Cần
một cuộc cách mạng về nhận thức để Việt Nam phát triển lành mạnh
Trương Nhân Tuấn
27/09/2026
Việt Nam
đang đứng trước một khúc quanh sinh tử của lịch sử phát triển. Cửa sổ “dân số
vàng” – cơ hội ngàn năm có một để tích lũy của cải quốc gia – đang khép lại với
tốc độ nhanh nhất châu Á. Nguy cơ một dân tộc “chưa kịp thoát nghèo đã vội
già”, bị mắc kẹt dưới đáy chuỗi giá trị toàn cầu, với tài nguyên cạn kiệt và sức
lao động đã hao mòn… không còn là một dự báo viển vông mà đã trở thành hiện thực.
Để vượt
qua ngưỡng cửa hiểm nghèo này, những khẩu hiệu chính trị giáo điều hay những mục
tiêu tăng trưởng duy ý chí, dựa vào đầu tư công thâm dụng vốn, đã hoàn toàn mất
đi tính thuyết phục. Lối thoát duy nhất đòi hỏi một cuộc cách mạng về nhận thức:
Đảng CSVN phải có đủ dũng cảm và lương thiện chính trị để nhìn thẳng vào những
sự thật lịch sử, từ bỏ mô hình tập trung quyền lực giáo điều để chuyển dịch
sang một thể chế kỹ trị dung nạp thực chất.
Sự
thật lịch sử thứ nhứt: Di sản cứu sinh từ các chuyên gia chế độ cũ (VNCH)
Một trong
những món nợ lịch sử lớn nhứt mà Đảng CSVN chưa bao giờ sòng phẳng thừa nhận là
vai trò khai mở và cứu sinh của đội ngũ chuyên gia, trí thức kinh tế Việt Nam Cộng
hòa trong thời kỳ khủng hoảng sinh tử 1985–1989.
Khi chế độ
bao cấp, cơ chế giá – lương – tiền và mô hình kinh tế kế hoạch tập trung đẩy đất
nước đến bờ vực chết đói, lạm phát lên tới gần 800%, nền kinh tế thực chất đã
lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Cái cứu sống chế độ khi đó không phải là các
lý thuyết Mác – Lênin hay sự viện trợ từ khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu – vốn
cũng đang rệu rã. Phao cứu sinh thực sự đến từ trí tuệ và sự tận tụy của những
trí thức miền Nam cũ, tiêu biểu là “Nhóm Thứ Sáu” tại Sài Gòn, với những tên tuổi
như Huỳnh Bửu Sơn, Lâm Võ Hoàng, Phan Chánh Dưỡng, Trần Bá Tước…
Chính những
con người từng bị nghi kỵ về lý lịch, bị hạn chế cơ hội sau năm 1975, lại trở
thành những “người thầy” đầu tiên giúp cán bộ, đảng viên hiểu thế nào là quy luật
cung – cầu, thế nào là thị trường tiền tệ, thế nào là ngoại hối. Chính họ tham
gia xây dựng những đề án cải cách tiền tệ có ý nghĩa bản lề, đặt nền móng cho
việc chuyển đổi từ hệ thống “ngân hàng một cấp” của thời bao cấp sang mô hình
“ngân hàng hai cấp” hiện đại. Chính những trí thức ấy cũng góp phần đặt những
viên gạch đầu tiên cho Khu Chế xuất Tân Thuận và Đô thị Phú Mỹ Hưng, biến vùng
đầm lầy Nhà Bè thành một điểm tựa đón dòng vốn quốc tế trong bối cảnh đất nước
còn chịu nhiều hạn chế từ cấm vận.
Sự trớ
trêu và cay đắng của lịch sử nằm ở chỗ: Sau khi vượt qua cơn nguy kịch, khi nền
kinh tế bắt đầu tích lũy được nguồn lực từ đất đai, dầu khí và ngoại tệ, mô
hình quản trị quốc gia lại nhanh chóng thu hẹp không gian dành cho giới chuyên
môn ngoài hệ thống chính trị. Giới kỹ trị ngoài Đảng dần bị đẩy ra rìa quyền lực,
nhường chỗ cho một hệ thống quản trị mang nặng tính trung thành ý thức hệ và mạng
lưới “nhóm lợi ích thân hữu”.
Nếu Đảng
CSVN không đủ can đảm để công khai tri ân và thừa nhận đóng góp của tầng lớp
tinh hoa chế độ cũ trong quá trình phục hồi đất nước, sự hòa giải dân tộc sẽ
mãi chỉ là một khẩu hiệu rỗng tuếch, và cánh cửa thu hút nhân tài thực thụ cho
quốc gia sẽ tiếp tục bị khóa chặt.
Sự
thật lịch sử thứ hai: Nghịch lý ý thức hệ và sự trớ trêu của chiếc phao “tư bản
thị trường”
Đảng CSVN
cần phải chấm dứt sự nhập nhằng ý thức hệ mang tên “kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa”. Suốt nhiều thập niên chiến tranh, ngọn cờ “chống đế quốc xâm
lược, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản bóc lột” được giương cao để huy động xương máu
của bao thế hệ người dân. Nhưng khi hòa bình lập lại, trớ trêu thay, chiếc phao
giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và duy trì tăng trưởng trong nhiều thập
niên sau đó lại chính là việc vận dụng các cơ chế thị trường, cùng với dòng vốn
và công nghệ từ các nền kinh tế tư bản phương Tây và Đông Á.
Việc duy
trì cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong quản lý kinh tế, theo lập luận
của bài viết này, không tự động tạo ra sự công bằng hay ưu việt cho người lao động.
Ngược lại, nó có thể tạo ra một vùng xám thể chế, nơi quyền quản lý đất đai và
tài nguyên công trở thành công cụ phân bổ lợi ích, dễ bị lợi dụng để phục vụ
các liên minh giữa nhóm lợi ích bất động sản và những người có quyền lực. Nó
cũng tạo ra đặc quyền cho những doanh nghiệp nhà nước yếu kém, gây thất thoát
nguồn lực lớn nhưng trách nhiệm cá nhân không phải lúc nào cũng được xác định
rõ ràng, trong khi khu vực tư nhân và lực lượng lao động tri thức phải đối mặt
với các hàng rào xin – cho cùng nhiều chi phí không chính thức.
Một đảng cầm
quyền không thể vừa thụ hưởng những thành quả của thị trường, vừa phủ nhận các
nguyên tắc nền tảng của một nền kinh tế thị trường lành mạnh: Quyền sở hữu rõ
ràng, tư pháp độc lập, cạnh tranh bình đẳng và trách nhiệm giải trình trước
pháp luật.
Sự
thật lịch sử thứ ba: Bẫy phụ thuộc FDI và nguy cơ của một “chủ nghĩa thực dân mới”
Cần phải tỉnh
táo nhìn nhận mô hình phát triển dựa trên thu hút FDI hiện nay của Việt Nam. Tự
hào về kim ngạch xuất khẩu hàng trăm tỷ đô la nhưng nếu phần lớn giá trị xuất
khẩu thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì việc xem đó là
thước đo duy nhứt của sức mạnh nội tại sẽ là một ảo tưởng nguy hiểm.
Khi một quốc
gia chủ yếu cung cấp mặt bằng, ưu đãi thuế, chấp nhận những chi phí môi trường
và cung ứng hàng triệu lao động giá rẻ để các tập đoàn đa quốc gia tối đa hóa lợi
nhuận, đó chưa thể được xem là công nghiệp hóa theo nghĩa đầy đủ. Dưới một giác
độ kinh tế chính trị học, đó có thể được xem như sự tái hiện của một hình thức
“thực dân kiểu mới” về mặt kinh tế.
Các tập
đoàn nước ngoài nắm giữ công nghệ lõi, thương hiệu, chuỗi phân phối và phần lớn
giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất. Việt Nam giữ lại một phần tiền lương
của công nhân, những khu công nghiệp bê tông hóa và một lực lượng lao động đông
đảo nhưng chưa được nâng cấp đầy đủ về kỹ năng. Hàng trăm ngàn thanh niên phải
bán rẻ tuổi thanh xuân để rồi sau tuổi 35 có nguy cơ bị đào thải khỏi dây chuyền
sản xuất mà không có đủ kỹ năng để chuyển sang những công việc có giá trị gia
tăng cao.
Song song
đó, hàng triệu lao động phải dứt áo rời quê hương sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm để gửi ngoại tệ về nuôi sống gia
đình. Đó là gì nếu không phải là một phản ánh về sự thất bại trong việc kiến tạo
một nền công nghiệp nội sinh đủ mạnh?
Rồi dòng
tiền kiều hối ấy lại quay trở lại nền kinh tế thông qua tiêu dùng, trong đó có
cả việc mua hàng hóa nhập khẩu. Một vòng luẩn quẩn hình thành: xuất khẩu lao động
để kiếm ngoại tệ, rồi dùng một phần ngoại tệ ấy để tiêu dùng những sản phẩm mà
nền kinh tế trong nước chưa đủ năng lực sản xuất có sức cạnh tranh.
Lối
thoát: Chuyển dịch từ “độc tôn chính trị” sang “thể chế kỹ trị dung nạp”
Kinh nghiệm
của các nền kinh tế Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore cho thấy
một bài học quan trọng: Phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi sự kết hợp giữa kỷ
luật thị trường với một bộ máy quản trị có năng lực chuyên môn cao, có tính
chuyên nghiệp và tinh thần phụng sự quốc gia.
Việt Nam
khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng chất lượng cao nếu tiếp tục duy trì tình trạng
tập trung quá nhiều quyền lực kinh tế, tư pháp và xã hội vào một tổ chức chính
trị duy nhất. Việc để tư duy an ninh, hành chính hóa và sự trung thành ý thức hệ
lấn át các quy luật kinh tế sẽ chỉ đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ và sợ
trách nhiệm trên diện rộng – điều đã và đang làm tê liệt không ít hoạt động của
bộ máy công quyền.
Để cứu vãn
tương lai của một dân tộc đang già đi trước khi thoát khỏi cảnh nghèo khó, lãnh
đạo Việt Nam cần thực hiện những cải cách thể chế mang tính đột phá:
1. Xây
dựng thể chế kỹ trị dung nạp (Inclusive Technocracy): Tách bạch rõ ràng giữa vai trò định
hướng chính trị và bộ máy quản trị chuyên môn. Trao quyền hoạch định kinh tế,
tài chính, khoa học – công nghệ cho những chuyên gia được đào tạo bài bản, có
năng lực thực chứng và thành tích chuyên môn, bất kể họ ở trong hay ngoài Đảng,
bất kể xuất thân hay định kiến chính trị trong quá khứ.
2. Thượng
tôn pháp luật và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân: Chấm dứt cơ chế xin – cho và quyền lực tùy tiện trong
phân bổ tài nguyên đất đai. Tòa án và hệ thống tư pháp phải đủ độc lập để bảo đảm
hợp đồng kinh tế và tài sản của người dân không thể bị tước đoạt bởi ý chí chủ
quan của bất kỳ nhóm quyền lực nào.
3. Đầu
tư thực chất vào “vốn con người” và công nghệ nội sinh: Chuyển nguồn lực khổng lồ từ đầu cơ bất
động sản và những dự án tượng đài, công trình dàn trải… sang tăng mạnh đầu tư
cho R&D (nghiên cứu và phát triển), hiện đại hóa giáo dục đại học và đào tạo
nghề kỹ thuật cao. Chỉ khi làm chủ được công nghệ và hình thành một tầng lớp
doanh nhân công nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, Việt Nam mới có thể
thoát khỏi thân phận một nền kinh tế làm thuê trên chính quê hương mình.
Lịch sử
không bao giờ khoan nhượng với sự chậm trễ và giáo điều. Đảng Cộng sản Việt Nam
chỉ có thể duy trì tính chính danh trước nhân dân khi dám đối diện với những
góc khuất của lịch sử, mở rộng không gian sáng tạo cho toàn dân tộc và xây dựng
một cơ chế quản trị dựa nhiều hơn vào năng lực thay vì lý lịch hay sự trung
thành.
Bằng
không, cái giá phải trả có thể là một cuộc thoái trào kéo dài của cả một quốc
gia, trong khi cánh cửa dân số vàng ngày càng khép lại và cơ hội phát triển của
nhiều thế hệ cũng theo đó mà mất đi.
No comments:
Post a Comment