𝐓ă𝐧𝐠
𝐛à𝐨,
𝐪𝐮𝐚𝐧
𝐩𝐡ụ𝐜
𝐯à
𝐜𝐮ộ𝐜
𝐜ộ𝐧𝐠
𝐬𝐢𝐧𝐡
𝐪𝐮𝐲ề𝐧
𝐥ự𝐜
Ngày
7 tháng 11 tới đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) sẽ tròn 45 tuổi. Theo
lịch sử chính thức của giáo hội và nhà nước, sự kiện ngày 7 tháng 11 năm 1981
đánh dấu thành quả của cuộc vận động thống nhất Phật giáo sau năm 1975, đưa
chín tổ chức, giáo hội và hệ phái vào một cơ cấu chung, dưới phương châm “Đạo
pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Suốt gần nửa thế kỷ, GHPGVN đã xây dựng một
bộ máy quản lý tôn
giáo từ trung ương đến địa phương, điều hành hàng nghìn tự viện, đào tạo tăng
ni, tổ chức các đại lễ, thực hiện hoạt động từ thiện và tham gia những quan hệ
Phật giáo quốc tế. Đó là bức tranh thường được giới lãnh đạo giáo hội và chính
quyền trình bày qua các bản tổng kết thành tích cùng những buổi lễ tôn
vinh.
Thế
nhưng, lịch sử 45 năm ấy cũng ghi nhận những cuộc trấn áp các cộng đồng Phật
giáo độc lập, sự can thiệp của quyền lực chính trị vào sinh hoạt tăng đoàn, và
hàng loạt tai tiếng về tiền bạc, học vị, đạo hạnh của giới chức sắc, khiến
trách nhiệm của cả hệ thống giáo hội trở thành đối tượng của những chất vấn
nghiêm khắc.
Sự
bảo trợ của nhà nước, những đặc quyền trong quản lý tôn giáo cùng khả
năng huy động vô hạn nguồn lực vật chất đã tạo nên những quan hệ lợi ích phức tạp
giữa giới lãnh đạo giáo hội với quyền lực chính trị và các thế lực kinh tế.
Trong
những quan hệ ấy, sự tôn nghiêm của đạo pháp đã nhiều lần bị tổn thương bởi
tham vọng thế tục, trong lúc lòng thành kính của phật tử có thể bị
khai thác để phục vụ những lợi ích xa lạ với ý thức tinh tấn tu hành.
Tấm
tăng bào vốn tượng trưng cho đời sống xuất gia và sự từ bỏ tham ái, nhưng dưới
sự chi phối của quyền lực, danh vọng và tiền bạc, biểu tượng thiêng liêng ấy đã
không ít lần bị lợi dụng để che đậy những toan tính rất trần tục. Nhìn lại 45
năm GHPGVN, điều cần khảo sát nghiêm khắc chính là mối quan hệ giữa sự lệ thuộc
chính trị, những đặc quyền của giới chức sắc và sự suy thoái đạo hạnh trong một
thiết chế nhân danh Phật pháp để đại diện cho đời sống tinh thần của hàng triệu
tín đồ.
1.
Thống nhất Phật giáo và di sản chính trị
Để
khảo sát những vấn đề của giáo hội hiện nay, tôi xin phép trở lại hoàn cảnh lịch
sử dẫn đến sự thành lập tổ chức này năm 1981.
Trong
nghiên cứu Negotiating Buddhist Unity in Postwar Vietnam, 1975-1981, công bố
tháng 9 năm 2026 trên Tạp chí học thuật Global Vietnam của Amsterdam
University Press, Nguyễn Sử, nhà nghiên cứu tại Đại học Waseda, khảo sát tiến
trình thống nhất Phật giáo dựa trên tư liệu lưu trữ, báo chí Phật giáo và các
cuộc phỏng vấn. Công trình cho thấy lịch sử hình thành GHPGVN phức tạp
hơn những bản tường thuật chính thống lâu nay của giáo hội, vốn trình
bày sự thống nhất như một nguyện vọng chung được mọi thành phần Phật giáo đồng
thuận.
Khát
vọng thống nhất đã xuất hiện từ phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ 20,
gắn với những cuộc tranh luận về tổ chức, truyền thống tu học, thẩm quyền lãnh
đạo và quyền tự chủ của các hệ phái. Những bất đồng ấy tiếp tục ảnh hưởng đến
các cuộc thương thảo trong giai đoạn 1975-1981, đặc biệt trong việc xác lập
quan hệ giữa các tổ chức Phật giáo với nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Sau
năm 1975, trong hoàn cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quyền kiểm soát trên
toàn quốc, việc hợp nhất các tổ chức tôn giáo diễn ra cùng với công cuộc cải tạo
các thiết chế xã hội.
Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), vốn có ảnh hưởng lớn tại miền Nam
trước năm 1975, đã phản đối việc chính quyền can thiệp vào các cơ sở Phật giáo
và không chấp nhận giải thể để gia nhập một tổ chức tôn giáo do nhà nước kiểm
soát. Những cuộc bất đồng nhanh chóng dẫn đến các biện pháp trấn áp tàn khốc.
Tháng
4 năm 1977, chính quyền bắt giữ Thích Huyền Quang, phó viện trưởng Viện Hóa Đạo,
Thích Quảng Độ, tổng thư ký Viện Hóa Đạo,
cùng các chức sắc Thích Thuyền Ấn, Thích Thông Bửu, Thích Thông Huệ và Thích
Thanh Thế. Đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp Thích Thiện Minh, một
nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong GHPGVNTN, từng tham gia lãnh đạo phong trào
đấu tranh Phật giáo trong cuộc pháp nạn năm 1963 chống chính quyền Ngô Đình Diệm.
Ngày 13 tháng 4 năm 1978, ông bị an ninh bắt cóc, bỏ tù không xét xử, và qua đời
trong thời gian bị biệt giam.
Theo
các tài liệu và lời tố cáo được thu băng ghi âm của hòa thượng Thích Đôn Hậu, đệ
nhất phó pháp chủ GHPGVN, thì Thích Thiện Minh đã bị đánh đập, tra tấn đến chết,
trong khi nhà chức trách giải thích nguyên nhân tử vong là xuất huyết
não. Trong báo cáo thường niên năm 1979, Amnesty International ghi nhận sự
việc và cho biết ngày 29 tháng 11 năm 1978, tổ chức này đã gửi thư cho thủ tướng
Phạm Văn Đồng yêu cầu mở cuộc điều tra đầy đủ, công khai về nguyên nhân cái chết
của Thích Thiện Minh, nhưng không nhận được hồi âm. Sự kiện ấy cho thấy mức độ
nghiêm trọng của cuộc xung đột giữa nhà nước cộng sản và những người lãnh đạo
Phật giáo quyết tâm giữ quyền tự chủ của tổ chức mình trong những năm đầu sau
chiến tranh.
Việc
thành lập GHPGVN ngày 7 tháng 11 năm 1981 đánh dấu một giai đoạn mới trong
chính sách quản lýtôn giáo, nhưng không
giải quyết được sự bất đồng với những chức sắc từ chối gia nhập tổ chức được
nhà nước công nhận.
Ngày
25 tháng 2 năm 1982, Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ tiếp tục bị bắt, sau
đó bị buộc cư trú dưới sự giám sát của chính quyền, người tại Quảng Ngãi, người
tại Thái Bình.
Tháng
4 năm 1984, công an bắt giữ Thích Tuệ Sỹ, tên khai sinh Phạm Văn Thương, và
Thích Trí Siêu, tức học giả Lê Mạnh Thát, cùng một nhóm tăng ni, phật tử tại
thành phố Hồ Chí Minh. Hai vị là những trí thức Phật giáo có công trình nghiên
cứu về triết học, văn học và lịch sử Phật giáo, đang tham gia biên soạn bộ từ
điển bách khoa Phật giáo Việt Nam vào thời điểm bị bắt. Chính quyền cáo buộc họ
tham gia tổ chức Lực lượng Việt Nam Tự do nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Trong phiên tòa tháng 9 năm 1988, cả Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu đều bác bỏ
cáo buộc nhưng vẫn bị tuyên án tử hình.
Sau
những cuộc vận động phản đối của quốc tế, Tòa án Nhân dân Tối cao giảm án xuống
20 năm tù. Amnesty International xem cả hai là tù nhân lương tâm và ghi nhận những
quan ngại về tính công bằng của phiên tòa.
Hồ
sơ đàn áp Phật giáo tiếp tục được bổ sung trong thập niên 1990. Ngày 23 tháng 2
năm 1993, GHPGVN khai trừ Thích Hạnh Đức, trụ trì chùa Sơn Linh ở Bà Rịa-Vũng
Tàu, với lý do
ông tách khỏi tổ chức mà ông cho là cánh tay nối dài của ĐCS và không tuân thủ
hiến chương giáo hội này. Tháng 7 cùng năm, ông bị bắt trong một cuộc đối đầu với
lực lượng an ninh tại chùa Sơn Linh và bị kết án ba năm tù vào tháng 1 năm
1994.
Tại
Huế, Thích Trí Tựu, trụ trì chùa Thiên Mụ, bị bắt ngày 5 tháng 6 năm 1993 sau
cuộc biểu tình liên quan đến vụ tự thiêu của một phật tử; ngày 15 tháng 11, ông
bị kết án bốn năm tù về tội gây rối trật tự công cộng.
Những
trường hợp này được Amnesty International và Human Rights Watch ghi nhận trong
các báo cáo năm 1994 và 1995, qua đó cho thấy việc thành lập một giáo hội thống
nhất dưới sự công nhận của nhà nước đã không chấm dứt những tranh chấp về quyền
tự chủ tôn giáo.
Đáng
chú ý, trường hợp Thích Hạnh Đức cho thấy một quyết định khai trừ của GHPGVN đã
xảy ra trước khi cơ quan công quyền bắt giữ và truy tố ông. Quan hệ giữa các biện
pháp kỷ luật
tôn giáo và việc thực thi quyền lực nhà nước, vì vậy, là một vấn đề cần được khảo
sát nghiêm túc trong lịch sử hình thành và phát triển của giáo hội kể từ tháng
11 năm 1981.
Trong
chương Governing Buddhism in Vietnam, thuộc công trình Buddhism and
Comparative Constitutional Law do Cambridge University Press xuất bản
năm 2022, nhà nghiên cứu luật học Ngoc Son Bui phân tích cơ chế quản trị Phật
giáo Việt Nam qua ba hệ thống quy phạm gồm hiến pháp, pháp luật về tín ngưỡng
và hiến chương giáo hội. Theo ông, những quy định này tạo điều kiện cho Phật
giáo phát triển trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời trao cho nhà nước những
phương tiện kiểm soát tổ chức và sinh hoạt tôn giáo. Đặc biệt, nguyên tắc tập
trung dân chủ của hệ thống chính trị cộng sản đã được tiếp nhận vào cơ cấu lãnh
đạo giáo hội, với hệ thống tổ chức và thẩm quyền hành chính được phân cấp tương
ứng. Nhận định ấy có cơ sở ngay trong văn bản hiến chương. Bản hiến chương sửa
đổi năm 2022 tiếp tục khẳng định phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã
hội”, xác nhận GHPGVN là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại điều 8 và
duy trì nguyên tắc tập trung dân chủ tại điều 11. Sự gắn bó giữa giáo hội với
nhà nước, như vậy, đã được thể chế hóa ngay trong các quy định tổ chức, từ việc
lựa chọn nhân sự lãnh đạo, quản lý tự viện đến xử lý những
bất đồng trong tăng đoàn. Đáng chú ý, một tổ chức lấy giáo pháp và
giới luật làm nền tảng đạo đức lại tiếp nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng
Cộng sản, một nguyên tắc tổ chức chính trị thế tục, để điều hành đời sống tu
hành. Việc đưa nguyên tắc ấy vào cơ cấu giáo hội làm phát sinh
nguy cơ quyền tự chủ của tăng sĩ phải phục tùng kỷ luật tổ chức và
những yêu cầu chính trị, đặc biệt khi quan điểm của họ khác biệt với chủ trương
của chính quyền hoặc quyết định của giới lãnh đạo giáo hội.
Mối
quan hệ ấy được thể hiện đặc biệt rõ tại điều 23 của bản hiến chương sửa
đổi năm 2022. Khoản 9 trao cho Hội đồng trị sự quyền phát ngôn duy nhất
của GHPGVN, quyền quản lý hoạt động thông tin truyền thông liên
quan đến giáo hội và trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử
lý những
tổ chức, cá nhân phát ngôn hoặc phổ biến thông tin bị xem là xuyên tạc, thiếu
chính xác, thiếu khách quan về Phật giáo và giáo hội. Khoản 10 tiếp tục cho
phép Hội đồng trị sự đề nghị cơ quan nhà nước xử lý các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài giáo hội bị xác định là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của tự viện hoặc thành viên giáo hội. Những quy định này đáng quan tâm ở chính
sự kết hợp giữa thẩm quyền tôn giáo và quyền cưỡng chế của nhà nước. Một tổ chức
có quyền bảo vệ danh dự và lợi ích hợp pháp của mình, nhưng việc sử dụng các
khái niệm như “xuyên tạc” hay “thiếu khách quan” để yêu cầu cơ quan công quyền
can thiệp vào hoạt động phát ngôn có nguy cơ biến bất đồng về quan điểm thành đối
tượng xử lý hành
chính hoặc hình sự.
Tháng
4 năm 2024, Dương Hồng Hiếu bị Công an tỉnh Kiên Giang khởi tố và bắt tạm giam
theo điều 331 bộ luật hình sự sau những bài đăng chỉ trích các chức sắc Phật
giáo, trong đó có Thích Chân Quang, và những nội dung mà cơ quan chức năng cáo
buộc xâm phạm danh dự của Ban trị sự GHPGVN tỉnh Kiên Giang. Tuy chưa có chứng
cứ được công bố xác nhận Hội đồng trị sự trung ương đã yêu cầu bắt giữ ông Hiếu,
nhưng vụ việc cho thấy những lời phê bình giới chức tôn giáo có thể dẫn đến hậu
quả hình sự nghiêm trọng.
Điều
cần chất vấn ở đây là tư cách đạo đức của một giáo hội có thẩm quyền phối hợp với
nhà nước xử lýnhững
tiếng nói phê bình chính mình. Giới luật Phật giáo có chức năng hướng dẫn sự tu
tập, điều chỉnh hành vi và gìn giữ phẩm hạnh tăng đoàn; quyền cưỡng chế của nhà
nước được thực thi bằng những công cụ pháp lý và sức mạnh công
quyền. Khi hai phạm vi ấy được kết hợp trong một cơ chế quản lý,
người lãnh đạo tôn giáo có thể tham gia quyết định những vấn đề ảnh hưởng đến
quyền tự do của người khác mà không phải chịu các tiêu chuẩn kiểm soát quyền lực
tương ứng.
Một
giáo hội phải nhờ đến quyền lực cưỡng chế chính trị để bảo vệ uy tín trước sự
chất vấn của công chúng thì cần tự hỏi uy tín ấy được xây dựng trên phẩm hạnh
và giáo pháp đến mức nào.
Cơ
chế kiểm soát ấy được phân tích khá tường tận trong báo cáo
State-Controlled Religion and Religious Freedom in Vietnam, do Ủy ban Tự do tôn
giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) công bố
tháng 9 năm 2024.
Qua
việc khảo sát sáu tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận, USCIRF xác định ba
phương thức mà chính quyền Việt Nam sử dụng để chi phối đời sống tôn giáo, gồm:
một là thay thế các tổ chức độc lập bằng tổ chức chịu sự kiểm soát của nhà nước,
hai là thu phục giới lãnh đạo thông qua những ưu đãi về pháp lývà vật
chất, và ba là thâm nhập vào các thiết chế tôn giáo để tác động đến hoạt động nội
bộ. Trong trường hợp Phật giáo, báo cáo xác định GHPGVN là một trường hợp
tiêu biểu của phương thức thay thế, thông qua việc tiếp quản cơ sở tự viện, chi
phối nhân sự lãnh đạo và hạn chế hoạt động của các cộng đồng không chấp nhận
gia nhập hệ thống chính thức. USCIRF dẫn trường hợp chùa Ấn Quang tại Sài
Gòn, từng là trụ sở Viện Hóa đạo của GHPGVNTN, bị chính quyền tiếp quản năm
1981, cùng nhiều cơ sở giáo dục và tài sản của tổ chức này.
Tình
trạng độc quyền đại diện còn được thể hiện qua phát biểu của Thích Bảo
Nghiêm, phó chủ tịch Hội đồng trị sự GHPGVN, đại biểu Quốc hội khóa 14, tại
phiên chất vấn ngày 6 tháng 6 năm 2019.
Trước
những câu hỏi về hiện tượng kinh doanh chùa và lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi,
ông khẳng định tất cả các chùa trên cả nước đều thuộc sự quản lý của
GHPGVN và các tổ chức Phật giáo địa phương, không có chùa nào nằm ngoài hệ thống
ấy. Phát biểu này đáng chú ý vì đã đồng nhất thẩm quyền quản lý các
tự viện trực thuộc GHPGVN với quyền quản lý toàn bộ chùa chiền
trên lãnh thổ Việt Nam, mặc dù các cộng đồng Phật giáo độc lập vẫn tồn tại
ngoài cơ cấu giáo hội và không thừa nhận thẩm quyền ấy.
Một
tổ chức có thể được nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, nhưng sự công nhận ấy
không trao cho tổ chức quyền quyết định tính chính đáng của mọi hình thức tu
hành. Lịch sử Phật giáo hình thành từ sự truyền thừa giáo pháp, giới luật và đời
sống tăng đoàn qua nhiều thế kỷ với những truyền
thống tu học khác nhau. Việc đồng nhất Phật giáo với một cơ cấu hành
chính được nhà nước thừa nhận đã chuyển một vấn đề thuộc quyền tự do tín ngưỡng
thành vấn đề phục tùng tổ chức, khiến tính độc lập trong đời sống tôn giáo có
nguy cơ bị xem như hành vi bất tuân.
Sự
gắn bó giữa giới lãnh đạo GHPGVN với quyền lực chính trị cũng thể hiện qua những
hoạt động ngoại giao được USCIRF ghi nhận. Tháng 10 năm 2023, Thích Đức Thiện,
phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội đồng trị sự, đồng thời phụ trách công tác Phật
giáo quốc tế của giáo hội, tham gia phái đoàn do Ban Tôn giáo chính phủ dẫn đầu
sang Mỹ.
Theo USCIRF, một trong những mục tiêu của chuyến đi là vận động Bộ Ngoại giao Mỹ
đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Hoạt động ấy
diễn ra trong bối cảnh chính quyền Việt Nam liên tục bị các tổ chức quốc tế chỉ
trích vì những biện pháp hạn chế khắc nghiệt đối với các cộng đồng Phật giáo độc
lập.
Một
chức sắc Phật giáo có quyền tham gia phái đoàn ngoại giao của nhà nước. Tuy
nhiên, khi nhân danh giáo hội để vận động quốc tế công nhận thành tích tự do
tôn giáo của chính quyền, vị chức sắc ấy cũng phải giải trình về trách nhiệm của
giáo hội đối với những tăng sĩ đang bị chính quyền hạn chế quyền tự do tu hành.
Sự tham gia này đặt ra câu hỏi về giới hạn quyền đại diện của GHPGVN. Việc được
nhà nước công nhận chỉ xác lập thẩm quyền tổ chức của giáo hội đối với hệ thống
trực thuộc chứ không có nghĩa là trao cho giáo hội quyền nhân danh toàn bộ cộng
đồng Phật giáo Việt Nam. Trước những trường hợp tăng sĩ và các cộng đồng độc lập
bị hạn chế sinh hoạt tôn giáo, giới lãnh đạo giáo hội cần giải thích đã làm gì
để bảo vệ quyền tu hành của họ. Uy tín đạo đức của một tổ chức tôn giáo phải được
đánh giá qua cách tổ chức ấy đối xử với những người bất đồng, đặc biệt trước sự
can thiệp của quyền lực chính trị. Việc tham gia bảo vệ chính quyền trước quốc
tế càng khiến trách nhiệm giải trình ấy trở nên cấp thiết.
2. Bát
Nhã và quyền tự do của người tu hành
Vụ
tu viện Bát Nhã tại Lâm Đồng năm 2009 là một trường hợp tiêu biểu cho thấy quyền
quản lý tôn giáo của GHPGVN đã được chính quyền sử dụng như thế nào để can thiệp
vào đời sống của một cộng đồng tu hành.
Sau
chuyến trở về Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 1 năm 2005 của thiền sư
Thích Nhất Hạnh, trụ trì tu viện Bát Nhã là Thích Đức Nghi đã mời các tăng ni
theo pháp môn Làng Mai đến tu tập; ngày 25 tháng 5 năm 2006, Hội đồng trị sự
GHPGVN chính thức chấp thuận việc thành lập tăng thân này bằng văn bản số
212/CV/HĐTS.
Quan
hệ giữa cộng đồng Làng Mai với chính quyền bắt đầu căng thẳng sau cuộc gặp năm
2007, trong đó thiền sư Thích Nhất Hạnh đề nghị Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
cải cách chính sách tôn giáo, chấm dứt việc công an giám sát sinh hoạt tín ngưỡng
và bảo đảm quyền tự chủ của các tổ chức tôn giáo.
Đến
năm 2008, Thích Đức Nghi yêu cầu tăng thân Làng Mai rời Bát Nhã, trong hoàn cảnh
mà theo điều tra của Human Rights Watch, là ông đã chịu sức ép từ chính quyền.
Từ tháng 6 năm 2009, điện nước và đường dây điện thoại của tu viện bị cắt, tăng
ni liên tục bị đe dọa, hành hung và cản trở sinh hoạt. Đặc biệt, văn bản số 789
ngày 17 tháng 9 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thị xã Bảo Lộc, do chủ tịch Phạm
Quang Tường ký,
viện dẫn việc cộng đồng Làng Mai chưa được GHPGVN công nhận về tư cách tổ chức,
đồng thời chỉ đạo các cơ quan địa phương vận động tăng ni trở về gia đình hoặc
chuyển đến những cơ sở tu hành thuộc sự quản lý của giáo hội. Sự viện dẫn ấy
đáng chú ý vì Hội đồng trị sự GHPGVN đã từng chấp thuận cộng đồng Làng Mai bằng
văn bản năm 2006.
Ngày
27 tháng 9, hàng trăm người kéo đến tu viện, phá cửa, đánh đập và cưỡng bức khoảng
150 tăng sĩ rời khỏi Bát Nhã trong lúc lực lượng công an hiện diện ngay tại khu
vực. Hai tăng sĩ Pháp Hội và Pháp Sỹ bị đưa đi cưỡng bức; hơn 200 ni cô cũng phải
rời tu viện ngày hôm sau, tìm chỗ nương náu tại chùa Phước Huệ do Thích Thái
Thuận trụ trì.
Trong
báo cáo số 418 ngày 6 tháng 10 năm 2009 gửi Hội đồng trị sự trung ương, Ban trị
sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng xác nhận các hành vi bạo lực, tình trạng công an
sách nhiễu tăng ni tại chùa Phước Huệ và đề nghị bảo vệ quyền tu học của họ.
Văn bản do Thích Toàn Đức ký thay mặt Ban trị sự này cho thấy ngay trong hệ thống
giáo hội đã xuất hiện những tiếng nói phản đối cách xử lý của chính quyền.
Tuy
nhiên, sự tồn tại của những phản ứng ấy càng khiến trách nhiệm của cấp lãnh đạo
giáo hội trung ương cần phải được xem xét đến nơi đến chốn. Một cộng đồng từng
được giáo hội thừa nhận đã bị cưỡng bức giải tán, trong lúc các quy định về tư
cách tổ chức và cư trú được chính quyền viện dẫn để hợp thức hóa việc can thiệp.
Vụ Bát Nhã, xét đến cùng, đặt ra một câu hỏi nghiêm khắc về quyền tự chủ tôn
giáo. Nếu quyền tu hành của tăng ni có thể bị tước bỏ vì sự thay đổi trong thái
độ của chính quyền hoặc người đứng đầu một cơ sở tự viện, thì sự bảo đảm của
giáo hội đối với quyền tự do tín ngưỡng thực chất có giá trị đến đâu? Một giáo
hội được trao thẩm quyền quản lý tăng đoàn phải chịu trách nhiệm về cách thẩm
quyền ấy được sử dụng, đặc biệt khi những quyết định hành chính liên quan đến tổ
chức của mình trở thành căn cứ cho hành động cưỡng chế của nhà nước.
Một
trường hợp khác cho thấy sự can thiệp của quyền lực nhà nước vào thẩm quyền kỷ luật
tôn giáo là cuộc trấn áp các tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer tại Sóc Trăng năm
2007, được Human Rights Watch điều tra trong báo cáo On the Margins,
công bố tháng 1 năm 2009.
Ngày
8 tháng 2 năm 2007, hơn 200 tăng sĩ Khmer tham gia một cuộc biểu tình ôn hòa,
yêu cầu chính quyền tôn trọng quyền tự chủ của tăng đoàn trong việc thọ giới, tổ
chức các nghi lễ tôn giáo, giảng dạy tiếng Khmer và bảo tồn văn hóa dân tộc.
Sau cuộc biểu tình, công an cùng các chức sắc Phật giáo được nhà nước công nhận
tiến hành cưỡng bức hoàn tục ít nhất 20 tăng sĩ, buộc họ rời chùa và chịu sự
giám sát của chính quyền. Ngày 10 tháng 5 năm 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng kết án năm người về tội gây rối trật tự công cộng theo điều 245 Bộ Luật
Hình sự, trong đó Danh Tôl và Kim Mượl mỗi người bốn năm tù, Thạch Thương ba
năm tù, Lý Sương và Lý Hoàng mỗi người hai năm tù.
Human
Rights Watch thu thập được các bản cáo trạng cùng lời khai của những người chứng
kiến, ghi nhận việc công an tham gia trực tiếp vào quá trình cưỡng bức hoàn tục,
trong khi các tăng sĩ bị tước quyền tự bào chữa trước tăng đoàn theo những thủ
tục kỷ luật
truyền thống. Trong văn bản trả lời Human Rights Watch, Đại sứ quán Việt Nam tại
Mỹ khẳng định việc xử lý các tăng sĩ vi phạm giới luật thuộc công việc nội bộ của
GHPGVN và đã được thực hiện đúng hiến chương cùng các quy định Phật giáo.
Chính
lời giải thích ấy làm phát sinh câu hỏi pháp lý và đạo đức. Nếu việc hoàn tục
thuộc thẩm quyền nội bộ của tăng đoàn, sự tham gia của công an và quan chức
chính quyền vào quá trình quyết định, cưỡng chế và trừng phạt người tu hành phải
được giải thích như thế nào?
Gần
hai thập niên sau, những tranh cãi tương tự tiếp tục xuất hiện. Theo tổ chức
Christian Solidarity Worldwide, tăng sĩ Kim Som Rinh, người hoạt động bảo vệ
quyền tôn giáo và văn hóa của cộng đồng Khmer, bị GHPGVN tước tư cách tu sĩ
tháng 3 năm 2024. Ngày 27 tháng 3 năm 2025, ông bị công an bắt giữ cùng hai nhà
hoạt động Thạch Nga và Thạch Xuân Đồng. Ngày 18 tháng 11 cùng năm, Tòa án nhân
dân khu vực 12, tỉnh Vĩnh Long, kết án cả ba người mỗi người ba năm sáu tháng
tù theo điều 331 bộ luật hình sự. Báo chí nhà nước dẫn cáo trạng cho rằng các bị
cáo sử dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin xuyên tạc, xâm phạm lợi ích nhà
nước và tổ chức, cá nhân; trong khi Christian Solidarity Worldwide và USCIRF
xem vụ án là một phần của chính sách hạn chế những hoạt động bảo vệ quyền tự do
tôn giáo của người Khmer.
Về
phương diện giới luật, quyền xử lý một tăng sĩ phải được thực hiện theo những
nguyên tắc và thủ tục của tăng đoàn, bảo đảm người bị cáo buộc có cơ hội giải
trình trước cộng đồng tu sĩ. Việc sử dụng các biện pháp kỷ luật nhằm xử lý
những bất đồng chính trị, nếu được xác lập, sẽ làm tổn hại đến quyền tự chủ tôn
giáo và ý nghĩa đạo đức của giới luật. Đối với Phật giáo Nam tông Khmer, hậu quả
ấy đặc biệt nghiêm trọng vì chùa chiền đồng thời là trung tâm giáo dục ngôn ngữ,
bảo tồn văn hóa, và truyền thừa đời sống tinh thần của cộng đồng. Khi quyền quyết
định tư cách tu sĩ chịu sự chi phối của những yêu cầu chính trị, một quyết định
kỷ luật
có thể ảnh hưởng đến cả sinh hoạt tôn giáo lẫn khả năng gìn giữ bản sắc dân tộc.
Sau
những trường hợp được ghi nhận từ năm 2007 đến năm 2025, GHPGVN cần giải thích
căn cứ giới luật, thủ tục xét kỷ luật và trách
nhiệm bảo vệ quyền tự bào chữa của những tăng sĩ bị buộc hoàn tục. Chính sự
minh bạch về những quyết định ấy mới có thể xác định giáo hội đang thực thi thẩm
quyền tôn giáo độc lập của mình đến mức nào trước sự can thiệp của quyền lực
nhà nước.
3.
Thích Minh Tuệ và câu hỏi về thẩm quyền của GHPGVN
Sự
xuất hiện của Thích Minh Tuệ năm 2024 mang lại một trường hợp đặc biệt để suy
ngẫm về quan hệ giữa đức tin và sự công nhận hành chính. Người đàn ông có tên
khai sinh Lê Anh Tú thực hành hạnh đầu đà, đi bộ khất thực, mặc y phục chắp vá
và tránh những tiện nghi vật chất thông thường. Lối tu hành ấy thu hút sự chú ý
của hàng triệu người Việt, khiến một người không giữ chức vụ tôn giáo, không quản
lý chùa lớn và không xây dựng tổ chức truyền giáo trở thành tâm điểm của đời sống
Phật giáo đương đại.
Ngày
16 tháng 5 năm 2024, Hội đồng trị sự GHPGVN ra văn bản khẳng định ông không phải
tu sĩ Phật giáo, không tu tập và không thuộc nhân sự của một cơ sở tự viện nào
trong giáo hội. Về phương diện hành chính, giáo hội có quyền xác nhận tư cách
thành viên và việc thọ giới theo những quy định do mình quản lý.
Tuy nhiên, việc một người không có tư cách tu sĩ trong hệ thống giáo hội cần được
phân biệt với quyền thực hành giáo pháp và với việc đánh giá đời sống tu tập của
người ấy.
Tư
cách thành viên một tổ chức, sự thừa nhận trong cộng đồng tôn giáo và phẩm hạnh
của một người là những phạm trù khác nhau.
Báo
cáo USCIRF tháng 12 năm 2025 tiếp tục ghi nhận các cáo buộc về việc ông Minh Tuệ
và những người đồng hành bị sách nhiễu trong chuyến hành hương ở nước ngoài,
trong đó có sự can thiệp của cảnh sát Sri Lanka vào tháng 4 năm 2025 được cho
là diễn ra sau áp lực từ GHPGVN trong nước. Việc một tổ chức tôn giáo được nêu
tên trong cáo buộc gây sức ép đối với người tu hành ôn hòa là vấn đề nghiêm trọng
về trách nhiệm đạo đức, cần được điều tra độc lập.
Trường
hợp Thích Minh Tuệ khiến công chúng phải xem xét lại quan niệm đồng nhất sự
công nhận của giáo hội với giá trị của một đời sống tu hành. Trong truyền thống
Phật giáo, phẩm hạnh của người xuất gia được đánh giá qua giới luật, sự tiết chế
tham dục, tinh thần bất bạo động và cách ứng xử với tha nhân. Chức danh, học vị
hay danh tiếng trên truyền thông có thể đem lại ảnh hưởng xã hội, nhưng không đủ
để chứng nhận những phẩm chất ấy. Tương tự, việc thực hành khổ hạnh cũng chưa
phải bằng chứng một người đã đạt đến quả vị nào hoặc được thọ giới hợp lệ theo
quy định của từng truyền thống Phật giáo. Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng
đối với việc xác định thẩm quyền của GHPGVN. Tổ chức ấy có quyền công nhận tư
cách tu sĩ trong hệ thống của mình, nhưng không thể lấy sự công nhận đó làm căn
cứ phán xét toàn bộ giá trị tu tập hay quyền tự do tín ngưỡng của những người
không thuộc giáo hội. Điều đáng phê phán là nguy cơ biến thẩm quyền quản lý nội
bộ thành quyền kiểm soát đời sống tôn giáo của xã hội, đặc biệt nếu sự can thiệp
của cơ quan công quyền được sử dụng để ngăn cản những hình thức tu hành ôn hòa
ngoài hệ thống chính thức. Khi ấy, một vấn đề thuộc tự do lương tâm đã bị chuyển
thành vấn đề phục tùng một thiết chế được nhà nước bảo trợ.
Một giáo hội chỉ mới thành lập năm 1981
mà dựa vào tư cách pháp lý được chính quyền công nhận để quyết định ai được
phép tu hành theo giáo pháp đã tồn tại hơn hai thiên niên kỷ, thì rõ ràng là giáo hội ấy đã tiếm nhận thẩm quyền mà cả
giới luật Phật giáo lẫn những nguyên tắc pháp lý về tự do tín ngưỡng đều không
trao cho mình.
4. Tiền
bạc, vật chất và sự suy đồi đạo hạnh
Sự
lệ thuộc chính trị đã ảnh hưởng đến quyền tự chủ của GHPGVN, trong lúc tiền bạc,
danh lợi và những đặc quyền vật chất đặt ra một vấn đề nghiêm trọng khác về phẩm
hạnh của giới tu hành. Phật giáo vốn xem tham ái là một trong những căn nguyên
của khổ đau, lấy giới luật và sự tiết chế dục vọng làm nền tảng tu dưỡng. Thế
nhưng, trong đời sống Phật giáo Việt Nam đương đại, quy mô chùa chiền, tài sản,
số lượng tín đồ và khả năng huy động tiền cúng dường ngày càng có ảnh hưởng đến
uy tín cũng như quyền lực của một số chức sắc. Khi sự thành đạt của người tu
hành được đo bằng những công trình nguy nga, nguồn tài chính và các quan hệ xã
hội, các giá trị vật chất có nguy cơ chi phối chính những người được kì vọng phải
biết chế ngự lòng tham. Vấn đề đáng phê bình thuộc về cơ chế quản lý của giáo hội,
đặc biệt trong việc phân định tài sản chung với tài sản cá nhân, giám sát hoạt
động tài chính, kiểm soát quyền lực trụ trì và thực thi giới luật đối với những
nhân vật có ảnh hưởng.
Một
tổ chức nhân danh đạo pháp để quản lý tăng đoàn phải chịu trách nhiệm trước những
điều kiện đã khiến tiền bạc có thể ảnh hưởng đến phẩm hạnh của các thành viên
và uy tín của chính tổ chức ấy.
Những
tai tiếng liên tiếp trong hơn một thập niên qua cho thấy sự đa dạng của các vấn
đề này.
Năm
2014, Thích Thanh Cường, trụ trì chùa Cương Xá ở Hải Dương, bị giáo hội kiểm điểm
sau khi đăng tải những hình ảnh và lời bình liên quan đến điện thoại iPhone 6,
Vertu đắt tiền và lối sống xa hoa; ông giải thích một số hình ảnh bị công chúng
hiểu sai. Năm 2019, Thích Thanh Toàn, trụ trì chùa Nga Hoàng tại Vĩnh Phúc, bị
tố có hành vi gạ tình nữ phóng viên, sau đó xin hoàn tục nhưng đề nghị được giữ
khối tài sản gồm đất đai, trang trại mà chính ông ước tính trị giá khoảng 200 đến
300 tỷ đồng.
Việc xác định quyền sở hữu số tài sản ấy trở thành một cuộc tranh cãi giữa cá
nhân ông với giáo hội. Đến năm 2022, Phạm Văn Cung, từng mang pháp danh Thích
Phước Ngọc và giữ chức trụ trì chùa Phước Quang tại Vĩnh Long, bị tuyên án tù
chung thân vì lừa đảo chiếm đoạt gần 68 tỷ đồng của bốn phụ
nữ.
Những
trường hợp ấy có mức độ và trách nhiệm pháp lý khác nhau, nhưng đều khiến công
chúng phải chất vấn mối quan hệ giữa danh nghĩa tu hành, uy tín tôn giáo và lợi
ích vật chất. Riêng vụ Thích Thanh Toàn làm phát sinh câu hỏi thuộc về trách
nhiệm thể chế. Một người xuất gia có thể tích lũy và nhân danh cá nhân sở hữu
khối tài sản hàng trăm tỷ đồng trong thời gian quản lý tự viện bằng
những nguồn lực nào, và giáo hội đã kiểm tra, phân định quyền sở hữu ra sao trước
khi tranh chấp phát sinh?
Sự
thương mại hóa tín ngưỡng thể hiện rõ hơn qua các hoạt động khai thác niềm tin
vào nghiệp báo, phúc đức và những thế lực siêu nhiên.
Năm
2019, vụ thỉnh vong, giải oan gia trái chủ tại chùa Ba Vàng do Phạm Thị Yến thực
hiện dưới sự cho phép của trụ trì Thích Trúc Thái Minh gây phẫn nộ vì những khoản
cúng dường được yêu cầu nhằm hóa giải nghiệp chướng. Giáo hội xác định nghi thức
ấy trái với truyền thống Phật giáo và kỷ luật vị trụ trì,
nhưng đến cuối năm 2023, chính ngôi chùa này lại gây tranh cãi vì trưng bày hiện
vật được giới thiệu là xá lợi tóc Đức Phật, dẫn đến quyết định cảnh cáo khác
vào tháng 1 năm 2024. Điều đáng chú ý là Thích Thanh Quyết, phó chủ tịch Hội đồng
trị sự kiêm trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Ninh, từng công khai nhận
trách nhiệm về sự buông lỏng quản lý trong vụ Ba Vàng năm 2019, thừa nhận những
phản ánh về hoạt động tại chùa đã được chuyển đến cơ quan chức năng từ năm
2015. Trong một diễn biến khác, tháng 5 năm 2021, chính ông ký văn bản đề nghị
Bộ Tài chính không đưa việc quản lý tiền công đức tại các chùa thuộc diện di
tích tôn giáo vào phạm vi dự thảo thông tư về quản lý tài chính di tích và lễ hội.
Kiến nghị ấy dựa trên lập luận về quyền sở hữu và tự chủ tài sản tôn giáo, những
quyền cần được tôn trọng theo pháp luật. Tuy nhiên, tranh luận về quyền quản lý
tiền công đức cũng cho thấy nhu cầu phải xây dựng những cơ chế kiểm toán và
công khai tài chính đủ sức bảo vệ tài sản của cộng đồng tín đồ. Một giáo hội
yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ tài sản đồng thời phải chứng minh khả năng kiểm
soát việc tiếp nhận và sử dụng những khoản đóng góp được thực hiện nhân danh đức
tin.
Những
sai phạm về đạo hạnh cũng liên quan đến các chức danh và học vị được sử dụng để
xác lập uy tín của người thuyết giảng.
Trường
hợp Thích Chân Quang, tên thật Vương Tấn Việt, là một ví dụ.
Tháng
6 năm 2024, GHPGVN cấm ông thuyết giảng trong hai năm sau khi xác định một số nội
dung giảng giải về nhân quả không đúng chánh pháp và yêu cầu thu hồi những điệp
phái quy y có nội dung tự ý sửa đổi giới luật. Tháng 10 cùng năm, Bộ Giáo dục
và đào tạo xác nhận ông đã sử dụng bằng tốt nghiệp trung học bất hợp pháp, yêu
cầu thu hồi các văn bằng đại học liên quan. Việc một chức sắc có ảnh hưởng bị
xác định sử dụng văn bằng đầu vào không hợp pháp, trong lúc những bài giảng bị
chính giáo hội kết luận sai lệch đã được phổ biến từ trước, khiến trách nhiệm
thẩm tra và giám sát của giáo hội cần phải bị chất vấn.
Trường
hợp chùa Bồ Đề tại Hà Nội cũng đặt ra yêu cầu tương tự đối với hoạt động nhân đạo.
Năm 2015, Nguyễn Thị Thanh Trang, người được giao quản lý cơ sở chăm sóc trẻ tại
chùa, và Phạm Thị Nguyệt bị kết án về tội mua bán trẻ em. Bản án không kết tội
trụ trì Thích Đàm Lan, nhưng sự việc cho thấy uy tín tôn giáo và danh nghĩa từ
thiện không thể thay thế những thủ tục quản lý, bảo vệ người yếu thế
và kiểm tra trách nhiệm của người được giao quyền.
Những
sai phạm phát sinh từ các hoàn cảnh khác nhau ấy cùng hướng sự chú ý đến một
yêu cầu căn bản đối với giáo hội, đó là khả năng giám sát những người sử dụng
uy tín Phật giáo để thuyết giảng, huy động tài sản hoặc tổ chức hoạt động xã hội.
Từ
những vụ việc trên, điều đáng phê phán là sự hình thành các quan hệ lợi
ích ngay trong cơ cấu GHPGVN, khiến quyền lực tôn giáo ngày càng gắn chặt với
tiền bạc và đặc quyền vật chất. Một trụ trì có thể đồng thời quản lý tự viện,
tiếp nhận tiền cúng dường, điều hành hoạt động tín ngưỡng và gây ảnh hưởng đối
với hàng nghìn phật tử; những chức sắc giữ vai trò lãnh đạo giáo hội lại có thể
tham gia các cơ quan chính trị và duy trì quan hệ với giới kinh doanh. Sự tập
trung quyền lực ấy, nếu thiếu minh bạch tài chính và giám sát độc lập, sẽ tạo
điều kiện cho lợi ích cá nhân chi phối việc thực thi giới luật. Những
biện pháp cảnh cáo, sám hối hay đình chỉ chức vụ khó có giá trị răn đe nếu sai
phạm tái diễn mà không được xử lý tận gốc. Trách nhiệm khi ấy phải được xem xét
ở cấp lãnh đạo trung ương, từ Hội đồng trị sự, cơ quan điều hành giáo hội, đến
Hội đồng chứng minh, cơ quan lãnh đạo về đạo pháp và giới luật do Pháp chủ đứng
đầu, tùy theo thẩm quyền của từng cơ quan.
Điều
nghiêm trọng hơn nằm ở sự tha hóa của mối quan hệ đạo đức giữa người xuất gia
và tín đồ. Phật tử cúng dường vì tin vào giáo pháp và phẩm hạnh của tăng sĩ, đặc
biệt là khả năng chế ngự lòng tham của người đã lựa chọn đời sống tu hành. Khi
nghiệp báo bị sử dụng để gieo rắc sợ hãi nhằm thu tiền, học vị trở thành phương
tiện tô điểm danh vọng, chức vụ trụ trì đem lại đặc quyền kiểm soát tài sản,
thì uy tín tinh thần đã bị chuyển hóa thành lợi ích thế tục. Những sai phạm ấy
không cho phép quy kết đạo hạnh của toàn thể tăng ni, nhưng buộc GHPGVN phải chịu
sự chất vấn về cơ chế đã để chúng phát sinh và kéo dài. Sau 45 năm, điều cần
kiểm chứng là giáo hội đã thực thi nghiêm túc đến đâu những giới luật mà chính
mình nhân danh để quản lý người khác. Một thiết chế tôn giáo lấy sự từ bỏ tham
ái làm nền tảng đạo đức sẽ tự đánh mất tính chính đáng nếu dung dưỡng những đặc
quyền nuôi lớn chính lòng tham mà giáo pháp đòi hỏi con người phải chế ngự.
5. Quyền
lực tôn giáo được củng cố bằng quyền lực thế tục
Từ
góc nhìn xã hội học, những vấn đề của GHPGVN cần được phân tích trong mối quan
hệ giữa thẩm quyền tôn giáo, quyền lực hành chính và các nguồn lực vật chất.
Max
Weber từng nghiên cứu quá trình quyền uy cá nhân biến hóa thành những tổ chức
có chức vụ, quy tắc và hệ thống quản lý ổn định. Một thiết chế tôn giáo muốn tồn
tại qua nhiều thế hệ phải giải quyết các công việc thực tế như đào tạo, bổ nhiệm,
quản lý tài sản và duy trì sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, sự phát triển của bộ
máy hành chính có thể khiến những người lãnh đạo ngày càng quan tâm đến việc bảo
vệ cơ cấu tổ chức và lợi ích của chính cơ cấu ấy. Với GHPGVN, quan hệ chặt chẽ
với nhà nước đem lại khả năng tổ chức những sự kiện lớn, phát triển cơ sở đào tạo
và thực hiện các chương trình xã hội trên phạm vi toàn quốc. Theo báo cáo công
bố tháng 1 năm 2026, giáo hội cho biết các hoạt động từ thiện và an sinh xã hội
trong năm 2025 đạt tổng giá trị hơn 2.161 tỷ đồng, bao gồm cứu
trợ thiên tai, hỗ trợ người nghèo, khám chữa bệnh và xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ cộng đồng. Đây là những đóng góp cần được ghi nhận, dù số liệu do giáo hội
công bố không tự thân thay thế việc kiểm toán độc lập. Sự hiện diện của các hoạt
động nhân đạo cũng không giải quyết thay những câu hỏi về quyền tự chủ tôn
giáo, kỷ luật
tăng đoàn hay trách nhiệm đối với các vụ việc gây tranh cãi. Một tổ chức
có thể thực hiện nhiều hoạt động hữu ích cho xã hội và vẫn cần cải cách những
cơ chế quyền lực đang gây ảnh hưởng bất lợi đến quyền của thành viên và cộng đồng.
Ở
đây, cần phân biệt rạch ròi giữa thẩm quyền quản lý một tổ chức tôn giáo và quyền
phán định chân lý,
cũng như tính chính đáng của đời sống tín ngưỡng. Giáo hội có thể quy định việc
thọ giới, bổ nhiệm trụ trì, quản lý tự viện và thực thi giới luật đối với những
thành viên thuộc hệ thống của mình. Tuy nhiên, thẩm quyền ấy phát sinh từ quan
hệ tổ chức và chỉ có hiệu lực trong phạm vi được pháp luật thừa nhận, hoàn toàn
không trao cho giáo hội quyền chi phối toàn bộ đời sống Phật giáo của xã hội.
Trải
qua nhiều thế kỷ,
Phật giáo Việt Nam phát triển qua nhiều truyền thống, tông phái, phương pháp tu
hành và cộng đồng tín ngưỡng khác nhau, với những quan niệm riêng về giới luật,
sự truyền thừa và con đường tu chứng. Tính chính đáng của một niềm tin, cũng
như phẩm hạnh của người tu hành, không thể được xác lập chỉ bằng tư cách thành
viên của một thiết chế tôn giáo được nhà nước công nhận.
Về
phương diện pháp lý,
điều 18 của Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính
trị, mà Việt Nam gia nhập năm 1982, bảo vệ quyền tự do tư tưởng, lương tâm và
tôn giáo, bao gồm quyền thực hành tín ngưỡng riêng lẻ hoặc cùng cộng đồng, công
khai hoặc trong đời sống riêng tư. Những hạn chế đối với việc biểu hiện tôn
giáo chỉ được phép áp dụng trong những điều kiện nghiêm ngặt do công ước quy định,
nhằm bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe, đạo đức công cộng hoặc các quyền và tự
do căn bản của người khác; bản thân quyền tự do lựa chọn và duy trì niềm tin
không thuộc phạm vi hạn chế ấy. Xét từ nguyên tắc này, tư cách pháp
nhân do nhà nước thừa nhận chỉ xác lập địa vị pháp lý của một tổ chức, tuyệt
nhiên không thể trở thành căn cứ để tổ chức ấy độc quyền xác định ai được quyền
thực hành giáo pháp. Sự đồng nhất giữa thẩm quyền hành chính với quyền phán định
chân lý tôn giáo, xét đến cùng, là một sự lạm quyền về thể chế, bởi quyền tự do
lương tâm thuộc về con người trước khi thuộc về bất cứ giáo hội hay cơ cấu quản
lý nào.
Xét
từ nền tảng đạo đức Phật giáo, thẩm quyền của tăng đoàn trước hết phải được xác
lập bằng giới luật và phẩm hạnh của người xuất gia. Sự trung thực, tiết chế
tham dục, tôn trọng phẩm giá con người và trách nhiệm đối với hành vi của mình
là những chuẩn mực mà mọi chức sắc đều phải tuân thủ, bất kể địa vị trong hệ thống
giáo hội. Những tai tiếng tại chùa Ba Vàng dưới thời trụ trì Thích Trúc Thái
Minh, cùng vụ Thích Chân Quang bị xác định sử dụng văn bằng trung học không hợp
pháp, cho thấy giới luật và các quy định quản lý đã không ngăn ngừa được những
sai phạm nghiêm trọng của các nhân vật có ảnh hưởng trong giáo hội. Trách nhiệm
của giới lãnh đạo, do đó, phải được xem xét từ chính hiệu quả thực thi những
chuẩn mực mà họ có thẩm quyền áp dụng đối với tăng ni. Các biện pháp sám hối, cảnh
cáo hay đình chỉ chức vụ chỉ có giá trị đạo đức khi đi kèm với sự xác minh
nghiêm túc, khắc phục hậu quả và trách nhiệm giải trình; những hành vi có dấu
hiệu phạm pháp phải được xử lý theo những quy định pháp luật tương ứng. Cũng từ
nguyên tắc ấy, việc một tăng sĩ bất đồng với giới lãnh đạo hoặc từ chối gia nhập
GHPGVN không thể tự thân cấu thành hành vi vi phạm giới luật.
Một
tổ chức nhân danh đạo pháp để phán xét tư cách tu hành của người khác phải chứng
minh được sự công bằng và nhất quán trong cách thực thi thẩm quyền của mình. Nếu
sự nghiêm khắc chủ yếu dành cho những người bất đồng, trong lúc các chức sắc có
danh vọng, tài sản và ảnh hưởng chính trị được hưởng những hình thức xử lý
khoan dung hơn, thì giới luật đã có nguy cơ bị biến thành công cụ bảo vệ quyền
lực tổ chức. Sự suy đồi đạo hạnh của một thiết chế tôn giáo bắt đầu từ chính
tình trạng ấy, bởi người nắm thẩm quyền phán xét người khác lại không chịu sự
ràng buộc tương xứng của những chuẩn mực mà mình nhân danh. Uy tín đạo đức của
giáo hội, xét đến cùng, phải được chứng minh trước hết bằng khả năng tự kiểm
soát quyền lực và sự nghiêm cẩn trong việc thực hành giáo pháp của chính những
người lãnh đạo.
•••
Sau
45 năm, lịch sử GHPGVN cho thấy một mối quan hệ cộng sinh giữa quyền lực chính
trị và quyền lực tôn giáo với những hệ lụy nghiêm trọng về đạo hạnh. Nhà nước dựa
vào uy tín nhà sư, trong khi một bộ phận chức sắc dựa vào uy thế nhà nước; bên
này mượn đạo pháp để tô điểm cho quyền lực, bên kia tìm kiếm sự che chở cho chức
vị và đặc quyền. Trong sự trao đổi ấy, chiếc áo cà sa trở thành tấm bình phong
cho những toan tính chính trị, trong khi cửa thiền bị xâm chiếm bởi danh vọng,
tiền bạc và những tranh đoạt rất thế tục. Sự tha hóa nguy hiểm nhất của một thiết
chế tôn giáo chính là khả năng nhân danh những giá trị thiêng liêng để bảo vệ
các lợi ích trái ngược với những giá trị ấy. Bốn mươi lăm năm cũng đủ dài để nhận
diện hậu quả của sự phụ thuộc qua lại này. Quyền lực nhà nước không thể ban
phát phẩm hạnh cho người xuất gia, cũng như chiếc áo cà sa không thể thánh hóa
quyền lực chính trị. Khi cả hai cùng tìm đến nhau để củng cố lợi ích, thứ bị tổn
thương sâu sắc nhất chính là lòng tin của những con người đã gửi gắm đời sống
tinh thần của mình cho đạo pháp.
———
◉ Tham khảo:
1.
Báo Điện tử Chính phủ (2011). 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam, xây dựng và
phát triển trong khối đại đoàn kết dân tộc.
https://baochinhphu.vn/30-nam-giao-hoi-phat-giao-vn-xay...
2.
Nguyễn Sử (2026). Negotiating Buddhist Unity in Postwar Vietnam, 1975-1981.
Global Vietnam, Vol. 1, No. 1, tr. 102–125. Amsterdam University Press.
https://www.aup-online.com/.../10.5117/GVST.2026.1.006.NGUY
3.
Amnesty International (1979). Amnesty International Annual Report 1979. Tài liệu
ghi nhận cái chết của Thích Thiện Minh trong thời gian bị giam giữ và yêu cầu
điều tra gửi chính phủ Việt Nam.
https://www.amnesty.org/en/documents/pol10/001/1979/en/
4.
Human Rights Watch (1995). Vietnam: The Suppression of the Unified Buddhist
Church. Báo cáo về các vụ bắt giữ, quản thúc và đàn áp chức sắc GHPGVNTN.
https://www.hrw.org/reports/1995/Vietnam.htm
5.
Amnesty International (1994). Socialist Republic of Viet Nam: Buddhist Monks in
Detention. Báo cáo về Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích
Trí Siêu, Thích Hạnh Đức, Thích Trí Tựu và các tăng sĩ bị giam giữ.
https://www.amnesty.org/en/documents/asa41/005/1994/en/
6.
Ngoc Son Bui (2022). Governing Buddhism in Vietnam. Trong Buddhism and
Comparative Constitutional Law, tr. 272-284. Cambridge University Press.
https://www.cambridge.org/.../15668CFDAEF19E1E47BC1D6A035...
7.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2022). Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam sửa
đổi lần thứ VII, thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2022.
https://phatgiao.org.vn/toan-van-hien-chuong-giao-hoi...
8.
Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Sưu tầm của giáo sư Nguyễn Nhã băng ghi âm phỏng vấn
hòa thượng Thích Đôn Hậu, đệ tam tăng thống GHPGVNTN, đệ nhất phó pháp chủ
GHPGVN. Tư liệu ghi âm được đăng lại trên YouTube, ghi nhận lời chứng của hòa
thượng về tình trạng đàn áp GHPGVNTN sau năm 1975, đặc biệt những cáo buộc liên
quan đến việc bắt giữ, tra tấn và cái chết của hòa thượng Thích Thiện Minh
trong trại giam năm 1978.
9.
Radio Free Asia (2024). Facebooker Dương Hồng Hiếu bị bắt sau khi chỉ trích Thượng
tọa Thích Chân Quang, ngày 26 tháng 4 năm 2024.
https://www.rfa.org/.../facebooker-duong-hong-hieu...
10.
PEN America (2024). Duong Hong Hieu. Hồ sơ về việc bắt giữ người bình luận trên
mạng xã hội liên quan đến các phát biểu phê bình chức sắc Phật giáo.
https://pen.org/writer-at-risk/duong-hong-hieu/
11.
United States Commission on International Religious Freedom (2024).
State-Controlled Religion and Religious Freedom in Vietnam. Báo cáo chuyên đề về
sự kiểm soát của chính quyền đối với các tổ chức tôn giáo, bao gồm GHPGVN.
https://www.uscirf.gov/.../state-controlled-religion-and...
12.
VTC News (2019). Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm: Giáo hội Phật giáo không dung
túng, bao che cho bất kỳ một người tu hành nào, ngày 6 tháng 6 năm 2019.
https://vtcnews.vn/hoa-thuong-thich-bao-nghiem-giao-hoi...
13.
USCIRF (2026). Annual Report 2026, Vietnam Chapter. Báo cáo thường niên về tình
trạng tự do tôn giáo Việt Nam năm 2025.
https://www.uscirf.gov/.../USCIRF%202026%20Annual...
14.
Human Rights Watch (2009). Vietnam: Sharp Backsliding on Religious Freedom. Báo
cáo điều tra vụ cưỡng bức cộng đồng Làng Mai rời tu viện Bát Nhã, ngày 18 tháng
10 năm 2009.
https://www.hrw.org/.../vietnam-sharp-backsliding...
15.
Human Rights Watch (2009). Annex I and II. Phụ lục gồm báo cáo số 418 ngày 6
tháng 10 năm 2009 của Ban Trị sự Phật giáo Lâm Đồng và văn bản số 789 ngày 17
tháng 9 năm 2009 của chính quyền Bảo Lộc.
https://www.hrw.org/news/2009/10/18/annex-i-and-ii
16.
Human Rights Watch (2009). Vietnam: End Attacks on Bat Nha Buddhists, ngày 16
tháng 12 năm 2009.
https://www.hrw.org/.../vietnam-end-attacks-bat-nha...
17.
Phật Tử Việt Nam (2008). Ban Trị sự Phật giáo Lâm Đồng đề xuất bảo lãnh tăng
thân Làng Mai tiếp tục tạm trú tu học tại Bát Nhã. Tài liệu đề cập công văn
212/CV/HĐTS ngày 25 tháng 5 năm 2006.
https://www.phattuvietnam.net/bts-thpg-lam-dong-de-xuat.../
18.
Human Rights Watch (2009). On the Margins: Rights Abuses of Ethnic Khmer in
Vietnam’s Mekong Delta. Báo cáo điều tra vụ cưỡng bức hoàn tục và kết án các
tăng sĩ Khmer tại Sóc Trăng năm 2007.
https://www.hrw.org/.../rights-abuses-ethnic-khmer...
19.
Christian Solidarity Worldwide (2025). Khmer Krom Monk and Activists Receive
Prison Sentences, ngày 19 tháng 11 năm 2025. Hồ sơ Kim Som Rinh, Thạch Nga và
Thạch Xuân Đồng.
https://www.csw.org.uk/2025/11/19/press/6668/article.htm
20.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2024). Giáo hội PGVN thông tin về hiện tượng “Sư
Thích Minh Tuệ”, ngày 16 tháng 5 năm 2024. Công văn 151/HĐTS-VP1.
https://phatgiao.org.vn/giao-hoi-pgvn-thong-tin-ve-hien...
21.
USCIRF (2025). Country Update: Vietnam, tháng 12 năm 2025. Báo cáo cập nhật về
tự do tôn giáo, các cộng đồng độc lập và những trường hợp bị cáo buộc sách nhiễu.
https://www.uscirf.gov/.../2025%20Vietnam%20Country...
22.
Đài Tiếng nói Việt Nam (2014). Giáo hội PGVN tỉnh Hải Dương họp về vụ nhà sư
khoe đập hộp iPhone 6, ngày 30 tháng 9 năm 2014. Trường hợp Thích Thanh Cường.
https://amp.vov.vn/.../giao-hoi-pgvn-tinh-hai-duong-hop...
23.
Radio Free Asia (2019). “Nghề tu”: Trụ trì hơn 10 năm có tài sản hàng trăm tỷ đồng,
ngày 9 tháng 10 năm 2019. Trường hợp Thích Thanh Toàn và tranh chấp tài sản tại
chùa Nga Hoàng.
https://www.rfa.org/.../become-a-billionaire-after...
24.
Dân Trí (2019). Sư thầy bị tố “gạ tình” có được quyền giữ lại khối tài sản
“trăm tỷ”?, ngày 10 tháng 10 năm 2019.
https://dantri.com.vn/.../su-thay-bi-to-ga-tinh-co-duoc...
25. Tuổi
Trẻ (2022). Cựu trụ trì chùa lừa đảo 68 tỷ đồng “xin nhận tử
hình”, tòa tuyên chung thân, ngày 14 tháng 4 năm 2022. Vụ án Phạm Văn Cung, tức
Thích Phước Ngọc.
https://tuoitre.vn/cuu-tru-tri-chua-lua-dao-68-ti-dong...
26. Tuổi
Trẻ (2022). Y án chung thân cựu trụ trì ở Vĩnh Long lừa 68 tỷ đồng,
ngày 29 tháng 11 năm 2022.
https://tuoitre.vn/y-an-chung-than-cuu-tru-tri-o-vinh...
27.
Đài Truyền hình Việt Nam (2019). Chi tiết kết luận của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam về vụ chùa Ba Vàng, ngày 26 tháng 3 năm 2019.
https://vtv.vn/.../chi-tiet-ket-luan-cua-giao-hoi-phat...
28.
Báo Pháp Luật TP.HCM (2019). Vụ chùa Ba Vàng: Dừng ba website
trái phép, ngày 26 tháng 3 năm 2019. Tài liệu ghi nhận các phản ánh về hoạt động
của chùa đã được Ban Trị sự Phật giáo Quảng Ninh báo cáo từ năm 2015.
https://plo.vn/vu-chua-ba-vang-dung-3-website-trai-phep...
29.
Báo Giác Ngộ (2024). Vụ “xá lợi tóc Phật” ở chùa Ba Vàng: Đại đức Thích Trúc
Thái Minh sám hối, bị kỉ luật, ngày 4 tháng 1 năm 2024.
https://giacngo.vn/vu-xa-loi-toc-phat-o-chua-ba-vang-dai...
30.
Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Ninh (2021). Góp ý dự thảo thông tư Bộ Tài chính
liên quan đến quản lí, thu chi tiền công đức. Công văn 35/CV-BTS do Thích Thanh
Quyết ký ngày 28 tháng 5 năm 2021.
https://phatgiaodongnai.org/gop-y-du-thao-thong-tu-bo-tai...
31.
GHPGVN (2024). Trung ương GHPGVN kỷ luật Thượng tọa
Thích Chân Quang, trụ trì Thiền tôn Phật Quang, ngày 19 tháng 6 năm 2024.
https://ghpgvn.vn/trung-uong-ghpgvn-ky-luat-thuong-toa.../
32. Tuổi
Trẻ (2024). Bộ Giáo dục và Đào tạo: Bằng cấp 3 của ông Vương Tấn Việt
không hợp pháp, khẩn trương thu hồi, ngày 21 tháng 10 năm 2024.
https://tuoitre.vn/bo-giao-duc-va-dao-tao-bang-cap-3-cua...
33.
Báo Điện tử Chính phủ (2015). Xử sơ thẩm đối tượng mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề,
ngày 10 tháng 9 năm 2015.
https://baochinhphu.vn/xu-so-tham-doi-tuong-mua-ban-tre...
34.
Báo Giác Ngộ (2026). Ban Từ thiện xã hội Trung ương thực hiện
hoạt động an sinh xã hội, từ thiện trị giá trên 2.161 tỷ đồng, ngày 20
tháng 1 năm 2026.
https://giacngo.vn/ban-tu-thien-xa-hoi-tu-thuc-hien-hoat...
35.
United Nations (1966). International Covenant on Civil and Political Rights.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, đặc biệt Điều 18 về tự do tư
tưởng, lương tâm và tôn giáo.
https://treaties-prod.un.org/pages/ViewDetails.aspx...
36.
United Nations Human Rights Committee (1993). General Comment No. 22, Article
18, Freedom of Thought, Conscience or Religion. Văn kiện giải thích phạm vi bảo
vệ quyền tự do tôn giáo theo Công ước quốc tế.
https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1993/en/13375
37.
Max Weber (1968). On Charisma and Institution Building: Selected Writings. Biên
tập bởi S. N. Eisenstadt. University of Chicago Press. Công trình về quyền uy,
quá trình thể chế hóa và mối quan hệ giữa quyền lực với tổ chức xã hội.
https://www.bibliovault.org/BV.book.epl?ISBN=9780226877242
HÌNH
:
https://www.facebook.com/photo/?fbid=28888226884149997&set=a.187615724637829
No comments:
Post a Comment