7-9-2012
Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn
Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: "Hà Nội không có chủ trương
trấn áp người biểu tình". Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người
biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu
tình là "gây rối Thủ đô", là có "các thế lực chống đối trong và
ngoài nước".
Dân chúng nào biết, tác giả bản
thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo.
Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến
nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt...
*
Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần
yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà
nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank
ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng
này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị
về "lợi ích nhóm" mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt
kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần
biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.
Kinh Doanh Đa Ngành
Ý tưởng thành lập tập đoàn không
chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân
biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những
người tiền nhiệm.
Năm 1994, khi những nỗ lực phát
triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận "cánh tay phải"
của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch
hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết
định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến "thí
điểm thành lập tập đoàn kinh doanh".
Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ
ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt
và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ
chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô
hình Cheabol của họ.
Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa
có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ
tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính
Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
Vinashin.
Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận,
ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu
chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không
thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan
Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách
làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép
kinh doanh đa ngành.
Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông
Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp
hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh
nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì
điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ
tướng Võ Văn Kiệt.
Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn
Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế
nguyên văn: "Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng
công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số
ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi
phối".
Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng
ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập
đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc
độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít
hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.
Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến
năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng,
không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này
được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến
bên bờ vực. Rất nhiều
tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của
Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa
PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.
Đại Nhảy Vọt
Không có một vị thủ tướng nào thừa
kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng
trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23
tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam
chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng
là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.
Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà
nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông
Phan Văn Khải nói: "Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành
tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5
năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân
sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ
cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu".
Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi
khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước
năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt
tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng
con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%.
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau
đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.
Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát
lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%,
các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị
trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong
khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.
Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước
lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu
trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ
đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải
tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty
nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi
sang ngân hàng cổ phần.
Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng
công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn
dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay
lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. "Cơn
khát" tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng
trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.
Lãi suất huy động tăng, đã khiến
cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng
chấp nhận lãi suất cho vay 24 - 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ
đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân
hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi
yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng
quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.
Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008,
chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy
tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, "đầu tư vào
chứng khoán bây giờ là thắng" vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những
ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày
5-12-2008, 299 điểm.
Chính những "đại gia" gần
gũi thủ tướng nhất lại "chết" đau thương nhất vì họ đã từng được vay
tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập
về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/
năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán
được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc
biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu
trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.
Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn
nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã
từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu
của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh
nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải
rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con.
Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên
cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.
Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào
ngờ có ngày "hậu duệ" của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối
với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng,
những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày
24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư
nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả
nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một
giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.
Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết
định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực
trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị
định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp
kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.
Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ
chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ
qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng
không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các
cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.
Bẫy Việt Vị
Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn
Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: "Hà Nội không có chủ
trương trấn áp người biểu tình". Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi
những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho
người biểu tình là "gây rối Thủ đô", là có "các thế
lực chống đối trong và ngoài nước".
Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng
đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà
Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc
duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những
"tác phẩm báo chí" bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên
các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ
đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ
nhật.
Mấy tháng sau, trong khi chính
quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày
25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội "sớm có luật
biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp".
Cũng thời gian đó, trong khi chính
phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của
Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị
Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng
tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia
đầu tiên của Hà Nội nói "Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ
năm 1974". Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn
đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn
thể được truyền hình trực tiếp.
Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị
dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ
tai, "phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng". Nhóm
"13" hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một
bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.
Sau khi các đại gia gần gũi ông như
Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai
nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn
Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.
No comments:
Post a Comment