Tuesday, 1 September 2026

BÀI MỚI NGÀY 1/9/2026 (Báo Tiếng Dân)

 



 

Báo Tiếng Dân

NGÀY 1/9/2026

https://baotiengdan.com/

.

Độc lập rồi, nhưng có tự chủ được không?

Đinh Hoàng Thắng   -  01/09/2026

.

Việt Nam đang đánh mất “chủ quyền công nghệ số”

Trương Nhân Tuấn   -  31/08/2026

.

Bốn ngàn lượt người, một dòng chữ

Lê Anh  -  31/08/2026

.

Trong sạch – Vững mạnh – Có tâm với đảng, với chính phủ

Rùa Tiên Sinh  -  31/08/2026

.

Bản án một chế độ thực dân

Bùi Anh Chiến   -  30/08/2026

.

Đừng dạy trẻ thích nghi với một xã hội không tử tế!

Trung Ngôn  -  30/08/2026

.

Đường sắt Lào Cai – Hải Phòng: Làm thế nào để chi phí sát với giá thực?

Nguyễn Ngọc Chu   -  30/08/2026

.

Hòa bình không thể được xây trên thành quả của xâm lược

Trần Quốc Quân   -  30/08/2026

.

Bình luận của ĐSQ Ukraine tại Việt Nam về bài viết “Cánh cửa hòa bình hé mở” của báo Nhân Dân

ĐSQ Ukraine tại VN  -  30/08/2026

.

Khi súng sợ hoa: Lật đổ cái “bình thường”

Nguyễn Hoàng Văn  -  30/08/2026

 

 





ĐỪNG DẠY TRẺ THÍCH NGHI VỚI MỘT XÃ HỘI KHÔNG TỬ TẾ (Trung Ngôn / Báo Tiếng Dân)

 



Đừng dạy trẻ thích nghi với một xã hội không tử tế!

Trung Ngôn  /  Báo Tiếng Dân

30/08/2026

https://baotiengdan.com/2026/08/30/dung-day-tre-thich-nghi-voi-mot-xa-hoi-khong-tu-te/

 

“Đừng hỏi chúng ta muốn trẻ em trở thành người như thế nào để phục vụ xã hội. Hãy hỏi chúng ta phải xây dựng xã hội như thế nào để trẻ em có thể trở thành chính mình”.

 

Đây không chỉ là một câu nói đẹp về giáo dục. Nếu suy nghĩ đến tận cùng, nó đặt ngược lại toàn bộ vấn đề mà chúng ta vẫn thường nói về giáo dục Việt Nam.

 

Lâu nay, khi bàn về giáo dục, chúng ta thường hỏi phải đào tạo thế hệ trẻ như thế nào để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, để có nguồn nhân lực chất lượng cao, để trở thành những công dân có ích, để phục vụ xã hội.

 

Nghe đúng lắm, nhưng có một câu hỏi ít được đặt ra hơn: Xã hội mà chúng ta muốn những đứa trẻ ấy phục vụ là xã hội như thế nào?

 

Nếu đó là một xã hội mà người nói thật có thể gặp rắc rối, người khác biệt dễ bị cô lập, người có quyền lực được ưu ái, bằng cấp quan trọng hơn năng lực, quan hệ quan trọng hơn nguyên tắc, thì chúng ta đang muốn giáo dục trẻ em thành người như thế nào để thích nghi với nó?

 

Ngoan ngoãn? Biết im lặng đúng lúc? Biết cúi đầu? Biết tìm quan hệ? Biết làm bài thi thật tốt nhưng không đặt quá nhiều câu hỏi? Nếu vậy thì giáo dục đang đào tạo con người hay đang đào tạo khả năng thích nghi với những khiếm khuyết của xã hội?

 

Hãy nhìn vào một đứa trẻ Việt Nam. Từ khi còn rất nhỏ, em đã bắt đầu một cuộc chạy đua. Chạy đua vào trường tốt; chạy đua điểm số; chạy đua học sinh giỏi; chạy đua vào lớp chọn; chạy đua vào trường chuyên… Rồi chạy đua vào đại học. Sau đó lại chạy đua tìm một công việc “ổn định”.

 

Cha mẹ nói, tất cả những điều ấy là vì tương lai của con. Và phần lớn cha mẹ thật sự tin như vậy. Nhưng trong cuộc chạy đua ấy, có một thứ thường bị bỏ lại phía sau: Chính đứa trẻ!

 

Em có thể đạt điểm 9, điểm 10 nhưng không biết mình thích gì. Em có thể giải được một bài toán khó nhưng không biết cách giải quyết một mâu thuẫn với bạn bè. Em có thể thuộc lòng hàng trăm trang sách nhưng không dám nói “em không đồng ý”. Em có thể thi đậu một trường đại học danh tiếng nhưng hoàn toàn không biết mình muốn sống cuộc đời nào.

 

Chúng ta gọi đó là thành công. Nhưng có khi đó chỉ là khả năng đi thật nhanh trên một con đường mà người khác đã chọn sẵn.

 

Một trong những căn bệnh lớn nhất của giáo dục Việt Nam là bệnh thành tích. Nhưng thành tích không tự nhiên sinh ra trong trường học mà căn bệnh này bắt nguồn từ cách xã hội đánh giá con người.

 

Một đứa trẻ đạt điểm cao được khen. Một đứa trẻ đứng nhất lớp được tuyên dương. Một trường có nhiều học sinh đậu đại học được xem là trường tốt. Một địa phương có nhiều học sinh đọat giải, được coi là có thành tích giáo dục. Và thế là tất cả cùng chạy theo những con số…

 

Điểm số trở thành thứ dễ đo nhất, nên nó được dùng để đo gần như mọi thứ. Nhưng một con người đâu chỉ có điểm số bởi lòng trung thực không có điểm. Khả năng biết lắng nghe không có điểm. Lòng can đảm không có điểm. Khả năng nhận ra mình sai và sửa sai cũng không có điểm. Sự tử tế càng không có điểm.

 

Thế nhưng, chính những thứ ấy mới quyết định một con người sẽ trở thành người như thế nào.

 

Đáng lo hơn nữa là chúng ta thường nhầm lẫn giữa ngoan và tốt. Một đứa trẻ ngồi im, không cãi lời thầy cô, làm đúng tất cả những gì người lớn yêu cầu thường được gọi là trẻ ngoan. Nhưng một đứa trẻ biết hỏi “tại sao?” thì sao?

 

Một đứa trẻ hỏi tại sao phải học bài này; tại sao quy định này lại như vậy; tại sao người lớn nói một đằng nhưng làm một nẻo; tại sao bạn của em bị đối xử khác biệt… Những câu hỏi ấy đôi khi làm người lớn khó chịu.

 

Chúng ta muốn trẻ em có tư duy phản biện, nhưng lại không muốn bị trẻ em phản biện; chúng ta muốn trẻ em sáng tạo, nhưng lại muốn các em làm đúng đáp án; chúng ta muốn các em tự tin, nhưng lại thường xuyên so sánh các em với “con nhà người ta”; chúng ta muốn các em độc lập, nhưng lại quyết định thay các em từ chuyện học trường nào, cho đến chuyện sau này làm nghề gì.

 

Đó là một mâu thuẫn mà giáo dục không thể giải quyết nếu gia đình và xã hội không thay đổi.

 

Học thêm cũng là một câu chuyện như vậy. Không phải học thêm tự nó là xấu bởi một đứa trẻ cần giúp đỡ thêm ở một môn nào đó là chuyện bình thường. Vấn đề là, khi học thêm trở thành một cuộc đua mà gần như không ai dám đứng ngoài.

 

Cha mẹ sợ con mình không học thì thua bạn; học sinh sợ không học thì điểm thấp; giáo viên chịu áp lực thành tích; nhà trường chịu áp lực thành tích…

 

Cuối cùng, đứa trẻ có rất ít thời gian để chơi, hay để đọc một cuốn sách mà em thích, đạp xe, đi bộ, quan sát thiên nhiên, làm một thứ gì đó bằng tay hoặc đơn giản là ngồi một mình và nghĩ.

 

Chúng ta nói trẻ em phải phát triển toàn diện, nhưng rồi lại lấy gần hết thời gian của chúng để phục vụ cho một vài kỳ thi.

 

Một đứa trẻ cần có thời gian để không làm gì cả, bởi chính trong những khoảng thời gian tưởng như vô ích ấy, trí tưởng tượng mới có cơ hội phát triển.

 

                                                        ***

 

Giáo dục cũng không thể chỉ dạy trẻ cách thành công, mà phải dạy trẻ cách sống, cũng như dạy cách đối diện với thất bại, hay dạy cách chấp nhận rằng có những người giỏi hơn mình.

 

Giáo dục cũng cần dạy cách sống với một người không giống mình. Dạy cách xin lỗi. Dạy cách nói “không”. Dạy cách bảo vệ bản thân mình trước sự bắt nạt. Dạy cách đứng về phía người yếu thế hơn. Dạy rằng không phải lúc nào số đông cũng đúng. Và quan trọng nhất là cần dạy trẻ em rằng một con người không mất giá trị chỉ vì họ thất bại.

 

Ở Việt Nam, một kỳ thi trượt đôi khi được nhìn như thể cánh cửa tương lai đã đóng lại. Khi bị điểm 5 có thể khiến một đứa trẻ cảm thấy mình kém cỏi. Một lần thi đại học không đạt có thể trở thành nỗi ám ảnh của cả gia đình.

 

Nhưng cuộc đời đâu chỉ có một kỳ thi bởi có người thành công rất sớm, nhưng cũng có người cần nhiều năm mới tìm được con đường của mình. Có người học đại học nhưng cũng có người học nghề. Có người khởi nghiệp, lại có người làm công việc bình thường nhưng sống một cuộc đời rất đáng trân trọng.

 

Nếu xã hội chỉ công nhận một vài kiểu thành công, giáo dục sẽ tiếp tục ép tất cả trẻ em đi về cùng một hướng.

 

Do vậy, muốn thay đổi giáo dục, đừng chỉ bắt đầu bằng việc đổi sách giáo khoa, cũng như đừng nghĩ rằng cứ đưa máy tính, trí tuệ nhân tạo hay những phương pháp giảng dạy mới vào lớp học thì giáo dục sẽ tự nhiên trở nên hiện đại.

 

Một lớp học có máy tính hiện đại nhưng học sinh vẫn sợ nói khác thầy cô thì chưa phải là một nền giáo dục hiện đại; một trường học có chương trình tiên tiến nhưng giáo viên vẫn bị ám ảnh bởi thành tích thì cũng chưa đủ; một đứa trẻ được dạy hàng ngàn giờ về “tư duy sáng tạo” nhưng lớn lên trong một xã hội không chấp nhận người dám nghĩ khác thì những bài học ấy cuối cùng cũng sẽ bị đời sống thực tế nuốt chửng.

 

Muốn trẻ em trung thực, xã hội phải tôn trọng sự trung thực. Muốn trẻ em có tư duy độc lập, xã hội phải chấp nhận những người suy nghĩ khác. Muốn trẻ em dám chịu trách nhiệm, người lớn phải làm gương về trách nhiệm. Muốn trẻ em tôn trọng pháp luật, chính người lớn phải chứng minh rằng, pháp luật không phải thứ chỉ dành cho người yếu thế. Và muốn trẻ em trở thành chính mình, xã hội phải cho các em đủ tự do để tìm ra mình là ai.

 

Có lẽ chúng ta nên ngừng hỏi: “Làm thế nào để tạo ra những đứa trẻ phù hợp với xã hội” mà hãy hỏi rằng “Chúng ta phải xây dựng một xã hội như thế nào để trẻ em không phải đánh mất mình mới có thể sống được trong đó?”

 

Một xã hội mà người thợ giỏi không bị coi thường vì không có bằng đại học; một xã hội mà một người trẻ có thể chọn nghề mình yêu thích mà không bị xem là thất bại; một xã hội mà thất bại không đồng nghĩa với mất phẩm giá; một xã hội mà câu hỏi “tại sao?” không bị xem là hỗn; một xã hội mà người khác biệt không phải lúc nào cũng bị buộc phải trở nên giống số đông; một xã hội mà trẻ em không cần phải trở thành “con nhà người ta” mới được cha mẹ tự hào.

 

Đó mới là môi trường giáo dục tốt nhất! Bởi suy cho cùng, mục tiêu của giáo dục không nên tạo ra những con người giống nhau, cùng suy nghĩ, cùng lựa chọn và cùng chạy về một phía.

 

Mục tiêu của giáo dục là giúp mỗi con người nhận ra mình có thể trở thành ai. Có đứa trẻ sẽ trở thành bác sĩ; có đứa trẻ trở thành kỹ sư; có đứa trở thành thợ may; có đứa trở thành nghệ sĩ; có đứa trở thành nhà khoa học; có đứa chẳng trở thành người nổi tiếng nào cả, chỉ sống một cuộc đời bình thường, nuôi dạy con cái tử tế và không làm tổn thương người khác. Tất cả những cuộc đời ấy đều có giá trị như nhau.

 

Và nếu giáo dục thật sự vì con người, thì thành công cuối cùng của nó không phải là tạo ra một thế hệ phục vụ xã hội tốt hơn, mà nên tạo ra một thế hệ có đủ tự do, đủ năng lực và đủ can đảm để cùng nhau xây dựng một xã hội tốt hơn.

 

Đừng bắt trẻ em thích nghi với những điều sai trái của người lớn, mà hãy sửa lại xã hội để khi những đứa trẻ lớn lên, các em không phải lựa chọn giữa sống đúng với mình và sống được trong xã hội. Đó mới là cuộc cải cách giáo dục đáng để chúng ta nói đến!

 

 

 

 

 


BỐN NGÀN LƯỢT NGƯỜI, MỘT DÒNG CHỮ (Lê Anh / Báo Tiếng Dân)

 



Bốn ngàn lượt người, một dòng chữ

Lê Anh  /  Báo Tiếng Dân

31/08/2026

https://baotiengdan.com/2026/08/31/bon-ngan-luot-nguoi-mot-dong-chu/

 

Lời giới thiệu: Một dòng chữ trên núi có thể cần đến gần bốn ngàn lượt người, hàng ngàn tấm bê tông và rất nhiều mồ hôi. Trong một xã hội mà sức người vẫn thường được huy động để hoàn thành những công trình mang tính biểu tượng, câu hỏi đặt ra không phải là người dân có yêu lãnh tụ hay không, mà là vì sao tình yêu ấy phải được đo bằng số người khuân đá.

 

Khi máy móc có thể làm thay, nhưng con người vẫn được chọn để tạo nên một màn trình diễn tập thể, thì điều được xây dựng có lẽ không chỉ là một dòng chữ. Bài viết sau đây của tác giả Lê Anh nhìn công trình “Bác Hồ sống mãi” ở Nghệ An từ một góc nhìn khác.

 

                                                  ***

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-1536x998.jpg

Ảnh: Báo Nghệ An

 

Gần bốn ngàn lượt người cõng khoảng hai ngàn tấm bê tông, mỗi tấm hơn hai mươi kilôgam, lên núi Nhón ở Nghệ An để khảm dòng chữ “Bác Hồ sống mãi”, kịp dịp Quốc khánh. Báo chí gọi đó là nghĩa tình. Nhìn bằng quan điểm hoài nghi thì đây không phải chuyện sửa chữ cũ, mà là một buổi diễn tập: xem dân còn chịu khuân đá thay cho tư duy đến mức nào.

 

Công trình không giải quyết được vấn đề đường xá, trường học hay viện phí. Nó giải quyết một nhu cầu khác: biến sức người thành hình ảnh. Máy móc hoàn toàn có thể kéo vật liệu lên sườn núi cao 150 mét. Người ta vẫn chọn hàng dài chuyền tay nhau, vì cần khung cảnh “đoàn kết”, cần mồ hôi thật để chứng minh lòng trung thành vẫn điều khiển được chân tay. Dòng chữ trên núi không phải để đọc từ dưới làng; dòng chữ ấy quay mặt vào camera.

 

Điều đáng bàn không nằm ở tấm bê tông, mà nằm ở việc biến lao động vô ích thành đức hạnh. Ai hỏi “tốn công để làm gì” thì bị gắn mác vô ơn. Ai nói nên dùng sức ấy để vá đường trơn, làm kênh tưới hay xây lớp học thì bị quy là xúc phạm sự thiêng liêng. Sự thiêng liêng ở đây đóng vai trò như lá chắn: Càng lãng phí lại càng thiêng, càng đông người tham gia lại càng đúng.

 

Dòng chữ “sống mãi” bằng bê tông là một hình ảnh ẩn dụ khá thẳng thắn. Người đã khuất không cần những tấm đúc sẵn. Bộ máy cần biểu tượng nhìn thấy từ xa, bền hơn những lời hứa về việc làm và công lý.

 

Khi một xã phải tổ chức hàng ngàn lượt người gánh vác để viết lại khẩu hiệu trên triền dốc, câu hỏi không còn là yêu hay không yêu. Câu hỏi là: Ai được lợi khi dân mệt mỏi vì chạy theo dòng chữ, mà quên hỏi dòng chữ ấy nuôi sống ai?

 





BẢN ÁN MỘT CHẾ ĐỘ THỰC DÂN (Bùi Anh Chiên / Báo Tiếng Dân)

 



Bản án một chế độ thực dân

Bùi Anh Chiến  /  Báo Tiếng Dân

30/08/2026

https://baotiengdan.com/2026/08/30/ban-an-mot-che-do-thuc-dan/

 

Có những chế độ không cần quân đội nước ngoài chiếm đóng vẫn có thể khiến người dân sống như trong một thuộc địa. Đó là khi nhà nước dựng lên một bộ máy cai trị khổng lồ, đặt lên vai người lao động hết loại thuế này đến khoản phí khác, hết quy định này đến giấy phép khác, rồi dùng những mức phạt ngày càng nặng để buộc người dân phải cúi đầu.

 

Người dân làm ra tiền nhưng không được tự do sử dụng thành quả lao động của mình, kinh doanh thì bị bao vây bởi thủ tục, sinh kế bị ràng buộc bởi giấy phép, tài sản bị quản lý bằng vô số quy định vô cùng vô lý. Người dân càng làm ăn, càng phải đối mặt với nhiều thứ phải đóng, phải xin, phải chịu.

 

Đó là một kiểu bóc lột rất hiện đại, chỉ cần thuế, phí, thủ tục và tiền phạt.

 

Nhưng điều đáng lên án hơn là sự bất bình đẳng trong cách quyền lực đối xử với xã hội. Người lao động bình thường chỉ cần sai một quy định có thể bị phạt rất nặng, trong khi những người có quyền lực, có quan hệ lại có thể né tránh trách nhiệm hoặc hưởng những đặc quyền mà người dân bình thường không bao giờ có được. Khi luật pháp nghiêm khắc với người yếu thế nhưng lại dễ dãi với người có quyền, pháp luật tự nhiên trở thành công cụ duy trì quyền lực.

 

Một chế độ như vậy còn cần kiểm soát thông tin. Báo chí bị giới hạn, những tiếng nói trái chiều bị gây sức ép, những vấn đề nhạy cảm bị né tránh hoặc bóp méo. Thành tích được phóng đại, thất bại được che giấu, sai lầm thì trốn tránh, người dân nhìn thấy một đất nước luôn được tuyên truyền là đang phát triển, nhưng lại không được tự do hỏi ‘tại sao cuộc sống của chính mình vẫn ngày càng khó khăn hơn‘.

 

Chúng nó làm dân ngu đi bởi những tin tức tự chỉnh sửa, tự nghĩ ra và tự tô vẽ nó bất chấp thực tế. Vì thế, trong mọi chế độ độc đoán, kiểm soát thông tin luôn đi cùng kiểm soát xã hội. Cách làm dân ngu đi nhanh chóng là chỉ cần khiến họ thiếu thông tin, thiếu khả năng kiểm chứng và thiếu không gian để tranh luận, quyền lực đã có thể dễ dàng cai trị.

 

Biểu tình bị hạn chế. Tranh luận bị cấm đoán. Những tiếng nói phản biện bị gán ghép bằng đủ thứ ngôn từ. Đó chính là lúc sự cai trị biến thành sự thuần phục.

Thuế để lấy tiền. Phí để lấy thêm tiền. Quy định để kiểm soát. Tiền phạt để răn đe. Kiểm soát thông tin để định hướng nhận thức. Hạn chế phản biện để ngăn chặn chất vấn. Hạn chế biểu tình để ngăn tập hợp. Tất cả ghép lại thành một môi trường mà ở đó người dân phải làm việc để nuôi bộ máy, phải tuân thủ để tránh bị phạt, phải im lặng để tránh rắc rối và phải tin vào những gì quyền lực cho phép họ được biết.

 

Đó là cai trị, không thể gọi khác đi được. Nhà nước ấy đang phục vụ nhân dân, hay nhân dân đang bị biến thành đối tượng phục vụ cho nhà nước?

 

PS: Bọn thực dân Pháp thật độc ác, bài viết này em lại chỉ nói về Trung Quốc với bọn thực dân Pháp ngày trước thôi nhé.

 

 

 




PHẢI CHĂNG THẾ CHIẾN III ĐÃ BẮT ĐẦU? (Bret Stephens – New York Times)

 



Phải chăng Thế Chiến III đã bắt đầu?

Bret Stephens  -  New York Times

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch

30/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/30/phai-chang-the-chien-iii-da-bat-dau/

 

Ngay sau cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, tôi đã viết một bài báo với tựa đề “This Is How World War III Begins” (Đây là cách Thế chiến III bắt đầu). Hơn bốn năm sau, tôi tự hỏi mình đã đúng được bao nhiêu phần.

 

Lập luận của tôi dựa trên nguồn gốc của Thế chiến II, vốn không đơn thuần chỉ bắt đầu từ việc Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 01/09/1939. Thay vào đó, cuộc chiến là sự tích tụ của các cuộc chiến và khủng hoảng cấp khu vực, bắt đầu bằng việc Nhật Bản xâm lược Mãn Châu vào năm 1931, sau đó dần dần gộp lại thành một cuộc xung đột toàn cầu duy nhất.

 

Sự tích tụ đó, được tiếp tay bởi những tham vọng hội tụ của các quốc gia toàn trị cùng với sự chia rẽ và dao động của các nền dân chủ, đã dẫn đến thảm họa. Thêm vào đó là một cuộc cách mạng về công nghệ và chiến thuật quân sự đã mang lại cho các chế độ độc tài lợi thế bước đầu trong tác chiến tấn công. Một lợi thế khác là thái độ sẵn sàng của họ trong việc gây ra – và chịu đựng – một mức độ tàn bạo và đau khổ mà đối thủ của họ thoạt đầu còn ngần ngại không muốn đáp trả tương đương.

 

Vào năm 2022, tôi nhận thấy một mô hình tương tự đang diễn ra: Nhiều thập kỷ phương Tây nhượng bộ Vladimir Putin đã mang lại cho nhà lãnh đạo cứng rắn của Nga cảm giác rằng ông có thể thoát tội trong gần như mọi chuyện. Mối quan hệ ngày càng phát triển của ông với Triều Tiên, Iran, và đặc biệt là Trung Quốc – được ghi dấu bằng cam kết về quan hệ đối tác “không giới hạn” với Bắc Kinh, được công bố vài tuần trước cuộc xâm lược Ukraine – càng giúp ông thêm sự tự tin. Sự yếu kém của Mỹ trong cuộc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan chỉ sáu tháng trước đó cũng có tác động tương tự.

 

Nhưng Ukraine đã không, như tôi từng lo ngại, trở thành nước Pháp của năm 1940. Họ giống nước Anh hơn, sẵn sàng chiến đấu, như Churchill đã nói vào tháng 5 cùng năm đó, “bất kể con đường có dài và gian nan đến đâu.” Chính quyền Biden, dù đã do dự một cách tai hại trong việc cho phép Kyiv đưa cuộc chiến vào lãnh thổ Nga, chí ít đã giúp đảm bảo rằng Ukraine không thua. Ukraine cũng giữ được lợi thế công nghệ, tiên phong trong các thiết bị và chiến thuật đang khuyến khích việc suy nghĩ lại đáng lẽ phải có từ lâu về cách các cuộc chiến trong tương lai sẽ diễn ra.

Đó là tin tốt. Nhưng tin xấu thì còn nhiều hơn thế.

 

Thứ nhất, giống như trong thập niên 1930 và 1940, phạm vi xung đột đã mở rộng và đang hợp nhất.

 

Những thất bại trên chiến trường của Nga dường như chẳng làm sự liều lĩnh của Putin giảm đi chút nào. Ngược lại, ông còn mở rộng chiến dịch của mình, thông qua các cuộc tấn công và đe dọa gần như không che giấu nhắm vào Moldova, Ba Lan và Đức, cùng các quốc gia khác, trong khi các đồng minh chính trị của ông liên tục kêu gọi tấn công trực tiếp vào châu Âu và sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Ukraine. Cuộc tấn công của Hamas vào Israel năm 2023 lần lượt trở thành một cuộc chiến giữa Israel và Hezbollah, Houthi và Iran; sau đó là một cuộc chiến giữa Iran, Mỹ và các quốc gia Vùng Vịnh. Gần đây hơn, Ukraine đã tiến hành các cuộc tấn công tầm xa ở Biển Caspi để làm gián đoạn nguồn cung khí tài của Iran cho Nga. Và các quyết định ở một chiến trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết cục ở chiến trường khác: Việc tiêu hao các tên lửa đánh chặn ở Trung Đông đồng nghĩa với việc hiện có rất ít tên lửa có thể được dành ra cho Ukraine.

 

Thứ hai, Trục Chuyên chế (Axis of Authoritarians) đã trở thành một liên minh quân sự hoạt động ở mọi cấp độ.

 

Nga đang hỗ trợ Triều Tiên hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, trong khi Bình Nhưỡng cũng đáp lại bằng cách gửi cho Moscow hàng triệu quả đạn pháo và hiện được cho là đã sẵn sàng điều thêm hàng nghìn binh sĩ sang chiến đấu cho Nga tại Ukraine. Về phần mình, Trung Quốc cung cấp cho Nga phần lớn các linh kiện điện tử được sử dụng trong máy bay không người lái và các thiết bị quân sự khác. Nga đã cung cấp cho Iran những thông tin tình báo quan trọng về mục tiêu, giúp nước này tấn công các căn cứ và tàu chiến của Mỹ ở Trung Đông. Trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan, Bắc Kinh có thể yêu cầu chi viện từ Moscow bằng cách huy động hạm đội tàu ngầm hùng mạnh của Nga ở Thái Bình Dương, như được phân tích trong một báo cáo mới của Viện Chính sách Chiến lược Australia.

 

Thứ ba, phương Tây đang là một mớ hỗn độn.

 

Tổng thống Trump liên tục phàn nàn về sự yếu kém của các đồng minh, còn các đồng minh phàn nàn về thói bắt nạt, tính thất thường, sự non nớt, dối trá, và kém cỏi của Trump. Cả hai bên đều đúng. Đợt áp thuế mới nhất của Mỹ đối với Canada là một ví dụ điển hình: tồi tệ về mặt chính trị, tự chuốc lấy tổn hại về mặt kinh tế, và gây suy yếu về mặt chiến lược.

 

Tuy nhiên, không điều nào trong số đó xóa bỏ được sự thật rằng Canada, một quốc gia phụ thuộc vào thương mại với đường bờ biển dài nhất thế giới, gần như không có một lực lượng hải quân nào đáng kể, hoặc rằng quan hệ “đối tác chiến lược mới” của chính phủ nước này với Trung Quốc là vô đạo đức, thiếu khôn ngoan, và không vững chắc – trừ phi Thủ tướng Mark Carney thực sự nghĩ rằng những cơn bộc phát ngu ngốc của Trump là một mối đe dọa dài hạn nghiêm trọng hơn đối với Canada và toàn bộ thế giới tự do so với những toan tính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

 

Thứ tư, chúng ta chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt quân sự.

 

Cuộc chiến chống lại Iran đã phơi bày không chỉ tình trạng thiếu hụt đạn dược, thứ đã góp phần khiến cuộc chiến phải kết thúc sớm hơn dự kiến, mà còn cho thấy Mỹ đặc biệt nhạy cảm với thương vong quân sự và nỗi đau kinh tế, từ đó mang lại cho các nhà lãnh đạo Iran một lợi thế bất đối xứng nhờ vào khả năng chấp nhận nỗi đau nhân mạng bền bỉ hơn nhiều. Cuộc chiến ở Ukraine đã chứng minh rằng ngay cả những thiết bị quân sự tinh vi nhất của Mỹ cũng đang trở nên lỗi thời nhờ vào sự xuất hiện của chiến tranh bằng máy bay không người lái có sự hỗ trợ của AI. Các xe tăng mà Mỹ và các đồng minh cung cấp cho Kyiv dưới thời chính quyền Biden “giờ đây đang nằm im, ẩn giấu trong các khu rừng và bám đầy mạng nhện,” như tờ Times đã đưa tin trong tuần này.

 

Thế nhưng Pete Hegseth, vị Bộ trưởng Quốc phòng bị ám ảnh bởi hormone nam giới của chúng ta, tuần trước đã quyết định loại bỏ dần một đơn vị máy bay không người lái của Quân đội, dường như chỉ vì đơn vị này được những vị tướng mà ông không thích ủng hộ. Thêm vào đó, những khó khăn của tàu sân bay USS Abraham Lincoln trong đợt triển khai dài hạn là một vụ bê bối cấp quốc gia. Nhưng chúng nên khiến chúng ta chú ý đến quy mô hạm đội hiện đang ở mức thấp chưa từng thấy trong lịch sử, và cơ sở công nghiệp đã cạn kiệt của chúng ta, vốn đang phải vật lộn để chế tạo và bảo trì các con tàu. Việc các nghị sĩ Đảng Dân chủ ngăn cản dự luật phân bổ ngân sách quốc phòng cũng chẳng giúp tình hình khá hơn chút nào.

 

Thứ năm, chúng ta có thể đang tiến đến bờ vực thẳm kinh tế.

Một khác biệt lớn giữa những năm 1930 và hiện tại là, không giống như lúc đó, chúng ta không ở giữa một cuộc suy thoái toàn cầu. Nhưng các dấu hiệu cảnh báo về một đợt suy thoái mạnh và đột ngột đang hiện diện khắp mọi nơi. Điều gì sẽ xảy ra nếu, hoặc khi, cơn sốt AI bắt đầu hạ nhiệt, giống như cách cơn sốt dot-com đã sụp đổ vào đầu thế kỷ này? Hoặc nếu cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Nhật Bản khiến nước này bắt đầu bán tháo trái phiếu Kho bạc Mỹ? Nhà đầu tư huyền thoại Stanley Druckenmiller gần đây đã cảnh báo trên tờ Wall Street Journal rằng các đợt mua lại trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ gần như chắc chắn sẽ thất bại: Cuối cùng, cái giá của khoản nợ quốc gia 40 nghìn tỷ USD sẽ được cảm nhận qua mức lãi suất tăng vọt và những rủi ro mà lãi suất đó gây ra cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế vốn đã phụ thuộc quá lâu vào tín dụng giá rẻ.

 

Một cuộc suy thoái sâu rộng ở nước Mỹ, hay một cơn hoảng loạn tài chính toàn cầu, chắc chắn sẽ khiến mọi xu hướng đã đề cập trên đây càng thêm tồi tệ. Trong những thời kỳ kinh tế khó khăn, các nền dân chủ gần như luôn trở nên thận trọng và e ngại rủi ro hơn, trong khi các chế độ độc tài lại có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Đó là một quy luật lịch sử đáng để nhớ lại, khi chúng ta vẫn đang mơ hồ, thiếu cảnh giác, trôi về phía cơn bão đang ngày một lớn dần.

 

-------------------------------------

Bret Stephens là chuyên gia bình luận của New York Times, tập trung vào chính sách đối ngoại, chính trị trong nước Mỹ, và các vấn đề văn hóa.

 

Nguồn: Bret Stephens, “Has World War III Already Started?,” New York Times, 25/08/2026

 

---------------------------------------

Có thể bạn quan tâm:

1.   Nixon và Việt Nam cho chúng ta biết gì về tính toán của Putin?

2.   Cơ hội lịch sử của Biden và Macron để củng cố quan hệ xuyên Đại Tây Dương

3.   Học thuyết chiến thắng mới của Nga và triển vọng Chiến tranh Ukraine

4.   Làm thế nào để quản lý rủi ro từ một Trung Quốc suy yếu?

5.   Khí cầu do thám Trung Quốc ảnh hưởng quan hệ với Mỹ như thế nào?

6.   Putin đã sẵn sàng cho một cuộc chiến đường dài với phương Tây?

7.   Chuyến thăm Nga của Tập thực sự có ý nghĩa gì?

8.   Trung Quốc có thể cứu vãn cuộc chiến của Putin ở Ukraine như thế nào?

 

 

 

 

 


CHÂU Á HẬU MỸ : MỘT TRẬT TỰ MỚI DO ASEAN DẪN DẮT? (Marwick Powell / Bao Shao Shan – Guancha)

 



Châu Á hậu Mỹ: Một trật tự mới do ASEAN dẫn dắt?

Warwick Powell (Bao Shao Shan)   -   Guancha   

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch

28/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/28/chau-a-hau-my-mot-trat-tu-moi-do-asean-dan-dat/

 

Trong gần 80 năm qua, đại chiến lược của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương luôn được xây dựng trên một giả định duy nhất và tưởng như rất đáng tin cậy: Mỹ có thể dựa vào một mạng lưới các căn cứ quân sự tiền tiêu, trải dài từ Nhật Bản, qua cái gọi là “chuỗi đảo thứ nhất”, cho tới Guam – vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Mỹ – để triển khai sức mạnh quân sự mang tính quyết định. Tuy nhiên, giả định này giờ đây đã sụp đổ. Điều này không phải do Mỹ thiếu ý chí chính trị hay thiếu hụt ngân sách. Thứ thực sự đập tan giả định này chính là logic mang tính định lượng về năng lực sản xuất công nghiệp, công nghệ luyện kim vật liệu và mức độ tiêu hao tên lửa.

 

Một đánh giá khách quan cuối cùng sẽ dẫn đến kết luận như sau: Trong phần đầu tiên của bài viết, chúng ta sẽ thảo luận về lý do tại sao Mỹ đã không còn khả năng bảo vệ hiệu quả các căn cứ quân sự của mình trong khu vực, không thể bổ sung hệ thống vũ khí trong quá trình xảy ra xung đột, và xét về mặt cấu trúc thì không đủ năng lực để chiến thắng một cuộc chiến kéo dài tại Đông Á. Khi các đồng minh trong khu vực dần dần và âm thầm chấp nhận sự thay đổi này, dù thực tế đó khiến họ bất an, cục diện chiến lược tại châu Á đang diễn ra một sự phân rã sâu sắc. Mỹ đang đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi khu vực Tây Thái Bình Dương về mặt cấu trúc.

 

Và một sự thật phũ phàng là: Không một quốc gia nào có đủ năng lực để ngăn chặn xu hướng này, hay nói chính xác hơn, cũng chẳng có quốc gia nào thực sự muốn ngăn chặn nó. Dù là tiếp tục cung cấp thêm vũ khí cho Philippines, Nhật Bản hay Đài Loan, ở một mức độ lớn, tất cả cũng chỉ là một màn trình diễn chính trị. Nếu logic định lượng, thể hiện qua sự suy giảm về năng lực công nghiệp và quân sự của Mỹ, cuối cùng sẽ quyết định số phận rút lui của nước này khỏi Đông Á, vậy thì câu hỏi thực sự trước mắt không còn là “Khi nào Mỹ sẽ rời đi?”, mà là “Điều gì sẽ lấp đầy khoảng trống chiến lược mà Mỹ để lại?”

 

Phần thứ hai của bài viết sẽ bắt đầu thảo luận về một phương án phản ứng khả thi: Một cấu trúc “an ninh không thể chia cắt” do chính các quốc gia châu Á khởi xướng, định hình, duy trì và phục vụ cho lợi ích của chính các quốc gia châu Á.

 

Phép tính toán đằng sau mức tiêu hao trong chiến tranh

 

Khuyết điểm căn bản nhất của hệ thống quốc phòng phương Tây nằm ở khoảng cách khổng lồ và bất cân xứng liên quan đến độ sâu dự trữ đạn dược. Kể từ khi chi tiêu quân sự toàn cầu tăng vọt vào đầu năm 2026, kho vũ khí của Mỹ đang trải qua mức độ tiêu hao chưa từng có.

 

Như Jennifer Kavanagh – Giám đốc Phân tích Quân sự tại tổ chức Defense Priorities – đã chỉ ra trong một loạt bài phân tích có tính tiêu biểu đăng trên tạp chí trực tuyến Responsible Statecraft của Viện Quincy, tình trạng mở rộng chiến lược quá mức kéo dài của Mỹ đang đẩy nước này vào một cuộc khủng hoảng đạn dược mang tính hệ thống.

 

Kavanagh chỉ ra rằng, việc đồng thời cung cấp vũ khí cho Ukraine và liên tục tiến hành các hoạt động quân sự nhằm vào Iran đã khiến kho dự trữ phục vụ chiến tranh của Mỹ bị tiêu hao nghiêm trọng. Lượng vũ khí đánh chặn phòng thủ chủ chốt, bao gồm tên lửa đánh chặn PAC-3 của hệ thống “Patriot” và hệ thống “THAAD”, hiện đã giảm gần một nửa. Những trang bị công nghệ cao vốn có số lượng hạn chế này lại đang bị sử dụng như thể chúng là một nguồn lực có thể khai thác vô hạn. Trong khi đó, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), dựa vào hệ thống công nghiệp quốc phòng luôn duy trì trạng thái gần như thời chiến, vẫn liên tục sản xuất số lượng lớn tên lửa dẫn đường chính xác, hệ thống tên lửa đạn đạo và đạn tuần kích mỗi năm.

 

Một phân tích gần đây do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) công bố cũng tiếp tục xác nhận vấn đề này. Mark F. Cancian và Chris H. Park chỉ ra rằng, tình trạng thiếu đạn dược hiện nay của Mỹ có liên quan chặt chẽ đến sự suy thoái kéo dài của nền tảng công nghiệp quốc phòng. Một hệ thống công nghiệp Mỹ đã bị “rỗng hóa” đang trở thành hạn chế lớn nhất đối với tham vọng duy trì ưu thế quân sự của nước này ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu. Trong một phân tích khác về “cạnh tranh giữa các cường quốc và tái công nghiệp hóa năng lực răn đe”, nhà nghiên cứu Benjamin Jensen của CSIS cho rằng, nếu Mỹ không thể tái công nghiệp hóa, nước này sẽ không thể khôi phục năng lực “răn đe” như trước đây.

 

Hiện nay, khoảng cách về năng lực giữa Mỹ và Trung Quốc đã bắt đầu lộ rõ, và xét đến thực tế của chuỗi cung ứng, khoảng cách này trong ngắn hạn không những khó thu hẹp mà thậm chí còn có thể tiếp tục nới rộng. Chẳng hạn, những hạn chế của Trung Quốc đối với nguồn cung thượng nguồn về đất hiếm và vật liệu từ tính có thể khiến khoảng cách này càng lớn hơn. Trong bất kỳ cuộc xung đột quy mô lớn thực sự nào, sự chênh lệch về số lượng như vậy sẽ khiến hệ thống phòng thủ tiền tiêu của Mỹ nhanh chóng sụp đổ.

 

Nhà phân tích chính sách Anusar Farooqui gần đây đã đưa ra một mô hình cân bằng, qua đó phơi bày phương thức này theo một cách hết sức lạnh lùng: Hệ thống phòng thủ quân sự của Mỹ đòi hỏi phải sử dụng nhiều tên lửa đánh chặn để bảo đảm hạ được một mục tiêu đang tiến tới. Một khi chiến tranh nổ ra, trước các đòn tấn công chính xác quy mô lớn của Trung Quốc, kho tên lửa đánh chặn của Mỹ và các đồng minh có lẽ sẽ cạn kiệt chỉ sau vài ngày. Ngay cả trong những giả định thuận lợi nhất cho Mỹ – chẳng hạn triển khai các hệ thống gây nhiễu tác chiến điện tử tiên tiến và xây dựng hàng trăm nhà chứa máy bay kiên cố mới (Hardened Aircraft Shelters, HAS) – kết quả về cơ bản vẫn không thay đổi. Kho dự trữ vũ khí khổng lồ của Trung Quốc cho phép nước này dễ dàng chịu đựng các biện pháp đáp trả ban đầu, đồng thời sử dụng các loại bom chùm giá rẻ và có khả năng chống nhiễu để tiến hành chế áp các cơ sở hạ tầng sân bay.

 

Các tính toán cho thấy, trong kịch bản cân bằng, chỉ trong tuần đầu tiên, số máy bay Mỹ bị phá hủy khi đang đỗ trên mặt đất có thể vượt quá 300 chiếc. Hệ thống răn đe truyền thống tại châu Á không phải đang suy yếu, mà đã mất hiệu lực. Và đây mới là một kịch bản được xây dựng trên những giả định có lợi nhất cho Mỹ. Nếu áp dụng những giả định bi quan hơn, mức độ tàn phá sẽ không giảm xuống, mà chỉ xảy đến nhanh hơn mà thôi.

 

Ảo tưởng về triển khai phân tán và những hạn chế của hậu cần

 

Để ứng phó với tình thế khó khăn này, Bộ Quốc phòng Mỹ những năm gần đây đã thúc đẩy mạnh mẽ chiến lược “Triển khai Tác chiến Linh hoạt” (Agile Combat Employment – ACE) – phân tán máy bay và các tài sản quân sự tới những đảo nhỏ, sân bay hẻo lánh và các đường băng tạm thời trên khắp khu vực Thái Bình Dương, nhằm tránh trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công tập trung của Trung Quốc.

 

Tuy nhiên, chiến lược này là một ảo tưởng nguy hiểm. Nó không giải quyết vấn đề mục tiêu bị phát hiện và phơi lộ, mà chỉ biến một mục tiêu lớn thành nhiều mục tiêu nhỏ. Trung Quốc sở hữu đủ lượng tên lửa và đạn dược để đồng thời tấn công tất cả các sân bay cấp hai và cấp ba, đồng thời sử dụng các loại đạn chùm được thiết kế chuyên biệt để phá hủy những máy bay phơi lộ và cơ sở hạ tầng thiếu khả năng bảo vệ. Quan trọng hơn, việc triển khai phân tán này thực chất là đang đánh đổi sự phân tán mục tiêu ở cấp độ chiến thuật lấy sự sụp đổ hậu cần mang tính hệ thống. Các máy bay chiến đấu hiệu năng cao hiện đại, chẳng hạn như F-35, không thể duy trì hoạt động tác chiến chỉ bằng ý chí hay những điều kiện đơn giản. Chúng cần nguồn cung nhiên liệu chuyên dụng liên tục, các thiết bị bảo đảm hàng không hạng nặng, cơ sở lắp ráp đạn dược tinh vi và môi trường bảo dưỡng đạt chuẩn phòng sạch. Việc phân tán các lực lượng này đến hàng chục sân bay thô sơ không những không nâng cao khả năng sống sót, mà ngược lại còn cắt đứt tuyến mạch sống hậu cần công nghiệp của chúng, khiến chúng rơi vào trạng thái không thể duy trì vận hành trong môi trường chiến tranh.

 

Đối với lực lượng hải quân, tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn. Các tàu ngầm tấn công và tàu khu trục mang tên lửa không thể nạp lại hệ thống phóng thẳng đứng (VLS) ngay trên biển. Chúng phụ thuộc vào một số ít cảng nước sâu cố định, chẳng hạn như căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản và căn cứ Guam. Nếu những cảng này bị phá hủy trong 72 giờ đầu tiên của cuộc chiến, hạm đội Mỹ sẽ biến thành một dạng “hệ thống vũ khí dùng một lần” – có năng lực tấn công nhưng không còn nơi để bổ sung đạn dược.

 

Nghiêm trọng hơn, điều này phơi bày thất bại mang tính cấu trúc mà Kavanagh chỉ ra: Bộ Quốc phòng Mỹ đã sai lầm khi cho rằng chỉ cần tăng ngân sách là có thể giải quyết vấn đề thiếu năng lực sản xuất. Kế hoạch ngân sách quốc phòng trị giá 1,5 nghìn tỷ USD mà chính quyền Trump đề xuất yêu cầu tăng 188% nguồn vốn dành cho việc mua sắm các loại đạn dược có giá trị cao. Tuy nhiên, Kavanagh chỉ ra rằng điều này không thể giải quyết vấn đề suy thoái kéo dài của nền tảng công nghiệp quốc phòng phương Tây.

 

Việc Trung Quốc kiểm soát các nguồn tài nguyên đất hiếm, nam châm và vonfram khiến cuộc khủng hoảng mang tính cấu trúc mà ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ đang đối mặt gần như không thể giải quyết trong ngắn hạn. Các biện pháp hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc đối với một số nguyên tố nặng như dysprosium và gallium đã cắt đứt những chuỗi cung ứng thứ cấp mà các nhà thầu quốc phòng phương Tây vốn phụ thuộc vào để duy trì hoạt động. Trong khi đó, Washington đã đặt ra một thời hạn nghiêm ngặt cho Lầu Năm Góc: Đến 1/1/2027, các hệ thống vũ khí của Mỹ phải hoàn toàn loại bỏ việc sử dụng vật liệu đất hiếm có nguồn gốc từ Trung Quốc.

 

Tuy nhiên, việc đổ vốn đầu tư không thể tự nhiên tạo ra giải pháp từ hư không. Năm 2025, Mỹ chỉ sản xuất được 300 tấn mét vật liệu nam châm vĩnh cửu đất hiếm, trong khi nhu cầu trong nước lên tới 48.000 tấn. Các cơ sở tách lọc hóa chất chuyên dụng, quy trình chiết xuất khoáng sản độc hại, cũng như năng lực luyện kim đã bị mai một qua nhiều thập kỷ đều không thể được khôi phục trong một thời gian ngắn. Những năng lực này cần nhiều năm, thậm chí hơn một thập kỷ mới có thể gầy dựng lại từ con số không.

 

Như Kavanagh đã nhấn mạnh, việc Washington từ lâu từ chối thực hiện kiềm chế chiến lược cuối cùng đã đẩy chính nước này vào thế tiến thoái lưỡng nan: Mỹ buộc phải liên tục phóng những tên lửa đánh chặn có số lượng hạn chế, không thể nhanh chóng bổ sung và phụ thuộc vào chuỗi cung ứng vật liệu từ tính của Trung Quốc, để đối phó với một Trung Quốc gần như có thể sản xuất vô hạn các loại tên lửa giá rẻ; trong khi đó, Bắc Kinh lại nắm giữ những nguyên liệu then chốt mà Mỹ cần để tái xây dựng kho vũ khí của chính mình.

 

Mối đe dọa từ chính quốc và sự tái hiện của Chiến tranh Lạnh

 

Nếu các nhà hoạch định chiến lược của Washington vẫn còn ôm ảo tưởng rằng, cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan có thể chỉ giới hạn trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, thì Bắc Kinh đã phá tan ảo tưởng đó thông qua một loạt động thái.

 

Ngày 6/7/2026, Trung Quốc tiến hành một vụ thử tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) tại vùng biển mở ở Thái Bình Dương. Cuộc thử nghiệm này, tiếp nối cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ đất liền mang tính cột mốc trước đó, tiếp tục cho thấy Trung Quốc đang sở hữu năng lực đáp trả hạt nhân thứ hai trên biển hoàn thiện và có khả năng tác chiến thực tế. Các tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc được trang bị các vũ khí tầm xa như “Cự Lãng-3” (JL-3) giờ đây đã có thể đe dọa trực tiếp đến lãnh thổ nội địa Mỹ từ hướng Biển Đông.

 

Sự thay đổi này đã đảo lộn hoàn toàn các tính toán chiến lược toàn cầu. Cạnh tranh quốc tế đã phát triển đến một giai đoạn mới: xung đột không còn chỉ gói gọn trong một cuộc đối đầu bất cân xứng ở tầm khu vực, mà chính lãnh thổ Mỹ cũng đã nằm trong tầm bắn tiềm tàng. Do đó, Washington phải đối mặt với một câu hỏi cực kỳ nghiêm trọng. Do đó, Washington phải đối mặt với một câu hỏi cực kỳ nghiêm trọng: Liệu có chính quyền Mỹ nào thực sự sẵn sàng hỗ trợ Đài Bắc, trong khi chấp nhận nguy cơ rằng các thành phố của Mỹ sẽ phải hứng chịu một cuộc tấn công mang tính hủy diệt? Theo logic khắc nghiệt của răn đe hạt nhân, câu trả lời là không. Sự đảo chiều hoàn toàn của tương quan sức mạnh này gợi nhớ tới tình trạng hoảng loạn chiến lược từng diễn ra trong nội bộ nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20.

 

Nhưng điểm khác biệt là lần này, hệ quả có thể kéo dài hơn và khó đảo ngược hơn. Trong những năm 1950, Washington từng chìm trong cuộc tranh luận chính trị gay gắt xoay quanh câu hỏi “Ai đã để mất Trung Quốc?” (Who lost China?). Nhưng đến đầu những năm 2030, cuộc tranh luận lịch sử đó có thể trở nên không đáng kể. Câu hỏi cốt lõi của thập niên tới sẽ là một vấn đề lớn lao hơn và khó đảo ngược hơn: “Ai đã để mất châu Á?”

 

Tái điều chỉnh chiến lược khu vực

 

Những thực tế về vật chất, tính toán và chiến lược này không hề bị các đối tác khu vực của Mỹ tại châu Á bỏ qua. Đằng sau những tuyên bố chung và ngôn từ ngoại giao, các nhà lãnh đạo Đông Á đang tiến hành một quá trình điều chỉnh chiến lược thận trọng và thực dụng. Họ quan sát thấy: Kho đạn dược của Mỹ không ngừng suy giảm, hệ thống chuỗi cung ứng đã bị phá vỡ, các căn cứ quân sự tiền tiêu không có khả năng phòng thủ, trong khi lãnh thổ Mỹ ngày càng phơi lộ trước những rủi ro chiến lược. Họ đang dần nhận ra rằng, chiếc ô an ninh mà Mỹ cung cấp đang dần trở nên rỗng ruột.

 

Tại Tokyo và Seoul, giới quốc phòng ngày càng nhận thức rõ rằng, lãnh thổ của chính họ đã hoàn toàn nằm trong tầm tấn công của hệ thống quân sự Trung Quốc hoặc Triều Tiên (DPRK). Trong khi đó, việc đặt cược toàn bộ an ninh quốc gia vào một siêu cường ở xa đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về năng lực công nghiệp rõ ràng là một canh bạc liên quan đến sự tồn vong của đất nước.

 

Ngay cả ở Manila, tình hình cũng đang thay đổi. Trước đó, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã thúc đẩy mở rộng quyền tiếp cận và sử dụng các căn cứ quân sự Philippines của Mỹ theo Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng (EDCA). Tuy nhiên, khi được hỏi trong một cuộc phỏng vấn rằng “Nếu Philippines xảy ra tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông, liệu Hải quân Mỹ có nhất định can thiệp để hỗ trợ Philippines hay không?”, ông lại thể hiện sự do dự và mơ hồ. Phản ứng này truyền đi một thông điệp rất rõ ràng: Tuy chính phủ Philippines thường thể hiện lập trường cứng rắn, nhưng nước này trên thực tế vẫn nghi ngờ liệu Mỹ có thực sự thực hiện các cam kết an ninh của mình hay không. Thật vậy, nhìn vào một loạt sự kiện diễn ra tại khu vực Vịnh Ba Tư, các lãnh đạo khu vực châu Á đang dần nhận ra rằng: Các căn cứ này không phải là những pháo đài chiếu xạ sức mạnh của Mỹ, mà giống như những mục tiêu dễ bị tổn thương trước các đòn tập kích chính xác. Chúng vừa không thể được Mỹ bảo vệ hiệu quả, vừa không thể có được sự bảo đảm hậu cần liên tục, lại càng khó được biện minh một cách hợp lý trên phương diện chiến lược.

 

Vì vậy, các quốc gia này đang âm thầm thúc đẩy đa dạng hóa sự phụ thuộc chiến lược của mình. Họ đang tìm kiếm một trạng thái cân bằng mới về an ninh và kinh tế: Thừa nhận rằng ảnh hưởng của Trung Quốc đã trở thành một thực tế mang tính cấu trúc và dài hạn, đồng thời tránh công khai tuyên bố chấp nhận sự dẫn dắt của Trung Quốc.

 

Sự rút lui không thể tránh khỏi

 

Khi một siêu cường không còn khả năng bảo vệ hệ thống triển khai lực lượng tiền tiêu của mình, không thể bảo đảm nguồn cung các nguyên vật liệu then chốt cần thiết cho vũ khí dẫn đường chính xác, đồng thời lại bị đối thủ cạnh tranh chủ chốt vượt qua một cách có hệ thống về năng lực sản xuất công nghiệp, thì sự hiện diện của quốc gia đó ở nước ngoài chỉ còn mang ý nghĩa trên danh nghĩa. Những thay đổi mang tính cấu trúc đang diễn ra hiện nay cho thấy Mỹ có khả năng và sẽ từng bước bị đẩy ra khỏi châu Á một cách có hệ thống.

 

Việc đổ hàng trăm tỷ USD vào vấn đề này cũng không thể vượt qua khoảng thời gian khách quan cần thiết để xây dựng một hệ thống công nghiệp hóa chất hạng nặng, cũng không thể giúp Mỹ vượt qua một gã khổng lồ chế tạo sở hữu hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh ngay trên nội địa về mặt năng lực sản xuất. Mỹ đã cạn kiệt thời gian, cạn kiệt tài nguyên, và cũng cạn kiệt các phương án tác chiến khả thi.

 

Khi cán cân về năng lực công nghiệp, sức mạnh hạt nhân và ưu thế về số lượng dần nghiêng về phía Bắc Kinh, Tây Thái Bình Dương đang chứng kiến ​​sự kết thúc âm thầm của cái gọi là “Thế kỷ Mỹ” ở châu Á. Và dù muốn hay không, không quốc gia nào có thể ngăn chặn xu hướng này. Một trật tự khu vực mới đang hình thành. Điều thực sự chưa được định đoạt không phải là liệu sự thay đổi này có xảy ra hay không, mà là mô hình và những quy tắc chung sống mới của khu vực trong tương lai sẽ mang hình thức như thế nào.

 

Trong phần tiếp theo, tôi sẽ thảo luận về một cấu trúc an ninh dựa trên phương châm an ninh không thể chia cắt ở cấp độ khu vực, cũng như cách vai trò trung tâm của ASEAN không còn chỉ là một “bộ mặt ngoại giao”, mà có thể phát huy vai trò thể chế thiết thực hơn.

 

Vượt ra ngoài chiếc ô bảo hộ – ASEAN và cấu trúc an ninh không thể chia cắt của châu Á

 

Trong nhiều thập niên qua, tư duy chiến lược phương Tây luôn được xây dựng trên một giả định khá dễ chịu: Nếu Washington dần lùi bước, một loạt đồng minh trong khu vực – bao gồm các “cơ chế đa phương quy mô nhỏ” (minilateral arrangements) do Mỹ hậu thuẫn, chẳng hạn AUKUS, Đối thoại An ninh Bốn bên (Quad) và hợp tác an ninh ba bên ngày càng được tăng cường – sẽ có thể tiếp quản vị trí của Mỹ một cách liền mạch để kiềm chế sức mạnh của Trung Quốc.

 

Nhưng đây là một nhận định sai lầm nguy hiểm. Thực tế khắc nghiệt là một hệ thống liên minh nhằm kiềm chế Trung Quốc sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu quy mô công nghiệp của Mỹ làm chỗ dựa, cả về kinh tế lẫn quân sự. Khi những giới hạn của sức mạnh phương Tây ngày càng bộc lộ, trọng tâm chiến lược tất yếu phải chuyển dịch từ một hệ thống liên minh mang tính độc quyền do phương Tây dẫn dắt sang tổ chức duy nhất có khả năng điều phối quan hệ khu vực trong thời kỳ hậu Mỹ: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Dưới sức ép mang tính cấu trúc, châu Á đang đứng trước một cơ hội ngoại giao mang tính lịch sử: Xây dựng một cấu trúc an ninh châu Á dựa trên nguyên tắc “an ninh không thể chia cắt”, có tính bao trùm cao hơn và không phụ thuộc vào bất kỳ một cường quốc đơn lẻ nào.

 

Chiến lược kiềm chế dựa vào đồng minh là hoàn toàn bất khả thi về mặt cấu trúc

 

Quan điểm cho rằng các cường quốc tầm trung trong khu vực – như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia – có thể liên kết với nhau để kiềm chế một siêu cường có vị trí địa lý gắn liền với khu vực như Trung Quốc đã bỏ qua những thực tế cơ bản về địa lý, kinh tế vĩ mô và quân sự.

 

Từ góc độ quân sự, các quốc gia này phải đối mặt với đúng những điểm yếu mang tính cấu trúc như Mỹ: Kho đạn dược thiếu hụt, phụ thuộc cao độ vào các chuỗi cung ứng thứ cấp dễ tổn thương, và hoàn toàn nằm trong tầm tập kích tên lửa quy mô lớn của PLA. Một khi mất đi sự chống lưng từ chiếc ô bảo hộ dài hạn của Mỹ, các quốc gia này không thể xây dựng một hệ thống phòng thủ tiền tiêu có khả năng tồn tại lâu dài trước một Trung Quốc được hậu thuẫn bởi nền công nghiệp nội địa quy mô lớn.

 

Từ góc độ kinh tế, chiến lược kiềm chế đòi hỏi các quốc gia này chủ động phá hủy chính nền tảng kinh tế của mình. Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất và là động lực tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia.

 

Đối với các quốc gia này, việc cố gắng dựng lên một bức tường rào quân sự nhắm vào chính đối tác kinh tế quan trọng nhất của mình về bản chất là một mâu thuẫn không thể duy trì lâu dài. Khi ngày càng nhiều quốc gia nhận ra rằng, Washington sẽ không vì bảo vệ các tiền đồn ở châu Á mà chấp nhận mạo hiểm để các thành phố trên lãnh thổ Mỹ bị tấn công, nhiệt huyết chiến lược hiện xoay quanh các “cơ chế đa phương quy mô nhỏ” mang tính độc quyền sẽ dần suy giảm. Hướng đi của châu Á trong tương lai sẽ không phải là xây dựng một khối kiềm chế giống thời Chiến tranh Lạnh, mà là tìm kiếm một khuôn khổ mới để quản trị ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời tránh một cuộc xung đột mang tính thảm họa và không có khả năng giành chiến thắng.

 

Nắm bắt cơ hội: Cấu ​​trúc an ninh lấy ASEAN làm trung tâm

 

Khi chiến lược kiềm chế được chứng minh là một con đường cụt, quyền chủ động chiến lược tất yếu sẽ rơi vào tay Đông Nam Á. Trong nhiều thập niên, ASEAN luôn theo đuổi “vai trò trung tâm của ASEAN” (ASEAN centrality) cùng chính sách cân bằng chiến lược, đóng vai trò như một bên trung gian giảm xung lực ngoại giao giữa các siêu cường cạnh tranh.

 

Tuy nhiên, nếu Mỹ rút lui toàn diện, ASEAN sẽ buộc phải hoàn thành bước chuyển mình: Từ một tổ chức khu vực thận trọng quản trị sự cạnh tranh giữa các nước lớn, trở thành nhà thiết kế chủ động thúc đẩy tái thiết trật tự khu vực. Giờ đây, các quốc gia Đông Nam Á nên nắm bắt cơ hội lịch sử này để thúc đẩy thảo luận về một khuôn khổ an ninh hoàn toàn mới và mang tính bao trùm. Khuôn khổ này có thể được xem là sự kết hợp hiện đại giữa Hội nghị Bandung năm 1955 và Định ước Helsinki năm 1975, đồng thời có sự tương đồng với một số mô hình ngoại giao và phương châm an ninh được Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) đề xướng.

 

Nó sẽ kế thừa những nguyên tắc cốt lõi của Hội nghị Bandung: Chống chủ nghĩa thực dân; bình đẳng tuyệt đối về chủ quyền giữa các quốc gia; nguyên tắc không liên kết nghiêm ngặt; và kiên quyết phản đối việc các thế lực bên ngoài thúc đẩy thay đổi thể chế.

 

Đồng thời, khuôn khổ này cũng sẽ tiếp thu tinh thần hiện thực chủ nghĩa được thể hiện trong tiến trình Helsinki: Thừa nhận sự cần thiết của việc cùng tồn tại về địa chính trị, công nhận các đường biên giới hiện hữu, thiết lập các đường dây nóng liên lạc rõ ràng trong khủng hoảng, đồng thời yêu cầu các quốc gia có thể chế chính trị khác nhau tuân thủ nguyên tắc kiềm chế lẫn nhau ở mức tối thiểu.

 

Tư tưởng cốt lõi của cấu trúc an ninh mới này là “an ninh không thể chia cắt” (indivisible security). Nguyên tắc cơ bản là: An ninh của bất kỳ quốc gia nào cũng không thể được xây dựng trên sự đánh đổi an ninh của một quốc gia khác. Ở cấp độ thực tiễn, một cấu trúc an ninh châu Á dựa trên nguyên tắc an ninh không thể chia cắt có nghĩa là không quốc gia nào trong khu vực nên tham gia các liên minh quân sự hoặc các cơ chế đa phương quy mô nhỏ mang tính độc quyền nhằm vào các thành viên khác trong khu vực.

 

An ninh không còn là một nguồn lực có tính chất zero-sum, bị một số ít quốc gia độc quyền kiểm soát và sử dụng như công cụ cạnh tranh, mà phải trở thành một nguồn lực an ninh công cộng mà toàn khu vực cùng được hưởng.

 

Điều kiện để thành công

 

Để cấu trúc an ninh khu vực này chuyển từ một ý tưởng ngoại giao thành một cơ chế vận hành trên thực tế, nó phải thực sự do ASEAN dẫn dắt. Bất kỳ cấu trúc an ninh mới nào nếu bị cho là do Trung Quốc thúc đẩy hoặc gián tiếp đại diện cho ý chí của Trung Quốc đều sẽ thất bại.

 

Các quốc gia trong khu vực chỉ sẵn sàng đầu tư nguồn lực chính trị vào đó khi và chỉ khi: Khuôn khổ này do chính họ tham gia thiết kế; và họ có thể công khai tuyên bố đây là thành quả thuộc về chính mình.

 

Các quốc gia ngoài ASEAN có thể bày tỏ sự ủng hộ đối với vai trò trung tâm của ASEAN và chấp nhận sự tồn tại của khuôn khổ này. Tuy nhiên, toàn bộ tiến trình không thể do các thế lực bên ngoài thiết kế. Tính chính danh của hệ thống phải được xây dựng trên tính chủ thể của chính Đông Nam Á.

 

Tất nhiên, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất trong khu vực, xét cả về kinh tế lẫn quân sự. Vì vậy, sự tham gia của Trung Quốc là điều kiện cần thiết để sáng kiến này thành công. Thế nhưng sự tham gia đó phải được xử lý một cách thận trọng. Bắc Kinh hiểu rất rõ tâm lý chính trị của các nước láng giềng nhỏ hơn: nếu bất kỳ cơ chế khu vực nào bị đóng gói như một thành quả “Made in China”, nó sẽ lập tức kích thích tâm lý dân tộc chủ nghĩa mang tính phòng vệ ở các quốc gia trong khu vực.

 

Do đó, bằng cách bảo đảm ASEAN dẫn dắt tiến trình này và để ASEAN có thể công khai giành được thành quả chính trị của “mô hình Bandung + Helsinki”, Trung Quốc cũng như các quốc gia khác trong khu vực có thể tạo cho các nhà lãnh đạo Đông Nam Á không gian ngoại giao cần thiết để ứng phó với những sức ép địa chính trị sắp tới.

 

Các phản ứng đối phó của Washington sẽ hết sức quyết liệt. Mỹ có thể thông qua mạng lưới ảnh hưởng khu vực vẫn còn tồn tại, đặc biệt là hệ thống tình báo quân đội Thái Lan, các lực lượng chính trị truyền thống thân Mỹ tại Philippines và bộ máy ngoại giao Australia, để gây sức ép lớn về ngoại giao, tình báo và kinh tế. Các phe phái cứng rắn tại Nhật Bản cũng chắc chắn sẽ được kích hoạt. Mỹ sẽ cảnh báo các quốc gia trong khu vực rằng: Rời khỏi hệ thống của Mỹ đồng nghĩa với việc trở thành “chư hầu” của Bắc Kinh.

 

Đồng thời, Mỹ có thể sử dụng các biện pháp như trừng phạt có mục tiêu, rút vốn và những phương thức tương tự nhằm duy trì ảnh hưởng của mình tại châu Á. Để hóa giải sức ép này, đóng góp của chính Trung Quốc đối với việc xây dựng một cấu trúc an ninh khu vực dựa trên nguyên tắc an ninh không thể chia cắt sẽ phụ thuộc vào một thực tế không thể né tránh: Khoảng trống về năng lực bảo đảm an ninh mà các quốc gia trong khu vực đang phải đối mặt. Bắc Kinh có thể nhắc nhở giới tinh hoa trong khu vực theo một cách mềm mỏng nhưng kiên định rằng: Các cam kết an ninh mà Mỹ cung cấp đã và đang đối mặt với những giới hạn về năng lực công nghiệp.

 

Nếu một quốc gia lựa chọn tiếp tục triển khai lực lượng quân sự phương Tây, thì trên thực tế, quốc gia đó đang chấp nhận một dạng rủi ro: Gánh chịu nguy cơ chắc chắn bị tập kích chỉ vì một siêu cường thậm chí còn không thể bảo đảm an toàn cho chuỗi cung ứng đất hiếm và nam châm của chính mình. Vai trò của Trung Quốc không phải là ép buộc các quốc gia trong khu vực chấp nhận một cơ chế nào đó, mà là cung cấp một dạng bảo đảm chiến lược: nếu các quốc gia ASEAN lựa chọn thoát khỏi hệ thống của Mỹ, Bắc Kinh sẽ đáp lại dũng khí chính trị của họ bằng sự ủng hộ ngoại giao và hợp tác kinh tế.

 

Đòn bẩy quan trọng nhất: Phân tán rủi ro thông qua đa cực hóa

 

Trong mọi trường hợp, công cụ hiệu quả nhất để Trung Quốc củng cố cấu trúc khu vực này không phải là cưỡng ép quân sự, mà là sử dụng những năng lực đặc thù của mình để giúp các quốc gia ASEAN giảm sự phụ thuộc vào hệ thống tài chính do phương Tây dẫn dắt cũng như các chuỗi cung ứng năng lượng khó kiểm soát. Một cơ chế an ninh khu vực do ASEAN thúc đẩy và Trung Quốc ủng hộ có ưu thế thực sự ở chỗ: Nó có thể giúp các quốc gia trong khu vực giảm thiểu rủi ro kinh tế trước những cú sốc kinh tế vĩ mô trên phạm vi toàn cầu.

 

Đông Nam Á từ lâu đã phải đối mặt với những rủi ro về an ninh năng lượng, trong đó có nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng từ Trung Đông cũng như khả năng các tuyến hàng hải trọng yếu như eo biển Malacca bị ảnh hưởng. Thông qua hợp tác sâu rộng với Nga và các quốc gia sản xuất năng lượng tại Trung Á, đồng thời dựa vào các kết nối lục địa được hình thành trong khuôn khổ SCO, Trung Quốc có thể cung cấp cho ASEAN những tuyến cung ứng năng lượng đường bộ ổn định hơn. Bằng cách cung cấp dầu thô và khí đốt với mức giá ưu đãi hơn, Trung Quốc có thể giúp Đông Nam Á giảm đáng kể nguy cơ chịu tác động từ những cú sốc trong hệ thống năng lượng do phương Tây chi phối.

 

Trong khi đó, năng lực công nghiệp của chính Trung Quốc trong lĩnh vực điện khí hóa cũng có thể tiếp tục giúp khu vực giảm thiểu tác động của các cuộc khủng hoảng năng lượng trong tương lai. Ngoài ra, nếu Mỹ tìm cách gây sức ép thông qua hệ thống đồng USD hoặc sử dụng hệ thống tài chính SWIFT để áp đặt các biện pháp trừng phạt, cơ chế thanh toán của đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số (e-CNY) cùng các mạng lưới thanh toán xuyên biên giới có thể trở thành một dạng lá chắn tài chính. Bắc Kinh có thể cung cấp một hệ sinh thái tài chính song song có khả năng chống chịu trước các biện pháp trừng phạt. Bằng cách tận dụng lợi thế của mình về tài nguyên, năng lực công nghiệp và chuỗi cung ứng, Trung Quốc có thể biến lựa chọn mà các quốc gia ASEAN phải đối mặt từ một vấn đề ý thức hệ trừu tượng – “dân chủ hay chuyên quyền” – thành một phép tính thực tế hơn về lợi ích quốc gia: “Lựa chọn nào có thể bảo đảm sự tồn vong của quốc gia?”

 

Lực hút ngoại giao không thể cưỡng lại

 

Một khi cấu trúc khu vực dựa trên nguyên tắc an ninh không thể chia cắt, do ASEAN dẫn dắt, bắt đầu dần hình thành, rất có thể nó sẽ tạo ra một hiệu ứng dây chuyền trên phương diện ngoại giao và chính trị. Khi đó, các cường quốc tầm trung trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia sẽ nhận thấy rằng trên thực tế, họ rất khó cưỡng lại xu thế này.

 

Đối với Tokyo và Seoul, không gian lựa chọn trong tương lai sẽ nhanh chóng thu hẹp thành một sự lựa chọn rõ ràng giữa hai con đường: Hoặc tiếp tục duy trì sự phụ thuộc vào một siêu cường ở xa và đang suy yếu – một sự phụ thuộc đã trở nên rỗng ruột và đi kèm với mức độ rủi ro cao; hoặc tham gia một khuôn khổ an ninh toàn châu Á mang tính bao trùm. Con đường thứ hai có thể bảo đảm an ninh và sự tồn vong của chính họ, đồng thời duy trì những quan hệ thương mại quan trọng với đối tác kinh tế lớn nhất trong khu vực.

 

Một khi các quốc gia này không còn khả năng dựa vào sức mạnh quân sự của Mỹ để bảo đảm an ninh, sức ép chính trị trong nội bộ Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn dắt sẽ ngày càng gia tăng. Ngay cả Australia – một trong những trụ cột kiên định nhất của phe phương Tây theo truyền thống – cũng sẽ phải tiến hành một cuộc đánh giá lại chiến lược mang tính căn bản. Nằm ở một vùng biển thuộc về châu Á không ai có thể tranh cãi, liệu Australia có thể chịu đựng được việc trở thành một căn cứ tiền tiêu phương Tây hoàn toàn bị cô lập và phơi lộ?

 

Khi các thị trường kinh tế chủ chốt của Australia cũng như các quốc gia xung quanh lần lượt tham gia cấu trúc khu vực mới, Canberra sẽ phải đối mặt với một lực hút địa chính trị không thể tránh khỏi: Từng bước giảm sự phụ thuộc vào hệ thống Anh – Mỹ truyền thống và hòa nhập vào thực tế khu vực châu Á đang hình thành.

 

Sự sắp đặt cuối cùng: Một thế cân bằng khả thi

 

Sự kết thúc vị thế thống trị của Mỹ tại châu Á và chấm dứt thời đại bá quyền khu vực của Mỹ không đồng nghĩa với việc châu Á tất yếu sẽ rơi vào một thời kỳ đen tối đầy hỗn loạn và xung đột vô trật tự. Tiến trình rút lui mang tính cấu trúc của Mỹ thực chất chỉ đang dọn đường cho một sự điều chỉnh địa chính trị đã tích tụ suốt nhiều thập kỷ.

 

Thông qua việc mở rộng các nguyên tắc của Hội nghị Bandung, kết hợp với thực tiễn ngoại giao dựa trên đồng thuận mà ASEAN theo đuổi từ lâu, đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm và bài học của SCO, một cấu trúc an ninh khu vực do ASEAN định hình có thể mang đến cho châu Á một con đường hợp lý và thực tế hơn, giúp khu vực thoát khỏi cái bẫy chiến tranh thảm khốc do cạnh tranh giữa các cường quốc gây ra.

 

Nó sẽ thay thế một hệ thống bá quyền mong manh dựa vào sức mạnh bên ngoài bằng một thế cân bằng ổn định do chính khu vực quản lý. Cuối cùng, việc chuyển sang một khuôn khổ an ninh mang tính bao trùm và không thể chia cắt không chỉ là một phương án thay thế cho “Hòa bình kiểu Mỹ” (Pax Americana); mà có lẽ còn là tương lai duy nhất có thể duy trì lâu dài của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong những giới hạn do thực tế địa chính trị đặt ra.

 

Trước khi diễn ra sự mở rộng chủ nghĩa thực dân của châu Âu và Mỹ, châu Á đã từng tồn tại trật tự khu vực riêng. Và khi kỷ nguyên bất bình đẳng thuộc địa kéo dài nửa thiên niên kỷ dần hạ màn, một trật tự châu Á có tính khả thi trong thực tế tương tự cũng có thể được tái thiết lập. Trong tiến trình bước đến cái gọi là “Thế kỷ châu Á”, hệ thống an ninh châu Á trong tương lai sẽ mang hình thái nào và vận hành ra sao, rốt cuộc vẫn phụ thuộc vào sự định hình và thúc đẩy của chính nhân dân các nước trong khu vực châu Á.

 

-------------------------------

Tác giả Warwick Powell (Bao Shao Shan) là Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Công nghệ Queensland (Australia), cựu Cố vấn Chính sách của cựu Thủ tướng Kevin Rudd.

-

Nguồn: Warwick Powell (Bao Shao Shan), 美国正在被排挤出亚洲:一场由导弹、工业与供应链决定的战略退潮Guancha, 19/08/2026.

 

 

 

 




View My Stats