Wednesday, 7 October 2026

THẾ GIỚI ĐANG ĐỐI MẶT MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG NGUỒN CUNG LNG NGHIÊM TRỌNG (The Economist)

 



Thế giới đang đối mặt một cuộc khủng hoảng nguồn cung LNG nghiêm trọng

The Economist

Viên Đăng Huy, biên dịch   -    Nghiên Cứu Quốc Tế

08/10/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/10/08/the-gioi-dang-doi-mat-mot-cuoc-khung-hoang-nguon-cung-lng-nghiem-trong/

 

Bốn năm trước, châu Âu đã phải vội vã tìm nguồn thay thế cho 40% lượng khí đốt nhập khẩu sau khi nguồn cung qua các đường ống của Nga bị cắt đứt trong bối cảnh chiến tranh Ukraine. Châu Âu quay sang Qatar, khi đó là nước sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới. “Chúng tôi đã đáng tin cậy suốt hơn 26 năm”, Bộ trưởng Năng lượng của quốc gia vùng Vịnh này, ông Saad al-Kaabi, tự hào tuyên bố khi ấy trong văn phòng dát vàng của mình. “Chúng tôi chưa bao giờ bỏ lỡ một chuyến hàng nào”.

 

Ngày nay, lời khoe khoang ấy nghe thật rỗng tuếch. Vào tháng Ba, sau khi Iran đóng cửa eo biển Hormuz vì bị Mỹ và Israel tấn công, Qatar tuyên bố tình trạng bất khả kháng và thông báo với các khách hàng rằng họ không thể thực hiện hợp đồng. Kể từ đó, nước này chỉ giao được 98 chuyến hàng, ít hơn 536 chuyến so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng thiếu hụt lên tới 39 triệu tấn, tương đương 9% nguồn cung toàn cầu của năm ngoái, và con số này vẫn tiếp tục tăng. Ở mức khoảng 25 USD cho mỗi triệu đơn vị nhiệt Anh (mmBtu), giá LNG tại châu Á hiện cao hơn 140% so với trước chiến tranh.

 

Những người lạc quan, hay bất cứ ai có thể được coi là lạc quan trong hoàn cảnh này, chỉ ra rằng mức giá đó vẫn thấp hơn nhiều so với đỉnh 70 USD vào năm 2022, dù một phần sáu nguồn cung của thế giới hiện đang ngừng hoạt động. Châu Á, nơi trước đây tiếp nhận hơn 80% lượng LNG xuất khẩu của Qatar, đã xoay xở để bảo đảm gần đủ số chuyến hàng mà khu vực này thường cần từ Mỹ, Úc, Malaysia, Nigeria và các nhà sản xuất khác. Lượng LNG nhập khẩu của châu Á từ đầu năm đến nay đạt 193 triệu tấn, chỉ thấp hơn 7 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2025. Các chính trị gia dường như lo lắng về dầu diesel hơn là khí đốt.

 

Nhưng như vậy là quá chủ quan, bởi phép thử thực sự đối với thị trường LNG vẫn còn ở phía trước. Một số bên mua đang trì hoãn mua hàng với hy vọng giá sẽ giảm. Nhiều bên khác lại liều lĩnh đặt cược rằng các nguồn cung LNG mới sẽ giúp họ giảm bớt sự phụ thuộc vào vùng Vịnh. Cả hai canh bạc đều tiềm ẩn rủi ro. Nếu chúng thất bại, điều đó có thể chỉ trở nên rõ ràng khi đã quá muộn.

 

Hãy bắt đầu với ngắn hạn. Mùa hè thường là thời điểm các công ty điện lực châu Âu “tích trữ nhiên liệu cho mùa đông”, theo lời một thương nhân. Điều này giải thích vì sao vào năm 2022, giá khí đốt đạt đỉnh vào tháng Tám. Tuy nhiên, năm nay, các bên mua châu Âu đã để châu Á giành phần lớn các chuyến hàng từ Đại Tây Dương vốn thường được chuyển tới họ. Một số vẫn hy vọng chiến tranh sẽ sớm kết thúc, bất chấp việc một hạm đội khác của Mỹ đang trên đường tiến về vùng Vịnh. Tuy nhiên, phần lớn đang trông cậy vào một mùa đông ôn hòa nhờ El Niño, hiện tượng thời tiết có xu hướng làm tăng nhiệt độ ở châu Âu. Các nhà dự báo cho rằng mùa sưởi ấm sẽ bắt đầu muộn.

 

Rất nhiều điều phụ thuộc vào độ chính xác của các mô hình dự báo. Các kho dự trữ khí đốt của châu Âu hiện mới chỉ đầy 72%, mức thấp nhất từng được ghi nhận vào thời điểm này trong năm, so với mức trung bình 90% trong giai đoạn 2022–2025. Kho dự trữ của Đức hiện chỉ ở mức 57%. Six One Commodities, một công ty kinh doanh năng lượng, đã đưa dữ liệu thời tiết của mười mùa đông vừa qua vào mô hình máy tính để tính xem châu Âu sẽ còn lại bao nhiêu khí đốt vào mùa xuân nếu bắt đầu với mức dự trữ hiện nay. Trong ba mùa đông trong số đó, lượng khí dự trữ sẽ giảm xuống mức thấp đến mức tốc độ rút khí có thể bị chậm lại và các biện pháp khẩn cấp sẽ trở nên cần thiết.

 

Ngày 30/9, chính phủ Đức đã yêu cầu một nhà nhập khẩu thuộc sở hữu nhà nước bảo đảm thêm 8 terawatt-giờ khí đốt, tương đương tám chuyến hàng LNG, trước ngày 15/12. Nhưng Ủy ban châu Âu dường như không vội khôi phục yêu cầu, vốn đã được nới lỏng do chiến tranh, buộc các công ty điện lực phải bổ sung kho dự trữ lên 90% vào tháng Mười một. Nếu làm vậy và các chính phủ ồ ạt tham gia thị trường, họ sẽ phải trả mức giá cao hơn đáng kể. Trong khi đó, giá giao ngay đối với các chuyến hàng giao tức thời hiện cao hơn giá hợp đồng tương lai. Vì vậy, phần lớn các nhà nhập khẩu có rất ít động lực để tích trữ.

 

Nếu thời tiết vẫn ấm và nguồn khí từ Qatar trở lại bình thường vào tháng Mười hai, châu Âu sẽ vượt qua được mùa đông và giá khí đốt sẽ giảm, theo Zhi Xin Chong thuộc S&P Global, một công ty dữ liệu. Nhưng cả hai đều là những “cái nếu” lớn đến mức đáng lo ngại.

 

Các nhà phân tích cho rằng một tháng Mười một lạnh bất ngờ có thể khiến giá tăng vọt lên 30–40 USD/mmBtu khi châu Âu đổ xô tranh giành các chuyến hàng. Nếu thời tiết lạnh kéo dài, cuộc cạnh tranh với châu Á sẽ càng gay gắt. Trong một mùa đông thực sự khắc nghiệt, một cựu quan chức năng lượng Singapore cảnh báo, “có thể sẽ không có mức trần nào cho giá”. Và bất kỳ vấn đề nào khác xảy ra trên hệ thống năng lượng, chẳng hạn các hồ thủy điện cạn nước, các lò phản ứng hạt nhân bất ngờ ngừng hoạt động hay một cuộc tấn công của Nga nhằm vào hạ tầng năng lượng châu Âu, đều có thể đẩy giá lên mức rất cao.

 

Còn Qatar thì sao? Nước này vẫn chưa khởi động lại các nhà máy hóa lỏng, cho thấy họ không tin rằng hòa bình đã cận kề. Nếu nguồn cung từ Qatar không sớm trở lại, châu Âu sẽ cần thêm 20 triệu tấn LNG để bổ sung kho dự trữ trước mùa đông năm sau. Cuộc săn tìm nguồn cung của châu Âu khi đó sẽ đẩy giá lên cao trong suốt năm 2027.

Cuộc khủng hoảng vùng Vịnh đã chấm dứt quan niệm mà phần lớn những người theo dõi thị trường LNG từng tin tưởng trước chiến tranh, rằng thị trường toàn cầu sẽ chuyển sang tình trạng dư cung vào năm 2026. Tuy vậy, nhiều dự án LNG mới vốn là cơ sở cho dự báo này vẫn đang đi đúng tiến độ. Thật nghịch lý, cuộc khủng hoảng hiện nay càng nghiêm trọng thì khả năng xuất hiện tình trạng dư cung sau này càng lớn, theo Aimie Parpia của Six One Commodities.

 

Những dấu hiệu của một đợt dư cung khổng lồ trong tương lai đã xuất hiện tại Gastech, hội nghị thường niên của ngành diễn ra vào tháng trước ở Bangkok. Trong bốn ngày, một loạt nhà xuất khẩu hàng đầu, từ các nhà phát triển dự án và những tập đoàn năng lượng lớn đến các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ, đã giới thiệu các dự án mới bằng những bức tường màn hình và các mô hình tàu chở khí. Các thương nhân đi lại khắp sàn triển lãm để chốt các chuyến hàng trong tương lai. Các nhà sản xuất thiết bị lấp đầy sổ đơn hàng bằng những đơn đặt mua từ khách hàng ở xa. Các nhà nhập khẩu đang vội vã tìm kiếm những hợp đồng mới ngay lúc này, rồi mới lo đến nguy cơ mua quá nhiều sau này. Khẩu hiệu chung là “đa dạng hóa”.

 

Kỳ vọng về tình trạng biến động giá kéo dài đã khiến các nhà phát triển mạnh dạn hơn trong việc tiếp tục triển khai những nguồn cung mới mà vào đầu năm nay còn có vẻ kém chắc chắn hơn, theo Massimo Di Odoardo của Wood Mackenzie, một công ty tư vấn. Riêng công suất hóa lỏng của Mỹ dự kiến sẽ gần gấp đôi vào năm 2030. Công suất của Canada cũng sẽ tăng mạnh. Sự xuất hiện của các tổ hợp hóa lỏng nhỏ hơn theo mô-đun đang mở ra khả năng khai thác các mỏ khí ở những quốc gia từ Argentina đến Senegal, nơi trước đây thiếu hạ tầng cần thiết để triển khai các dự án LNG.

 

Tổng cộng, các dự án mới có thể nâng nguồn cung toàn cầu hằng năm lên tới 630 triệu tấn vào năm 2030, tăng gần 60% so với năm ngoái. Đồng thời, nhu cầu dự kiến sẽ tăng chậm hơn so với các dự báo trước chiến tranh. Một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, đã hủy kế hoạch xây dựng các cảng nhập khẩu mới vì lo ngại một cuộc khủng hoảng địa chính trị khác có thể khiến họ rơi vào thế bị động. Nhiều nước đang khởi động lại các nhà máy nhiệt điện than, mở những gói thầu năng lượng tái tạo đầy tham vọng và xem xét lại điện hạt nhân. Rystad Energy, một công ty tư vấn khác, dự báo nhu cầu hằng năm sẽ đạt 574 triệu tấn vào cuối thập kỷ, giảm so với mức dự báo 583 triệu tấn trước chiến tranh.

 

Nếu Qatar khôi phục sản xuất hết công suất và tất cả các dự án đã lên kế hoạch đều đi vào hoạt động, thị trường sẽ xuất hiện khoảng chênh lệch 55–75 triệu tấn giữa cung và cầu. Khi đó, để cân bằng thị trường, sẽ phải có bên sản xuất dưới công suất, bên mua vượt quá nhu cầu, hoặc cả hai. Dù theo cách nào, giá LNG cũng có thể giảm xuống dưới 6 USD/mmBtu, theo các nhà phân tích. Mức giá đó thấp hơn chi phí xuất khẩu theo phần lớn các hợp đồng dài hạn.

 

Để phòng ngừa vài năm đầy biến động phía trước, cả bên mua lẫn bên bán đang theo đuổi “tính linh hoạt trong lựa chọn”. Các công ty điện lực lớn như JERA của Nhật Bản và Uniper của Đức đang tuyển thêm nhân sự kinh doanh, kho chứa và các đơn vị tái hóa khí để có thể giữ lại lượng hàng mua dư rồi bán lại khi giá phù hợp. Các nhà phát triển dự án, muốn giữ lại nhiều hơn phần lợi nhuận, đang loại bỏ các khâu trung gian và lập các bộ phận giao dịch của riêng mình. Các tập đoàn dầu khí lớn thì ký hết hợp đồng này đến hợp đồng khác để trở thành nhà cung cấp duy nhất cho những khách hàng nhỏ hơn.

 

Kết quả có thể là vô số thương nhân bán hàng cho nhau, hoặc bán cho những người dùng cuối vốn đã được cung cấp đầy đủ. Một số sẽ phải ôm lượng hàng không bán được và chịu những khoản lỗ ngày càng lớn. Các nhà cung cấp vốn khi đó có thể trở nên quá thận trọng. Những hậu quả trước mắt của cuộc khủng hoảng khí đốt đã đủ tồi tệ. Các tác động dây chuyền của nó có thể khiến thị trường mất cân bằng trong nhiều năm tới.

 

-------------------------------

Nguồn: “The world is facing an almighty LNG crunch”, The Economist, 04/10/2026








No comments:

Post a Comment

View My Stats