Sunday, 12 May 2019

SAU 44 NĂM : NHÌN LẠI THỜI VÀNG SON CỦA GIÁO DỤC VNCH TRƯỚC NĂM 1975 (GSTS Phạm Cao Dương)




GSTS Phạm Cao Dương
06/05/2019

Lời giới thiệu của Phạm TrầnTôi xin chân thành cảm ơn Giáo sư, Tiến sỹ Lịch sử Phạm Cao Dương đã có nhã ý gửi cho bài nghiên cứu không những chỉ có giá trị về lịch sử, mà còn ghi lại những giá trị văn hóa truyền thống không thay thế được của nền Giáo dục thời Việt Nam Cộng hòa.

Với kinh nghiệm bản thân của một Nhà mô phạm nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam từ trước năm 1975 và ở Hoa Kỳ sau 1975, Giáo sư đã đưa chúng ta về với quá khứ để chứng minh, chỉ có một nền giáo dục dựa trên nền tảng của “dân tộc, tự do, dân chủ và khai phóng” mới đem lại thành công.

Chúng tôi xin trân trọng chia sẻ cùng bạn đọc.


***

Bồng bồng mẹ bế con sang,
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
(Ca dao Việt Nam)

“Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?”
Quốc Văn Giáo Khoa Thư Lớp Dự Bị (Thời Pháp Thuộc)

“… Có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi “làm cách mạng vì cách mạng” …nhất là khi cách mạng không bắt nguồn từ truyền thống và tưduy của chính dân tộc mình.” (PCD)

*

TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI VIẾT

Sau 44 năm người Cộng sản gọi là “giải phóng miền Nam” (1975-2019), không ai có thể phủ nhận thành tựu trong Giáo dục là một trong những thành công quan trọng nhất và rõ rệt nhất, đồng thời cũng là một nét vàng son đáng trân quý trong nếp sống và sinh hoạt ở Miền Nam thời trước năm 1975. Có nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân này là sự liên tục trong lịch sử trong quan niệm cũng như trong tổ chức và cách thức sinh hoạt của nền văn hóa này.

Nói như vậy không có nghĩa là trong chiều dài của hơn 20 năm lịch sử này (1954-1975), miền đất của tự do và nhân bản cuối cùng mà những người Quốc Gia còn giữ được, không trải qua xáo trộn. Cuộc chiến giữa Quốc gia và Cộng sản, dưới hình thức này hay hình thức khác luôn luôn tồn tại, tồn tại thường trực, tồn tại hàng ngày, đồng thời có những thời điểm người ta nói cả tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng. Tuy nhiên, ngoại trừ những gì liên hệ tới chế độ chính trị, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn diễn ra một cách bình thường, người nào việc nấy, người nào trách nhiệm nấy và được tôn trọng hay tôn trọng lẫn nhau. Sự liên tục lịch sử do đó đã có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt Giáo dục.

Trong bài này tôi chỉ nói tới Giáo dục và đặc biệt là Giáo dục công lập. Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, nhằm mục tiêu gợi ý cho các nhà nghiên cứu và tất nhiên là không đầy đủ. Mỗi độc giả có thể có những nhận định riêng của mình. Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết.

NỀN TẢNG CỦA GIÁO DỤC

Vì vậy tôi chỉ xin được trình bày năm đặc tính mà tôi gọi là cơ bản. Năm đặc tính này là:

Thứ nhất: Giáo dục là của những người làm giáo dục

Thứ hai: Tôn chỉ và mục đích nhằm hướng tới quốc gia dân tộc và con người dựa trên những truyền thống cổ truyền

Thứ ba: Liên tục trong phạm vi nhân sự

Thứ tư: Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của chương trình Pháp và chương trình Hoàng Xuân Hãn thời Chính Phủ Trần Trọng Kim năm 1945 và Phan Huy Quát thời Chính Phủ Bảo Đại sau đó

Thứ năm: Một xã hội tôn trọng sự học và tôn trọng người có học

Sau đây là các chi tiết:

Thứ nhấtGiáo dục là của những người làm giáo dục
Giáo dục công lập ở Việt Nam đã có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, định chế này đã tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung.

Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học. Có điều coi trọng thì coi trọng, các vua, nói riêng và các triều đình Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư do tư nhân lập ra ở rải rác khắp trong nước. Sinh hoạt này hoàn toàn do các thầy ở các trường do các thầy đồ hay các danh sĩ trong vùng đảm trách, với sự đóng góp của người dân. Giáo dục là của người dân và của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, những nguyên tắc căn bản của giới này.

Sang thời Pháp thuộc, do nhu cầu, đồng thời cũng là sứ mạng truyền bá văn minh và văn hóa của họ, người Pháp đã lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo, được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức, yêu mến nghề dạy học và hạnh phúc với sứ mạng làm thầy, về phía người Pháp cũng như về phía người Việt. Người Pháp mở các trường Sư phạm để huấn luyện giáo chức chuyên nghiệp, lập ra các trường học thuộc đủ các cấp, có quy mô rộng lớn, có đủ tiêu chuẩn để ngay trong những ngày đầu tiên mới độc lập, thời Chính Phủ Trần Trọng Kim, đã có thể có ngay nột chương trình học riêng cho một nước Việt Nam mới, tồn tại lâu dài cho đến ngày nay vẫn còn và sẽ còn mãi mãi nếu người ta gìn giữ và bảo vệ nó.

Đặc tính kể trên đã liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của Cựu Hoàng Bảo Đại cho đến Đệ Nhất rồi Đệ Nhị Cộng Hòa. Chức vụ Bộ trưởng hay Tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như Đổng lý văn phòng, Chánh văn phòng, Bí thư tức Thư ký riêng của bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong Bộ, từ Thứ trưởng, Tổng thư ký, Tổng giám đốc, Giám đốc cho tới các Hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các giáo sư, giáo viên, đều là những nhà giáo chuyên nghiệp, không có đại diện đảng phái chính trị ở bên cạnh.

Lý do rất đơn giản: Vì họ là những người vô tư, biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề. Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc, hay ít ra là của những thế hệ tới, mới là chính và thực sự quan trọng.

Trong phạm vi Lập pháp thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH), rõ hơn là ở Quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban giáo dục, dù là Thượng viện hay Hạ viện đều do các Nghị sĩ hay Dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đã dừng lại trước ngưỡng cửa của học đường. Thầy cô giáo là nhân viên của Bộ giáo dục, do Bộ giáo dục bổ nhiệm, trực thuộc vị Hiệu trưởng của trường sở tại, hay các nha sở của Bộ giáo dục ở trung ương chứ không trực thuộc các Quận hay Tỉnh trưởng. Việc giảng dạy ở trong lớp là hoàn toàn tự do, nhất là ở bậc Đại học, chính quyền không hề theo dõi. Chưa hết, để cố vấn cho chính phủ, một Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục cũng được thành lập với đa số hội viên là các nhà giáo.

Về tên các trường, tất cả các trường Trung, Tiểu học đều được gọi bằng tên của các danh nhân hay anh hùng dân tộc thời trước, được mọi người từ lâu công nhận như: Trưng Vương, Ngô Quyền, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Gia Long, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Lê Ngọc Hân, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…không hề có tên nào là của các lãnh tụ đương thời dù đó là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, kể cả Trần Văn Hương gốc nhà giáo.

Tất nhiên với những tên trường hoàn toàn xa lạ, từ sau ngày 30/04/1975, như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám…hay, tệ hơn nữa, là ngụy tạo, không có thật, đối với quảng đại quần chúng miền Nam là “ngoài giáo dục”.

Thứ haiTôn chỉ và mục đích nhằm hướng tới quốc gia, dân tộc và con người, dựa trên những truyền thống đã có từ lâu đời.
Nói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ý không thích ba nguyên tắc này. Lý do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là vì ba nguyên tắc này phần nào đã được người Cộng Sản Việt Nam nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ.

Ba nguyên tắc đó là : Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học.

Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này vì dù không thích, không đồng ý, ba nguyên tắc Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng này vẫn đã trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam mà ai cũng biết. Chúng ta, những người Việt thời VNCH, đã giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những gì của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời… Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được, phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc. Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng Giáo và ở bất cớ thời nào, kể cả thời người ta đua nhau cổ võ cho phong trào toàn cầu hóa hay thế giới đại đồng trước kia.

Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Ký sau đây là một trường hợp điển hình:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm

Trong khi đó thì nguyên tắc khai phóng đã giúp người ta thường xuyên cởi mở, khoáng đạt để sẵn sàng đón nhận những gì mới mẻ từ bên trong, cũng như từ bên ngoài, từ đó theo kịp đà tiến bộ chung của cả nhân loại. Sinh hoạt giáo dục ở vùng Quốc Gia và ở miền Nam Việt Nam trong thời gian tồn tại mỗi ngày mỗi sinh động hơn, mỗi phong phú hơn và nhân bản hơn là nhờ nguyên tắc này thay vì trở nên nghèo nàn, sơ cứng, hay ít ra không hấp dẫn đối với những thế hệ mới.

Cuối cùng cũng nên nói sơ qua về nguyên tắc đại chúng. Nguyên tắc này tuy không được kể trong ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục của miền Nam nhưng vẫn được mọi người tôn trọng, trái với thực tế đã xảy ra trước năm 1975 ở miền Bắc và trên toàn quốc sau năm này. Lý do là vì khi nói tới nguyên tắc này, người ta nghĩ ngay tới hai chữ “dân chủ”, từ đó đưa đến những nhận định quen thuộc là do dân, vì dân và cho dân. Ở đây là do đại chúng, của đại chúng và phục vụ đại chúng thay vì chỉ do một thiểu số cầm quyền và giàu có. Một trong những gì mà nền giáo dục của miền Nam đã đem lại cho đại chúng là tính miễn phí, hay gần như miễn phí từ tiểu học đến đại học và cũng ít ra là ở các trường công lập, bất kể đất nước còn đang ở trong tình trạng chiến tranh và nghèo nàn và ngân sách dành cho giáo dục là rất thấp so với các nước Á Châu khác. Người ta chỉ cần đậu xong bằng tú tài là có thể ghi danh hay thi vào các trường đại học hay cao đẳng. Học phí rất thấp, hầu như chỉ vừa đủ cho thủ tục hành chánh, giấy tờ. Sinh viên ra trường hầu như không nợ nần gì cả, chưa kể tới các trường đại học hay cao đẳng chuyên môn, sinh viên được cấp học bổng để sống và theo đuổi việc học toàn thời gian và sau khi ra trường khỏi phải trả nợ.

Các trường tư cũng được tự do, coi như để bổ khuyết cho khả năng giới hạn của các trường công do số học sinh mỗi ngày một đông, trường công không đáp ứng được đầy đủ. Sự thành công của các trường tư dựa trên sự tín nhiệm của các phụ huynh và có thể cả chính các học sinh lựa chọn căn cứ vào sự giảng dạy của các thày và kết quả của các kỳ thi. Trong phạm vi này các tôn giáo đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngoài các trường trung và tiểu học, tôn giáo lớn nào cũng có trường đại học: Công Giáo có trường Đà Lạt, Phật Giáo có trường Vạn Hạnh, Hòa Hảo có trường Long Xuyên, Cao Đài có trường Tây Ninh, chưa kể tới các trường Minh Đức, Cửu Long…

Thứ ba: Liên tục trong phạm vi nhân sự
Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Người viết muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng cho mình và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học, hãnh diện với vai trò làm thầy, làm cô của mình, dù đó là Sư Phạm cho bậc tiểu học, Cao Đẳng Sư Phạm hay Đại Học Sư Phạm cho bậc trung học. Một nghề bị coi là “bạc nghệ”, là bị xếp sau so với các nghề khác:

Dưa leo ăn với cá kèo,
Cha mẹ anh nghèo, anh học “noọc-man”.

Hai câu bề ngoài có vẻ tự ti, than vãn, nhưng không phải là không mang thâm ý ngược lại nếu người ta nghĩ tới trường hợp của không ít con em các nhà giàu được gửi sang Tây học và không mang được bằng cấp gì về cho cha mẹ, trừ bằng “nhảy đầm”. Anh nghèo nhưng anh học giỏi và làm nên sự nghiệp.

Khởi đầu là các vị tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội hay các vị tốt nghiệp các trường đào tạo giáo viên tiểu học. Tất cả các vị này đã hành nghề trong suốt thời Pháp thuộc, đã âm thầm góp phần vào việc Việt hóa nền giáo dục quốc gia thời Bảo Đại – Trần Trọng Kim, rồi thời Chính Phủ Quốc Gia. Sau này, khi đất nước bị qua phân, từ miền Bắc đã di cư vô Nam hay vẫn ở lại miền nam, các vị đã tiếp tục dạy ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa, bên cạnh các trường được gọi là Bắc Việt di chuyển như Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục… không hề bị gián đoạn, kể cả trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập.

Mặt khác, chính các giáo chức chuyên nghiệp này cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới. Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp, cho phép học trò ngồi, tới cách viết bảng và xóa bảng, cách chấm bài hay phê bài, các vị này đã để toát ra một sự chừng mực và vô cùng thận trọng của những nhà sư phạm lành nghề và yêu nghề. Học đường do đó đã tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập như ở miền Bắc trước 1975 và trên cả nước sau đó.

Nhiều vị vào những lúc tình thế vô cùng tế nhị cũng vẫn giữ được thế vô tư và độc lập, nghiêm chỉnh của học đường và tư cách của nhà giáo. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn còn có mặt ở các học đường, đặc biệt là các Đại Học Văn Khoa ở Saigon và Huế như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Giác, Cử Nhân Thẩm Quỳnh, Tú Tài Kép Vũ Huy Chiểu… mà không ai là không quý trọng.

Thứ tư: Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của Chương Trình Pháp và Chương Trình Hoàng Xuân Hãn, Phan Huy Quát dù có sửa đổi
Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những gì người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà còn được thận trọng giữ gìn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc. Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đã biết phân định những gì là kìm kẹp và những gì là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại, thay vì cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối hận. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đã tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định. Những gì gọi là cách mạng vội vã, nhất thời dường như không được chấp nhận. Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ đã trở nên rất mạnh.

Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đã tồn tại dưới hình thức Việt hóa bắt đầu từ thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, với chương trình Hoàng Xuân Hãn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời, sau này là Phan Huy Quát thời Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập. Nó cho phép người ta, từ thầy đến trò, dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc.

Ngay từ cuối niên học 1944-1945, trong rất nhiều khó khăn, từ giao thông, vận chuyển đến thông tin, liên lạc, người ta đã tổ chức được những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại. Điều nên nhớ là Chính Phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng hay hơn một trăm ngày, vô cùng ngắn ngủi, với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn. Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đã không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp, hệ thống học, học trình và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Nhật… vì đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế với 12 năm dành cho bậc tiểu học và bậc trung học.

Duy trì mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người Quốc gia. Điển hình là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đã được không những các thầy mà luôn cả các trò sử dụng làm tài liệu hay để tự học mà cho tới nay nhiều cựu học sinh các trường trung học miền Nam vẫn còn nhắc tới và nhắc tới như là những kỷ niệm đẹp.

Trong phạm vi văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đã được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đã được soạn thảo. Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở. Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đã được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công trình của họ thay vì gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay vì căn cứ vào chuyện họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này.

Trường hợp của các tác giả gốc Cộng sản như Thế Lữ, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… là những trường hợp điển hình.

Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy trì, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài. Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đã bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương trình viện trợ khiến cho nhiều người Mỹ đã tỏ vẻ bất bình. Hình thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đã đón nhận nó với những nhận định khác nhau, đặc biệt là danh xưng “Tú Tài ABC Khoanh” đã được dùng để chỉ các kỳ thi này. Tiếc rằng chỉ vài năm sau Miền Nam đã không còn nữa.

Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng gì quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hãy còn chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà còn luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa. Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đã luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đã tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho mình hay biết khôn ngoan né tránh cho mình và cho các đồng nghiệp của mình khi phải lãnh nhiệm vụ ở những vùng xa thủ đô Saigon, an ninh và giao thông không bảo đảm. Nên nhớ là trong thời gian này hệ thống trung ương tập quyền vẫn còn tồn tại.

Việc ra đề thi, in đề thi và gửi đề thi về địa phương với tất cả sự bảo mật cần thiết là vô cùng khó khăn, tế nhị và phức tạp. Về phía chính quyền thì từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp. Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh phui mọi chuyện.

NHỮNG TƯỚNG-TÁ ĐI HỌC

Ngay cả trường hợp các thí sinh là những sĩ quan cao cấp trong quân đội hay trong các lực lượng an ninh. Điển hình nhất là trường hợp của Đại Tướng Cao Văn Viên. Tướng Viên lúc đó là Tổng Tham Mưu Trưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là một người ham học nên mặc dù vô cùng bận rộn với quân vụ, ông vẫn ghi danh theo học trường Đại Học Văn Khoa Saigon, ban Pháp Văn. Trong kỳ thi cuối năm Chứng Chỉ Văn Chương và Văn Minh Pháp, ông đã đậu kỳ thi viết nhưng bị đánh rớt phần vấn đáp. Đây là một trong những chứng chỉ tương đối khó, nhiều khi kết quả được công bố: không ai đậu, ngay từ phần thi viết. Tướng Viên đã đậu phần thi viết. Điều này chứng tỏ khả năng viết và sự hiểu biết của ông, ít ra là về môn học được hỏi trong phần này, vì bài làm của thí sinh luôn luôn bị rọc phách trước khi giao cho giám khảo chấm. Trong phần vấn đáp, thầy trò trực tiếp đối diện với nhau và vị giám khảo là người Việt, không phải người Pháp, còn trẻ, ở tuổi quân dịch. Ông đã bị chính vị giám khảo người Việt này đánh hỏng nhưng trong suốt thời gian sau đó mọi việc đều an lành, không có gì đáng tiếc xảy ra cả. Đây là một trong những điểm son rực rỡ cho cả hai phía, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Trường Đại Học Văn Khoa Saigon nói riêng và nền giáo dục của miền Nam nói chung thời trước năm 1975.

Tưởng cũng nên nói thêm là cũng trong thời gian này, Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm, Giám Đốc Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng cũng theo học Ban Sử ở trường này. Sang Mỹ, ông ghi tên học ở đại học Mỹ và đậu thêm bằng Cao Học. Cũng vậy, chuyện chuẩn tướng chào chuẩn úy trước. Lý do là vị chuẩn tướng này đã theo học lớp văn hóa buổi tối để dự thi tú tài do sự khuyến khích của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và người chuẩn úy trước khi nhập ngũ là một giáo sư trung học dạy lớp buổi tối. Hai người gặp nhau một buổi sáng khi cùng đưa con đi học. Nhưng cũng chưa hết, trong thời gian này Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị cũng là được người ta biết tới như một ông “Tướng Văn Hoá”.

Cuối cùng và vẫn chưa hết là trường hợp của một vị trung tá cũng thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trình một tiểu luận cao học ở ban Sử của trường Đại Học Văn Khoa Saigon. Bình thường, khi đã được phép trình, thí sinh được kể như là đã đậu. Vị trung tá này đã bị đánh rớt. Lý do là ông đã không sửa lại tiểu luận của mình mặc dầu đã được khuyến cáo trước đó và để nguyên những lỗi lầm bị cho là căn bản. Cũng nên biết là trước khi trình vị trung tá này đã đặt tiệc trà ở phòng giáo sư ở ngay lầu dưới để sẽ ăn mừng cùng với bạn bè và gia đình sau khi được chấm đậu.

Người ta có thể trách cứ ban giám khảo là quá nghiêm khắc nếu không nói là nghiệt ngã, nhưng vì tiểu luận cao học cũng như luận án tiến sĩ thời này được trình trước công chúng, ai vào nghe cũng được, sau đó ai cũng có thể mở xem được. Người ta có thể đánh giá nhà trường căn cứ vào phần trình bày và phẩm chất của tiểu luận hay luận án mà thí sinh đệ trình. Có điều vì thí sinh này là một trung tá của Quân Đội VNCH nên nhiều người tỏ ý lo ngại cho các giám khảo.

Cũng giống như Đại Tướng Cao Văn Viên, ông có thể không làm gì, nhưng đàn em của ông thì sao? Tướng Viên có thể không làm nhưng thuộc hạ của ông làm sao ông kiểm soát được? Nên nhớ Tướng Viên trước đó là Tư Lệnh Lực Lượng Nhảy Dù. Lính của ông sống nay, chết mai, chuyện gì họ cũng có thể làm được. Nhưng cuối cùng thì mọi chuyện đều đâu vào đó, an lành, không có gì xảy ra cả. Đó là những điểm son của cả nền giáo dục của miền Nam lẫn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trước khi miền đất được coi là tự do không còn nữa, người viết xin được nhắc lại.

Thứ năm: Một Xã hội tôn trọng sự học và những người có học
Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xã hội Miền Nam nói chung và nền giáo dục Miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đã được biểu lộ không riêng qua tinh thần “tôn sư trọng đạo” mà còn được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị. Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị. Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc.

Được xã hội tôn trọng nhưng ngược lại xã hội cũng trông đợi rất nhiều ở các thầy. Điển hình là chuyện “giáo sư mà cũng đi ăn phở”. Câu chuyện này do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Cư kể lại. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Cư là một trong những vị cựu sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội thời Pháp thuộc, một trong những vị giáo sư nổi tiếng là nghiêm túc còn lại của trường này. Ông dạy ở trường Thành Chung Nam Định, sau là Đại Học Sư Phạm Saigon. Một trong những học trò cũ của ông sau này là Ngoại Trưởng của Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa CSVN Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch.

Câu chuyện xảy ra khi Giáo Sư Cư xuống chấm thi ở Mỹ Tho khi mới từ Hà Nội di cư vào Nam hồi sau năm 1954 vào một buổi sáng khi các vị giám khảo rủ nhau đi ăn phở trước khi nhập trường và khi người dân quanh vùng nhìn thấy các thầy trong tiệm phở. Cũng nên nhớ là hồi đó các giáo sư trung học, nhất là các vị dạy ở cấp tú tài là rất hiếm và kỳ thi tú tài là một biến cố lớn ở trong vùng.

Cũng nên để ý là, khác với ở miền Bắc, nơi thầy cô thời trước gọi học trò bằng anh hay chị, trong Nam học trò được thầy gọi bằng trò và thường tự xưng là trò. Quan niệm chính danh ở đây được thấy rõ, từ đó sự trông đợi tư cách phải có của người thầy. Cho tới nay, người ta không rõ danh xưng em trong học đường Việt Nam về sau này đã được sử dụng từ bao giờ. Có thể từ thời có Phong Trào Thanh Niên Thể Dục Thể Thao của Hải Quân Đại Tá Ducoroy thời Thống Chế Pétain ở bên Pháp và Đô Đốc Decoux ở Đông Dương, nhưng cũng có thể do ông Hồ Chí Minh thời năm 1945. Nói như vậy vì trong thư gửi các học sinh hồi đầu niên khóa 1945-1946, Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng câu “Các em học sinh, Các em hãy nghe lời tôi…” và tiếp theo bằng ba tiếng “lời của một người anh lớn..” mặc dù lúc đó ông đã 55 tuổi và thư là gửi cho những thiếu niên, những học sinh trung và tiểu học chỉ đáng tuổi cháu nội, cháu ngoại của ông.

Lối xưng hô này đã không được một số thầy cô trong Nam chấp nhận. Nhiều người vẫn ưa thích lối xưng hô cổ truyền hơn và ngay ở bậc đại học, nhiều sinh viên, đặc biệt là các nữ sinh viên, đã xưng con với các thầy của mình mặc dù thầy trò hơn nhau chỉ có vài tuổi. Một vị Hiệu trưởng một trường nữ trung học lớn, nổi tiếng của Saigon đã chỉnh học sinh của mình khi người này xưng em với bà: “Thưa Cô, Con chứ! sao lại Thưa Cô, Em!” Tưởng ta cũng nên nhớ là, thầy và con, cô và con, từ cả hai vị thế, từ trách niệm đến bổn phận và cung cách đối xử khác nhau nhiều lắm.

Ngoài xã hội cũng vậy, các phụ huynh học sinh luôn luôn gọi các thầy cô của con mình bằng thầy và cô luôn, với tất cả mọi sự tin cậy khi đặt trách nhiệm dạy dỗ con mình vào tay họ, đặc biệt là các thầy cô tiểu học. Điều này giải thích tại sao sau năm 1975, các giáo viên từ miền Bắc vô Nam ưa dạy các học sinh gốc miền Nam hơn các học sinh mới từ miền Bắc theo chế độ mới vào.

Trở lại với thành ngữ “Tôn sư trọng đạo”. Thành ngữ này thường được dùng như một phương châm dành cho các học sinh và phần nào luôn cả các phụ huynh tương tự như các câu “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thày”, hay “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hoặc thành ngữ “quân sư phụ.” Đối với một số không nhỏ các nhà giáo thành ngữ này cần được hiểu là bao gồm hai phần: phần thứ nhất là “tôn sư” và phần thứ hai là “trọng đạo”. Tôn sư là dành cho học trò và trọng đạo là dành cho người thày theo đúng quan niệm chính danh của Khổng Giáo. Thày phải ra thày trước khi đòi hỏi trò phải kính trọng thày. Đây là một vấn đề khác có tính cách chuyên môn và khá phức tạp. Tôi sẽ xin trở lại trong một bài khác.

Tạm thời kết luận

Bài này được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục hiện tại ở Việt Nam thời Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần quan trọng trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến.

Nhiều người còn dùng hai chữ “phá sản” để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975.

Trong khi đó ở Hải Ngoại, giới trẻ Việt Nam, ở đây tôi chỉ nói tới những người xuất thân từ các học đường ở miền Nam, đã thành công rực rỡ và được các thầy cô và các cơ quan truyền thông khen ngợi, nếu không nói là ca tụng. Nhiều người không những vẫn tiếp tục làm nghề cũ, kể cả những ngành mà tiêu chuẩn quốc tế rất chính xác, rõ ràng mà họ học được ở các trường đại học hay cao đẳng ở Việt Nam. Rất nhiều người đã trở thành những chuyên viên cao cấp, những cố vấn, hay những giáo sư đại học bản xứ với những công trình nghiên cứu có giá trị cao và ở mức độ quốc tế. Ở đây, như đã nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản. Nhiều công trình nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn còn cần phải được thực hiện bởi nhiều người, trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này.

Tuy nhiên có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm “cách mạng vì cách mạng” và hệ quả của nó có thể làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của dân tộc, theo chiều hướng đi xuống, nhất là khi cách mạng không bắt nguồn từ truyền thống và tư duy của chính dân tộc mình. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác, xóa bỏ và làm lại tất cả, trong đó có giáo dục. Cách Mạng Mỹ không làm như vậy, Cách Mạng Pháp cũng không làm như vậy…vẫn duy trì những truyền thống cũ. Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm. Có điều vì bằng kinh nghiệm nên khi biết được sự thật thì đã quá muộn. Nhiều khi người ta phải từ bỏ cách mạng để trở về với truyền thống của cha ông vì cha ông của chúng ta cũng là người, cũng thông minh, cũng khôn ngoan, sáng suốt, cũng nhạy cảm như chính chúng ta, ngoại trừ các Cụ sống ở thời của các Cụ, mỗi Cụ chỉ sống một thời gian ngắn, còn truyền thống thì có từ lâu đời.

Phải có lý do truyền thống mới được tôn theo, được duy trì và từ đó tồn tại. Lịch sử do đó đã luôn luôn liên tục vì không liên tục là đổ vỡ, là mất quân bình và xáo trộn, là thụt lùi hay ít ra là bất khả tiến bộ.

Khởi viết, tháng 9, 2006,
Sửa lại trong Mùa Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ 2016
Cập nhật hóa và bổ khuyết, Tháng Tư, 2019
Phạm Cao Dương






VIỄN CẢNH ĐỊA NGỤC CỦA CHIẾN TRANH MỸ - IRAN (Amin Saikal - Project Syndicate)




Amin Saikal  -  Project Syndicate
Phan Nguyên dịch
13/05/2019

Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc Samantha Power từng gọi các cuộc chiến tranh diệt chủng là “một vấn đề địa ngục”. Khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump gia tăng căng thẳng với Iran, thế giới giờ đây phải nghĩ đến viễn cảnh của một “cuộc đối đầu địa ngục” giữa hai nước.

Hiện tại, cả Hoa Kỳ và Iran đều nói rằng họ không muốn có chiến tranh. Tuy nhiên, từng bước một, họ đang tiến vào một quỹ đạo xung đột. Hoa Kỳ đã tăng cường triển khai quân sự ở khu vực xung quanh Iran, điều động nhóm tàu sân bay tấn công USS Abraham Lincoln và một đội đặc nhiệm máy bay ném bom đến Trung Đông để cảnh báo chế độ Iran không được thực hiện các hành động đe dọa. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Iran đã lên án hành động này như là một đòn chiến tranh tâm lý và coi đó là một hành động khiêu khích nhằm lôi kéo Iran vào một cuộc xung đột quân sự.

Kể từ khi nhậm chức, Trump đã không ngừng mô tả Iran là nguồn gốc của mọi tội lỗi – bao gồm khủng bố quốc tế – trong và ngoài khu vực. Ông đã đảo ngược chính sách can dự với Iran của người tiền nhiệm Barack Obama, và đang gây áp lực tối đa lên chế độ Iran với ba mục tiêu trọng tâm.

Trước hết, chính quyền Trump muốn mang lại sự thay đổi chế độ, hoặc ít nhất là sự thay đổi trong hành vi của chế độ Iran. Mỹ tìm cách làm suy yếu nền kinh tế Iran để nước này không còn là một tác nhân có ảnh hưởng trong khu vực. Mỹ cũng muốn củng cố vị thế của Israel với tư cách là một đồng minh mạnh mẽ và trung thành nhất của Mỹ ở Trung Đông, đồng thời củng cố quan hệ chiến lược chặt chẽ giữa nhà nước Do Thái và các nước Ả Rập chống Iran, bao gồm các quốc gia vùng Vịnh – do Ả Rập Saudi lãnh đạo – cùng với Ai Cập.

Để đạt được những mục tiêu này, Trump đã rút Mỹ ra khỏi thỏa thuận hạt nhân với Iran năm 2015, có tên gọi chính thức là Kế hoạch hành động toàn diện chung (JCPOA). Chính quyền Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt hà khắc đối với Iran, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực kinh tế của nước này, khiến một số công ty nước ngoài phải ngừng kinh doanh với Tehran. Và trong một động thái chưa từng có vào tháng trước, Trump đã gọi lực lượng chủ chốt của quân đội Iran, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, là một tổ chức khủng bố.

Cố vấn an ninh quốc gia có tư tưởng diều hâu của Trump, John Bolton, được sự ủng hộ của Ngoại trưởng Mike Pompeo, gần đây đã nói rằng: “Hoa Kỳ không tìm kiếm chiến tranh với chế độ Iran, nhưng chúng tôi sẵn sàng đáp trả bất kỳ cuộc tấn công nào, cho dù là bởi các lực lượng được Iran ủy nhiệm, bởi Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, hoặc bởi lực lượng quân đội chính quy của Iran”. Điều này đưa Mỹ và Iran tiến gần hơn đến một cuộc đối đầu quân sự có thể được kích hoạt một cách có chủ ý hoặc do các tính toán sai lầm.

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Iran sẽ không có khả năng quân sự để đứng vững trước hỏa lực của Mỹ. Mỹ có thể nhanh chóng tiêu diệt các cơ sở quân sự của Iran, các địa điểm hạt nhân và các cơ sở hạ tầng trọng yếu. Ngoài ra, Mỹ có thể ngăn Iran chặn eo biển Hormuz, nơi khoảng 30% lượng dầu thế giới đi qua.

Tuy nhiên, Iran cũng có khả năng khiến bất kỳ cuộc tấn công quân sự nào của Mỹ – có hoặc không có sự hỗ trợ của Israel và Ả Rập Saudi – trở nên rất tốn kém cho Mỹ và khu vực. Chính quyền Iran có thể đánh chìm một vài con tàu tại điểm hẹp nhất của eo biển Hormuz – tuyến đường hàng hải chỉ rộng hai dặm (3,2 km) theo cả hai chiều nơi hẹp nhất – nhằm gây tắc nghẽn eo biển này. Quan trọng hơn, Iran đã xây dựng một chiến lược chiến tranh bất đối xứng dựa trên cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Mặc dù Iran thiếu một lực lượng không quân tiền tuyến hiện đại, nhưng nước này đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc phát triển và sản xuất các tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, có khả năng tấn công các mục tiêu ở xa như Israel.

Hơn nữa, chế độ này có thể nhắm vào các địa danh như tháp Burj Khalifa ở Dubai – tòa nhà cao nhất thế giới – để gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn khu vực. Ngay cả khi độ chính xác của tên lửa Iran không thể được đảm bảo, nhưng nhiều quả trong số đó vẫn có thể thoát được các hệ thống phòng thủ. Chẳng hạn, hệ thống phòng thủ chống tên lửa Vòm Sắt (Iron Dome) tối tân của Israel thậm chí cũng không thể vô hiệu hóa tất cả các tên lửa loại đơn giản được phóng từ dải Gaza.

Hơn nữa, chế độ Iran đã tạo ra một mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm trên toàn khu vực. Syria và Iraq đã trở thành những mắt xích quan trọng trong một vòng cung chiến lược của người Hồi giáo dòng Shia do Iran dẫn đầu, trải dài từ Afghanistan đến Libăng. Các lực lượng ủy nhiệm của Iran bao gồm bộ phận dân cư dòng Shia tại Afghanistan, lực lượng dân quân Shia ở Iraq, và nhóm Hezbollah, vốn đang kiểm soát miền nam Li-băng và có hàng ngàn tên lửa sẵn sàng nhắm vào Israel. Thực tế, Hezbollah sau cuộc chiến năm 2006 với Israel đã trở nên mạnh hơn trước.

Ngoài ra, Iran có thể huy động hàng ngàn chiến binh đánh bom tự sát muốn hy sinh vì mục tiêu chung của người Hồi giáo dòng Shia và chủ nghĩa dân tộc mà chế độ Iran đã thúc đẩy thành công. Những chiến binh đánh bom tự sát này được cài sâu trong lực lượng an ninh Iran và trên toàn bộ khu vực.

Chính quyền Iran đã nỗ lực tăng cường an ninh quốc gia với sự hỗ trợ của một vài nhân tố trong khu vực. Do đó, trong trường hợp xảy ra xung đột với Mỹ, Iran sẽ không dễ dàng bị tiêu diệt. Ngược lại, bất kỳ cuộc tấn công quân sự lớn nào cũng có thể dẫn đến một địa ngục không thể kiểm soát được. Cả hai bên đều có lý do chính đáng để tránh châm ngòi cho một cuộc chiến.

---------------------
Amin Saikal là Giáo sư ngành Khoa học Chính trị và Giám đóc Trung tâm Nghiên cứu Arab và Hồi giáo tại Đại học Quốc gia Australia. Ông là tác giả của cuốn Iran Rising: The Survival and Future of the Islamic Republic.

Nguồn: Amin Saikal, “A Confrontation from Hell”, Project Syndicate, 10/05/2019.

Copyright: Project Syndicate 2019






EU HIỆN ĐANG MẠNH HƠN BAO GIỜ HẾT (Klaus Geiger)




Klaus Geiger
Tôn Thất Thông dịch
12/05/2019


Tất cả những người tiên đoán thảm họa trong cuộc bầu cử định mệnh sắp tới đã đánh giá sai các dấu hiệu của thời đại: nhờ các cuộc khủng hoảng của những năm gần đây, EU không suy yếu mà dân chủ hơn - và sống động hơn. Điều này có ba lý do chính.

Cuộc bầu cử châu Âu sắp tới được cho là một cuộc bầu cử định mệnh. Nhưng EU không đối mặt với sự sụp đổ của nó, mà là sự phục hưng. Và quả đúng là nghịch lý, ba sự kiện đã làm cho Liên hiệp châu Âu trở nên mạnh mẽ là: khủng hoảng đồng Euro, khủng hoảng tị nạn và Brexit [Anh rời EU].

EU đang ở ngã ba đường trước cuộc bầu cử châu Âu trong hai tuần tới. Giấc mơ về một lục địa hòa bình, thống nhất đang gặp thử thách. Những người theo chủ nghĩa dân túy đang làm cho những người dân chủ thành trò cười - và đào thêm những hố ngăn cách sâu thẳm trên khắp EU. Đó là những điều bạn nghe thường xuyên trong những ngày này. Điều đó không tương ứng với tình hình thực tế. Bởi vì EU chưa bao giờ mạnh như hiện nay. Ý tưởng châu Âu trở nên sống động hơn bao giờ hết. Và như một nghịch lý, điều đó mới thoạt nhìn có ba lý do chính: khủng hoảng đồng euro, khủng hoảng tị nạn và Brexit.

Mười năm trước, EU còn là một thực thể hết sức xa vời đối với nhiều người châu Âu. Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, EU đã thực hiện hai dự án lớn nhất của mình - khu vực Schengen và đồng Euro. Brussels và các chính phủ quốc gia - EU về cơ bản là một hỗn hợp của cả hai - dường như thật xa cách và kiêu ngạo dưới mắt nhìn của nhiều công dân. Và họ cũng tồi như thế thật, điều đó không có gì phải tranh cãi.

[Trước đây], nếu ai đó nói rằng khu vực Schengen không có biên giới là một ý tưởng hay, nhưng không nên tiến hành quá nhanh, anh ta được coi là một "người hoài nghi EU". Nếu người ấy nói rằng biên giới bên ngoài phải được bảo vệ, để cho sự trao đổi hợp tác giữa các cơ quan an ninh bên trong được lồng quyện vào nhau tốt đẹp, anh ta sẽ bị gọi là người phản giáo vô thần trong mắt các môn đệ tôn thờ những dự án lớn ở châu Âu. Và những ai cho rằng, thật vô trách nhiệm khi thống nhất nhiều quốc gia với nhiều nền kinh tế khác nhau – để rồi sau đó vi phạm các nguyên tắc của Maastricht – người đó sẽ bị gán cho nhãn hiệu là theo chủ nghĩa hoài nghi.

Đó là thời gian không có lựa chọn thay thế. Một thuật ngữ được sáng chế đầu tiên bởi Thủ tướng Angela Merkel khi xảy ra cuộc khủng hoảng đồng Euro, cũng là một nguyên tắc hành xử đã được xây dựng từ thời Helmut Kohl và Gerhard Schröder trong liên hệ với Brussels. Một nguyên tắc cơ bản của chế độ chuyên chế! Thông điệp của họ là: Những người đang nắm trách nhiệm biết họ phải làm gì và đối với người dân thường, những gì xảy ra ở Brussels thực chất là quá phức tạp. Chính thái độ này đã làm cho chủ nghĩa dân túy trở nên hấp dẫn tuyệt vời. Đảng AfD (Alternative für Deutschland) đã hình thành từ sự phản kháng đối với tư tưởng bảo hộ kiêu ngạo này.

Cuộc khủng hoảng đồng Euro và cuộc khủng hoảng tị nạn đã đưa EU đến bờ vực sụp đổ. Cuộc khủng hoảng đồng Euro gây ra cuộc chia rẽ giữa Bắc và Nam, cuộc khủng hoảng tị nạn thì chia rẽ Tây và Đông. Nhưng hai cuộc khủng hoảng ấy cũng khiến cho EU thức tỉnh và phải hành động nghiêm chỉnh hơn. EU cần phải thú nhận rằng, việc kiến tạo khu vực đồng Euro xuất phát từ mong muốn chính trị đã gây ra những sai lầm về mặt kinh tế. EU cũng cần phải thừa nhận rằng, thật là một sự vô lý quá hiển nhiên khi mở cửa các biên giới nội bộ của EU trong quá trình thực hiện Schengen - nhưng lại để biên giới bên ngoài không được bảo vệ gì hết.

Tuy nhiên, hai cuộc khủng hoảng cũng làm cho lục địa châu Âu lần đầu tiên lay chuyển được con người châu Âu. Thật bất ngờ, châu Âu không còn là một bộ máy quan liêu ở Brussels, nơi chỉ chuyên sản xuất hàng núi bơ và đưa ra qui định về độ cong của chuối. Các vấn đề châu Âu và EU đã bất ngờ biến thành đề tài nóng hổi quanh bàn ăn sáng và những nơi gặp gỡ thường xuyên. Từ Lisbon đến Helsinki, từ Paris đến Warsaw, đó cũng chính là những chủ đề lôi kéo mọi người tham gia tranh luận.

Các câu hỏi không còn trừu tượng và xa vời nữa, giờ đây chúng đã chạm đến từng công dân về các vấn đề cốt lõi của khả năng sinh tồn. Cuộc khủng hoảng đồng Euro đe dọa tình trạng tài chính của họ; cuộc khủng hoảng tị nạn đã và đang dằng xé công dân châu Âu vì nó đụng chạm đến các vấn đề văn hóa - đạo đức liên quan đến bản sắc con người, lòng khoan dung và tinh thần đoàn kết.

Bây giờ nó mới thực sự được thảo luận và tranh luận. Cuối cùng, những gì mà một nền dân chủ cần làm, thì cũng đã được thực hiện. Cả lục địa đã và đang vật lộn để tìm kiếm giải pháp. Sự vươn dậy của chủ nghĩa dân túy phi tự do thường là triệu chứng của một chính sách châu Âu không đặt trên nền tảng tự do dân chủ. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng, những người dân túy cuối cùng không làm suy yếu nền dân chủ châu Âu, mà ngược lại là củng cố nó. Những người theo chủ nghĩa dân tộc và dân túy thường tạo nên tình trạng, rằng các lực lượng tự do buộc phải thoát ra khỏi vùng an toàn thoải mái của họ, rằng họ phải trực diện với những đối thủ thực sự, rằng hình tượng dân chủ phải trở thành nền dân chủ đa nguyên mang tính cạnh tranh thực sự. Điều này sẽ được thấy rõ trong cuộc bầu cử châu Âu sắp tới.


Cạnh tranh về ý tưởng và niềm tin

Những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người được gọi là dân túy có thể sẽ trở nên mạnh hơn qua cuộc bầu cử. Thì có sao đâu? Còn lâu lắm họ mới nắm được đa số. Dấu ngắt duy nhất trong bản nhạc có thể là: các khối dân biểu chính của nhóm Bảo thủ và Dân chủ Xã hội sẽ không còn chiếm đa số dù liên minh với nhau, điều mà từ trước đến nay họ thường dùng để đạt được những thỏa hiệp lớn. Sau cuộc bầu cử, sẽ có một lực lượng đối lập thực sự, một cuộc cạnh tranh thực sự về ý tưởng và niềm tin.

Sau cùng, cuộc khủng hoảng lớn thứ ba của EU, Brexit, đã làm cho mọi người ở EU nhận thức rõ rệt hơn, việc rút khỏi cộng đồng chung thực sự có nghĩa là gì. Nó cho thấy là thực tế phức tạp đến mức nào - và chứng minh điều mà nhiều người đã biết: rằng những thông điệp ngây ngô của những người theo chủ nghĩa dân tộc, hữu cũng như tả, chưa bao giờ thực sự đứng vững sau một cuộc trắc nghiệm thực tế - và chắc hẳn lần này cũng thế. Hôm nay, mức độ đồng thuận trong EU đã lấy lại vị trí cực cao.

Như các cuộc thăm dò cho biết, phần lớn người dân châu Âu, cho dù ở Ý, Đức hay Ba Lan, đều muốn duy trì EU và muốn một châu Âu thống nhất. Phần lớn người dân châu Âu là những người dân chủ có xác tín. Đó là lý do tại sao họ thích châu Âu hiện tại, một châu Âu đang đấu tranh cho các giải pháp tốt đẹp.

Nền kinh tế châu Âu đang tăng trưởng trở lại, sau mười năm kể từ cuộc khủng hoảng đồng Euro. Ngay cả cho dù cốt lõi của hệ thống chưa phải là ổn định. Cuộc khủng hoảng tị nạn đã dẫn đến một cách nhìn thực tế. Và EU phải làm những bước đi đã quá muộn mà công dân EU còn có thể chấp nhận, theo các cuộc thăm dò dư luận: giúp đỡ nạn nhân của các vùng có khủng hoảng chính trị, đồng thời bảo vệ biên giới bên ngoài và trục xuất người nhập cư bất hợp pháp.

Nếu ai đó còn phạm sai lầm và tuyên bố rằng mọi thứ đều ổn thỏa, điều đó sẽ khiến mọi người nổi giận. Đó là cách đã xảy ra trước các cuộc khủng hoảng. Nếu ai đó lỡ phạm sai lầm, nhưng thừa nhận nó và cố gắng tránh lỗi lầm sau này, thì người khác có thể tha thứ. Bằng cách này, các cuộc khủng hoảng đã đưa nhiều người EU đến gần nhau, hơn là thời kỳ cách đây nhiều thập kỷ với những bài diễn văn viễn vông.

Dù sao, những người theo chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi đã vượt quá đỉnh cao của họ - và hầu như không thể phát triển thêm, như các cuộc thăm dò cho thấy. Sự chia rẽ trong châu Âu vốn dĩ bị lên án nhiều chỉ là một chặng trung gian trên đường tiến đến một cảm giác gắn kết mới mẻ, nếu như các lực lượng dân chủ tự do bây giờ hành xử khôn khéo hơn.

Trên cơ sở này, người ta có thể sẵn sàng đối đầu với những nguy hiểm thực sự: Những nghi ngờ về lòng trung thành của chính phủ Mỹ với đồng minh, các cuộc tấn công từ các chế độ phi tự do của Nga và Trung Quốc đối với châu Âu. Những cuộc khủng hoảng lớn dường như rất cần thiết để làm cho châu Âu nghiêm chỉnh và mạnh mẽ hơn để có thể vượt qua những thách thức đó.

----------------------
Nguồn: Die EU ist derzeit so stark wie noch nie – WELT.de, 9.5.2919






THƯƠNG MẠI : TRUMP DỌA BẮC KINH TÌNH HÌNH SẼ "TỒI TỆ HƠN NHIỀU" (tổng hợp)




Đăng ngày 12-05-2019

Sau vòng đàm phán thứ 11 thất bại, tổng thống Donald Trump lớn tiếng kêu gọi Trung Quốc mau chóng đúc kết một thỏa thuận thương mại với Mỹ. Ông Trump đe dọa, nếu bất đồng kéo dài đến nhiệm kỳ tổng thống mới, Bắc Kinh chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề gấp bội.

Trong một thông điệp trên Twitter hôm qua, 11/05/2019, tổng thống Trump khẳng định :

"Tôi tin tưởng là phía Trung Quốc đã cảm thấy bị đòn đau trong vòng đàm phán vừa qua đến mức họ chỉ trông đợi đến kỳ bầu cử tới, năm 2020, với hy vọng họ sẽ gặp may, với chiến thắng của phe Dân Chủ, cho phép họ có thể tiếp tục cướp đi của nước Mỹ mỗi năm 500 tỉ đô la". Nhưng ông Trump cảnh cáo là, chắc chắn ông sẽ thắng cử, và lúc đó để đạt được một thỏa thuận với Mỹ, Bắc Kinh sẽ phải trả giá đắt nhiều hơn. Như vậy, theo tổng thống Mỹ, "khôn ngoan" hơn hết với Trung Quốc là nên nhân nhượng ngay từ bây giờ.

Tuy nhiên, theo AFP, phản ứng của phía Trung Quốc cũng cứng rắn không kém, người phát ngôn bộ Thương Mại Trung Quốc nhấn mạnh : Bắc Kinh "sẽ không bao giờ đầu hàng trước áp lực".

Tổng thống Mỹ đã khởi sự thủ tục áp đặt loạt tăng thuế mới với hơn 300 tỉ đô la hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Tuy nhiên, từ đây đến khi quyết định có hiệu lực còn nhiều tháng nữa. Trong suốt thời gian này, Washington coi đây là một trong các biện pháp chủ yếu để gây áp lực với Trung Quốc. Trong một thông điệp trên Twitter trước đó, tổng thống Trump hối thúc giới công nghiệp Mỹ chuyển sang đầu tư cho sản xuất ngay tại Hoa Kỳ, hơn là nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc.

Trên thực tế, một trong các nạn nhân đầu tiên của việc chính quyền Mỹ tăng thuế với hàng Trung Quốc là các doanh nghiệp nhập khẩu Mỹ, buộc phải gánh chịu mức giá tăng. Giới trung lưu Hoa Kỳ cũng có nguy cơ phải trả nhiều tiền hơn cho các mặt hàng tiêu thụ thông thường. Theo tổ chức Trade Partnership, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hơn 200 tỉ đô la hàng Trung Quốc, từ 10% lên 25%, có hiệu lực từ thứ Sáu tuần trước, sẽ khiến một gia đình Mỹ bốn người thiệt hại trung bình khoảng 767 đô la/năm.

Sau vòng đàm phán thất bại, Washington và Bắc Kinh đều tuyên bố sẽ nối lại thương lượng. Tuy nhiên, trong hiện tại, chưa biết đến khi nào, các đàm phán được tổng thống Mỹ đánh giá là « thẳng thắn » và « mang tính xây dựng » sẽ tiếp tục.

------------------------

Người Việt
May 12, 2019

WASHINGTON, D.C. (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Bảy, 11 Tháng Năm, cảnh cáo Trung Quốc rằng nên ký thỏa thuận thương mại lúc này, vì sẽ “rất tệ hại cho họ nếu thương thảo trong nhiệm kỳ thứ nhì của tôi,” theo hãng thông tấn AFP.

Washington và Bắc Kinh đang có cuộc đối đầu về thương mại, khiến có sự gia tăng thuế quan ở cả hai phía, tạo lo ngại rằng cuộc tranh chấp sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới.

Cuộc đàm phán kéo dài hai ngày tại Washington, D.C. mới đây đã chấm dứt hôm Thứ Sáu mà không đạt được thỏa thuận gì.

Trưởng phái đoàn Trung Quốc, Phó Thủ Tướng Lưu Hạc (Liu He) nói hai bên sẽ lại gặp nhau ở Bắc Kinh vào một ngày hiện chưa được xác định.

Tuy nhiên ông Lưu cũng cảnh cáo rằng Trung Quốc sẽ không nhượng bộ “về những điều căn bản.”

Trong bản tweet gửi ra hôm Thứ Bảy, Tổng Thống Trump nói rằng: “Tôi nghĩ Trung Quốc cảm thấy bị đánh bại nặng nề trong các cuộc thương thảo gần đây nên họ có thể chờ đến sau cuộc bầu cử năm 2020, để xem họ có may mắn hơn không và có được chiến thắng của phía Dân Chủ – và họ sẽ tiếp tục lột của nước Mỹ số tiền $500 tỉ mỗi năm.”

Ông Trump nói thêm rằng: “Vấn đề là họ biết tôi sẽ chiến thắng (nền kinh tế tốt đẹp và số thất nghiệp thấp nhất trong lịch sử Mỹ và còn nhiều thứ khác), do vậy thỏa thuận sẽ còn tệ hại hơn nữa cho họ nếu phải thương thuyết trong nhiệm kỳ nhì của tôi.”

Tổng Thống Trump cáo buộc Bắc Kinh là trở mặt về các điểm đã đồng ý sau khi thương thảo thời gian vừa qua. Ông ra lệnh tăng thuế quan từ 10% lên 25% đối với số mặt hàng trị giá $200 tỉ nhập cảng từ Trung Quốc, có hiệu lực hôm Thứ Sáu vừa qua.

Ông sau đó tạo thêm áp lực bằng cách ra lệnh tăng thuế quan đối với hầu như tất cả các mặt hàng còn lại, trị giá khoảng $300 tỉ, theo Đại Diện Thương Mại Mỹ, ông Robert Lighthizer.

Việc tăng thuế quan này sẽ không có hiệu lực trong mấy tháng nữa, vì còn phải có sự góp ý của công chúng.

Phía Trung Quốc đã đáp trả bằng cách tăng thuế quan lên số hàng hóa trị giá khoảng $110 tỉ từ Mỹ, gồm nông phẩm và các sản phẩm khác.(V.Giang)

---------------------------------

Thanh Bình  -  GDVN
07:58 10/05/19

Thù hận của Mỹ đối với Trung Quốc không ngờ lớn đến vậy. Tổng thống Donald Trump coi Trung Quốc là kẻ xâm lược kinh tế toàn cầu và là kẻ phá hoại quy tắc.


Trong tuần trước, Mỹ và Trung Quốc đã hoàn thành cuộc đàm phán áp chót tại Bắc Kinh và đang chuẩn bị cho cuộc đàm phán cuối cùng tại Mỹ vào hôm 8/5/2019 trước khi chốt lại bằng một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngay sau đó.

Cuộc đàm phán đi gần tới hồi kết và xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm như quyền sở hữu trí tuệ, vốn được cho là đã đạt “nhiều tiến bộ” tới khi ông Donald Trump nổi giận và tuyên bố sẽ tăng thuế áp lên hàng hóa Trung Quốc cho dù đàm phán chưa kết thúc.

Theo đó, Mỹ sẽ tăng thuế đánh vào 200 tỷ USD hàng nhập khẩu Trung Quốc từ 10% lên 25%, bắt đầu từ 10/5/2019.

Tất cả ngôn từ hoa mỹ mô tả về những cuộc đàm phán Mỹ - Trung “tốt đẹp”, “tích cực”, “tiến triển tốt” đều trở thành vô nghĩa.

Tất cả thông báo từ các quan chức Mỹ và Trung Quốc cho rằng cuộc đàm phán tuần trước tại Bắc Kinh rất hiệu quả chỉ là những lời nói cường điệu.

Theo Bloomberg, Tổng thống Donald Trump nổi giận vì Trung Quốc nuốt lời, trở mặt.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin và Đại diện Thương mại Robert Lighthizer chia sẻ với báo giới rằng, các nhà đàm phán Trung Quốc đã “nuối lời” (renege) đảo ngược những điều khoản mà 2 bên đã thỏa thuận nháp trước đó.

Lu Xiang, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Trung từ Viện khoa học xã hội Trung Quốc (CASS) nhận định, Tổng thống Mỹ Donald Trump đang thực hiện chiến thuật gây áp lực mạnh mẽ và buộc Bắc Kinh phải nhượng bộ trên bàn đàm phán lần này.

Theo Giáo sư Susan Shirk, Đại học California (Mỹ), quan hệ Mỹ-Trung bắt đầu xấu đi không phải là hành động của phía Mỹ mà đến từ sự thay đổi trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc.

Giáo sư Shirk là một trong những chuyên gia có ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực quan hệ Mỹ-Trung, từng giữ chức Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, cho rằng khó khăn và căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung bắt đầu từ thời Hồ Cẩm Đào.

Năm 2008, Mỹ và các nước Tây Âu lâm vào khủng hoảng tài chính quốc tế. Khi đó, chính phủ Trung Quốc tung ra gói kích thích kinh tế khổng lồ, không chỉ tránh được tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính mà còn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP tương đối cao.


Do đó, ở Trung Quốc đã xuất hiện những người theo chủ nghĩa thắng lợi quá sớm, cho rằng Trung Quốc đã tìm được đáp án cho tất cả các vấn đề.

Lãnh đạo và người dân Trung Quốc bắt đầu yêu cầu phải thực hiện chính sách ngoại giao cứng rắn hơn. Việc này có thể nhìn thấy rõ trong cách thức Trung Quốc xử lý vấn đề Biển Đông.

Trung Quốc đã có bước chuyển mình trong chính sách đối ngoại. Chính sách ngoại giao cứng rắn hơn, hành động nhiều hơn của Trung Quốc đã được tăng gấp đôi dưới thời Tập Cận Bình.
Bên cạnh đó, các xu thế phát triển nội tại của Trung Quốc gồm sửa đổi hiến pháp hay hủy bỏ hạn chế nhiệm kỳ đối với Chủ tịch nước, tăng cường sự kiểm soát của đảng với chính quyền, quân đội và xã hội, thực hiện các chính sách mang tính áp đặt hơn đều khiến Trung Quốc bị phương Tây nhìn nhận như một mối đe dọa lớn hơn.

Chính sách và quyết định đối nội, đối ngoại của Trung Quốc đã khiến ngay cả những người bạn cũ của Bắc Kinh ở Mỹ như cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson lo ngại và lên tiếng chỉ trích. Đồng thời vấp phải sự chỉ trích quyết liệt của chính quyền Tổng thống Donald Trump.

Xung đột thương mại Mỹ-Trung ngày càng quyết liệt, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, có lẽ Trung Quốc có một số điều không ngờ tới như sau:

Một là, thù hận của Mỹ đối với Trung Quốc không ngờ lớn đến vậy. Tổng thống Donald Trump coi Trung Quốc là kẻ xâm lược kinh tế toàn cầu và là kẻ phá hoại quy tắc.
Điều này hoàn toàn trái ngược với tuyên truyền của Trung Quốc về quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Đó là trong anh có tôi, trong tôi có anh, không ai có thể rời khỏi ai.

Hai là, Bắc Kinh không thể ngờ được rằng Chính quyền Tổng thống Donald Trump lại thực sự là phái hành động, ra tay mạnh mẽ, quyết liệt, không cho phép đàm phán thêm nữa, khiến sách lược câu giờ của Trung Quốc hoàn toàn mất tác dụng.

Ba là, không ngờ được rằng trong chiến tranh thương mại, nhiều nước bất mãn với chính sách của Tổng thống Donald Trump, nhưng không có nước nào đứng ra đồng tình hay ủng hộ Trung Quốc, càng không thể nói tới việc xây dựng liên minh thống nhất chống Mỹ cùng Trung Quốc.

Bốn là, không ngờ rằng trên phương diện chiến tranh thương mại với Trung Quốc, đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ ở Mỹ lại thống nhất cao độ đến vậy. Trong Quốc hội Mỹ, không còn ai đứng ra nói ủng hộ Trung Quốc.

Trung Quốc cho rằng Donald Trump cứng rắn với Trung Quốc trong vấn đề thương mại chỉ là sách lược tạm thời phục vụ bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11/2018, sau đó mọi việc sẽ như cũ.

Hơn nữa, Bắc Kinh còn lạc quan tin rằng việc áp thuế trừng phạt nhằm những nông dân ủng hộ Donald Trump sẽ khiến Tổng thống Mỹ phải xuống thang, không tin Trump có thể phá bỏ các quy tắc thương mại, gạt Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sang một bên, xây dựng các quy tắc mới, gạt Trung Quốc ra ngoài.

-----------------------
Tài liệu tham khảo:



4. Tài liệu tham khảo 323-TTX của Thông tấn xã Việt Nam;

Thanh Bình

------------------------------------

David Lawder, Jeff Mason, Michael Martina
DCVOnline dịch
Posted on May 9, 2019 by editor

WASHINGTON/BEIJING (Reuters) – Theo ba nguồn tin của chính phủ Mỹ và ba nguồn khác thuộc khu vực tư nhân thì bản điện tín ngoại giao từ Bắc Kinh đã đến Washington vào tối thứ Sáu, với những thay đổi một cách có hệ thống trong hiệp định thương mại dài gần 150 trang, sẽ làm nổ tung cuộc đàm phán kéo dài nhiều tháng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Những nguồn tin trên nói với Reuters rằng có đầy rẫy những thay đổi, rút lại những điểm đã cam kết trong hiệp định thương mại phá ngầm những yêu cầu cốt lõi của Hoa Kỳ.

Trong cả bẩy chương của bản dự thảo thỏa thuận thương mại, Trung Quốc đã xóa các cam kết thay đổi luật để giải quyết các khiếu nại cốt lõi khiến Hoa Kỳ mở cuộc chiến tranh thương mại: Ăn cắp tài sản trí tuệ và bí mật thương mại của Hoa Kỳ; buộc chuyển giao công nghệ; chính sách cạnh tranh; đi vào thị trường dịch vụ tài chính; và thao túng tiền tệ.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã trả lời trong một tweet vào Chủ nhật thề sẽ tăng thuế nhập cảng trên tất cả hàng hóa trị giá 200 tỷ đô la của Trung Quốc từ 10 lên 25% vào thứ Sáu —  ngay vào giữa chuyến thăm đã định  ​​của Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc tới Washington để tiếp tục nói chuyện đàm phán.

Hoa Kỳ cho biết vào thứ Tư, mức thuế nhập cảng cao hơn sẽ có hiệu lực vào thứ Sáu, theo một thông báo đã đăng trên Công báo Liên bang.

Trump nói hôm thứ Tư rằng Trung Quốc đã lầm to nếu họ hy vọng sẽ đàm phán thương mại sau đó với một chính quyền tổng thống của đảng Dân chủ. Trump đã tweet,

“Lý do khiến Trung Quốc rút lại và muốn đàm phán lại Hiệp định thương mại vì họ HY VỌNG chân thành sẽ có thể đàm phán với ông Joe Biden hoặc một trong những đảng Dân chủ rất yếu.”
Donald J. Trump

Trump cũng cho biết ông sẽ rất thoải mái đánh thuế nhập cảng trên hàng hóa của Trung Quốc.

Việc xóa ngôn ngữ pháp lý ràng buộc đã cam kết trong bản dự thảo đã đánh thẳng vào ưu tiên cao nhất của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Robert Lighthizer — người coi những thay đổi đối với luật pháp Trung Quốc là điều cần thiết để xác minh sự tuân thủ sau nhiều năm mà các quan chức Hoa Kỳ gọi là những lời hứa đổi mới rỗng tuếch.

Lighthizer đã thúc đẩy mạnh để có một chế độ thực thi giống như những quy địng đã sử dụng cho các biện pháp trừng phạt kinh tế — như đã áp đặt với Bắc Hàn hoặc Iran — hơn là một thỏa thuận thương mại thông thường.

Một nguồn tin có trụ sở tại Washington với kiến ​​thức về các cuộc đàm phán cho biết, “Điều này làm suy yếu kiến ​​trúc cốt lõi của thỏa thuận.”

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Geng Shuang (Cảnh Sảng) nói trong một cuộc họp ngắn hôm thứ Tư rằng giải quyết các bất đồng về thương mại là một “quá trình đàm phán” và Trung Quốc không hề “tránh né các vấn đề”.

Geng đã chuyển các câu hỏi cụ thể về các cuộc đàm phán thương mại tới Bộ Thương mại, không trả lời ngay các câu hỏi do Reuters gời đến.

Lighthizer và Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Steven Mnuchin đã sửng sốt trước mức độ thay đổi trong bản dự thảo. Hôm thứ Hai, hai viên chức nội các đã nói với báo giới rằng việc nuốt lời của Trung Quốc đã khiến chính phủ Hoa Kỳ phải dùng đến biện pháp đánh thuế nhập cảng, nhưng không nói rõ chi tiết về độ sâu và bề rộng của những sửa đổi trong bản dự thảo.

Hai trong số các nguồn tin cho biết, Lưu Hạc tuần trước đã nói với Lighthizer và Mnuchin rằng họ cần tin tưởng Trung Quốc sẽ thực hiện các cam kết đã hứa qua các thay đổi về hành chính và quy định. Cả Mnuchin và Lighthizer đều cho rằng điều đó không thể chấp nhận được, vì trong quá khứ Trung Quốc đã không thực hiện các cam kết đổi mới.

Một nguồn tin thuộc khu vực tư nhân đã nói vắn tắt về các cuộc đàm phán cho biết vòng đàm phán cuối cùng đã diễn ra rất kém vì “Trung Quốc đã tham lam.” Nguồn tin cho biết thêm,

Trung Quốc đã nuốt lời, rút lại hàng tá cam kết, nếu không muốn nói là nhiều hơn … Cuộc đàm phán tệ hại đến nỗi phải thực sự ngạc nhiên là ông Trump đã đợi đến Chủ nhật mơi nổ tung trên twitter.
“Sau 20 năm tự tung tự tác với Hoa Kỳ, Trung Quốc dường như vẫn tính toán sai với chính quyền này.”

Sẽ dàm Phán thêm trong tuần này

Sự suy sụp nhanh chóng của cuộc đàm phán làm náo loạn thị trường chứng khoán toàn cầu, trái phiếu và hàng hóa trong tuần này. Cho đến Chủ nhật, thị trường đã định giá với kỳ vọng rằng các giới chức của hai nước đã gần đến một thỏa thuận.

Giới đầu tư và phân tích đặt câu hỏi liệu tweet  của Trump có phải là một chiến thuật đàm phán để đạt thêm nhiều nhượng bộ từ phía Trung Quốc hay không. Các nguồn tin nói với Reuters rằng mức độ thiệt hại trong bản sửa đổi dự thảo là nghiêm trọng và phản ứng của Trump, không chỉ đơn thuần là một chiến lược đàm phán.

Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc, bên phải, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Steven Mnuchin, giữa, Đại diện Thương mại Robert Lighthizer, bên trái, chụp ảnh trước khi họ vào cuộc họp tại Nhà khách Diaoyutai ở Bắc Kinh, Thứ Tư, Tháng Năm 1, 2019. Nguồn: AP.

Vào sáng thứ Tư, các chỉ số thị trường chứng khoán của Hoa Kỳ phần lớn kém đi, đó là ngày thứ ba liên tiếp mất giá trên Phố Wall. S&P 500 đã giảm hơn 2% trong tuần này. Lợi suất trên chứng khoán Kho bạc Hoa Kỳ giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một tháng.

Một trong những nguồn tin của chính phủ cho hay, nhân viên đàm phán Trung Quốc nói rằng họ không thể chạm vào luật pháp, và gọi đó là những thay đổi “lớn”.

Một viên chức Trung Quốc quen thuộc với cuộc đàm phán cho biết việc thay đổi bất kỳ luật nào ở Trung Quốc đòi hỏi một quy trình đặc biệt không thể điều hướng nhanh chóng được. Viên chức này đã không đồng ý với việc khẳng định rằng Trung Quốc đang rút lại với những lời hứa của họ, và nói thêm rằng các yêu cầu của Hoa Kỳ ngày càng trở nên khó khăn hơn và con đường dẫn đến một thỏa thuận “hẹp lại” khi cuộc đàm phán kéo dài.

Lưu Hạc dự định ​​sẽ đến Washington vào thứ năm để đàm phán hai ngày mà chỉ tuần trước đã được xem như là trụ cột — một vòng cuối cùng có thể trước một thỏa thuận thương mại lịch sử. Hai trong số các nguồn tin cho biết, hiện nay, các quan chức Hoa Kỳ có rất ít hy vọng rằng Lưu Hạc sẽ có bất kỳ đề nghị nào để có thể đưa cuộc đàm phán trở lại đúng hướng.

Để tránh sự leo thang chiến tranh, một số nguồn tin cho biết, Lưu Hạc sẽ phải bỏ hoàn toàn những đề nghi thay đổi của Trung Quốc trong bản dự thảo và đồng ý đưa ra luật mới. Trung Quốc cũng sẽ phải tiến gần hơn đến vị trí của Hoa Kỳ trên các điểm khúc mắc khác, chẳng hạn như yêu cầu kiềm chế trợ cấp kỹ nghệ Trung Quốc và đẩy nhanh quy trình phê duyệt hợp lý cho cây trái biến đổi gen của Hoa Kỳ.

Chính quyền Hoa Kỳ cho biết việc leo thang thuế nhập cảng mới nhất sẽ có hiệu lực vào lúc 12:01 sáng thứ Sáu (0401 GMT), tăng thuế trên các sản phẩm của Trung Quốc như modem và bộ định tuyến internet, bảng mạch in, máy hút bụi và bàn tủ trong nhà.

Sự thoái lui của Trung Quốc có thể khiến nhóm chủ trương diều hâu với Trung Quốc trong chính quyền Trump, gồm cả Lighthizer, có lập trường cứng rắn hơn.

Mnuchin, người cởi mở hơn với thỏa thuận để Mỹ có thể vào thị trường được dễ dàng hơn, và đôi khi đụng độ với Lighthizer, đã thông nhất với Lighthizer khi mô tả các thay đổi của bản dự thảo với các phóng viên vào thứ Hai, trong khi vẫn để ngỏ khả năng thuế nhập cảng mới (25%) có thể rút lại nếu hai bên đạt được thỏa thuận.

Nhưng tweet của Trump không cho thấy có chỗ để lùi lại, và Lighthizer đã nói rõ rằng, mặc dù vẫn tiếp tục đàm phán, nhưng đến thứ Sáu, sẽ có tăng thuế nhập cảng.

Chiến tranh thương mại: Thị trường xuộng mức thấp trong năm tuần trước cuộc đàm phán Mỹ-Trung | Kinh doanh | The Guardian May 9, 2019.

© 2019 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net

*
Nguồn:  Exclusive: China backtracked on almost all aspects of U.S. trade deal – sources | David Lawder, Jeff Mason, Michael Martina | Reuters | May 8, 2019. Chris Prentice và Dan Burns ở NEW YORK, và Jing Xu và Ben Blanchard ở BEIJING  bổ túc bản tin; Simon Webb, Brian Thevenot và Paul Simao chỉnh sửa.






View My Stats