã khiến họ sa lầy vào một cuộc chiến tốn kém ngay từ đầu. Chính quyền này liên tục trở thành nạn nhân của ngụy biện chi phí chìm. Trước thất bại chiến lược hiện nay, Tổng thống Donald Trump chủ yếu hành động như thể vấn đề chỉ nằm ở quy mô hoặc thời gian. Nhưng trên thực tế, cuộc chiến càng kéo dài, đòn bẩy đàm phán của Mỹ càng suy giảm, và nhiều khả năng sẽ chạm đáy khi Washington cạn kiệt đạn dược còn những hệ lụy chính trị trong nước ngày càng gia tăng.

 

Các cuộc tấn công mới của Houthi nhằm vào hoạt động xuất khẩu dầu của Ả Rập Saudi càng làm trầm trọng thêm tính bấp bênh của một cuộc chiến vốn đã gây ra những cú sốc kinh tế toàn cầu, làm tổn hại uy tín của Mỹ và đẩy các đồng minh khu vực của Washington vào giữa một cuộc xung đột mà họ từng phản đối.

 

Tuy nhiên, ngay cả khi giữ lập trường cứng rắn hơn, một cuộc chiến kéo dài cũng không có lợi cho Iran. Chính quyền Tehran đã thu được lợi ích chính trị khi tự đặt mình vào vị thế nạn nhân của hành động gây hấn từ Mỹ và Israel, nhưng Iran vốn đã phải đối mặt với những thách thức sống còn về kinh tế và chính trị từ trước khi xung đột nổ ra. Mỗi ngày chiến tranh kéo dài, và mỗi cây cầu hay doanh nghiệp bị máy bay chiến đấu phá hủy, lại khiến con đường phục hồi tiềm tàng của chính quyền này trở nên xa hơn. Nhưng để kết thúc chiến tranh, các nhà lãnh đạo Iran cần tin rằng sự phục hồi ấy là điều có thể đạt được.

 

Chắc chắn vẫn có những thế lực mạnh tại Iran ủng hộ việc tiếp tục chiến tranh. Nhưng phần lớn những người ra quyết định hàng đầu của nước này đã ủng hộ biên bản ghi nhớ tháng 6 và hiểu rằng chiến tranh không thể kéo dài vô thời hạn.

 

Cuối cùng, cả hai bên đều có động lực mạnh mẽ để chấm dứt xung đột. Bất chấp viễn cảnh ảm đạm, Mỹ vẫn còn cơ hội rút lui theo cách có thể củng cố vị thế dài hạn của mình trong khu vực. Nhưng điều đó đòi hỏi nhiều hơn việc ký một thỏa thuận chớp nhoáng rồi tuyên bố chiến thắng nhằm hạ giá xăng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ.

 

Chính quyền Trump phải xây dựng một thỏa thuận bền vững hơn về Eo biển Hormuz, tránh tạo ra tiền lệ nguy hiểm đối với quyền tự do hàng hải. Một thỏa thuận như vậy sẽ đòi hỏi những biện pháp khuyến khích đáng kể dành cho Iran trong ngắn hạn. Nhưng nếu được kết hợp với một chiến lược rộng lớn hơn, bao gồm củng cố khả năng chống chịu của các đối tác Vùng Vịnh Ả Rập và tái thiết sự đồng thuận về chính sách Iran với những đồng minh chủ chốt của Mỹ, Washington có thể đạt được một giải pháp ngoại giao toàn diện hơn mà Trump đang tìm kiếm.

 

Hiện tồn tại một quan niệm sai lầm ở Washington rằng chỉ riêng sức ép cũng đủ để khuất phục Iran. Trong gần năm thập kỷ, Mỹ đã sử dụng mọi hình thức gây sức ép quân sự, kinh tế và chính trị sẵn có nhằm buộc Iran phải phục tùng ý chí của mình, nhưng đều không thành công.

 

Sức ép đôi khi có thể tác động đến quá trình ra quyết định của Iran, nhưng chỉ khi được kết hợp với các công cụ khác như biện pháp khuyến khích, liên minh, sự tôn trọng lẫn nhau và lòng kiên nhẫn. Nếu Trump tiếp tục tin rằng Iran đơn giản sẽ đầu hàng trước sức mạnh của Mỹ, ông sẽ thất bại.

 

Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Mỹ và Iran dường như đã thừa nhận thực tế này, nhưng cuối cùng vẫn thất bại vì hai lý do.

 

Thứ nhất, các chi tiết có ý nghĩa quyết định. Sự mơ hồ trong Mục 4 và Mục 5, vốn đề cập đến Eo biển Hormuz, khiến lệnh ngừng bắn ngay từ đầu đã trở nên mong manh và cuối cùng góp phần làm nó sụp đổ. Mỗi bên đều có cơ sở để đổ lỗi cho bên kia vì không thực hiện đầy đủ cam kết.

 

Thứ hai, quá trình ra quyết định tại cả hai nước bị chi phối bởi những tính toán chính trị trong nước ngắn hạn nhiều hơn là lợi ích chiến lược dài hạn. Các nhóm cử tri có ảnh hưởng ở cả Washington lẫn Tehran đều phản đối giải pháp ngoại giao và ủng hộ việc tiếp tục xung đột.

 

Tình hình càng phức tạp hơn khi mỗi bên đều tự coi mình là người chiến thắng. Mỹ vẫn là cường quốc quân sự vượt trội, nhưng Iran đã sống sót qua một cuộc chiến mang tính sống còn, chịu đựng những tổn thất nghiêm trọng rồi đáp trả, đồng thời làm thay đổi cán cân quyền lực khu vực thông qua việc kiểm soát Hormuz.

 

Mặc dù vượt trội so với đối phương theo mọi thước đo sức mạnh truyền thống, Mỹ lại không có quyết tâm chính trị mạnh mẽ bằng Iran trong việc tiếp tục chiến tranh. Vì thế, cả Washington và Tehran đều coi đàm phán là một hành động đầu hàng, chỉ khác ở chỗ mỗi bên đều cho rằng chính đối phương mới là kẻ phải đầu hàng.

 

Chìa khóa của bất kỳ thỏa thuận bền vững nào là hai bên đều phải có khả năng tuyên bố chiến thắng một cách chính đáng. Cách tốt nhất để đạt được mục tiêu này là hướng tới những kết quả nhỏ, cụ thể.

 

Đối với Mỹ, điều đó có nghĩa là chấm dứt quyền kiểm soát đơn phương và liên tục của Iran đối với tàu thuyền đi qua Eo biển Hormuz, đồng thời xây dựng một lộ trình khả thi hướng tới thỏa thuận hạt nhân trong tương lai. Đối với Iran, điều đó có nghĩa là nhận được khoản bồi thường tài chính đáng kể và được công nhận vai trò mới tại Eo biển.

 

Hai bên có thể đạt được những mục tiêu này bằng cách điều chỉnh một số nội dung của MOU. Mỹ nên sẵn sàng chấm dứt các cuộc tấn công, dỡ bỏ phong tỏa và ban hành lại Giấy phép Chung X (General License X), văn bản của Bộ Tài chính Mỹ cho phép bán dầu Iran, nhưng không ấn định ngày hết hiệu lực, nhằm bảo đảm sự hợp tác của Tehran tại Hormuz.

Giấy phép chung này sẽ tiếp tục có hiệu lực chừng nào Iran không cản trở hoạt động qua lại của tàu thuyền. Đây là một nhượng bộ kinh tế đáng kể và mang tính lâu dài đối với Iran, nhưng cũng là điều mà chính quyền Trump đã hai lần chấp thuận dưới hình thức tạm thời.

 

Việc công nhận vai trò mở rộng của Iran tại Hormuz phức tạp hơn. Mục tiêu chính của Mỹ phải là tránh thiết lập một cơ chế có thể, thứ nhất, tạo ra tiền lệ tiêu cực làm suy yếu quyền tự do hàng hải ở những nơi khác, và thứ hai, cho phép Tehran tận dụng quyền kiểm soát hành chính đối với hoạt động qua lại của tàu thuyền để liên tục đòi hỏi nhượng bộ từ các nước Vùng Vịnh hoặc những bên khác.

 

Các quan chức Oman đã tới Iran vào cuối tuần qua để đề xuất thành lập một cơ quan khu vực phụ trách giám sát an ninh hàng hải và các trách nhiệm khác tại Eo biển Hormuz. Nhưng một cơ quan thuần túy khu vực, đặc biệt nếu có thẩm quyền về an ninh, sẽ rất dễ bị tác động bởi những bất đồng nội bộ trong khu vực. Thẩm quyền an ninh cũng có thể tạo vỏ bọc cho các hành vi gây hấn trên tuyến hàng hải này.

 

Thay vào đó, Muscat và các nhà trung gian khu vực nên đề xuất một cơ chế đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, bao gồm Iran, Oman và một ghế luân phiên dành cho các quốc gia Vùng Vịnh khác. Cơ chế này nên tập trung vào việc giám sát từ xa hoạt động vận tải qua eo biển và giải quyết các tranh chấp quá cảnh khi cần thiết.

 

Trong khuôn khổ này, Liên Hiệp Quốc sẽ ghi nhận vai trò hàng đầu của Iran tại Eo biển, nhưng đồng thời giới hạn cách Tehran sử dụng vai trò đó, nhằm bảo đảm tuân thủ các công ước quốc tế và hạn chế khả năng một bên đơn phương cản trở hoạt động qua lại hợp pháp của tàu thuyền.

 

Hơn nữa, việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt như đã đề cập sẽ giúp Iran thu được lợi ích kinh tế từ những nguồn khác, khiến việc áp phí qua eo biển trở nên không cần thiết.

 

Đối với Mỹ, lợi ích rõ ràng nhất của thỏa thuận này là tạo ra lối thoát tức thì khỏi vòng xoáy leo thang chiến tranh và thiết lập một cơ chế quản lý Eo biển ít gây tổn hại hơn. Thay vì làm suy yếu nguyên tắc tự do hàng hải, một cơ chế của Liên Hiệp Quốc giám sát tàu thuyền qua Hormuz có thể củng cố các chuẩn mực và công ước quốc tế, đồng thời tạo ra các kênh giải quyết xung đột và bảo đảm tính minh bạch cần thiết.

 

Một thỏa thuận giới hạn xoay quanh Hormuz cũng sẽ làm tăng khả năng đạt được thỏa thuận hạt nhân trong tương lai. Hiện không bên nào tin rằng bên kia có thể thực hiện đầy đủ các cam kết. Vì thế, việc thực hiện thành công một thỏa thuận nhỏ có thể trở thành điều kiện tiên quyết cho một thỏa thuận tham vọng hơn.

 

Tin tốt là Washington vẫn nắm trong tay hàng loạt biện pháp khuyến khích cần thiết cho một thỏa thuận toàn diện, bao gồm quyền tiếp cận hệ thống ngân hàng toàn cầu, thương mại và đầu tư.

 

Dù Trump có thể không nhận ra điều đó, chừng nào MOU còn hiệu lực, ông vẫn có được một thứ xa xỉ là thời gian và sự kiên nhẫn. Mục 9 của MOU, yêu cầu Iran cam kết duy trì nguyên trạng chương trình hạt nhân, là một lợi ích thường bị Mỹ bỏ qua.

 

Sau Chiến tranh 12 ngày vào tháng 06/2025, Iran hiện không làm giàu uranium hoặc chế tạo máy ly tâm mới. Việc duy trì nguyên trạng này trong khi chờ các cuộc đàm phán tiếp theo sẽ mang lại cho Mỹ thêm thời gian quý báu, đồng thời cho phép Trump quảng bá nó như một phần của thỏa thuận ban đầu tuy khiêm tốn nhưng bền vững hơn.

 

Một thỏa thuận nhỏ nhưng bền vững với Iran có thể ngăn chặn các hành động thù địch quy mô lớn và những gián đoạn nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, nó không thể giải quyết triệt để mối đe dọa mà Iran gây ra cho các nước láng giềng.

 

Bên ngoài Eo biển Hormuz, chiến lược thời chiến hiệu quả nhất của Iran là tấn công trực tiếp vào các đối tác của Mỹ, những nước sở hữu hạ tầng năng lượng, kỹ thuật số và kinh tế có vai trò sống còn đối với nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, bất kỳ thỏa thuận nào với Iran cũng phải đi kèm với sự hỗ trợ liên tục của Washington nhằm giúp các nước Vùng Vịnh tăng cường khả năng chống chịu trước những cuộc tấn công và gián đoạn trong tương lai.

 

Nhưng chỉ riêng thiết bị của Mỹ sẽ không đủ để bảo đảm năng lực phòng không của Vùng Vịnh. Điều cần thiết là một hệ thống phòng không tích hợp, nhiều tầng, được xây dựng với sự hợp tác của các đối tác châu Âu và châu Á.

 

Điều đó cũng đòi hỏi phải xây dựng hạ tầng thương mại và năng lượng mới. Trong khi Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đang giảm bớt sự phụ thuộc vào Hormuz thông qua các tuyến đường ống mới và việc mở rộng cảng biển, Bahrain, Kuwait và Qatar lại không có những lối thoát tương tự.

 

Việc xây dựng những cơ sở hạ tầng này là rất khó khăn trong môi trường hiện nay. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo ngoại giao của Mỹ có thể tạo ra động lực và niềm tin cần thiết để khu vực tư nhân thúc đẩy triển khai dự án. Qua đó, đòn bẩy dài hạn của Iran đối với Hormuz cũng sẽ bị suy giảm.

 

Ngoài ra, Mỹ nên âm thầm hợp tác với các quốc gia Vùng Vịnh để giúp họ xây dựng một chiến lược phối hợp riêng trong việc ứng phó với Iran về lâu dài. Washington thường có xu hướng coi mọi hoạt động tiếp xúc giữa các nước Vùng Vịnh và Iran là mối đe dọa đối với Mỹ. Nhưng trên thực tế, các quốc gia này buộc phải duy trì thế cân bằng thận trọng giữa can dự và răn đe Tehran.

 

Nếu Mỹ không chấp nhận thực tế đó, khả năng các đối tác Vùng Vịnh theo đuổi những chiến lược can dự có thể làm suy yếu chính sách của Washington đối với Iran sẽ càng cao, chẳng hạn bằng cách tạo điều kiện né tránh trừng phạt.

 

Ngược lại, nếu Washington áp dụng cách tiếp cận thực dụng hơn và thừa nhận tình thế khó khăn mà các nước Vùng Vịnh đang đối mặt, Mỹ có thể giúp họ xây dựng một cách tiếp cận khu vực phối hợp hơn, qua đó khiến Tehran khó lợi dụng sự chia rẽ giữa các nước này.

 

Sự thiếu tin cậy và khác biệt chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực khiến khả năng họ xây dựng được một lập trường hoàn toàn thống nhất đối với Iran là rất thấp. Tuy nhiên, trong quá khứ, Mỹ từng tận dụng khả năng tập hợp và mạng lưới quan hệ đối tác rộng lớn để thúc đẩy sự đồng thuận mạnh mẽ hơn tại Vùng Vịnh trong việc ứng phó với các thách thức khu vực.

 

Để làm được điều đó hiện nay, Mỹ cần thay đổi cách tiếp cận, theo đuổi một chính sách Iran mang tính hợp tác hơn và tính đến lợi ích của các đối tác Vùng Vịnh, những nước đang đứng ở tuyến đầu của cuộc xung đột.

 

Một trong những giả định nguy hiểm nhất về Iran là cho rằng chỉ Washington mới có thể giải quyết vấn đề. Giả định này đã thúc đẩy chính quyền Trump phát động chiến tranh với Iran mà không có sự đồng thuận của các đối tác Vùng Vịnh chủ chốt và các đồng minh châu Âu. Nó cũng tiếp tục chi phối nỗ lực của Mỹ nhằm chấm dứt chiến tranh.

 

Các quốc gia Vùng Vịnh từ lâu đã phàn nàn rằng Washington coi họ như những máy rút tiền tự động, không tham khảo ý kiến khi đưa ra các quyết định chính sách lớn tại Trung Đông, nhưng lại thường xuyên khai thác nguồn lực của họ để giải quyết hậu quả của những chính sách ấy.

 

Châu Âu cũng có hệ thống đòn bẩy và biện pháp khuyến khích riêng đối với Iran. Vì thế, nếu muốn xây dựng một giải pháp bền vững cho chương trình hạt nhân của Iran và những nỗ lực kiểm soát Eo biển Hormuz, Mỹ phải tận dụng đòn bẩy của các đối tác tại Trung Đông, châu Âu và châu Á.

 

Để làm được điều đó vào lúc uy tín của Mỹ đang ở mức thấp chưa từng thấy và sức mạnh của nước này ngày càng bị thách thức, Washington phải từ bỏ thói quen áp đặt cách tiếp cận của mình lên các nước khác, thay vào đó tìm cách xây dựng một chính sách dựa trên sự đồng thuận rộng rãi hơn.

 

Trong bối cảnh thiếu vắng vai trò lãnh đạo của Mỹ đối với một chính sách Iran có tính đồng thuận, các đối tác của Washington đang tự xây dựng những giải pháp thay thế.

 

Một nhà ngoại giao cấp cao của châu Âu gần đây cho chúng tôi biết số cuộc gọi họ nhận được từ các nhà lãnh đạo Vùng Vịnh trong vài tháng qua còn nhiều hơn tổng số trong cả thập kỷ trước.

 

Sau khi Mỹ không thể bảo đảm an ninh tại Eo biển Hormuz, Anh và Pháp đã thiết lập một sáng kiến hàng hải gồm khoảng 40 quốc gia thành viên, nhằm quản lý các hoạt động an ninh sau lệnh ngừng bắn mà không có sự tham gia của Washington.

 

Bản thân các nước Vùng Vịnh cũng đang hành động. Ả Rập Saudi gần đây đã đề xuất một cuộc đối thoại an ninh khu vực với Iran và đang xem xét liệu việc hợp tác sâu rộng hơn với Pakistan có thể giúp định hình hành vi của Tehran hay không.

 

Những sáng kiến này cho thấy các đối tác của Mỹ sẵn sàng đứng lên và đảm nhận trách nhiệm chia sẻ gánh nặng mà Trump từ lâu vẫn kêu gọi. Nhưng họ sẽ làm điều đó theo những điều kiện của riêng mình.

 

Những nỗ lực này có thể trở thành tài sản, chứ không phải mối đe dọa, đối với chính sách của Mỹ. Nếu được định hình phù hợp, một phái bộ giám sát hàng hải của châu Âu có thể cung cấp sự hiện diện trên thực địa để bổ sung cho cơ chế giám sát của Liên Hiệp Quốc tại Eo biển Hormuz.

 

Ngoài ra, việc phối hợp chặt chẽ hơn với châu Âu và các nước Vùng Vịnh có thể khai mở đầy đủ những biện pháp khuyến khích cần thiết để hoàn tất một thỏa thuận hạt nhân toàn diện trong tương lai.

 

Nhưng nếu thiếu sự phối hợp đó, rất có thể sẽ xuất hiện hàng loạt sáng kiến cạnh tranh do các cường quốc tầm trung dẫn dắt nhằm định hình hành vi của Iran. Trong kịch bản lạc quan nhất, điều này cũng chỉ tạo ra tình trạng thiếu nhất quán về chiến lược. Nó sẽ cho phép Iran lựa chọn thỏa thuận có lợi nhất, đồng thời gieo rắc bất đồng giữa Mỹ và các đối tác.

 

Một số người ủng hộ cuộc chiến với Iran có thể coi việc thông qua một kế hoạch với những mục tiêu nhỏ và khả thi như vậy là thất bại. Trump không nên nhìn nhận theo cách đó.

 

Bằng cách chấm dứt chiến tranh, ông sẽ tránh được chiếc bẫy từng khiến nước Mỹ sa lầy tại Việt Nam, Iraq và Afghanistan. Ông cũng có thể trút bỏ gánh nặng kinh tế, củng cố các đối tác của Mỹ và vẫn để ngỏ cánh cửa cho những thỏa thuận lớn hơn trong tương lai.

 

Và có lẽ, theo cách rất đặc trưng của Trump, ông có thể tuyên bố rằng tư duy truyền thống đã khiến chính sách đi sai hướng, rồi nhận công lao vì đã đủ bản lĩnh thay đổi khi những người khác không làm được. Với tính cách của Trump, việc thuyết phục người dân Mỹ chấp nhận cách tiếp cận này có lẽ không quá khó.

 

Đó là điều cần thiết để kết thúc chiến tranh: không phải một lời thú nhận thất bại, mà là một tuyên bố chiến thắng dựa trên những điều kiện khác với những gì Trump đã tự đặt ra ngay từ đầu.

 

Cuộc chiến này chưa bao giờ có thể kết thúc bằng sự đầu hàng vô điều kiện của Iran. Tiếp tục giả vờ rằng điều đó là khả thi sẽ chỉ kéo dài giao tranh và khiến đòn bẩy của Mỹ suy giảm sau mỗi tuần.

 

Một thỏa thuận mở cửa Eo biển Hormuz, tránh gây thêm tổn hại cho các đồng minh của Mỹ và duy trì việc đóng băng chương trình hạt nhân Iran là phiên bản chiến thắng phù hợp nhất vào thời điểm này.

 

-----------------------

Allison Minor là Giám đốc Hội nhập Trung Đông tại Hội đồng Đại Tây Dương. Bà từng giữ chức Phó Đặc phái viên Mỹ tại Yemen và Giám đốc phụ trách Các vấn đề Bán đảo Ả Rập tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ.

 

Nate Swanson là Giám đốc Dự án Chiến lược Iran tại Hội đồng Đại Tây Dương. Ông từng giữ chức Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 2022 đến năm 2025. Vào mùa xuân và mùa hè năm 2025, ông là thành viên nhóm đàm phán với Iran của chính quyền Trump.

 

Nguồn: Allison Minor và Nate Swanson, “How to End the Iran War,” Foreign Policy, 29/07/2026

 

 

 

 


ĐIỂM MÙ CHIẾN LƯỢC CỦA TRUMP TẠI THÁI BÌNH DƯƠNG (Derek Grossman – Foreign Policy)

 



Điểm mù chiến lược của Trump tại Thái Bình Dương

Derek Grossman  -  Foreign Policy

Biên dịch: Viên Đăng Huy   -  NCQT

03/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/03/diem-mu-chien-luoc-cua-trump-tai-thai-binh-duong/

 

Tuần trước, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Christopher Landau đã đến Quần đảo Solomon để gặp tân Thủ tướng Matthew Wale. Chuyến thăm này lẽ ra không có gì đặc biệt nếu Landau không phải là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Trump đến thăm các đảo quốc Thái Bình Dương — một khu vực rộng lớn gồm 16 quốc gia và vùng lãnh thổ, không tính Australia và New Zealand — kể từ khi Tổng thống Donald Trump tái đắc cử vào năm ngoái.

 

Tháng 4/2025, Trump từng nhắc đến Fiji như một trong vô số quốc gia trên thế giới sẽ phải hứng chịu các mức thuế thương mại của ông. Ngoài điều đó ra, ông dường như không thể hiện bất kỳ sự quan tâm thực chất nào đối với khu vực. Dù việc Landau công bố kế hoạch đưa Đoàn Hòa bình Mỹ trở lại Quần đảo Solomon là một tín hiệu đáng hoan nghênh, sự thiếu vắng tầm nhìn và những kết quả cụ thể từ chính quyền Trump dành cho khu vực này vẫn là điều dễ nhận thấy.

 

Tình trạng đó càng đáng chú ý nếu nhìn lại nhiệm kỳ đầu của Trump, khi chính quyền của ông từng đặt các đảo quốc Thái Bình Dương vào tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc. Micronesia và Palau lần đầu tiên đón các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Mỹ đương nhiệm đến thăm. Bản thân Trump cũng từng có cuộc gặp lịch sử tại Nhà Trắng với lãnh đạo của cả ba đối tác thuộc Hiệp ước Liên kết Tự do, gồm Micronesia, Palau và Quần đảo Marshall.

 

Việc chính quyền Trump nhiệm kỳ hai sao nhãng các đảo quốc Thái Bình Dương cũng đánh dấu một bước thụt lùi so với chính quyền Biden, vốn tiếp nối chiến lược coi khu vực này là một ưu tiên từ nhiệm kỳ đầu của Trump.

 

Năm 2021, Tổng thống Joe Biden tham dự hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương (PIF). Năm sau, Phó Tổng thống khi đó là Kamala Harris chủ trì một sự kiện trực tuyến khác. Biden còn ký một thỏa thuận an ninh mang tính bước ngoặt về hợp tác tuần duyên với Papua New Guinea, mở cửa trở lại Đại sứ quán Mỹ tại Quần đảo Solomon sau gần ba thập niên đóng cửa, đồng thời thành lập thêm các đại sứ quán tại Tonga và Vanuatu.

 

Ông cũng gia hạn các Thỏa thuận Liên kết Tự do với nhóm FAS, qua đó bảo đảm cho Washington vị thế an ninh độc tôn trên một vùng biển rộng lớn ở Thái Bình Dương. Chính quyền Biden còn ban hành những chính sách mới có ý nghĩa địa chiến lược lớn, tiêu biểu là “Chiến lược Đối tác Thái Bình Dương”, chiến lược an ninh quốc gia độc lập đầu tiên của Mỹ dành riêng cho khu vực này.

 

Thế nhưng, dưới thời Trump 2.0, vai trò của Mỹ tại Thái Bình Dương gần như vắng bóng. Ngoài chuyến đi của Landau, chính quyền Trump chỉ công bố một sáng kiến mới nhằm hợp tác với Quần đảo Cook trong lĩnh vực khai thác khoáng sản chiến lược dưới đáy biển sâu.

 

Tệ hơn, nội các của Trump lại ban hành những chính sách trực tiếp làm tổn hại vị thế của Mỹ tại khu vực. Tai hại nhất là việc ông phủ nhận thực trạng biến đổi khí hậu, vấn đề mà toàn bộ khu vực coi là mối đe dọa sống còn đối với tương lai của mình.

 

Trong nhiệm kỳ đầu, cách tiếp cận tích cực của Trump đối với các đảo quốc Thái Bình Dương từng giúp người dân khu vực tạm gác lại bất đồng căn bản này. Nhưng lần này, quyết định xóa bỏ Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đã giáng những đòn chí mạng xuống khu vực, không chỉ trong các lĩnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu và ứng phó thảm họa, mà còn lan sang y tế công cộng, quản lý nghề cá và cứu trợ nhân đạo.

 

Trong khi đó, cuộc chiến liều lĩnh của Trump chống lại Iran đã tiếp tục làm phân tán sự chú ý vốn đã ít ỏi dành cho khu vực. Cuộc chiến còn châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, gây tác động đặc biệt nghiêm trọng đối với các đảo quốc vốn gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu và nhiều mặt hàng nhập khẩu khác.

 

Khi chi phí tại các nước cung ứng như Australia và Singapore tăng cao, gánh nặng đó càng bị khuếch đại khi truyền tới các quốc đảo. Cuộc chiến cũng đẩy lạm phát lên cao, khiến chính quyền các nước này càng chật vật trong việc đáp ứng nhu cầu của người dân.

 

Nghiêm trọng hơn cả, huyết mạch kinh tế của nhiều đảo quốc Thái Bình Dương là ngành du lịch hiện đứng trước nguy cơ sụp đổ, khi khách hàng tiềm năng thắt chặt chi tiêu và hủy bỏ các chuyến nghỉ dưỡng xuyên lục địa. Các mức thuế thương mại của Trump càng đổ thêm dầu vào lửa, làm tổn hại các mối quan hệ trên khắp khu vực.

 

Nhà Trắng phớt lờ các đảo quốc Thái Bình Dương đến mức khi Trung Quốc phóng thử một tên lửa đạn đạo vào Nam Thái Bình Dương hồi đầu tháng này, chính quyền Mỹ lại nhìn nhận sự việc như một vấn đề kiểm soát vũ khí dài hạn hơn là một mối đe dọa trực tiếp đối với khu vực.

 

Dù Bộ Ngoại giao Mỹ lên án vụ phóng, họ chỉ tái khẳng định một cách chung chung các cam kết quốc phòng đối với “các đồng minh và đối tác”. Washington hoàn toàn bỏ qua các đảo quốc Thái Bình Dương, bất chấp việc tên lửa Trung Quốc rơi ngay gần khu vực của họ, và qua đó bỏ lỡ cơ hội củng cố niềm tin rằng Mỹ vẫn là một đối tác đáng tin cậy.

 

Ở tầm rộng hơn, chính quyền Trump chưa đưa ra bất kỳ sáng kiến ngoại giao lớn nào nhằm xoa dịu những lo ngại ngày càng tăng của khu vực trước các hành động gây bất ổn của Bắc Kinh. Sau hơn 18 tháng cầm quyền, Trump vẫn chưa có một đại sứ nào phụ trách khu vực được Thượng viện phê chuẩn. Điều này phản ánh sự thiếu nghiêm túc trong việc can dự, đồng thời cho thấy Washington đã thất bại trong việc trấn an khu vực rằng Mỹ sẽ tiếp tục duy trì hòa bình và ổn định bằng sức mạnh răn đe.

 

Về phần mình, Trung Quốc vẫn kiên trì bám sát khu vực. Kể từ khi Trump tái đắc cử, Bắc Kinh đã triệu tập hội nghị với các ngoại trưởng đảo quốc Thái Bình Dương, mở rộng triển khai các thỏa thuận chiến lược với những đối tác như Quần đảo Cook và Quần đảo Solomon, đồng thời duy trì đều đặn nhịp độ ngoại giao cấp cao.

 

Dù những sáng kiến này có tạo ra bước đột phá lớn hay không, chúng vẫn củng cố nhận thức trong giới lãnh đạo Thái Bình Dương rằng Bắc Kinh luôn nhất quán quan tâm đến khu vực, trong khi sự chú ý của Washington đang dần mai một.

 

Quả thực, một nhân vật cấp cao trong khu vực mà tôi mới trao đổi gần đây nhận xét: “Mỹ thực sự cần đại tu và cải thiện văn hóa ngoại giao nếu muốn bắt kịp Trung Quốc.” Vị quan chức này nói thêm rằng Washington “cần biến những lời lẽ hoa mỹ thành hành động thực chất và kết quả cụ thể. Quá nhiều lời hứa trong quá khứ đã rơi vào quên lãng.”

 

Việc tiếp tục phớt lờ các đảo quốc Thái Bình Dương có thể gây ra những hậu quả rõ rệt đối với chiến lược châu Á của Washington trong tương lai. Những tháng gần đây, Nhà Trắng dường như đang từ bỏ khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, bao gồm cả Ấn Độ và vùng biển Ấn Độ Dương, để quay lại thuật ngữ “châu Á – Thái Bình Dương”, qua đó nhấn mạnh một chiến lược răn đe hẹp hơn, tập trung vào Đông Á nhằm đối phó với Trung Quốc.

 

Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã cố tình tránh hoàn toàn cụm từ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Ông cũng thường xuyên gọi một số đồng minh của Mỹ tại chuỗi đảo thứ nhất, cụ thể là Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, là “những đồng minh kiểu mẫu” vì cam kết dành tỷ trọng GDP cao hơn cho quốc phòng.

 

Trong chuyến công du Đông Nam Á tuần trước để tham dự các hội nghị ngoại giao ASEAN, Ngoại trưởng Marco Rubio không chỉ gặp các đối tác thuộc Nhóm Bộ tứ, gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ, mà còn gặp nhóm được gọi là “Squad”, một cơ chế song song thay Ấn Độ bằng Philippines, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược phòng thủ chuỗi đảo thứ nhất.

 

Bên cạnh việc làm tổn hại quan hệ Mỹ – Ấn trong năm ngoái, Trump, với tư cách tổng tư lệnh, còn quyết định đổi tên Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trở lại thành Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương.

 

Tất cả những điều đó cho thấy Mỹ lo ngại về việc duy trì khả năng răn đe tại Eo biển Đài Loan, Biển Hoa Đông và Biển Đông hơn nhiều so với những gì người ta vẫn tưởng. Điều này khiến chuỗi đảo thứ hai, kéo dài từ Nhật Bản tới Palau, cùng các đảo quốc Thái Bình Dương xa hơn, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

 

Các lãnh thổ của Mỹ gồm Samoa thuộc Mỹ, Quần đảo Bắc Mariana và Guam, cùng nhóm FAS mà Washington có các thỏa thuận quân sự đặc biệt, đóng vai trò xương sống trong chiến lược chuỗi đảo thứ hai, hỗ trợ hoạt động triển khai lực lượng Mỹ tới gần Trung Quốc hơn.

 

Các đảo quốc Thái Bình Dương, đặc biệt là nhóm FAS, có thể cung cấp căn cứ, cảng biển và đường băng trong một cuộc xung đột tương lai. Họ nắm giữ một số vị trí địa lý có giá trị chiến lược nhất tại Thái Bình Dương, mang lại cho Mỹ quyền tiếp cận những khu vực hoạt động hàng không và hàng hải rộng lớn, có ý nghĩa sống còn trong một cuộc chiến kéo dài.

 

Ngoài ra, dù nằm xa các chiến trường chính tiềm tàng, các đảo quốc Thái Bình Dương vẫn có thể cung cấp lãnh thổ để phân tán lực lượng, giúp Mỹ tránh tập trung quá nhiều nguồn lực vào một địa điểm duy nhất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tầm bắn và sức sát thương của vũ khí Trung Quốc ngày càng tăng, như vụ phóng tên lửa đạn đạo gần đây của Bắc Kinh đã cho thấy.

 

Cuối cùng, việc cải thiện quan hệ giữa Mỹ và các đảo quốc Thái Bình Dương có thể giúp ngăn Bắc Kinh mở rộng các thỏa thuận an ninh trên khắp khu vực.

 

Dĩ nhiên, không phải mọi vấn đề đều xoay quanh cạnh tranh Mỹ – Trung, và cũng không nên như vậy. Tuy nhiên, ngay cả khi xét theo mục tiêu của chính quyền Trump là cạnh tranh quân sự hiệu quả hơn với Trung Quốc, việc sao nhãng ngoại giao, phát triển và các ưu tiên chính sách của các đảo quốc Thái Bình Dương nhiều khả năng vẫn sẽ phản tác dụng.

Cuối cùng, điều đó chỉ chứng minh rằng Washington không phải là một đối tác đáng tin cậy, trong khi hình ảnh của Trung Quốc tại khu vực ngày càng được củng cố.

 

Nếu chính quyền Trump thực sự tin rằng cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc sẽ được định đoạt tại Tây Thái Bình Dương, thì các đảo quốc Thái Bình Dương đáng lẽ phải nhận được nhiều sự quan tâm hơn, chứ không phải ít hơn, từ các nhà hoạch định chính sách cấp cao của Mỹ.

 

Năng lực răn đe không chỉ được xây dựng bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng nền ngoại giao bền bỉ và những mối quan hệ chính trị dựa trên lòng tin. Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ đầu từng hiểu rõ thực tế đó. Chính quyền nhiệm kỳ hai của ông dường như đã quên mất.

 

-------------------

Derek Grossman là Giáo sư Khoa học Chính trị và Quan hệ Quốc tế tại Đại học Nam California.

 

Nguồn: Derek Grossman, “Trump’s Pacific Islands Blind Spot”, Foreign Policy, 31/07/2026

 

 




TIẾP TỤC TRONG TUYỆT VỌNG (Đào Hiếu / Facebook)

 



 

TIẾP TỤC TRONG TUYỆT VỌNG

Đào Hiếu

3͏1͏/7/2026  ͏2͏2͏:͏0͏5͏ ·

https://www.facebook.com/daohieuwriter/posts/pfbid0cH6iJKLnnNcEq52Lw19LtfVRoojJLNJ2RLHEL7LFDhbSRrhMpJczifNzFJPAW2gwl

 

Trước ngày 28/2/2026 Iran hoàn toàn không có ý đinh sở hữu eo biển Hormuz. Nhưng khi Mỹ tấn công Iran, thì tình hình chiến sự đã buộc Iran phải kiểm soát eo biển này.

 

Và họ đã bừng tỉnh khi nhận ra việc kiểm soát này là một thế mạnh mang tính chiến lược vô cùng lớn. Thế là họ quyết định rủ rê Oman sở hữu nó để chia đôi lợi nhuận và ưu thế quân sự.

 

Iran tuyên bố công khai: “Eo biển Hormuz là của Iran và sẽ vĩnh viễn không bao giờ trở lại tình trạng như trước ngày 28/2/2026”

 

Dư luận cho rằng Eo biển Hormuz là món quà bất ngờ mà Thượng Đế đã ban cho Iran. Nhưng suy cho cùng, chính cuộc chiến mà Mỹ và Israel gây ra, đã tặng cho Iran món quà vô giá ấy.

 

Kết quả là hiện nay Iran đã mạnh hơn trước rất nhiều và nếu Trump cứ tiếp tục đeo đuổi cuộc chiến trong tuyệt vọng, thì Iran sẽ sớm trở thành “cường quốc hạch nhân thứ tư” sau Mỹ. Nga, Trung Quốc.

 

Ngày 01/8/2026

Đ.H

 

HÌNH :

https://www.facebook.com/photo/?fbid=27892112810447052&set=a.472128596205510

 





THÊ GIỚI HÔM NAY : 03/08/2026 (The Economist)

 



THÊ GIỚI HÔM NAY : 03/08/2026

The Economist 

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế  

03/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/03/the-gioi-hom-nay-03-08-2026/

 

Donald Trump cho biết các cuộc đàm phán mới nhằm chấm dứt chiến tranh với Iran sẽ bắt đầu vào hôm nay, sau khi ông hủy bỏ các cuộc tấn công tiếp theo, một phần để đáp lại lời thỉnh cầu từ các đối tác khu vực của Mỹ, bao gồm Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Saudi. Iran vẫn chưa phản hồi về tuyên bố của Trump. Giá dầu đã giảm sau tin tức, với dầu thô Brent giảm hơn 4%, xuống còn 84 đô la/thùng.

 

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent nói rằng đất nước ông “sẽ không ngần ngại” hỗ trợ đồng yên và xác nhận họ đã làm như vậy vào tuần trước. Katayama Satsuki, người đồng cấp Nhật Bản của Bessent, cho biết đây là một “sự can thiệp chung” và hai bên sẵn sàng làm nhiều hơn nữa. Sau khi được giao dịch ở mức 163 yên đổi 1 đô la vào thứ Năm, đồng yên đã tăng giá lên mức 155.

 

Quân đội Myanmar công bố những bức ảnh về cuộc gặp giữa Aung San Suu Kyi, cựu lãnh đạo đang bị giam giữ, và một đại diện của Hội Chữ thập đỏ. Họ cho biết cuộc gặp diễn ra hôm nay tại thủ đô Naypyidaw của Myanmar. Năm 2021, một cuộc đảo chính quân sự đã lật đổ chính phủ dân sự dân cử của Suu Kyi, còn bản thân nữ lãnh đạo thì bị bắt giam. Bà đã không xuất hiện trước bất kỳ ai không có quan hệ với chính quyền kể từ khi các phiên tòa mang tính hình thức nhắm vào bà kết thúc vào năm 2022.

 

Cháy rừng dịu bớt ở các khu vực của Tây Âu. Tại tây nam nước Pháp, 200.000 người phải sơ tán khỏi nhà đã được phép trở về. Các đám cháy lớn ở Tây Ban Nha không còn lan rộng nữa. Mặt trận nguy hiểm nhất đã chuyển sang Hy Lạp, nơi những cơn gió mạnh như bão thổi bùng ngọn lửa vào cuối tuần qua. Hai máy bay trực thăng đã va chạm tại đây trong lúc làm nhiệm vụ chữa cháy, khiến hai thành viên phi hành đoàn thiệt mạng.

 

Số người chết vì dòng người di cư đổ xô vào Ceuta, vùng lãnh thổ tách rời của Tây Ban Nha, hồi tuần trước đã lên tới ít nhất 72 người. Có hơn 50.000 người vượt biên, nhưng Tây Ban Nha khẳng định khoảng 48.000 người đã quay trở lại Maroc trong vòng 48 giờ. Bộ Nội vụ Maroc đổ lỗi cho thông tin sai lệch trên mạng xã hội là nguyên nhân dẫn đến các sự kiện này. Liên minh Châu Âu sẽ tổ chức một cuộc họp khẩn cấp vào ngày mai để thảo luận về cuộc khủng hoảng.

 

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết các lực lượng của nước ông đã tiến hành các cuộc không kích sâu vào bên trong lãnh thổ Nga, đánh trúng một nhà máy lọc dầu lớn và một sân bay. Phía Nga tiết lộ đã tấn công hai cảng của Ukraine và hai con tàu ở Biển Đen. Với việc tiền tuyến phần lớn không thay đổi, cả hai bên đã tăng cường tấn công vào các thành phố và cơ sở hạ tầng năng lượng. Trong khi đó, ít nhất ba người đã thiệt mạng tại Moscow vào thứ Bảy sau một vụ nổ bom tự chế.

 

UEFA đe dọa sẽ kiện FIFA và Gianni Infantino, chủ tịch của tổ chức này, về kế hoạch bán cổ phần trong một thực thể doanh nghiệp nhằm hợp nhất các hoạt động thương mại của cơ quan tổ chức bóng đá toàn cầu. Chi nhánh tại Châu Âu của FIFA yêu cầu phải lưu giữ tất cả các tài liệu liên quan đến kế hoạch này, được cho là có thể huy động hơn 4 tỷ USD. Infantino đã từ bỏ ý tưởng này vào thứ Sáu sau sự phản đối kịch liệt khắp giới bóng đá.

 

Con số trong ngày: 36%, là tỷ lệ người tử vong do nắng nóng ở châu Âu, dù khu vực này chỉ chiếm 10% dân số thế giới.

 

.

TIÊU ĐIỂM

 

Liệu sẽ có một thỏa thuận?

Ông ấy lại làm thế nữa rồi. Tuần trước, chính quyền Donald Trump đã dành phần lớn thời gian để ám chỉ rằng Mỹ đã sẵn sàng tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn vào Iran. Nhưng đến thứ Bảy, Tổng thống lại tuyên bố rằng ông đã đình chỉ cuộc tấn công vì – còn lý do nào khác nữa? – ông đang ở ngưỡng cửa của một thỏa thuận với Iran. Sau đó, ông nói rằng các cuộc đàm phán mới nhằm chấm dứt chiến tranh sẽ bắt đầu vào thứ Hai. Chu kỳ đe dọa rồi thoái lui này đã trở thành chuyện thường tình suốt vài tháng qua. Trump có nhiều lý do để không leo thang căng thẳng. Các đồng minh của Mỹ ở Vùng Vịnh sợ rằng Iran sẽ giáng đòn chí mạng vào họ, trong khi các nhà hoạch định của Lầu Năm Góc lo lắng về kho tên lửa đánh chặn phòng không đang cạn kiệt.

 

Nhưng không rõ Trump đang tuyên bố tiến gần đến thỏa thuận nào. Thỏa thuận trước đó, cái gọi là biên bản ghi nhớ được ký hồi tháng 6, đã sụp đổ vào tháng trước sau khi Iran từ chối mở lại Eo biển Hormuz. Các nhà ngoại giao từ Oman cố gắng làm trung gian cho một thỏa hiệp mới, trong đó các quốc gia trong khu vực sẽ thành lập một liên doanh để kiểm soát eo biển này. Nhưng Iran đã bác bỏ ý tưởng đó. Và thế là chu kỳ lại tiếp diễn.

 

 

Bài kiểm tra tình hình du lịch mùa hè

Ba công ty du lịch, gồm Marriott, Booking Holdings, và Airbnb, sẽ báo cáo thu nhập trong tuần này. Kết quả kinh doanh của họ sẽ giúp các nhà đầu tư đánh giá một mùa nghỉ hè bị ảnh hưởng bất thường bởi các sự kiện toàn cầu. Nhu cầu lớn từ những người hâm mộ World Cup ở Bắc Mỹ là tin tốt cho các chủ khách sạn. Nhưng doanh số ảm đạm ở Trung Đông do cuộc chiến của Mỹ và Israel với Iran thì không tốt chút nào.

 

Nếu nhìn vào thu nhập quý II được công bố vào tuần trước của Hilton, cũng là một công ty du lịch, thì loạt kết quả sắp tới chắc chắn sẽ có sự phân hóa. Hilton đã vượt qua kỳ vọng của Phố Wall, phần lớn là nhờ cầu mạnh từ những fan hâm mộ cuồng nhiệt của môn bóng đá. Tuy nhiên, ở Trung Đông, doanh thu trên mỗi phòng trống, một thước đo quan trọng của ngành, lại khá thấp. Tình hình ở Trung Quốc cũng không mấy khả quan, chủ yếu là do những hạn chế đối với các chuyến du lịch theo đoàn ra nước ngoài – đáng chú ý nhất là đến Nhật Bản, sau một loạt tranh cãi ngoại giao xoay quanh vấn đề Đài Loan. Những yếu tố này có thể giải thích tại sao cổ phiếu của Hilton lại giảm hơn 3% bất chấp doanh thu tăng. Có lẽ chúng ta không thể nào thoát khỏi ảnh hưởng của địa chính trị.

 

 

Nỗ lực thâu tóm easyJet gặp phải sóng gió

Trận chiến giành lấy easyJet có thể sớm đi đến hồi kết. Mức giá thâu tóm ban đầu từ Castlelake, một công ty đầu tư của Mỹ, là 5,60 bảng Anh (7,55 đô la Mỹ) một cổ phiếu – sau vài lần đề nghị, hội đồng quản trị của easyJet cuối cùng đã chấp nhận mức giá được nâng lên là 6,90 bảng Anh. Nhưng vài ngày sau, Apollo, một nhà đầu tư khác của Mỹ, đã bất ngờ nhảy vào cuộc chơi với mức giá 7,15 bảng Anh/cổ phiếu, và hội đồng quản trị nhanh chóng chuyển sang chấp nhận lời đề nghị thay thế.

 

Theo các quy định về thâu tóm của Anh, Castlelake phải tăng mức giá thầu của mình trước hôm nay hoặc phải rút lui. Bên giành chiến thắng sẽ có ảnh hưởng lớn đến tương lai của hãng hàng không này. Castlelake có thể muốn chia tách công ty: hoạt động kinh doanh kỳ nghỉ của easyJet, đội bay hiện tại, và lượng đặt hàng mua máy bay mới đều là những tài sản đáng kể. Trong khi đó, Apollo cam kết bám sát chiến lược hiện tại là nâng cấp máy bay và mở rộng các gói kỳ nghỉ. Họ cho rằng điều này có thể tạo ra 1 tỷ bảng lợi nhuận trước thuế trong trung hạn – đồng nghĩa với việc Apollo sẽ phải chờ thêm một thời gian để thu hồi khoản đầu tư 5,7 tỷ bảng của mình.

 

 

Điều gì đang chờ đợi người đứng đầu môn thể thao vua?

Chỉ mới hai tuần trước, Gianni Infantino – Chủ tịch FIFA, cơ quan quản lý bóng đá quốc tế – đã trao cúp World Cup cho Tây Ban Nha trong tâm trạng hân hoan. Giải đấu gây nhiều tranh cãi, nhưng nó cũng thu về số tiền kỷ lục 15 tỷ USD. Tuy nhiên, Infantino muốn nhiều hơn thế. Tuần trước, ông đã tiết lộ kế hoạch bán cổ phần trong một thực thể mới, trị giá 20 tỷ USD, để giúp điều hành World Cup và khai phá “giá trị thương mại chưa từng nắm bắt được trước đây.”

 

Quyết định này hóa ra lại là một pha “phản lưới nhà.” Sự phản đối diễn ra vô cùng mạnh mẽ, dẫn đầu là các liên đoàn bóng đá trên khắp châu Âu, châu Á, và châu Mỹ, những người phẫn nộ không chỉ với ý tưởng này mà còn với việc không hề được tham vấn trước khi kế hoạch được đưa ra. Kết quả là FIFA buộc phải rút lại kế hoạch vào thứ Bảy. Nhưng hậu quả có lẽ sẽ còn kéo dài hơn: một số thành viên của tổ chức hy vọng sẽ phế truất Infantino trong những tuần tới (ông phải đối mặt với kỳ tái tranh cử vào năm 2027) và đang kêu gọi cải cách bộ máy quản lý. Tuy nhiên, FIFA có lẽ chẳng còn xa lạ gì với các vụ bê bối. Infantino có thể nhận thẻ đỏ, nhưng điều đó sẽ không nhất thiết làm thay đổi cuộc chơi.

 

                     ==================================

 

Bài đang hot

Liệu công nghệ bán dẫn tiên tiến có thể thúc đẩy sự phát triển của Nhật Bản?

 

Bài được đọc nhiều

·         

Chiến lược kế tiếp của Bắc Kinh ở Biển Đông

·         

Ba trụ cột trong chiến lược hòa bình của Campuchia với Thái Lan

·         

Đặt cược vào thất bại: Các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và khía cạnh chính trị của vốn rủi ro

·         

Làm thế nào để kết thúc Chiến tranh Iran?

·         

Điểm mù chiến lược của Trump tại Thái Bình Dương

·         

02/08/1985: Siêu giông bất ngờ khiến máy bay rơi tại Texas

·         

#65 - Sự kiện Nhân Văn - Giai Phẩm, cuộc thanh trừng năm 1967, và di sản của sự bất đồng chính kiến

·         

Khả năng răn đe trên không gian mạng: Góc nhìn từ mô phỏng chiến tranh

·         

Thế giới hôm nay: 03/08/2026

·         

Kế hoạch 6 điểm đưa liên minh Mỹ - Nhật vào thế sẵn sàng chiến đấu

 

 

 

 

 


View My Stats