Những
ngày bận rộn của ông Tô Lâm ở New York: Đối tác cũ, cựu thù mới
Hoàng Trường
24/09/2026
Lịch
sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những
lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền
lực. Những ngày qua, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều
đó. Một Tô Lâm có những ngày rất bận rộn ở New York. Một cường quốc có thể nghe
rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch
định chiến lược theo những gì họ quan sát được từ hành vi của chính quyền ấy và
từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.
***
Tổng
Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, gặp Đại
diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao, các
nghị sĩ Mỹ, giới doanh nghiệp, học giả, bạn bè Mỹ và cộng đồng người Việt. Ông
trả lời Bloomberg, phát biểu tại Foreign Policy Association và dành khá nhiều
thời gian nói về tương lai quan hệ Việt–Mỹ. Một hội nghị doanh nghiệp cũng được
chuẩn bị với hàng loạt thỏa thuận trong năng lượng, hàng không, công nghệ và
tài chính; theo Reuters, danh mục dự kiến có thể lên tới 29 thỏa thuận…
Đúng
là một chương trình “đặc quánh”! Nhưng chính giữa sự bận rộn ấy lại nổi lên một
khoảng trống: dường như không có cuộc hội đàm song phương chính thức nào giữa Tổng
thống Donald Trump và Tổng Bí thư Tô Lâm trong chặng New York vừa qua. Một cái
bắt tay, một câu chào hỏi hay vài phút trao đổi bên hành lang Đại hội đồng Liên
Hợp Quốc — nếu có — không phải điều bài viết này muốn nói tới. Ngoại giao
nguyên thủ phân biệt rất rõ một cuộc gặp xã giao với một cuộc hội đàm có chương
trình nghị sự, thành phần hai đoàn và nội dung chính thức.
Khoảng
trống ấy đáng chú ý hơn bởi Việt Nam và Hoa Kỳ đã là “Đối tác Chiến lược Toàn
diện” (CSP) từ năm 2023. Phải chăng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý mới của
quan hệ Việt–Mỹ: danh xưng “đối tác” đã lên rất cao, nhưng khoảng cách chiến lược
giữa hai nước chưa chắc đã thu hẹp với cùng tốc độ?
Một
lần vào Nhà Trắng, nhưng chuyến thăm vẫn chưa thành
Cần
nói ngay một chi tiết để tránh cường điệu hóa. Tô Lâm không phải chưa từng được
Donald Trump tiếp tại Nhà Trắng. Ngày 20/2/2026, nhân dịp sang Washington dự
phiên khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, ông đã gặp Trump tại Nhà Trắng.
Reuters gọi đây là cuộc gặp chính thức trực tiếp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo;
dịp đó cũng gắn với những hợp đồng thương mại lớn, trong đó có việc các hãng
hàng không Việt Nam mua máy bay Boeing.
Nhưng
được mời tới một sự kiện đa phương rồi có cuộc gặp với chủ nhà là một chuyện; một
chuyến thăm song phương chính thức mà quan hệ Việt–Mỹ trở thành trung tâm của
chương trình nghị sự lại là chuyện khác. Điều thứ hai ấy cho đến nay vẫn chưa xảy
ra. Câu hỏi đáng đặt ra sau những ngày New York không nên giản lược thành: “Tại
sao Trump không chịu tiếp Tô Lâm?” Donald Trump nổi tiếng có thể thay đổi thái
độ rất nhanh, trong khi chính sách của một cường quốc không chỉ được quyết định
bởi tâm trạng của một tổng thống.
Đằng
sau Nhà Trắng còn có Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, Bộ Thương mại, USTR, Quốc hội,
cộng đồng tình báo và cả một hệ thống hoạch định chiến lược. Họ không nhìn Việt
Nam chỉ qua những tuyên bố hữu nghị. Họ còn nhìn vào thương mại, an ninh, chuỗi
cung ứng, Biển Đông và quan hệ Việt–Trung. Nói cách khác, câu hỏi lớn hơn không
phải Trump có dành cho Tô Lâm một ô trong lịch làm việc hay không, mà là Việt
Nam thực sự đứng ở đâu trong cấu trúc quyền lực đang hình thành tại Ấn Độ
Dương–Thái Bình Dương?
Tiếng
vọng xa xăm từ năm 1945
Gần
tám thập niên trước, trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng từng đặt nhiều hy vọng vào Washington. Trong năm 1945 và đầu năm 1946, ông
nhiều lần gửi thư, điện và thông điệp tới Tổng thống Harry Truman và các quan
chức Hoa Kỳ, tìm kiếm sự quan tâm và hậu thuẫn của Washington đối với nền độc lập
của Việt Nam. Hồ sơ ngoại giao Hoa Kỳ còn lưu lại những văn kiện ấy, nhưng
Washington đã không đáp lại theo cách Hồ Chí Minh mong muốn.
Không
nên giải thích sự lựa chọn của Mỹ lúc ấy bằng một nguyên nhân duy nhất. Hoa Kỳ
hậu Thế chiến II phải tính tới nước Pháp, việc tái thiết châu Âu, Liên Xô,
Trung Quốc, sự hình thành của Chiến tranh Lạnh và vị trí ngày càng quan trọng của
phong trào cộng sản quốc tế. Washington không chỉ đọc những gì Hồ Chí Minh viết
về mình; họ còn nhìn vào lực lượng ông lãnh đạo, lịch sử chính trị của nó và những
liên hệ quốc tế của phong trào cộng sản Việt Nam.
Đảng
Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11/1945, nhưng một thay đổi về
hình thức tổ chức không tự động xóa đi những câu hỏi của người Mỹ về căn cước
chính trị và định hướng lâu dài của Việt Minh. Những lá thư gửi Truman cũng
không đủ sức khiến Washington ngừng đặt Việt Nam vào bàn cờ lớn hơn đang hình
thành sau Thế chiến II.
Năm
2026 tất nhiên không phải năm 1945. Tô Lâm không phải Hồ Chí Minh và Donald
Trump càng không phải Harry Truman. Nhưng giữa hai thời điểm cách nhau hơn tám
mươi năm vẫn có một điểm tương đồng đáng suy nghĩ: Washington nghe những gì Hà
Nội nói về mình, nhưng đồng thời nhìn những gì Hà Nội làm và những quan hệ mà
Hà Nội thực sự duy trì. Ngày trước, phía sau câu chuyện Việt Nam là Liên Xô,
Trung Quốc và phong trào cộng sản quốc tế; ngày nay, câu hỏi chiến lược lại trở
về với một l nguyền quen thuộc: Trung Quốc.
Washington
không chỉ nghe, Washington còn kiểm tra
Điều
ấy hiện lên khá rõ trong cuộc gặp giữa Tô Lâm và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
Jamieson Greer tại New York. Tô Lâm khẳng định Việt Nam không chấp nhận việc
hàng hóa Trung Quốc được chuyển tải qua Việt Nam để né thuế Hoa Kỳ, đồng thời
nói về việc tăng nhập khẩu hàng Mỹ và thúc đẩy nhanh một thỏa thuận thương mại.
Greer cho biết đàm phán đã đạt tiến triển đáng kể và hai bên đang tiến gần tới
kết quả cuối cùng.
Nhưng
Washington không chỉ nghe những lời bảo đảm ấy. Tháng 7/2026, theo Bloomberg được
Reuters dẫn lại, các quan chức Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ đã tiến hành những
cuộc kiểm tra không báo trước tại một số nhà máy ở Việt Nam có liên hệ với
Trung Quốc. Họ kiểm tra chứng từ, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất nhằm
xác định phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam trước khi hàng hóa được
xuất sang Hoa Kỳ. Reuters khi đó thận trọng lưu ý họ chưa thể kiểm chứng độc lập
toàn bộ thông tin và chưa có cơ sở để biến những cuộc kiểm tra này thành kết luận
bao quát rằng hàng Trung Quốc đang bất hợp pháp tràn qua Việt Nam.
Chính
sự thận trọng ấy lại giúp nhìn đúng bản chất vấn đề. Washington không cần tranh
luận bằng khẩu hiệu xem một món hàng là “Việt Nam” hay “Trung Quốc”; họ kiểm
tra hóa đơn, nguyên liệu, nhà máy, tỷ lệ giá trị gia tăng và chuỗi cung ứng. Cuối
tháng 7, Mỹ và Việt Nam còn phải tổ chức riêng một chương trình hợp tác nhằm chống
chuyển tải bất hợp pháp và gian lận thương mại. Chuyện hàng Trung Quốc đi vòng
qua Việt Nam vì thế không còn chỉ là một lời cáo buộc trên báo chí; nó đã trở
thành một hồ sơ chính thức trong quan hệ thương mại hai nước.
Bởi
vậy, vấn đề không phải Washington có “tin” Tô Lâm hay không. Một cường quốc
không hoạch định chính sách chỉ trên lời bảo đảm của một nhà lãnh đạo. Nó đối
chiếu lời nói ấy với thương mại, dòng vốn, hải quan, chuỗi cung ứng, quan hệ
quân sự, những cam kết chính trị và toàn bộ cấu trúc liên kết của quốc gia đó.
Đây cũng là điểm mà phép đối chiếu 1945–2026 trở nên đáng suy nghĩ nhất: tám
mươi năm trước Washington không chỉ đọc thư Hồ Chí Minh; tám mươi năm sau họ
cũng không chỉ nghe những gì Tô Lâm nói ở New York.
“Con
voi trong phòng” có mặt khắp nơi
Nghịch
lý sâu hơn nằm ở chỗ Trung Quốc không ngồi cạnh Jamieson Greer trong cuộc gặp với
Tô Lâm, nhưng Trung Quốc vẫn hiện diện trong chính nội dung cuộc gặp ấy: từ
chuyển tải hàng hóa, xuất xứ sản phẩm đến chuỗi cung ứng và thặng dư thương mại.
Xa hơn kinh tế là tầng quan hệ cùng “chia sẻ tương lai” giữa Hà Nội và Bắc
Kinh.
Tháng
4/2026, trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tô Lâm tới Trung Quốc, hai nước ra
tuyên bố chung tiếp tục làm sâu sắc “Quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”
và thúc đẩy xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam–Trung Quốc có ý
nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn trong kỷ nguyên mới”. Đó không phải ngôn
ngữ do Washington gán cho Hà Nội, mà là văn kiện do chính Hà Nội và Bắc Kinh thỏa
thuận.
Điều
đó không có nghĩa Việt Nam đã “chọn Trung Quốc”. Quan hệ Việt–Trung chứa đồng
thời hợp tác và bất đối xứng, giao thoa và nghi kỵ, phụ thuộc kinh tế và tranh
chấp Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và nỗi ám ảnh lâu dài về tự chủ quốc gia.
Chính vì thế, nó phức tạp hơn rất nhiều một lựa chọn nhị nguyên “theo Mỹ” hay
“theo Trung Quốc”. Nhưng cũng chính vì thế, Washington có lý do để đặt câu hỏi
Việt Nam muốn được nhìn nhận như một chủ thể chiến lược độc lập đến mức nào,
trong khi đồng thời tiếp tục nâng quan hệ với Bắc Kinh bằng “một hệ khái niệm”
chính trị sâu đến vậy?
Và
đấy có lẽ mới là “con voi trong phòng” trong những ngày Tô Lâm ở New York.
Trung Quốc hầu như không được gọi tên trong các cuộc tiếp xúc Mỹ–Việt, nhưng lại
hiện diện phía sau hầu hết những vấn đề khó nhất: từ chuyển tải hàng hóa, xuất
xứ sản phẩm và chuỗi cung ứng đến Biển Đông và câu hỏi Việt Nam sẽ đứng ở đâu
trong cấu trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương đang định hình. Chính độ sâu và tính
chất đặc biệt của quan hệ Việt–Trung khiến Bắc Kinh trở thành một biến số mà
Washington khó có thể bỏ qua khi đánh giá giới hạn cũng như triển vọng của quan
hệ chiến lược với Hà Nội.
FOIP:
khoảng trống lớn hơn một cuộc gặp Trump–Tô Lâm
Bởi
vậy, điều đáng phân tích hơn chuyện Trump có dành cho Tô Lâm một giờ ở New York
hay không nằm ở một chữ khác: FOIP (Free and Open Indo-Pacific, Ấn Độ
Dương–Thái Bình Dương tự do và rộng mở). Điều thú vị là phiên bản FOIP cập nhật
của Nhật Bản năm 2026 lại được công bố ngay tại Hà Nội, với trọng tâm vào hạ tầng
kinh tế trong thời đại AI, sức chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng và
khoáng sản thiết yếu, các luật chơi chung và tăng cường hợp tác an ninh để bảo
đảm hòa bình, ổn định khu vực.
Việt
Nam có lợi ích khách quan trùng với nhiều thành tố của tầm nhìn ấy. Việt Nam cần
một Biển Đông không bị một cường quốc áp đặt; cần tự do hàng hải, UNCLOS-1982,
chuỗi cung ứng đa dạng, thị trường Mỹ, công nghệ Mỹ–Nhật–Hàn, đầu tư phương Tây
và một trật tự khu vực trong đó nước nhỏ không phải chấp nhận luật chơi của nước
lớn. Nhưng lợi ích giao nhau chưa đồng nghĩa với hội tụ chiến lược.
Nhưng
cho tới nay, Hà Nội vẫn tránh tự đặt mình vào một cấu trúc an ninh có thể bị Bắc
Kinh hiểu là nhằm kiềm chế Trung Quốc. Đó là một lựa chọn có thể giải thích được
từ địa lý, lịch sử và tính toán lợi ích của Việt Nam. Nhưng lựa chọn nào cũng
có hệ quả. Nếu Hà Nội muốn đứng đủ xa những cấu trúc chiến lược do Hoa Kỳ và đồng
minh xây dựng để Bắc Kinh không cảm thấy bị đe dọa, Washington cũng có lý do để
tự hỏi Việt Nam có thể tiến gần mình đến mức nào.
Ở
đây, khoảng cách giữa CSP và FOIP đáng chú ý hơn khoảng cách giữa hai chiếc ghế
trong một phòng họp ở New York. Một bên là cấp độ danh xưng của quan hệ song
phương (Đối tác cũ); bên kia là câu hỏi hai nước thực sự nhìn trật tự khu vực
giống nhau đến đâu (Cựu thù mới). Có thể ký tá rất nhiều hợp đồng mà vẫn không
trung hòa được hai về này.
“Đối
tác cũ, cựu thù mới”
Ba
thập niên bình thường hóa đã biến hai cựu thù thành đối tác. Năm 2023, Việt Nam
và Hoa Kỳ trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nhưng “cựu thù mới” trong
tương quan này hoàn toàn không có nghĩa hai nước đang trở lại thành đối địch;
nó chỉ bộc lộ một nghịch lý tinh tế hơn: những đường ranh từng chia hai nước
trong quá khứ đã mất đi, nhưng những đường ranh mới về lợi ích, thể chế, thương
mại và lựa chọn chiến lược lại xuất hiện ngay bên trong quan hệ mới.
Washington
muốn những chuỗi cung ứng đáng tin cậy hơn và bớt phụ thuộc Trung Quốc. Hà Nội
muốn thị trường, vốn và công nghệ Mỹ, nhưng nền kinh tế vẫn gắn rất sâu với chuỗi
cung ứng Trung Quốc. Washington cùng Tokyo và các đồng minh xây dựng một cấu
trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương dựa trên luật lệ, sức chống chịu kinh tế và hợp
tác an ninh (FOIP); Hà Nội chia sẻ nhiều lợi ích của cấu trúc ấy, nhưng vẫn giữ
khoảng cách để không biến quan hệ với Bắc Kinh thành đối đầu. Trong khi đó,
quan hệ Đảng–Đảng Việt–Trung tiếp tục được nâng cao bằng những cam kết chính trị
mà quan hệ Việt–Mỹ không có và cũng không thể có.
Có
nhất thiết nên cắt nghĩa đây là sự “hai mặt của Hà Nội”? Hay đơn giản, đây chỉ
là cách một quốc gia nhỏ hơn cố gắng duy trì không gian hành động bên cạnh một
gã láng giềng khổng lồ, đồng thời mở rộng quan hệ với một siêu cường ở bên kia
Thái Bình Dương? Nhưng một chiến lược cân bằng chỉ bền vững khi các bên còn tin
rằng người đứng giữa có đủ khả năng tự chủ; nếu không, “đứng giữa” rất dễ biến
thành bị cả hai phía cùng đặt câu hỏi.
Tám
mươi năm, vẫn một câu hỏi
Bởi
vậy, điều đáng suy nghĩ nhất về chuyến New York lần này có lẽ không phải là một
cuộc gặp đã không diễn ra. Tô Lâm vẫn có thể trở về với những kết quả cụ thể:
đàm phán thương mại tiến triển, nhiều thỏa thuận doanh nghiệp được chuẩn bị và
quan hệ kinh tế Việt–Mỹ tiếp tục mở rộng. Việt Nam vẫn có giá trị đáng kể đối với
chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ, cũng như Hoa Kỳ có ý nghĩa ngày càng lớn đối với
nhu cầu đa dạng hóa thị trường, công nghệ và quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Nhưng
tất cả những điều ấy không xóa được câu hỏi chiến lược. Năm 1945, Hồ Chí Minh
tìm cách nói với Washington rằng một nước Việt Nam độc lập có thể có chỗ trong
trật tự thế giới mà Hoa Kỳ đang góp phần xây dựng. Washington không chỉ đọc những
lá thư ấy mà còn nhìn vào bản đồ quyền lực giữa Hà Nội với Bắc Kinh và
Mátxcơva. Năm 2026, Tô Lâm nói với người Mỹ về độc lập, tự chủ, hợp tác, thương
mại công bằng và một quan hệ Việt–Mỹ sâu sắc hơn; Washington cũng không chỉ
nghe những bài diễn văn ấy mà còn nhìn vào container hàng hóa, nhà máy, chuỗi
cung ứng, Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và những văn kiện Hà Nội ký với Bắc
Kinh.
Lịch
sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những
lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền
lực. Tám mươi năm sau, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều
đó. Một cường quốc có thể nghe rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về
mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch định chiến lược theo những gì họ quan sát được
từ hành vi của chính quyền ấy và từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.
Có
những khoảng cách ngoại giao có thể rút ngắn bằng một chuyến bay, những khoảng
cách thương mại có thể thu hẹp bằng vài chục hợp đồng. Nhưng khoảng cách chiến
lược chỉ thu hẹp khi hai phía biết họ có thể cùng đi với nhau đến đâu. Sau tất
cả những cuộc gặp, diễn văn và hợp đồng trong những ngày rất bận rộn của Tô Lâm
ở New York, có lẽ đó mới là câu hỏi còn lại.
__________
Tham
khảo:
1.
Reuters, 22/9/2026 – Tô Lâm gặp USTR Jamieson Greer, đàm phán thương mại Mỹ–Việt
tiến gần kết quả cuối cùng. Reuters – Vietnam leader To Lam says positive negotiations with
US on trade deal
2.
Reuters, 20/9/2026 – lịch các cuộc gặp song phương của Trump tại UNGA. Reuters – Trump eyes busy week of meetings as UN General
Assembly gathers
3.
Bloomberg/Straits Times, 22/9/2026 – cuộc phỏng vấn rất quan trọng của chính Tô
Lâm. The Straits Times – Vietnam leader says US deal close, denies
re-routing China goods
4.
Reuters/Bloomberg, 28/7/2026 – Các quan chức CBP kiểm tra không báo trước các
nhà máy tại Việt Nam có liên hệ với Trung Quốc. “Washington không chỉ nghe,
Washington còn kiểm tra”. Reuters – US customs officials inspect China-linked factories
in Vietnam
5.
U.S. State Department, Office of the Historian – hồ sơ ngoại giao Mỹ 1946. Đây
là primary source. Tài liệu ghi Hồ Chí Minh trao thư gửi Tổng thống Mỹ cùng
lãnh đạo Trung Quốc, Liên Xô và Anh, yêu cầu ủng hộ nền độc lập Việt Nam và đưa
vấn đề Đông Dương ra Liên Hợp Quốc. U.S. State Department – Foreign Relations of the United States,
1946, The Far East
6.
Bộ Ngoại giao Nhật Bản, 2/5/2026 – bài diễn văn FOIP của Thủ tướng Sanae
Takaichi tại Hà Nội. Nguồn chính thức cho trục FOIP – chuỗi cung ứng – critical
minerals – security. Japan MOFA – Foreign Policy Speech by Prime Minister Takaichi
Sanae
7.
Tuyên bố chung 17/4/2026 nói rõ hai bên tiếp tục làm sâu sắc Đối tác hợp tác
chiến lược toàn diện và xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Trung–Việt có ý
nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn”. Chinese Foreign Ministry – China–Vietnam Joint Statement, 17
April 2026
No comments:
Post a Comment