Dựa
vào “xuất khẩu lao động” và “thu địa tô” để phát triển GDP hai chữ số?
Trương Nhân Tuấn | Tiếng
Dân
27/09/2026
Một nền kinh tế thực sự tự cường phải được đo lường bằng
hàm lượng chất xám trong sản phẩm, năng lực làm chủ công nghệ và mức sống được
cải thiện bền vững của đa số người dân.
Khi nhà nước CSVN chọn con đường phát triển dựa trên ba
trụ cột: Đầu cơ địa ốc (phát canh thu tô kiểu mới), khai thác cạn kiệt tài
nguyên thô (dầu khí, khoáng sản) và đẩy hàng triệu thanh niên sung sức ra nước
ngoài bán sức lao động, mô hình đó không đơn thuần là sự lệch lạc trong hoạch định
chính sách. Dưới lăng kính kinh tế chính trị học nghiêm ngặt, đó thực chất là một
cơ chế bòn rút có hệ thống: “bán nước” qua việc chuyển nhượng tài nguyên, đất
đai công cộng cho các nhóm lợi ích và “buôn dân” qua việc biến con người thành
một loại hàng hóa xuất khẩu thô để thu gom ngoại tệ.
1. “Phát canh thu tô” kiểu mới
Trong lịch sử kinh tế, “phát canh thu tô” là đặc quyền của
tầng lớp địa chủ phong kiến. Lớp người này dựa vào quyền lực để chiếm đoạt tư
liệu sản xuất cốt lõi là ruộng đất, sau đó ngồi không thu tô từ nông dân mà
không trực tiếp lao động hay cải tiến kỹ thuật.
Hiện tại ở Việt Nam, hình thức này khoác lên mình tấm áo
hào nhoáng của “đô thị hóa” và “phát triển bất động sản”. Vấn đề là trong quá
trình thực hiện, nhà nước CSVN đã chuyển dịch tài sản từ một nhóm đông người
nghèo sang một số ít người cực giàu.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân được thu hồi từ nông dân với
giá đền bù thấp theo khung giá nhà nước. Sau đó, thông qua các quy hoạch và cơ
chế “chỉ định thầu” thân hữu, đất đai được chuyển giao vào tay các tập đoàn bất
động sản lớn. Sau một quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất, hoặc khi cho
phép bán các dự án bất động sản cho nhà đầu tư nước ngoài, giá trị khu đất có
thể tăng hàng chục, thậm chí hàng trăm lần.
Thay vì tạo ra của cải mới bằng công nghệ hay sản xuất chế
tạo, các nhà phát triển địa ốc thu lợi nhuận khổng lồ nhờ chênh lệch địa tô và
sự khan hiếm nhân tạo, qua đó tạo đòn bẩy làm tăng giá trị ảo. Phần thặng dư
không quay lại tái đầu tư cho giáo dục hay khoa học mà chảy thẳng vào túi các
tài phiệt bất động sản và những quan chức nắm quyền cấp phép, tạo ra hiện tượng
“chảy máu ngoại tệ” nghiêm trọng.
Khi giá nhà vượt gấp 20 đến 30 lần thu nhập trung bình của
người lao động có bằng cấp, một căn hộ bình thường trở thành gánh nợ dài hạn.
Thế hệ trẻ và người lao động bị biến thành những “tá điền thời đại”: họ cày cuốc
cả đời chỉ để trả lãi ngân hàng cho một chỗ ở cơ bản. Hệ quả là “không an cư”
thì cũng khó “lập nghiệp”. Hiển nhiên, mọi động lực sáng tạo và tích lũy vốn để
khởi nghiệp công nghệ của lớp trẻ cũng bị triệt tiêu.
2. “Khai thác thô tài nguyên”
Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ, gỗ rừng và
khoáng sản, là vốn liếng chung của cả dân tộc, của thế hệ hôm nay và những thế
hệ mai sau, được tích tụ qua hàng triệu năm. Mô hình kinh tế thâm dụng tài
nguyên của Việt Nam đã phơi bày toàn bộ bản chất của cái gọi là “lời nguyền tài
nguyên”.
Nhà nước CSVN đem dầu thô, gỗ tròn, quặng thô đi bán với
giá rẻ, sau đó dùng chính số ngoại tệ thu được để nhập khẩu xăng dầu tinh chế,
nhựa đường, hóa chất, ván ép và thép thành phẩm với giá đắt đỏ. Đây là quy
trình “xuất thô, nhập tinh”, tự biến mình thành một dạng “thuộc địa nguyên liệu”
kiểu mới.
Tài nguyên là “vốn liếng” hữu hạn và nhiều loại không thể
tái tạo. Nhà nước CSVN cho phép khai thác ồ ạt mà không hình thành được một Quỹ
Tài sản Quốc gia (Sovereign Wealth Fund) minh bạch như Na Uy hay Singapore để đầu
tư vào tri thức cho các thế hệ mai sau. Mỗi thùng dầu hút lên, mỗi khúc gỗ bán
đi… thực chất là việc “ăn vào tương lai của con cháu”.
Các ngành độc quyền nhà nước về tài nguyên luôn là mảnh đất
màu mỡ cho sự lãng phí, thất thoát cũng như các đại án kinh tế, bởi “cha chung
chết không ai khóc”. Lợi nhuận từ lòng đất, thay vì xây nên những trường đại học
đẳng cấp thế giới hay các viện nghiên cứu bán dẫn, lại biến thành những khoản
ngoại tệ bí mật, những biệt phủ xa hoa và tài sản định cư ở nước ngoài của một
nhóm quan chức có quyền hạn.
3. Xuất khẩu lao động
Nhà nước CSVN đã biến con người thành món hàng xuất khẩu
thô thiển. Nếu việc khai thác đất đai và tài nguyên là sự tổn hại về vật chất,
thì chính sách “xuất khẩu lao động” là sự tổn thương sâu sắc nhất về phương diện
con người và phẩm giá quốc gia.
Nhà nước CSVN đã từ bỏ trách nhiệm tạo sinh kế nội tại
cho dân chúng. Họ đẩy hàng trăm ngàn thanh niên khỏe mạnh, trong độ tuổi có khả
năng học hỏi, sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan làm những công việc 3D (Dirty,
Dangerous, Demeaning – Vất vả, Nguy hiểm, Hạ thấp phẩm giá). Đây là gì nếu
không phải là biểu hiện của sự bất tài của nhà nước CSVN trong việc kiến tạo một
nền công nghiệp nội địa có khả năng tạo ra việc làm thỏa đáng?
Thay vì kiến tạo môi trường để người dân dễ dàng làm giàu
trên chính quê hương, chính sách của nhà nước CSVN lại đẩy họ đi làm thuê nơi đất
khách.
Nhà nước và các công ty môi giới thu về hàng tỷ đô la ngoại
tệ mỗi năm từ mồ hôi nước mắt của người lao động. Khoản tiền này giúp ổn định tỷ
giá, bơm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tiêu dùng nội địa.
Nhưng người lao động phải tự chịu phần lớn rủi ro, như chi phí môi giới cao, nợ
nần trước khi đi, sự cô lập xã hội, phân biệt đối xử và tai nạn lao động nơi xứ
người.
Hệ quả là gì? Ta thấy sự thoái hóa xã hội và hiện tượng
“làng không người”. Những vùng nông thôn xuất khẩu lao động để lại những hệ lụy
nhức nhối: những đứa trẻ lớn lên thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ, hôn nhân đổ
vỡ, làng quê chỉ còn người già và con nít. Khi hết hạn hợp đồng, trở về ở độ tuổi
30–35, phần lớn người lao động không được trang bị kỹ năng công nghiệp bài bản
mà tiếp tục thất nghiệp hoặc chạy xe ôm, không thể tái hòa nhập vào lực lượng sản
xuất chất lượng cao.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-78.jpg
Tựa bài viết trên báo VnEconomy ngày
31/10/2025 và ảnh minh họa trong bài.
4. Nền kinh tế bòn rút phục vụ thiểu số
Khi ghép lại ba trụ cột phát triển: Đất đai (địa ốc) –
Tài nguyên (dầu khí) – Con người (lao động xuất khẩu), bản chất của mô hình
phát triển lộ rõ. Một hình thức ngày xưa gọi là “buôn dân – bán nước”, nay các
kinh tế gia gọi là “cấu trúc bòn rút” (Extractive Institution).
Đất đai và bất động sản: Bên
thiệt hại là đại đa số người dân bị thu hồi đất, trong khi thế hệ trẻ gánh nợ
mua nhà cả đời. Bên hưởng lợi là các tập đoàn bất động sản thân hữu, giới tài
phiệt và quan chức phê duyệt quy hoạch, nói chung là giới có thẩm quyền làm luật
và giải thích luật.
Dầu khí, gỗ rừng và khoáng sản: Bên
thiệt hại là đất nước và nhân dân. Môi trường bị hủy hoại lâu dài, trong khi thế
hệ tương lai mất đi các nguồn tư liệu phát triển. Nhóm hưởng lợi là cán bộ, đảng
viên, những người quản lý các tập đoàn độc quyền nhà nước và những người có thẩm
quyền xuất, chi ngân sách.
Lao động xuất khẩu: Bên
thiệt hại là những người lao động bán mồ hôi nước mắt, xa cách gia đình, chịu
nhiều rủi ro và bóc lột nơi xứ người. Bên có lợi là các đầu nậu môi giới, những
người nắm giấy phép và hệ thống tài chính thu gom nguồn kiều hối.
Hệ quả là nền kinh tế quốc dân trở nên méo mó nghiêm trọng.
Các ngành sản xuất chế tạo chân chính, các ngành công nghiệp hỗ trợ, các viện
nghiên cứu khoa học và giáo dục kỹ thuật… bị đói vốn vì lợi nhuận biên quá thấp
so với đầu cơ đất đai hay khai thác tài nguyên.
Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Việt
Nam trở thành một “công xưởng gia công rẻ mạt”, phụ thuộc nhiều vào khối FDI
bên ngoài, trong khi tài sản quốc gia bị tiêu tán vào tiêu sản và tích lũy tư
nhân của một nhóm thiểu số quyền thế.
5. Lời kết
Một quốc gia chỉ thực sự tiến bộ khi con người được đưa
lên làm chủ thể sáng tạo và là mục đích, cứu cánh của sự phát triển, chớ không
phải là công cụ cơ bắp để xuất khẩu hay là đối tượng để “vặt lông vịt” bằng thu
địa tô.
Chính sách phát triển của nhà nước CSVN dựa trên việc chiếm
dụng đất đai, bòn rút lòng đất và đẩy công dân ra nước ngoài làm thuê thực chất
là một sự chối bỏ trách nhiệm lịch sử trong việc xây dựng một Nhà nước kiến tạo,
liêm chính và kỹ trị.
Sự giàu có tạo ra từ mô hình “bóc lột” này là sự giàu có ảo
của những con số đầu cơ và những biệt thự bỏ hoang, trong khi cái giá phải trả
là sự kiệt quệ tài nguyên, tụt hậu công nghệ và tương lai bị đánh cắp của nhiều
thế hệ người dân Việt Nam.
No comments:
Post a Comment