Thursday, 3 September 2026

SÁU CỘT MỐC LỚN ĐÁNH DẤU QUAN HỆ MỸ – TRUNG : TỪ KỲ VỌNG HỢP TÁC ĐẾN ĐỐI ĐẦU THẾ KỶ (Minh Anh / RFI)

 



Sáu cột mốc lớn đánh dấu quan hệ Mỹ - Trung : Từ kỳ vọng hợp tác đến đối đầu thế kỷ

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 12:24

https://www.rfi.fr/vi/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-ti%C3%AAu-%...…….BA%BF-k%E1%BB%B7

 

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là một trong những trục quan trọng nhất trong dòng chảy lịch sử thế giới đương đại. Giữa các cuộc chiến thương mại, đối đầu địa chính trị và cạnh tranh công nghệ, mỗi ngày trôi qua càng củng cố thêm niềm tin chắc rằng cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh đang định hình thế giới ngày nay và có thể cả trong tương lai. 

 

https://s.rfi.fr/media/display/dfe660d6-a226-11f1-aa1c-005056bf30b7/w:1024/p:16x9/AP26134065764543.webp

Ảnh minh họa: Mối quan hệ Mỹ - Trung được cho là một trong những trục quan trọng nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. AP - Mark Schiefelbein

 

Nhà sử học Pierre Grosser, trên đài phát thanh France Inter nhận định, nếu nhìn lại lịch sử hơn một thế kỷ quan hệ Mỹ - Trung, hai quốc gia này đã nhiều lần thay đổi vị thế đối với nhau : Từ đối tác thương mại, đồng minh thời chiến, đối thủ ý thức hệ, cho đến đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn diện như ngày nay.

 

Là chuyên gia về quan hệ quốc tế và châu Á và cũng là tác giả tập sách « Chiến tranh lạnh khác chăng ? Đối đầu Mỹ - Trung », Pierre Grosser còn nêu ra sáu cột mốc lớn quan trọng để lý giải vì sao Washington và Bắc Kinh đang trong một cuộc cạnh tranh được nhiều nhà quan sát gọi là « cuộc đối đầu định hình thế kỷ XXI ». Đằng sau những tranh chấp thương mại, công nghệ hay vấn đề Đài Loan, là một câu chuyện dài về quyền lực, nhận thức lịch sử và trật tự thế giới.

 

1900 : Khi Hoa Kỳ đến « mở cửa » Trung Quốc …

 

Vào cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc đang ở giai đoạn suy yếu nghiêm trọng. Sau thất bại trước Nhật Bản năm 1895 và hiệp ước Shimonoseki, các cường quốc châu Âu và Nhật Bản lao vào cuộc đua tranh giành tô giới và nhượng địa ở Trung Quốc. Trong bối cảnh này Hoa Kỳ tự thể hiện mình là người ngoài cuộc bằng cách ủng hộ chính sách « Mở cửa » (Open Door Policy), với hai công hàm ngoại giao năm 1899 và 1900, đề cao việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc và tự do cạnh tranh thương mại.

 

Theo sử gia Pierre Grosser, trong « cuộc chạy đua đến Trung Quốc », chính sách này của Mỹ là mang tính hai mặt : Hoa Kỳ tự thể hiện mình như « một cường quốc đế quốc kiểu khác, chủ yếu được thúc đẩy bởi các lợi ích thương mại », nhưng vẫn không thoát khỏi lô-gic truyền thống của chủ nghĩa bành trướng.

 

Việc Hoa Kỳ chiếm Cuba và nhất là Philippines sau cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898 có liên hệ trực tiếp với tham vọng thâm nhập thị trường Trung Quốc, đồng thời tạo thành bàn đạp chiến lược để Mỹ tiến sâu vào châu Á, khẳng định vị thế cường quốc Thái Bình Dương. « Đây là một phần của bước ngoặt chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một cường quốc thế giới vào thời điểm đó. Đồng thời, đó cũng là thời điểm Washington hầu như chính thức thâu tóm Hawai ».

Nhưng chính ở giai đoạn này đã làm xuất hiện nghịch lý đầu tiên trong quan hệ Mỹ - Trung. Trong khi Washington yêu cầu Bắc Kinh mở cửa cho hàng hóa Mỹ, thì Hoa Kỳ lại đóng cửa với người Trung Quốc khi ban hành đạo luật « Loại trừ » (Loi d’Exclusion) năm 1882, cấm phần lớn người Trung Quốc nhập cư vào Mỹ. Luật này được đưa ra sau « những hành động bạo lực chống người Trung Quốc », khiến gần 1000 người thiệt mạng, đặc biệt là những người đã tham gia xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa.

 

Sự mâu thuẫn này trong chính sách của Mỹ khó hiểu đến mức, nhà báo Yves Guillot, trên tờ Le Siècle (Thế kỷ) ngày 27/06/1900, phải viết : « Người Mỹ [...] mở cửa Trung Quốc cho chính họ và các sản phẩm của họ, nhưng họ lại có ý định đóng cửa nước Mỹ đối với người Trung Quốc. Làm sao người Trung Quốc có thể hiểu được logic này ? »

 

Một chi tiết khác cũng được nhà sử học Pierre Grosser nhắc đến là vào đầu thế kỷ XX, đã tồn tại những định kiến rất giống với những lời chỉ trích nhắm vào Trung Quốc ngày nay. « Ngay từ thời đó đã tồn tại một quan niệm gắn liền người Trung Quốc với ma túy. Và ngày nay, với vấn đề fentanyl, chúng ta thấy ý tưởng cũ ấy được khơi lại theo cách tương tự : người Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc mang ma túy đến Mỹ, tìm cách lách các hàng rào thuế quan và đôi khi gian lận về bản chất hay thành phần thực sự của hàng hóa. »

 

1943 : Roosevelt đặt cược vào Trung Quốc

 

Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Trung Quốc nằm trong số các quốc gia kháng chiến chống đế quốc Nhật mạnh mẽ nhất. Pierre Grosser nhấn mạnh rằng, trên thực tế Trung Quốc đã tham chiến sớm hơn nhiều so với cường quốc khác. « Trung Quốc đã chiến đấu đơn độc từ năm 1931 trở đi, ngay cả khi chúng ta coi chiến tranh bắt đầu từ năm 1937. Khi sự leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản thực sự bắt đầu, thì Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh vào tháng 12 năm 1941. Trước đó, điều gì đã xảy ra ? Mỹ cũng giống như Liên Xô, đã hỗ trợ Trung Quốc để kìm chân Nhật Bản, ngăn chặn họ tấn công vào phía bắc hoặc cuối cùng là về phía Hoa Kỳ. »

 

Trong bối cảnh này, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã có một quyết định mang ý nghĩa lịch sử. Ngày 11/01/1943, Hoa Kỳ ký « Hiệp ước Trung – Mỹ về miễn áp dụng luật ngoài lãnh thổ tại Trung Quốc ». Trong điều khoản thứ 3 có ghi, xin trích : « Hoa Kỳ từ bỏ quyền quản lý và kiểm soát tại Trung Quốc và đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong việc đạt được sự từ bỏ các quyền đó từ các quốc gia khác. »

Điều này có nghĩa là Mỹ từ bỏ các đặc quyền ngoại trị từng áp đặt lên Trung Quốc từ thời các « hiệp ước bất bình đẳng », theo đó, các quyền tài phán của Phương Tây cho phép công dân nước ngoài trốn tránh công lý của Trung Quốc. Những đặc quyền này khá phổ biến ở châu Á trong thế kỷ 19, từ lâu đã được biện minh bằng ý tưởng rằng các nước châu Á « không đủ văn minh để xét xử đúng đắn » người phương Tây.

 

Theo quan điểm của Pierre Grosser, động thái này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một yếu tố cốt lõi trong chính sách của Roosevelt : « Hoa Kỳ đã lôi kéo Trung Quốc trở thành một cường quốc », đưa Trung Quốc tham gia vào câu lạc bộ các cường quốc lớn. Như một phần thưởng, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã giành được một ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tương lai vào năm 1943. Và Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được tham gia các cuộc đàm phán lớn về trật tự kinh tế quốc tế như Bretton Woods.

 

Ngày nay, Bắc Kinh vẫn thường nhắc lại giai đoạn này để chứng minh rằng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi. Theo lập luận của họ, Trung Quốc đã được các đồng minh thắng trận công nhận là một cường quốc từ năm 1945.

 

1950 : Cuộc đối đầu quân sự Mỹ - Trung đầu tiên

 

Năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bại trận, Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Đây thực sự là một cú sốc lớn, ám ảnh giới chính khách Mỹ trong nhiều năm sau đó. Chủ nghĩa MaccarThy bài cộng sản ra đời từ đó ở Mỹ.

 

Năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ buộc Mao Trạch Đông phải điều khoảng một triệu quân sang Triều Tiên, khiến người con trai ông yêu quý nhất bị thiệt mạng. Theo Pierre Grosser, quyết định này của Mao Trạch Đông ít nhất vì ba động cơ : Thứ nhất là vì lợi ích an ninh. Bắc Kinh không thể chấp nhận việc quân đội Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc. Thứ hai là lý tưởng cách mạng. Và thứ ba, thường là yếu tố hay bị bỏ qua nhất, đó là nhu cầu củng cố quyền lực trong nước.

 

« Bằng cách phóng đại mối đe dọa từ Mỹ và nguy cơ về một cuộc “phản cách mạng toàn cầu” do Hoa Kỳ dẫn dắt, đặc biệt là nguy cơ can thiệp từ bên trong Trung Quốc, đây là một cách để củng cố quyền lực và trấn áp mọi hình thức có thể thách thức chế độ cộng sản. Và vì thế, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951 đã diễn ra một chiến dịch trấn áp đẫm máu, khiến khoảng từ 500.000 đến 600.000 người thiệt mạng ».

 

Tuy nhiên, chuyên gia về châu Á Pierre Grosser đánh giá, hệ quả lớn nhất của cuộc chiến lại liên quan đến Đài Loan. Trước chiến tranh, Washington đã phần nào mất niềm tin vào Tưởng Giới Thạch. Nhưng chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách. Hạm đội 7 được điều tới eo biển Đài Loan và từ đó Mỹ chính thức trở thành lá chắn an ninh của hòn đảo. Đối với nhà sử học, đây là một bước ngoặt chiến lược quyết định, bởi vì Đài Loan từ đó trở thành điểm nóng lâu dài trong quan hệ Mỹ - Trung.

 

1972 và cú bắt tay « lịch sử » Nixon – Mao Trạch Đông

 

Ngày 28/02/1972, hình ảnh tổng thống Mỹ Richard Nixon, nổi tiếng chống cộng sản bắt tay chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã gây chấn động thế giới. Sự xích lại gần này, theo ông Pierre Grosser, đầu tiên bắt nguồn từ nhu cầu của Trung Quốc, diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi quan trọng :

 

« Điều cốt lõi mang tính bước ngoặt là sự rạn nứt quan hệ Trung – Xô. Sự rạn nứt này thậm chí đã leo thang đến mức suýt nổ ra chiến tranh thực sự. Dĩ nhiên, chiến tranh đã không bùng nổ vì leo thang không đến mức mất kiểm soát. Tuy nhiên, vào năm 1969, nhiều cuộc đụng độ nghiêm trọng dọc theo biên giới phía bắc giữa Trung Quốc và Liên Xô đã nổ ra. Từ đó, Mao Trạch Đông dần dần cho rằng kẻ thù số một của Trung Quốc là Liên Xô chứ không còn là Hoa Kỳ nữaChính điều này đã phần nào tạo thuận lợi cho quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ».

 

Nếu như cuộc gặp lịch sử này thường được thần thoại hóa như là một đòn chiến lược thiên tài của bộ đôi Nixon – Kissinger, đối với nhà nghiên cứu về châu Á, sự thay đổi này đã được chuẩn bị từ trước và xuất phát từ nhu cầu chiến lược của cả hai bên. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Mỹ sa lầy trong Chiến tranh Việt Nam. Và do vậy Washington kỳ vọng Bắc Kinh sẽ gây áp lực với đồng minh cộng sản Việt Nam để có được một thỏa thuận hòa bình.

 

Theo Pierre Grosser, nước cờ cho thấy là « vô ích ». Cộng sản Việt Nam kiên định duy trì thế tự chủ chiến lược, và thậm chí còn nuôi dưỡng sự ngờ vực lâu dài đối với Trung Quốc khi nhìn thấy nước này đang đàm phán với kẻ đang ném bom họ. Dù vậy, sự kiện này đã mở đường cho việc bình thường hóa bang giao Mỹ - Trung vào cuối thập niên 1970, và tạo đà cho Trung Quốc bước vào giai đoạn cải cách mở cửa.

 

2021 : Ngày Hoa Kỳ tạo ra đối thủ…

 

Ngày 07/04/1999, tại Nhà Trắng, tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố : « Nếu Trung Quốc chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với việc gia nhập WTO, điều đó sẽ mang lại cho Hoa Kỳ khả năng tiếp cận rộng lớn đối với thị trường Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy nhanh hơn các cải cách nội bộ tại quốc gia này. Nếu Trung Quốc sẵn sàng tuân thủ các quy tắc của thương mại quốc tế, thì sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu Hoa Kỳ nói không. »

 

Từ thập niên 1970, tại Mỹ, đã tồn tại một niềm tin chiếm ưu thế cho rằng Trung Quốc sẽ là một « miền đất hứa » về kinh tế. Và việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ làm thay đổi đất nước này từ bên trong. Điều đáng chú ý là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng chia sẻ tính toán nhưng không theo cách như Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghĩ : Trung Quốc xem việc gia nhập WTO như là một đòn bẩy để thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi bộ máy quan liêu trong nước.

 

Tuy nhiên, canh bạc này còn được dựa trên một sự tính toán kinh tế rất cụ thể. Sử gia Pierre Grosser tóm tắt học thuyết do Robert Reich, bộ trưởng Lao Động Mỹ thời tổng thống Bill Clinton nêu ra như sau :

 

« "Trong tiến trình toàn cầu hóa này, chúng ta sẽ giữ lại những công việc được trả lương cao nhất, các khâu thiết kế và sáng tạo." Ở phía bên kia sẽ là những lao động Trung Quốc đảm nhận công việc sản xuất. Họ chỉ cần nhận hướng dẫn qua máy tính về cách thức chế tạo sản phẩm, thực hiện khâu gia công rồi gởi thành phẩm trở lại. Và như vậy đôi bên sẽ cùng có lợi. Tóm lại, nước Mỹ sẽ giữ những công việc sáng tạo, hấp dẫn nhất bởi vì tôi không nói là ông ấy nói như thế, nhưng hàm ý rằng, Trung Quốc sẽ không bao giờ có thể nâng cấp công nghệ sản phẩm ».

 

Nhưng những thực tế sau này đã cho thấy đây là một tính toán sai lầm, khi Trung Quốc dần trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Mỹ trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Việc hy vọng thương mại sẽ thúc đẩy dân chủ hóa Trung Quốc, chỉ là một ảo tưởng. Theo giải thích của Pierre Grosser, « đúng là có hy vọng đó (…) Nhưng ngay từ giữa những năm 1990 người ta đã thấy rằng những người siêu giàu và tầng lớp trung lưu không nhất thiết sẽ ủng hộ dân chủ. Người ta đã phần nào thấy rõ điều đó. Họ đã từng có hy vọng như vậy nhưng xét cho cùng, những lý do kinh tế mới là động lực chính khiến chính sách này được thúc đẩy ».

 

Tuy nhiên, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã chuyển hướng toàn bộ sự chú ý của Hoa Kỳ sang Trung Đông. « Mỹ sa lầy ở Trung Đông trong suốt mười lăm năm, » trong khi đó, theo Pierre Grosser, « Trung Quốc lại phát triển mạnh mẽ trong những năm 2000 mà hầu như không bị Mỹ chú ý đến. »

 

2026 : Trận đấu thế kỷ

 

Ngày 13/05/2026, nhân cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Trung diễn ra ở Bắc Kinh, chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố : « Hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi đối đầu sẽ gây tổn hại cho cả hai. Chúng ta cần hỗ trợ lẫn nhau để cùng thành công và cùng thịnh vượng, qua đó mở ra một con đường mới : con đường chung sống hòa thuận giữa các cường quốc trong kỷ nguyên mới ».

 

Theo Pierre Grosser, tuyên bố trên của ông Tập Cận Bình không có gì là mới mẻ : Điều này nằm trong chiến lược nhất quán nhằm thể hiện Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm và lý trí, đối lập với hình ảnh một nước Mỹ bị xem là thất thường, khó đoán định. Kể từ năm 2008, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ đã bước vào giai đoạn suy yếu, cả về kinh tế lẫn địa chính trị.

 

Nhà sử học nhắc lại : « Tập Cận Bình từng nói rằng thế giới đang có những biến đổi chưa từng có từ một thế kỷ nay. Và một trong những biến đổi đó là Trung Quốc hiện đang lấy lại vị thế của mình, trở thành một đại cường, chứ không phải là một siêu cường, bởi vì, siêu cường thì không tốt, siêu cường gây chiến tranh, còn một cường quốc lớn đương nhiên phải được đối xử với sự tôn trọng ».

 

Vị chuyên gia này còn nhắc thêm rằng, « Trung Quốc thích suy nghĩ trong dài hạn, đồng thời thường xuyên nhắc lại rằng họ có hàng nghìn năm lịch sử, trong khi đó Hoa Kỳ mới chuẩn bị kỷ niệm 250 năm lịch sử của mình ».

 

Dù vậy, Pierre Grosser cũng lưu ý thêm rằng, cạnh tranh Trung – Mỹ hiện nay chưa hẳn là một cuộc Chiến Tranh Lạnh giống như thế kỷ XX do sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau về kinh tế giữa hai ông khổng lồ, « ngay cả khi hiện nay sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với bảy hoặc tám năm trước, bởi vì đã có cuộc chiến thương mại nhưng cũng vì giờ đây Trung Quốc tiến hành giao thương và đầu tư vào châu Á, quan tâm đến châu Âu và thậm chí người ta thường xuyên nói đến sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi ».

 

Sử gia Pierrer Grosser nhìn nhận hiện nay Trung Quốc đang nỗ lực củng cố thế tự chủ về tài chính do lo ngại phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt quy mô lớn nếu xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt liên quan đến Đài Loan, giống như những gì Nga và Iran đang trải qua.

 

Tóm lại, sự cạnh tranh giữa hai đại cường hàng đầu thế giới tồn tại đồng thời với nhu cầu hợp tác. Raymond Aron, một triết gia, nhà xã hội học, khoa học chính trị nổi tiếng người Pháp về Chiến tranh Lạnh chẳng phải đã từng nói : « Chiến tranh là điều không thể, nhưng hòa bình hoàn toàn cũng khó xảy ra ». Theo nhiều khía cạnh, công thức này có lẽ phản ảnh khá chính xác mối quan hệ Mỹ - Trung hiện nay !

 

 




No comments:

Post a Comment

View My Stats