Làm thế nào để kết thúc Chiến
tranh Iran?
Allison Minor và Nate Swanson -
Foreign
Policy
Nguyễn
Thị Kim Phụng, biên dịch
- NCQT
https://nghiencuuquocte.org/2026/08/01/lam-the-nao-de-ket-thuc-chien-tranh-iran/
Trump
cần học nghệ thuật ngoại giao để biết cách thua một cách khéo léo.
Trong
lúc Washington và Tehran trao đổi thông điệp nhằm tìm kiếm một lệnh ngừng bắn mới,
chính quyền Trump cần nghiêm túc xem xét lại những giả định sai lầm đã khiến họ
sa lầy vào một cuộc chiến tốn kém ngay từ đầu. Chính quyền này liên tục trở
thành nạn nhân của ngụy biện chi phí chìm. Trước thất bại chiến lược hiện nay,
Tổng thống Donald Trump chủ yếu hành động như thể vấn đề chỉ nằm ở quy mô hoặc
thời gian. Nhưng trên thực tế, cuộc chiến càng kéo dài, đòn bẩy đàm phán của Mỹ
càng suy giảm, và nhiều khả năng sẽ chạm đáy khi Washington cạn kiệt đạn dược
còn những hệ lụy chính trị trong nước ngày càng gia tăng.
Các
cuộc tấn công mới của Houthi nhằm vào hoạt động xuất khẩu dầu của Ả Rập Saudi
càng làm trầm trọng thêm tính bấp bênh của một cuộc chiến vốn đã gây ra những
cú sốc kinh tế toàn cầu, làm tổn hại uy tín của Mỹ và đẩy các đồng minh khu vực
của Washington vào giữa một cuộc xung đột mà họ từng phản đối.
Tuy
nhiên, ngay cả khi giữ lập trường cứng rắn hơn, một cuộc chiến kéo dài cũng
không có lợi cho Iran. Chính quyền Tehran đã thu được lợi ích chính trị khi tự
đặt mình vào vị thế nạn nhân của hành động gây hấn từ Mỹ và Israel, nhưng Iran
vốn đã phải đối mặt với những thách thức sống còn về kinh tế và chính trị từ
trước khi xung đột nổ ra. Mỗi ngày chiến tranh kéo dài, và mỗi cây cầu hay
doanh nghiệp bị máy bay chiến đấu phá hủy, lại khiến con đường phục hồi tiềm
tàng của chính quyền này trở nên xa hơn. Nhưng để kết thúc chiến tranh, các nhà
lãnh đạo Iran cần tin rằng sự phục hồi ấy là điều có thể đạt được.
Chắc
chắn vẫn có những thế lực mạnh tại Iran ủng hộ việc tiếp tục chiến tranh. Nhưng
phần lớn những người ra quyết định hàng đầu của nước này đã ủng hộ biên bản ghi
nhớ tháng 6 và hiểu rằng chiến tranh không thể kéo dài vô thời hạn.
Cuối
cùng, cả hai bên đều có động lực mạnh mẽ để chấm dứt xung đột. Bất chấp viễn cảnh
ảm đạm, Mỹ vẫn còn cơ hội rút lui theo cách có thể củng cố vị thế dài hạn của
mình trong khu vực. Nhưng điều đó đòi hỏi nhiều hơn việc ký một thỏa thuận chớp
nhoáng rồi tuyên bố chiến thắng nhằm hạ giá xăng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ
ở Mỹ.
Chính
quyền Trump phải xây dựng một thỏa thuận bền vững hơn về Eo biển Hormuz, tránh
tạo ra tiền lệ nguy hiểm đối với quyền tự do hàng hải. Một thỏa thuận như vậy sẽ
đòi hỏi những biện pháp khuyến khích đáng kể dành cho Iran trong ngắn hạn.
Nhưng nếu được kết hợp với một chiến lược rộng lớn hơn, bao gồm củng cố khả
năng chống chịu của các đối tác Vùng Vịnh Ả Rập và tái thiết sự đồng thuận về
chính sách Iran với những đồng minh chủ chốt của Mỹ, Washington có thể đạt được
một giải pháp ngoại giao toàn diện hơn mà Trump đang tìm kiếm.
Hiện
tồn tại một quan niệm sai lầm ở Washington rằng chỉ riêng sức ép cũng đủ để khuất
phục Iran. Trong gần năm thập kỷ, Mỹ đã sử dụng mọi hình thức gây sức ép quân sự,
kinh tế và chính trị sẵn có nhằm buộc Iran phải phục tùng ý chí của mình, nhưng
đều không thành công.
Sức
ép đôi khi có thể tác động đến quá trình ra quyết định của Iran, nhưng chỉ khi
được kết hợp với các công cụ khác như biện pháp khuyến khích, liên minh, sự tôn
trọng lẫn nhau và lòng kiên nhẫn. Nếu Trump tiếp tục tin rằng Iran đơn giản sẽ
đầu hàng trước sức mạnh của Mỹ, ông sẽ thất bại.
Biên
bản ghi nhớ (MOU) giữa Mỹ và Iran dường như đã thừa nhận thực tế này, nhưng cuối
cùng vẫn thất bại vì hai lý do.
Thứ
nhất, các chi tiết có ý nghĩa quyết định. Sự mơ hồ trong Mục 4 và Mục 5, vốn đề
cập đến Eo biển Hormuz, khiến lệnh ngừng bắn ngay từ đầu đã trở nên mong manh
và cuối cùng góp phần làm nó sụp đổ. Mỗi bên đều có cơ sở để đổ lỗi cho bên kia
vì không thực hiện đầy đủ cam kết.
Thứ
hai, quá trình ra quyết định tại cả hai nước bị chi phối bởi những tính toán
chính trị trong nước ngắn hạn nhiều hơn là lợi ích chiến lược dài hạn. Các nhóm
cử tri có ảnh hưởng ở cả Washington lẫn Tehran đều phản đối giải pháp ngoại
giao và ủng hộ việc tiếp tục xung đột.
Tình
hình càng phức tạp hơn khi mỗi bên đều tự coi mình là người chiến thắng. Mỹ vẫn
là cường quốc quân sự vượt trội, nhưng Iran đã sống sót qua một cuộc chiến mang
tính sống còn, chịu đựng những tổn thất nghiêm trọng rồi đáp trả, đồng thời làm
thay đổi cán cân quyền lực khu vực thông qua việc kiểm soát Hormuz.
Mặc
dù vượt trội so với đối phương theo mọi thước đo sức mạnh truyền thống, Mỹ lại
không có quyết tâm chính trị mạnh mẽ bằng Iran trong việc tiếp tục chiến tranh.
Vì thế, cả Washington và Tehran đều coi đàm phán là một hành động đầu hàng, chỉ
khác ở chỗ mỗi bên đều cho rằng chính đối phương mới là kẻ phải đầu hàng.
Chìa
khóa của bất kỳ thỏa thuận bền vững nào là hai bên đều phải có khả năng tuyên bố
chiến thắng một cách chính đáng. Cách tốt nhất để đạt được mục tiêu này là hướng
tới những kết quả nhỏ, cụ thể.
Đối
với Mỹ, điều đó có nghĩa là chấm dứt quyền kiểm soát đơn phương và liên tục của
Iran đối với tàu thuyền đi qua Eo biển Hormuz, đồng thời xây dựng một lộ trình
khả thi hướng tới thỏa thuận hạt nhân trong tương lai. Đối với Iran, điều đó có
nghĩa là nhận được khoản bồi thường tài chính đáng kể và được công nhận vai trò
mới tại Eo biển.
Hai
bên có thể đạt được những mục tiêu này bằng cách điều chỉnh một số nội dung của
MOU. Mỹ nên sẵn sàng chấm dứt các cuộc tấn công, dỡ bỏ phong tỏa và ban hành lại
Giấy phép Chung X (General License X), văn bản của Bộ Tài chính Mỹ cho phép bán
dầu Iran, nhưng không ấn định ngày hết hiệu lực, nhằm bảo đảm sự hợp tác của
Tehran tại Hormuz.
Giấy
phép chung này sẽ tiếp tục có hiệu lực chừng nào Iran không cản trở hoạt động
qua lại của tàu thuyền. Đây là một nhượng bộ kinh tế đáng kể và mang tính lâu
dài đối với Iran, nhưng cũng là điều mà chính quyền Trump đã hai lần chấp thuận
dưới hình thức tạm thời.
Việc
công nhận vai trò mở rộng của Iran tại Hormuz phức tạp hơn. Mục tiêu chính của
Mỹ phải là tránh thiết lập một cơ chế có thể, thứ nhất, tạo ra tiền lệ tiêu cực
làm suy yếu quyền tự do hàng hải ở những nơi khác, và thứ hai, cho phép Tehran
tận dụng quyền kiểm soát hành chính đối với hoạt động qua lại của tàu thuyền để
liên tục đòi hỏi nhượng bộ từ các nước Vùng Vịnh hoặc những bên khác.
Các
quan chức Oman đã tới Iran vào cuối tuần qua để đề xuất thành lập một cơ quan
khu vực phụ trách giám sát an ninh hàng hải và các trách nhiệm khác tại Eo biển
Hormuz. Nhưng
một cơ quan thuần túy khu vực, đặc biệt nếu có thẩm quyền về an ninh, sẽ rất dễ
bị tác động bởi những bất đồng nội bộ trong khu vực. Thẩm quyền an ninh cũng có
thể tạo vỏ bọc cho các hành vi gây hấn trên tuyến hàng hải này.
Thay
vào đó, Muscat và các nhà trung gian khu vực nên đề xuất một cơ chế đặt dưới sự
bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, bao gồm Iran, Oman và một ghế luân phiên dành cho
các quốc gia Vùng Vịnh khác. Cơ chế này nên tập trung vào việc giám sát từ xa
hoạt động vận tải qua eo biển và giải quyết các tranh chấp quá cảnh khi cần thiết.
Trong
khuôn khổ này, Liên Hiệp Quốc sẽ ghi nhận vai trò hàng đầu của Iran tại Eo biển,
nhưng đồng thời giới hạn cách Tehran sử dụng vai trò đó, nhằm bảo đảm tuân thủ
các công ước quốc tế và hạn chế khả năng một bên đơn phương cản trở hoạt động
qua lại hợp pháp của tàu thuyền.
Hơn
nữa, việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt như đã đề cập sẽ giúp Iran thu được
lợi ích kinh tế từ những nguồn khác, khiến việc áp phí qua eo biển trở nên
không cần thiết.
Đối
với Mỹ, lợi ích rõ ràng nhất của thỏa thuận này là tạo ra lối thoát tức thì khỏi
vòng xoáy leo thang chiến tranh và thiết lập một cơ chế quản lý Eo biển ít gây
tổn hại hơn. Thay vì làm suy yếu nguyên tắc tự do hàng hải, một cơ chế của Liên
Hiệp Quốc giám sát tàu thuyền qua Hormuz có thể củng cố các chuẩn mực và công ước
quốc tế, đồng thời tạo ra các kênh giải quyết xung đột và bảo đảm tính minh bạch
cần thiết.
Một
thỏa thuận giới hạn xoay quanh Hormuz cũng sẽ làm tăng khả năng đạt được thỏa
thuận hạt nhân trong tương lai. Hiện không bên nào tin rằng bên kia có thể thực
hiện đầy đủ các cam kết. Vì thế, việc thực hiện thành công một thỏa thuận nhỏ
có thể trở thành điều kiện tiên quyết cho một thỏa thuận tham vọng hơn.
Tin
tốt là Washington vẫn nắm trong tay hàng loạt biện pháp khuyến khích cần thiết
cho một thỏa thuận toàn diện, bao gồm quyền tiếp cận hệ thống ngân hàng toàn cầu,
thương mại và đầu tư.
Dù
Trump có thể không nhận ra điều đó, chừng nào MOU còn hiệu lực, ông vẫn có được
một thứ xa xỉ là thời gian và sự kiên nhẫn. Mục 9 của MOU, yêu cầu Iran cam kết
duy trì nguyên trạng chương trình hạt nhân, là một lợi ích thường bị Mỹ bỏ qua.
Sau
Chiến tranh 12 ngày vào tháng 06/2025, Iran hiện không làm giàu uranium hoặc chế
tạo máy ly tâm mới. Việc duy trì nguyên trạng này trong khi chờ các cuộc đàm
phán tiếp theo sẽ mang lại cho Mỹ thêm thời gian quý báu, đồng thời cho phép
Trump quảng bá nó như một phần của thỏa thuận ban đầu tuy khiêm tốn nhưng bền vững
hơn.
Một
thỏa thuận nhỏ nhưng bền vững với Iran có thể ngăn chặn các hành động thù địch
quy mô lớn và những gián đoạn nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Tuy
nhiên, nó không thể giải quyết triệt để mối đe dọa mà Iran gây ra cho các nước
láng giềng.
Bên
ngoài Eo biển Hormuz, chiến lược thời chiến hiệu quả nhất của Iran là tấn công
trực tiếp vào các đối tác của Mỹ, những nước sở hữu hạ tầng năng lượng, kỹ thuật
số và kinh tế có vai trò sống còn đối với nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, bất kỳ
thỏa thuận nào với Iran cũng phải đi kèm với sự hỗ trợ liên tục của Washington
nhằm giúp các nước Vùng Vịnh tăng cường khả năng chống chịu trước những cuộc tấn
công và gián đoạn trong tương lai.
Nhưng
chỉ riêng thiết bị của Mỹ sẽ không đủ để bảo đảm năng lực phòng không của Vùng
Vịnh. Điều cần thiết là một hệ thống phòng không tích hợp, nhiều tầng, được xây
dựng với sự hợp tác của các đối tác châu Âu và châu Á.
Điều
đó cũng đòi hỏi phải xây dựng hạ tầng thương mại và năng lượng mới. Trong khi Ả
Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đang giảm bớt sự phụ thuộc
vào Hormuz thông qua các tuyến đường ống mới và việc mở rộng cảng biển,
Bahrain, Kuwait và Qatar lại không có những lối thoát tương tự.
Việc
xây dựng những cơ sở hạ tầng này là rất khó khăn trong môi trường hiện nay. Tuy
nhiên, vai trò lãnh đạo ngoại giao của Mỹ có thể tạo ra động lực và niềm tin cần
thiết để khu vực tư nhân thúc đẩy triển khai dự án. Qua đó, đòn bẩy dài hạn của
Iran đối với Hormuz cũng sẽ bị suy giảm.
Ngoài
ra, Mỹ nên âm thầm hợp tác với các quốc gia Vùng Vịnh để giúp họ xây dựng một
chiến lược phối hợp riêng trong việc ứng phó với Iran về lâu dài. Washington
thường có xu hướng coi mọi hoạt động tiếp xúc giữa các nước Vùng Vịnh và Iran
là mối đe dọa đối với Mỹ. Nhưng trên thực tế, các quốc gia này buộc phải duy
trì thế cân bằng thận trọng giữa can dự và răn đe Tehran.
Nếu
Mỹ không chấp nhận thực tế đó, khả năng các đối tác Vùng Vịnh theo đuổi những
chiến lược can dự có thể làm suy yếu chính sách của Washington đối với Iran sẽ
càng cao, chẳng hạn bằng cách tạo điều kiện né tránh trừng phạt.
Ngược
lại, nếu Washington áp dụng cách tiếp cận thực dụng hơn và thừa nhận tình thế
khó khăn mà các nước Vùng Vịnh đang đối mặt, Mỹ có thể giúp họ xây dựng một
cách tiếp cận khu vực phối hợp hơn, qua đó khiến Tehran khó lợi dụng sự chia rẽ
giữa các nước này.
Sự
thiếu tin cậy và khác biệt chiến lược giữa các quốc gia trong khu vực khiến khả
năng họ xây dựng được một lập trường hoàn toàn thống nhất đối với Iran là rất
thấp. Tuy nhiên, trong quá khứ, Mỹ từng tận dụng khả năng tập hợp và mạng lưới
quan hệ đối tác rộng lớn để thúc đẩy sự đồng thuận mạnh mẽ hơn tại Vùng Vịnh
trong việc ứng phó với các thách thức khu vực.
Để
làm được điều đó hiện nay, Mỹ cần thay đổi cách tiếp cận, theo đuổi một chính
sách Iran mang tính hợp tác hơn và tính đến lợi ích của các đối tác Vùng Vịnh,
những nước đang đứng ở tuyến đầu của cuộc xung đột.
Một
trong những giả định nguy hiểm nhất về Iran là cho rằng chỉ Washington mới có
thể giải quyết vấn đề. Giả định này đã thúc đẩy chính quyền Trump phát động chiến
tranh với Iran mà không có sự đồng thuận của các đối tác Vùng Vịnh chủ chốt và
các đồng minh châu Âu. Nó cũng tiếp tục chi phối nỗ lực của Mỹ nhằm chấm dứt
chiến tranh.
Các
quốc gia Vùng Vịnh từ lâu đã phàn nàn rằng Washington coi họ như những máy rút
tiền tự động, không tham khảo ý kiến khi đưa ra các quyết định chính sách lớn tại
Trung Đông, nhưng lại thường xuyên khai thác nguồn lực của họ để giải quyết hậu
quả của những chính sách ấy.
Châu
Âu cũng có hệ thống đòn bẩy và biện pháp khuyến khích riêng đối với Iran. Vì thế,
nếu muốn xây dựng một giải pháp bền vững cho chương trình hạt nhân của Iran và
những nỗ lực kiểm soát Eo biển Hormuz, Mỹ phải tận dụng đòn bẩy của các đối tác
tại Trung Đông, châu Âu và châu Á.
Để
làm được điều đó vào lúc uy tín của Mỹ đang ở mức thấp chưa từng thấy và sức mạnh
của nước này ngày càng bị thách thức, Washington phải từ bỏ thói quen áp đặt
cách tiếp cận của mình lên các nước khác, thay vào đó tìm cách xây dựng một
chính sách dựa trên sự đồng thuận rộng rãi hơn.
Trong
bối cảnh thiếu vắng vai trò lãnh đạo của Mỹ đối với một chính sách Iran có tính
đồng thuận, các đối tác của Washington đang tự xây dựng những giải pháp thay thế.
Một
nhà ngoại giao cấp cao của châu Âu gần đây cho chúng tôi biết số cuộc gọi họ nhận
được từ các nhà lãnh đạo Vùng Vịnh trong vài tháng qua còn nhiều hơn tổng số
trong cả thập kỷ trước.
Sau
khi Mỹ không thể bảo đảm an ninh tại Eo biển Hormuz, Anh và Pháp đã thiết lập một
sáng kiến hàng hải gồm khoảng 40 quốc gia thành viên, nhằm quản lý các hoạt động
an ninh sau lệnh ngừng bắn mà không có sự tham gia của Washington.
Bản
thân các nước Vùng Vịnh cũng đang hành động. Ả Rập Saudi gần đây đã đề xuất một
cuộc đối thoại an ninh khu vực với Iran và đang xem xét liệu việc hợp tác sâu rộng
hơn với Pakistan có thể giúp định hình hành vi của Tehran hay không.
Những
sáng kiến này cho thấy các đối tác của Mỹ sẵn sàng đứng lên và đảm nhận trách
nhiệm chia sẻ gánh nặng mà Trump từ lâu vẫn kêu gọi. Nhưng họ sẽ làm điều đó
theo những điều kiện của riêng mình.
Những
nỗ lực này có thể trở thành tài sản, chứ không phải mối đe dọa, đối với chính
sách của Mỹ. Nếu được định hình phù hợp, một phái bộ giám sát hàng hải của châu
Âu có thể cung cấp sự hiện diện trên thực địa để bổ sung cho cơ chế giám sát của
Liên Hiệp Quốc tại Eo biển Hormuz.
Ngoài
ra, việc phối hợp chặt chẽ hơn với châu Âu và các nước Vùng Vịnh có thể khai mở
đầy đủ những biện pháp khuyến khích cần thiết để hoàn tất một thỏa thuận hạt
nhân toàn diện trong tương lai.
Nhưng
nếu thiếu sự phối hợp đó, rất có thể sẽ xuất hiện hàng loạt sáng kiến cạnh
tranh do các cường quốc tầm trung dẫn dắt nhằm định hình hành vi của Iran.
Trong kịch bản lạc quan nhất, điều này cũng chỉ tạo ra tình trạng thiếu nhất
quán về chiến lược. Nó sẽ cho phép Iran lựa chọn thỏa thuận có lợi nhất, đồng
thời gieo rắc bất đồng giữa Mỹ và các đối tác.
Một
số người ủng hộ cuộc chiến với Iran có thể coi việc thông qua một kế hoạch với
những mục tiêu nhỏ và khả thi như vậy là thất bại. Trump không nên nhìn nhận
theo cách đó.
Bằng
cách chấm dứt chiến tranh, ông sẽ tránh được chiếc bẫy từng khiến nước Mỹ sa lầy
tại Việt Nam, Iraq và Afghanistan. Ông cũng có thể trút bỏ gánh nặng kinh tế, củng
cố các đối tác của Mỹ và vẫn để ngỏ cánh cửa cho những thỏa thuận lớn hơn trong
tương lai.
Và
có lẽ, theo cách rất đặc trưng của Trump, ông có thể tuyên bố rằng tư duy truyền
thống đã khiến chính sách đi sai hướng, rồi nhận công lao vì đã đủ bản lĩnh
thay đổi khi những người khác không làm được. Với tính cách của Trump, việc
thuyết phục người dân Mỹ chấp nhận cách tiếp cận này có lẽ không quá khó.
Đó
là điều cần thiết để kết thúc chiến tranh: không phải một lời thú nhận thất bại,
mà là một tuyên bố chiến thắng dựa trên những điều kiện khác với những gì Trump
đã tự đặt ra ngay từ đầu.
Cuộc
chiến này chưa bao giờ có thể kết thúc bằng sự đầu hàng vô điều kiện của Iran.
Tiếp tục giả vờ rằng điều đó là khả thi sẽ chỉ kéo dài giao tranh và khiến đòn
bẩy của Mỹ suy giảm sau mỗi tuần.
Một
thỏa thuận mở cửa Eo biển Hormuz, tránh gây thêm tổn hại cho các đồng minh của
Mỹ và duy trì việc đóng băng chương trình hạt nhân Iran là phiên bản chiến thắng
phù hợp nhất vào thời điểm này.
-----------------------
Allison
Minor
là Giám đốc Hội nhập Trung Đông tại Hội đồng Đại Tây Dương. Bà từng giữ chức
Phó Đặc phái viên Mỹ tại Yemen và Giám đốc phụ trách Các vấn đề Bán đảo Ả Rập tại
Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ.
Nate
Swanson
là Giám đốc Dự án Chiến lược Iran tại Hội đồng Đại Tây Dương. Ông từng giữ chức
Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 2022 đến năm
2025. Vào mùa xuân và mùa hè năm 2025, ông là thành viên nhóm đàm phán với Iran
của chính quyền Trump.
Nguồn: Allison Minor
và Nate Swanson, “How
to End the Iran War,” Foreign Policy, 29/07/2026