Được đăng ngày Thứ hai, 25 Tháng 2 2013 14:30
LTS: Nhân
dịp thảo luân về hiến pháp, chúng tôi đăng lại sau đây một chương trong cuốn Tổ
Quốc Ăn Năn của ông Nguyễn Gia Kiểng về việc soạn thảo hiến pháp.
*
Nước ta chỉ mới tạm gọi là giành được độc
lập từ sau thế chiến II, mà đã có khá nhiều hiến pháp. Phe cộng sản có bốn hiến
pháp : hiến pháp 1946, hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992. Phe
quốc gia dù chỉ tồn tại chưa đầy 30 năm cũng đã có hai bản hiến pháp 1956 và
1967. Đó là chưa kể những bản tuyên ngôn, hiến ước, hiến chương được dùng như
những hiến pháp tạm thời. Nếu so với nhiều quốc gia khác như Mỹ chỉ có một hiến
pháp từ thời lập quốc, Đức và Nhật chỉ có một hiến pháp từ 1945, hoặc Anh chẳng
có một hiến pháp thành văn nào thì chúng ta quả là giữ một kỷ lục về số lượng
hiến pháp. Thú thực, tôi không biết có một dân tộc nào trên thế giới có một
lượng hiến pháp bằng nước ta trong cùng một giai đoạn không. Tôi chắc là không.
Tuy vậy số lượng hiến pháp không hề chứng
tỏ người Việt Nam chúng ta trăn trở về hiến pháp, luôn luôn dằn vặt suy nghĩ
tìm cách thay đổi cho phù hợp hơn, trái lại nó còn chứng tỏ người Việt Nam
không có một quan điểm đúng đắn về hiến pháp. Đặc tính chung của tất cả mọi bản
hiến pháp đã có là chúng đều đã được soạn thảo một cách vội vã và kín đáo, được
thông qua hầu như không tranh cãi và được ban hành trước sự dửng dưng của dân
chúng.
Đảng cộng sản hiển nhiên là coi hiến pháp
là của người cầm quyền. Hiến pháp là văn kiện tổ chức nhà nước, mà nhà nước
theo triết học Mác-Lênin chỉ giản dị là công cụ đàn áp của kẻ thống trị. Lời
nói đầu của hiến pháp 1992 gồm 530 chữ trong đó có 53 chữ, nghĩa là đúng 10%,
được dành cho "hơn bốn ngàn năm lịch sử" của Việt Nam, phần còn lại
chỉ nói về đảng cộng sản. Chưa đủ, lời nói đầu, phần long trọng nhất của hiến
pháp, còn qui chiếu về cương lĩnh chính trị của đại hội lần thứ sáu của đảng
cộng sản, một văn kiện chỉ có giá trị giai đoạn ngay cả với đảng cộng sản. Bản
chất của hiến pháp như là một công cụ đàn áp được thể hiện rõ ràng qua những
điều đầy tính hăm dọa, thí dụ như điều 13.
Thế còn những người Việt Nam nói chung?
Phần đông chúng ta cũng có một quan niệm rất sai lầm về hiến pháp. Hình như đối
với chúng ta hiến pháp chỉ là một văn kiện tổ chức chính quyền có tính chuyên
môn và thuộc thẩm quyền của các luật sư. Ngược lại, phần lớn các luật sư cũng
tự coi là có thẩm quyền để nói về hiến pháp hơn người khác, mà không hiểu tại
sao.
Trí thức trung niên và cao niên của ta thừa
hưởng văn hóa Pháp, từ đó, một cách phiến diện, coi hiến pháp nằm trong phạm vi
luật học, một lẫn lộn mà chính các học giả Pháp cũng đã nhìn nhận. Thực ra hiến
pháp tuy là luật căn bản của quốc gia và là cội nguồn của luật pháp nhưng không
nằm trong phạm vi luật học mà thuộc phạm vi văn hóa, chính trị và xã hội. Một
luật sư dù có khả năng biện hộ tài tình những vụ kiện cáo nhà đất và ly dị vẫn
có thể không có tư cách gì để bàn về hiến pháp. Luật phải qui chiếu vào hiến
pháp nhưng hiến pháp không thuộc phạm vi của luật học. Các chuyên gia về hiến
pháp của Pháp cũng đã nhận ra sự mập mờ của cụm từ "droit
constitutionnel" được dịch sang tiếng Việt là "luật hiến pháp"
và càng ngày càng dùng cụm từ "định chế chính trị" [institutions
politiques] nhiều hơn. Cụm từ này tuy đúng nghĩa hơn nhiều, nhưng cũng chưa
đúng hẳn.
Vậy thì hiến pháp là gì?
Nó đúng là văn kiện qui định những định chế
chính trị, nhưng đồng thời nó cũng đặt nguyên tắc, nếu không qui định một cách
rõ rệt, cho tương quan giữa các thành tố của xã hội, cũng như cho nhiều định
chế văn hóa, xã hội khác cần thiết cho sự sống và tiến hóa của cộng đồng quốc
gia. Như vậy, muốn nói tới hiến pháp, trước hết phải có một quan niệm về quốc
gia đã. Trong một chương trước chúng ta nhận định quốc gia như không gian liên
đới của một dân tộc để cho phép họ sống chung và xây dựng với nhau một tương
lai chung. Như vậy hiến pháp phải là một thỏa ước về một hiện tại và một tương
lai. Trong hiện tại chúng ta đang thừa hưởng di sản nào, đang có những vấn đề
nào và phải tổ chức cộng đồng quốc gia như thế nào cho phù hợp? Chúng ta đang
đứng trước những nguy cơ nào và phải tổ chức như thế nào để ngăn ngừa? Và với
tất cả khả năng và tiềm năng của chúng ta, chúng ta muốn một tương lai như thế
nào và phải tổ chức cố gắng chung như thế nào để đạt tới?
Tất cả những câu hỏi đó hiến pháp phải trả
lời và những người có thẩm quyền để đề nghị những câu trả lời là những người đã
trải qua nhiều trăn trở và suy tư về đất nước và có đủ sự hiểu biết để có thể
đưa ra những kết luận. Đó là những nhà chính trị, những nhà xã hội học, những
nhà tư tưởng với những đóng góp của các chuyên gia mọi ngành, trong đó luật học
chỉ là một.
Vì là một qui ước sống chung và làm việc
chung, hiến pháp phải có sức thuyết phục, nghĩa là vừa phải hợp lý vừa phải hợp
tình để được mọi người, ngay cả những người không đồng ý, nhìn nhận tính chính
đáng, lương thiện và thành khẩn. Nó cũng phải có khả năng động viên và thôi
thúc, nghĩa là cũng phải có giá trị của một lời kêu gọi.
Hiến pháp có thực sự cần thiết không?
Câu hỏi có vẻ khiêu khích nhưng câu trả lời
là không. Vai trò của nó là phát biểu một đồng thuận sống chung và theo đuổi
những mục đích chung, nếu đồng thuận đã rõ ràng thì hiến pháp không cần thiết,
quốc gia có thể sinh hoạt chỉ bằng những đạo luật đặc biệt. Nước Anh không có
hiến pháp mà vẫn là một quốc gia rất phồn vinh. Không cần thiết trên nguyên tắc
nhưng hiến pháp có lợi về mặt thực tiễn bởi vì nó vạch ra một tinh thần chỉ đạo
cho các đạo luật. Trong trường hợp Việt Nam, giữa lúc lòng người hoang mang và
phân tán, chúng ta cần một hiến pháp để làm một căn bản đồng thuận, nhưng với
điều kiện là hiến pháp đó thực sự là kết quả của một cố gắng tìm đồng thuận dân
tộc.
Hiến pháp có cần ổn vững không?
Câu trả lời là chắc chắn cần. Thay đổi hiến
pháp là thay đổi luật chơi cơ bản nhất của xã hội, có thể gây xáo trộn trong
sinh hoạt quốc gia và làm đổ vỡ nhiều dự án. Kinh nghiệm đã cho thấy một hiến
pháp dân chủ ổn vững là điều kiện không có không được cho phát triển, bởi vì có
như thế người dân mới yên tâm làm những dự định cho tương lai. Cần nhấn mạnh
cụm từ “hiến pháp dân chủ ổn vững” bởi vì nếu hiến pháp chỉ là sự áp đặt của kẻ
thắng, nhất là lại chứa đựng những qui định khiêu khích thì, ngược lại, càng
kéo dài bao lâu nó càng gây tác hại và làm rạn nứt dân tộc bấy nhiêu.
Sự ổn vững của hiến pháp rất cần thiết, cho
nên ưu tư lớn nhất của người soạn thảo hiến pháp phải là làm thế nào để nếu một
lực lượng khác lên cầm quyền họ cũng không có lý do để đổi hiến pháp. Việc một
lực lượng chính trị cầm quyền áp đặt hiến pháp theo ý mình vừa là một thái độ
xấc xược vừa chứng tỏ sự thấp kém của những người không có tham vọng để lại dấu
ấn lâu dài. Quan sát các quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể thấy là hầu
như có một định luật là các nước càng ít thay đổi hiến pháp thì càng phát
triển, càng nhiều hiến pháp bao nhiêu thì càng trì trệ bấy nhiêu. Sự phồn vinh
tỷ lệ nghịch với số lượng hiến pháp được ban hành.
Nhưng ổn vững không có nghĩa là bất động.
Hiến pháp phải đáp ứng những yêu cầu lớn của giai đoạn và do đó cũng phải có
khả năng thích nghi với thời đại. Không nên tu chỉnh hiến pháp một cách tùy
tiện, nhưng ngược lại cũng không nên khóa chặt cánh cửa đối với những tu chỉnh
cần thiết, và càng không nên đưa vào hiến pháp những gì chỉ có giá trị nhất
thời và vì thế có thể qui định bằng một đạo luật thường. Một trường hợp điển
hình là hiến pháp Bồ Đào Nha [Portugal] ban hành năm 1976. Vào lúc đó Portugal
vừa trải qua ba mươi năm dưới chế đô độc tài Salazar, quan tâm chính của các
nhà lập pháp Portugal là làm thế nào ngăn chặn mọi khả năng trở lại của một chế
độ độc tài. Họ đã chọn chế độ đại nghị, đó là một chọn lựa đúng. Họ cũng chọn
cách bầu cử quốc hội theo lối bầu tỷ lệ. Quả nhiên lối bầu theo tỷ lệ là thể
thức bầu cử dân chủ và đa nguyên nhất. Nhưng họ đã làm một sai lầm lớn do nhiệt
tình quá đáng là ghi ngay vào hiến pháp một điều khoản cấm thay đổi cách đầu
phiếu này (và dĩ nhiên cả điều khoản cấm thay đổi). Ngày nay chính giới
Portugal nhận ra sự bất lợi của lối bầu cử theo tỷ lệ nhưng không thay đổi
được. Nước Portugal vì vậy luôn luôn bị đặt trước nguy cơ là không có nổi một
đa số gắn bó trong quốc hội, và do đó một chính phủ đủ vững mạnh, để lấy những
quyết định quan trọng.
Hiến pháp có phải là đặc biệt cho một quốc gia không?
Câu trả lời là vừa có vừa không.
Có, bởi vì mỗi dân tộc có một di sản văn
hóa riêng với những cái hay và những cái dở và một lịch sử riêng với những yếu
tố tích cực và những yếu tố tiêu cực. Do đó mỗi dân tộc có những vấn đề trọng
đại riêng phải giải quyết. Hiến pháp phản ánh đặc thù dân tộc.
Không, bởi vì quốc gia nào cũng phải hội
nhập vào đà tiến chung của thế giới và vì thế không thể phủ nhận luật pháp quốc
tế và các giá trị phổ cập của loài người. Nhiều quốc gia đã long trọng xác nhận
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế NhânQuyền và các công ước đính kèm như là thành
phần của hiến pháp của mình. Đó là một chọn lựa rất đúng đắn.
Chúng ta có cần một hiến pháp mới cho Việt Nam không?
Câu trả lời không hiển nhiên như nhiều
người có thể nghĩ. Cho tới nay có một sự kiện khá ngộ nghĩnh. Phần lớn các thành
phần đối lập, kể cả các tổ chức chống cộng hải ngoại từng chủ trương kháng
chiến võ trang, đều lên tiếng đòi bỏ điều 4 (điều qui định đảng cộng sản là lực
lượng lãnh đạo xã hội và nhà nước). Chỉ có thế thôi sao? Thế còn điều 9, điều
13, điều 30, điều 45, v.v...? Và còn danh xưng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam? Và lời nói đầu dành 90% để nói về công đức của đảng cộng sản? Chỉ đòi bỏ
điều 4 là một thái độ quá khiêm tốn, ngay cả cho một giai đoạn chuyển tiếp về
dân chủ vì còn rất nhiều điều khoản khác cũng quá khích không kém và nếu được
duy trì sẽ có thể bẻ gãy tiến trình dân chủ hóa. Thí dụ như điều 45 qui định
quân đội phải bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Quí vị trong một chính phủ chuyển tiếp
(giả thử như sẽ có) phải coi chừng, quí vị có thể bị quân đội đảo chính một
cách rất hợp hiến ! Sự kiện điệp khúc "bỏ điều 4" được lặp đi lặp lại
trong các nghị quyết, kháng thư, tuyên ngôn... chứng tỏ phần lớn các tổ chức
không quan tâm đến hiến pháp và không đọc hiến pháp, như đại đa số người Việt
Nam từ trước đến nay.
Để chuyển hóa về dân chủ thì ngay giai đoạn
chuyển tiếp, không phải chỉ một điều 4, mà còn nhiều điều khác cần được vô hiệu
hóa. Công việc sẽ quá phức tạp vì phải rà soát lại toàn bộ hiến pháp? Không hẳn
như vậy, chúng ta có thể chỉ cần một nghị quyết, do quốc hội đương hành biểu
quyết hoặc do một trưng cầu dân ý, tuyên bố vô hiệu hóa mọi qui chiếu của hiến
pháp về bất cứ một tổ chức, một chủ nghĩa hay một nhân vật nào. Tất cả vấn đề
là thiện chí, nếu thực sự có ý chí dân chủ hóa thì không có vấn đề nào không
giải quyết được.
Rồi sau đó? Chúng ta có thể đồng ý soạn
thảo lại một bản hiến pháp mới hoặc sửa đổi hiến pháp hiện thời. Nhưng dù chọn
giải pháp tu chính đi nữa thì cũng phải thay lời nói đầu, sửa đổi các điều
khoản nói về đảng cộng sản, chủ nghĩa Mác-Lênin, Mặt Trận Tổ Quốc, Đoàn Thanh
Niên Cộng Sản, và nhiều điều khoản về tổ chức nhà nước, v.v... Nói khác đi, dù
là tu chính đi nữa, trên thực tế vẫn là một hiến pháp hoàn toàn mới về nội
dung.
Chúng ta sẽ cho hiến pháp này nội dung nào?
Như đã nói, hiến pháp phải đáp ứng những
đòi hỏi trọng đại của hiện tại và cũng phải phù hợp với xã hội tương lai mà
chúng ta muốn đạt tới. Trong hiện tại ["hiện tại" có nghĩa là khi chế
độ dân chủ chính thức được thành lập], ba ưu tư chính của chúng ta là bảo đảm một
bối cảnh chính trị ổn vững, ngăn chặn sự trở lại của một chế độ độc tài dưới
bất cứ hình thức nào và thực hiện hòa giải dân tộc. Trong tương lai, chúng ta
muốn một nước Việt Nam hội nhập vào đà tiến chung của thế giới, một nước Việt
Nam phát triển nhanh để bắt kịp sự chậm trễ so với các nước khác, một nước Việt
Nam ngày càng thống nhất trong lòng người, một nước Việt Nam tản quyền để cho
phép mỗi vùng được quản lý một cách phù hợp với điều kiện riêng của mình và
phát huy được tối đa các ưu điểm của mình. Chúng ta cũng muốn một xã hội đa
nguyên trong đó mọi sắc tộc và mọi tín ngưỡng được thỏa mãn những khát vọng
chính đáng.
Nếu những mục tiêu trên được chấp nhận thì
một cách thực tế hiến pháp tương lai có thể gồm :
1. Một lời nói đầu, được coi là có giá trị
pháp lý cao nhất, trong đó các mục tiêu trên được nêu ra, với ít nhất những
khẳng định sau đây :
- Việt Nam coi bản tuyên ngôn quốc tế nhân
quyền và mọi công ước liên hệ, cùng với những tu chính sau này của chúng, là
thành phần tạo thành và khắng khít của hiến pháp Việt Nam (khẳng định này nhắm
mục đích cho phép Việt Nam đi cùng nhịp với tiến bộ của thế giới).
- Trong nước Việt Nam không có những ý kiến
cấm nêu ra và cũng không có những đề tài cấm bàn đến (khẳng định này lấy tự do
và sáng kiến làm sức mạnh dựng nước).
- Xã hội Việt Nam được xây dựng trên tinh
thần hòa giải và hòa hợp dân tộc (hòa giải và hòa hợp không những là nhu cầu
cấp bách của đất nước hiện nay mà còn là một triết lý chính trị mới trên thế
giới).
2. Các điều khoản về quyền lợi và nghĩa vụ
công dân. Các điều khoản này không cần đi vào chi tiết vì những quyền công dân
phần lớn đã nằm trong bản TuyênNgôn Quốc Tế Nhân Quyền và các công ước liên
hệ, mặt khác nên theo tinh thần thực nghiệm, nghĩa là bổ túc dần dần hiến
pháp, biến hiến pháp thành một suy tư thường trực trong quốc gia.
3. Các điều khoản về tổ chức nhà nước,
trong đó qui định :
- Lãnh thổ Việt Nam thống nhất trong sự kết
hợp các vùng. Chính quyền trung ương giữ độc quyền về quốc phòng, ngoại giao và
tiền tệ. Mỗi vùng được có chính quyền riêng do dân chúng bầu ra. Các chính
quyền vùng không được có quân đội và tiền tệ riêng, không được ký kết những
hiệp ước với nước ngoài và với các vùng khác, không được làm chủ các cơ sở có
mục đích kinh doanh. Chi tiết về biên giới các vùng và cách tổ chức chính quyền
vùng sẽ do một đạo luật riêng do quốc hội biểu quyết.
- Chính quyền trung ương gồm một quốc hội
trong đó không dưới 80% đại biểu được bầu theo thể thức đơn danh và một vòng,
phần còn lại bầu theo tỷ lệ, một thượng viện mà vai trò chính là đại diện cho
các vùng, trong đó mỗi vùng có một số thượng nghị sĩ bằng nhau; một tổng thống,
hay chủ tịch nước, do quốc hội và thượng viện bầu ra với vai trò chủ trì những
nghi lễ và bảo đảm sự liên tục, ổn vững và đoàn kết quốc gia; một chính phủ gồm
một thủ tướng do quốc hội bầu ra và những bộ trưởng do thủ tướng chỉ định; và
một tòa án tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến của các đạo luật do quốc
hội biểu quyết và các nghị định của chính phủ, trọng tài các tranh tụng giữa
những cơ quan quyền lực, xét xử các cấp lãnh đạo cấp cao, và xét lại các phán
quyết của các tòa án trung ương cũng như địa phương.
- Mỗi vùng sẽ có một nghị viện riêng và một
chính quyền vùng do nghị viện vùng bầu ra và chịu trách nhiệm trước nghị viện
vùng.
- Các chính đảng được nhìn nhận là có vai
trò quan trọng trong sinh hoạt quốc gia và được tài trợ theo luật pháp.
4. Một số điều khoản đặc biệt có mục đích
nhấn mạnh mục tiêu dài hạn của quốc gia để thu hút sự chú ý của dân chúng, thí
dụ như qui định chức năng của Việt Nam là một nước thương mại, công nghiệp và
du lịch; Việt Nam vận động mọi cố gắng để chung sống trong tinh thần hữu nghị
và hợp tác với các quốc gia khác, đóng góp củng cố hòa bình trong vùng và trên
thế giới; trách nhiệm đặc biệt trọng đại của mọi công dân Việt Nam là gìn giữ
và không ngừng cải thiện môi trường sinh sống, không khí, cây rừng, bờ biển,
lãnh hải và thềm lục địa.
Hiến pháp chỉ dừng lại ở những nguyên tắc
và tinh thần chỉ đạo; những chi tiết cụ thể, có thể rất quan trọng, như việc
qui định các đơn vị bầu cử, tổ chức chính quyền địa phương, số lượng và thể
thức chỉ định các thẩm phán tòa án tối cao, số lượng và thể thức bầu cử các
thượng nghị sĩ, v.v... do các đạo luật đặc biệt.
Về mặt kỹ thuật, hiến pháp chỉ có một bó
buộc chính là đừng có mâu thuẫn giữa các điều khoản. Điều này các luật gia có
thể đóng góp, nhưng thực ra chỉ đòi hỏi ở người soạn thảo một khả năng lô-gích
vừa phải.
Một lời sau cùng về hiến pháp: hiến pháp là
hợp đồng về một dự án sống chung và xây dựng một tương lai chung; dự án ấy có
thể đòi hỏi nhiều suy tư trong nhiều năm của rất nhiều người, nhưng một khi
chúng ta đã biết mình muốn gì, cho mình và cho con cháu, việc soạn thảo thành
văn bản có thể chỉ đòi hỏi vài ngày.
Nguyễn Gia Kiểng
(trích Tổ Quốc Ăn Năn)
(trích Tổ Quốc Ăn Năn)
phun may tan bot
ReplyDeletephun mày tán bột ở đâu đẹp
phun may tan bot o dau dep
điêu khắc lông mày ở đâu đẹp
dieu khac long may o dau dep
dieu khac chan may quan 3
điêu khắc chân mày quận 3
điêu khắc chân mày tphcm
dieu khac chan may tphcm
dieu khac chan may