Sáu
cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu
thế kỷ
Minh
Anh - RFI
Đăng
ngày: 03/09/2026 - 12:24
https://www.rfi.fr/vi/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-ti%C3%AAu-%...…….BA%BF-k%E1%BB%B7
Mối quan hệ
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy
lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính
trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc
rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay
và có thể cả trong tương lai.
Ảnh
minh họa: Mối quan hệ Mỹ - Trung được cho là một trong những trục quan trọng nhất
trong lịch sử thế giới hiện đại. AP - Mark Schiefelbein
Nhà sử học
Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một
thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với
nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho
đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.
Là chuyên
gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến
tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn
nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang
trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu
định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ
hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và
trật tự thế giới.
1900 :
Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …
Vào cuối
thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước
Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản
lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh
này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách
« Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899
và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương
mại.
Theo sử
gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc »,
chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như
« một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi
ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của
chủ nghĩa bành trướng.
Việc Hoa Kỳ
chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có
liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo
thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc
Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc,
đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng
thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».
Nhưng
chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ -
Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ
lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ »
(Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật
này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc »,
khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng
tuyến đường sắt xuyên lục địa.
Sự mâu thuẫn
này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le
Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa
Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa
nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được
logic này ? »
Một chi tiết
khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn
tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày
nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người
Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng
cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là
nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi
gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »
1943 :
Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc
Chiến
tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến
chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế
Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung
Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến
tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự
bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó,
điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm
chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa
Kỳ. »
Trong bối
cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch
sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật
ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin
trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc
và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc
gia khác. »
Điều này
có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời
các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của
Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những
đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng
ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn »
người phương Tây.
Theo quan
điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà
còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ
đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham
gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng
Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai
vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như
Bretton Woods.
Ngày nay,
Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không
phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng
minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.
1950 :
Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên
Năm 1949,
Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới
Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một
cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa
MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.
Năm 1950,
chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu
quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo
Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ :
Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ
tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường
là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.
« Bằng
cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu”
do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây
là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế
độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến
dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».
Tuy nhiên,
chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại
liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin
vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn
toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức
trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt
chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong
quan hệ Mỹ - Trung.
1972 và
cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch Đông
Ngày
28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt
tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới.
Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của
Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :
« Điều
cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này
thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến
tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào
năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa
Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số
một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữa. Chính điều
này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc
và Hoa Kỳ ».
Nếu như cuộc
gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài
của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này
đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự
kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy
Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có
được một thỏa thuận hòa bình.
Theo
Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt
Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ
vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang
ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao
Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn
cải cách mở cửa.
2021 :
Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…
Ngày
07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu
Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ
mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng
thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn
sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm
trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »
Từ thập
niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ
là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng
chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo
cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập
WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu
trong nước.
Tuy nhiên,
canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia
Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng
thống Bill Clinton nêu ra như sau :
« "Trong
tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương
cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động
Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính
về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại.
Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng
tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng,
Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».
Nhưng những
thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở
thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc
hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng.
Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng
ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng
lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ
điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế
mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».
Tuy nhiên,
sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ
sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm
năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc
lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »
2026 :
Trận đấu thế kỷ
Ngày
13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập
Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên,
trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để
cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con
đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».
Theo
Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ :
Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường
quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất
thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa
Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.
Nhà sử học
nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến
đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc
hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một
siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một
cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».
Vị chuyên
gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn,
đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó
Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».
Dù vậy,
Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là
một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau
về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của
Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có
cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và
đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến
sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».
Sử gia
Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về
tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy
ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống
như những gì Nga và Iran đang trải qua.
Tóm lại, sự
cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp
tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng
người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến
tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ».
Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ
- Trung hiện nay !
No comments:
Post a Comment