Monday, 22 December 2014

Nguồn nhân lực cao có chất lượng thấp (Lê Chân Nhân - Dân Trí)





Lê Chân Nhân  (Dân Trí)
Thứ Hai, 22/12/2014 - 07:17

(Dân trí) – Quý 3 năm 2014, có 174.000 cử nhân thất nghiệp, đó là thông tin đưa ra tại diễn đàn “Các bên liên quan trong giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam” diễn ra ngày 18.12.

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng cử nhân, kỹ sư thất nghiệp là do chất lượng đào tạo chưa đạt yêu cầu.

Tại diễn đàn này, vấn đề giảm sút lòng tin của xã hội đối với các trường đại học được đưa ra như một lời cảnh báo để các trường đại học phải tự thay đổi mình. Trường đại học mọc lên nhiều nhưng ngày càng vắng bóng sinh viên. Một số trường cầm cự được, cho ra lò vài khóa, nhưng xã hội lại từ chối tấm bằng đại học của họ cấp.

Sự từ chối từ các cơ quan và cộng đồng doanh nghiệp hoàn toàn có cơ sở, bởi vì nhiều trường đào tạo không có chất lượng. Đã có nhiều doanh nghiệp và địa phương dứt khoát không nhận sinh viên của các trường ngoài công lập. Cho dù có ý kiến phản đối, đề nghị không nên “kỳ thị”, phân biệt trường công và trường tư. Tuy nhiên, thị trường có quy luật riêng, sản phẩm không tốt thì không được thị trường chấp nhận. Nếu như chính quyền các địa phương, hoặc Chính phủ có can thiệp bằng hành chính, thì cũng không thể cứu nổi. Chỉ có một cách duy nhất, mỗi trường đại học phải nâng cao chất lượng đào tạo.

Kinh tế phát triển, nhiều gia đình có tích lũy, thì việc đầu tiên họ nghĩ đến là đầu tư cho con cái du học. Ở đây không phải là chuyện sính ngoại như mua sắm một món hàng, mà đầu tư cho tương lai sự nghiệp của một con người, cho nên các bậc phụ huynh phải lựa chọn điều kiện, môi trường học hành tốt nhất cho con cái của họ. Đại học Việt Nam không đáp ứng được, bắt buộc phải du học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến.

Chưa nói Anh, Mỹ cho xa, chỉ Singapore, cũng thu hút hàng ngàn du học sinh Việt Nam. Chúng ta chịu thua một quốc gia nhỏ ngay cạnh mình, càng nghĩ càng đau lòng, sốt ruột… Chúng ta đã nói quá nhiều về vấn đề này nhưng kết quả thực sự mới chính là sản phẩm đào tạo kém chất lượng so với các nước láng giềng.

Điều nguy hiểm không chỉ là hàng vạn cử nhân, kỹ sư thất nghiệp mỗi năm gây lãng phí lớn cho toàn xã hội, mà Việt Nam đang sở hữu một nguồn “nhân lực cao” nhưng lại có chất lượng thấp. Nền kinh tế Việt Nam mang tham vọng tăng trưởng, phát triển theo kịp các nước phát triển, nhưng tham vọng đó sẽ không thể thực hiện được một khi không có lực lượng sản xuất tinh nhuệ. Lực lượng đó là đội ngũ các nhà quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia, chuyên viên tinh thông nghề nghiệp, không chỉ đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, mà còn đủ năng lực sáng tạo, phát minh ra những sản phẩm mới, giá trị mới.

Mấy chục năm qua, Việt Nam không có sản phẩm sáng tạo có giá trị tầm thế giới. Nhiều năm qua, Việt Nam không sản xuất được những sản phẩm công nghệ cao mà phải nhập khẩu hoàn toàn. Đó là vì chúng ta chưa có một nền giáo dục đại học có đẳng cấp quốc tế.





LỄ GIỖ ĐẦU NHẠC SĨ VIỆT DZŨNG TẠI SBTN (SBTN)





CN, 12/21/2014 - 07:23

Garden Grove, California. Vào lúc 2 giờ chiều Thứ Bảy 20 tháng 12 năm 2014, tại sân khấu đài truyền hình SBTN đã diễn ra lễ giỗ đầu nhạc sĩ Việt Dzũng, và được chiếu trực tiếp cho khán giả khắp nơi theo dõi với sự tham dự của hàng trăm quan khách ngồi trong hội trường.


Ca nhạc sĩ Việt Dzũng đã qua đời vì bệnh tim vào 10 giờ sáng ngày 20 -12- 2013 tại Quận Cam, để lại sự thương tiếc cho nhiều đồng hương khắp hải ngoại. Là một ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác, MC cho các chương trình ca nhạc, xướng ngôn viên đài phát thanh Bolsa Radio, trưởng ban tin tức cho đài SBTN,  là nhà báo, là một nhà hoạt động đấu tranh cho nhân quyền... Việt Dzũng là một người đa tài và là một nhân vật cộng đồng được nhiều người yêu mến.

Năm nay ngày giỗ đầu của anh cũng được nhiều nơi tổ chức long trọng.

Bà quả phụ Việt Dzũng là cô Bebe Hoàng Anh trong chương trình đã lời cám ơn mọi người đã tưởng nhớ đến anh.  Trong lễ giỗ, chị đã đặc biệt trao một ngọn đuốc cho nhạc sĩ Trúc Hồ, với ý nghĩa rằng những lý tưởng đấu tranh cho dân chủ tự do cho đất nước Việt Nam của Việt Dzũng sẽ được Trúc Hồ tiếp tục.

Buổi lễ giỗ còn có sự tham dự của các vị dân cử gồm thị trưởng Nguyễn Bảo (Garden Grove), thị trưởng Tạ Đức Trí (Westminster) và cựu thượng nghị sĩ Lou Correa. Mọi người đã phát biểu và gởi lời ca ngợi những đóng góp cũng như hy sinh của Việt Dzũng dành cho cộng đồng và quê hương anh.


Các bằng hữu văn nghệ của anh lần lượt bày tỏ nỗi tiếc thương gồm MC Nam Lộc, Thùy Dương, Ngọc Đan Thanh, Diệu Quyên, Minh Phượng, Lâm Thúy Vân... Ca sĩ Julie đã trình bày ca khúc Nửa Hồn Thương Đau, còn ca sĩ Ngọc Minh hát Một Chút Quà Cho Quê Hương, Ngô Thanh Nam, Thế Sơn lần lượt hát hai bản nhạc mới tưởng nhớ người đã khuất. Các màn đánh trống cổ truyền, các màn vũ dân tộc của các em thiếu nhi thật góp phần đặc sắc cho buổi lễ. Nhóm Ngọc Trong Tim gồm những nghệ sĩ khuyết tật trong đó có nhạc sĩ mù Nguyễn Đức Đạt đã đàn và hát bài ca cám ơn Việt Dzũng đã hỗ trợ cho họ.

Khi ca sĩ Julie nói rằng chỉ cần hát câu " Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi gặp người xưa ước mơ.." là đủ để thấy lại hình ảnh Việt Dzũng, thì ngồi bên chiếc đàn dương cầm trong góc sân khấu, nhạc sĩ Trúc Hồ đã hai tay ôm mặt khóc, hình ảnh đó thật xúc động.


Chương trình tưởng niệm ca nhạc sĩ Việt Dzũng nhân ngày giỗ đầu 20-12-2013 / 20-12-2014 kéo dài trên 2 tiếng đồng hồ và được chiếu trực tiếp trên truyền hình SBTN.

Buổi lễ giỗ đầu Việt Dzũng diễn ra trang trọng, cảm động, đậm chất ca nhạc nghệ thuật và đấu tranh và được nhiều người khắp nơi trên thế giới theo dõi. Người ra về vẫn luôn nhớ mãi câu nói được treo trang trọng trên sân khấu: "Thương tiếc Việt Dzũng chính là sống tinh thần Việt Dzũng."

Thanh Sơn / SBTN

------------------------------

Cali Today
Cập nhật: 21/12/2014 18:44

Cali Today News -  Buổi lễ giỗ đầu của ca nhạc sĩ Việt Dzũng đã được tổ chức trang trọng vào lúc 2 giờ chiều Thứ Bảy 20 tháng 12 năm 2014, tại sân khấu đài truyền hình SBTN và được chiếu trực tiếp cho khán giả khắp nơi theo dõi với sự tham dự của hàng trăm quan khách ngồi trong hội trường.


Ca nhạc sĩ Việt Dzũng đã qua đời vì bệnh tim vào 10 giờ sáng ngày 20 -12- 2013 tại quận Cam để lại sự thương tiếc cho nhiều đồng hương khắp hải ngoại. Là một ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác, MC cho các chương trình ca nhạc, xướng ngôn viên đài phát thanh Bolsa Radio, trưởng ban tin tức cho đài SBTN,  là nhà báo, là một nhà hoạt động đấu tranh cho nhân quyền... Việt Dzũng là một người đa tài và là một nhân vật cộng đồng nổi tiếng. Tang lễ của anh được coi là lớn nhất hải ngoại và năm nay là ngày giỗ đầu của anh cũng được nhiều nơi tổ chức long trọng.

Bà quả phụ Việt Dzũng là Bebe Hoàng Anh ngỏ lời cám ơn mọi người đã tưởng nhớ đến anh và trao ngọn đuốc cho nhạc sĩ Trúc Hồ, với ý nghĩa rằng những lý tưởng đấu tranh cho dân chủ tự do cho đất nước Việt Nam của Việt Dzũng sẽ được Trúc Hồ tiếp tục.

Các vị dân cử gồm thị trưởng Nguyễn Bảo (Garden Grove), thị trưởng Tạ Đức Trí (Westminster) và cựu thượng nghị sĩ Lou Correa phát biểu ca ngợi sự nghiệp của Việt Dzũng. 

Các bằng hữu văn nghệ của anh lần lượt bày tỏ nỗi tiếc thương gồm MC Nam Lộc, Thùy Dương, Ngọc Đan Thanh, Diệu Quyên, Minh Phượng, Lâm Thúy Vân... Ca sĩ Julie hát Nửa Hồn Thương Đau, Ngọc Minh hát Một Chút Quà Cho Quê Hương, Ngô Thanh Nam, Thế Sơn lần lượt  hát hai bản nhạc mới tưởng nhớ người đã khuất. Các màn đánh trống cổ truyền, các màn vũ dân tộc và nhóm Ngọc Trong Tim gồm những nghệ sĩ khuyết tật trong đó có nhạc sĩ mù Nguyễn Đức Đạt trong bộ trang phục ông già Noel đã đàn và hát bài ca cám ơn Việt Dzũng đã hỗ trợ cho nhóm của họ. Ban Tù ca Xuân Điềm cũng góp mặt với bản hợp ca đấu tranh và một số nghệ sĩ yêu mến Việt Dzũng trình diễn. 

Khi ca sĩ Julie nói rằng chỉ cần hát câu "Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi gặp người xưa ước mơ.." là đủ để thấy lại hình ảnh Việt Dzũng, thì ngồi bên chiếc đàn dương cầm trong góc sân khấu, nhạc sĩ Trúc Hồ hai tay ôm mặt khóc, hình ảnh đó thật xúc động. 

Chương trình tưởng niệm ca nhạc sĩ Việt Dzũng nhân ngày giỗ đầu 20-12-2013 / 20-12-2014 kéo dài trên 2 tiếng đồng hồ và được chiếu trực tiếp trên truyền hình SBTN. 

Buổi lễ giỗ đầu Việt Dzũng diễn ra trang trọng, cảm động, đậm chất ca nhạc nghệ thuật và đấu tranh và được nhiều người khắp nơi trên thế giới theo dõi, có người viết nhạc ca ngợi khi anh nằm xuống, là một sự kiện hiếm thấy trong sinh hoạt cộng đồng người Việt Nam hải ngoại.
PV



Ý nghĩa lá cờ vàng của người Việt hải ngoại (Cao-Đắc Tuấn - Danlambao)






Tóm lược: Lá cờ vàng ba sọc đỏ của người Việt hải ngoại (NVHN) thường bị cộng sản Việt Nam và nhiều người, thường là thiên cộng hoặc ngây thơ chính trị, cho là biểu tượng của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã mất. Dựa vào diễn giải sai lầm này, nhà nước cộng sản và những người thiên cộng xuyên tạc những nỗ lực của NVHN đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam là được nung nấu bởi lòng hận thù vì thua trận và có mưu đồ phục quốc. Trên thực tế, NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho:
(1) di sản tốt đẹp của chính thể VNCH trong quá khứ;
(2) xác nhận bản sắc của cộng đồng trong xã hội nơi xứ sở họ cư ngụ trong hiện tại; và
(3) tinh thần, ý chí dân tộc và lòng thương yêu đồng bào để thúc đẩy tự do dân chủ trong tương lai.

Sự khác biệt, giữa ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN và của quốc gia VNCH đã mất, rất tinh tế nhưng rất quan trọng. CSVN khai thác tính chất thiếu rõ rệt đó để tạo chia rẽ giữa NVHN và người dân Việt Nam trong nước, và giữa các nhóm trong NVHN. Cùng với ác tâm gán ghép NVHN với hận thù thua trận và mưu đồ phục quốc, CSVN và những người thiên cộng toan tính dùng chiến thuật kamikaze, sẵn sàng hy sinh cờ đỏ để đổi lấy sự hủy diệt cờ vàng, trong giải pháp hòa hợp hòa giải. Người Việt trong nước cần phải cổ xúy cờ vàng trong nước để tạo dựng đoàn kết với NVHN và gửi một thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản và thế giới về sức mạnh đoàn kết vĩ đại của dân Việt.

*

Lá cờ thường được dùng là biểu tượng cho một quốc gia, tổ chức, hội đoàn, hay một cơ sở. Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho tới năm 1975. Khi cộng sản tiến chiếm miền Nam năm 1975, hàng triệu người miền Nam rời bỏ quê hương. tỵ nạn cộng sản. Họ đem theo lá cờ vàng ba sọc đỏ và gây dựng một cộng đồng người Việt hải ngoại (NVHN) càng ngày càng to lớn và hùng mạnh. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đó, hiện nay được coi là biểu tượng cho cộng đồng NVHN, được công nhận rộng rãi bởi các chính quyền địa phương tại xứ sở nơi họ cư ngụ.

Trong bài này, tôi sẽ không đề cập đến ý nghĩa của quốc gia và lá cờ tiêu biểu cho quốc gia, vì đề tài đó rất rộng lớn, và chỉ có chút liên hệ đến ý chính bài này. Ý nghĩa lá cờ một quốc gia hiện hữu trên thế giới không có gì khó hiểu. Tuy nhiên, khi một quốc gia bị xâm lấn và chiếm đóng bởi một quốc gia khác, vấn đề trở nên phức tạp, như trường hợp quốc gia VNCH bị xâm lấn và chiếm đóng bởi quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) như được biết lúc ấy. Vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nữa khi hai quốc gia đó đã từng là một quốc gia độc lập nhưng bị chia đôi, như nước Việt Nam năm 1954. 

Câu hỏi là: Ý nghĩa lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN hiện tại là gì?

Tôi sẽ không đề cập chi tiết đến nguồn gốc lịch sử của lá cờ vàng ba sọc đỏ vì có rất nhiều tài liệu về chuyện đó (Xem, thí dụ như, Dân 2012; Đặng 2013). Một cách vắn tắt, lá cờ vàng ba sọc đỏ có nguồn gốc ít nhất từ năm 1890 (Dân 2012; Đặng 2013) dưới thời vua Thành Thái. Qua bao lần thay đổi, lá cờ trở về hình dạng cờ vàng ba sọc đỏ vào năm 1948 thời vua Bảo Đại và qua hai chính thể VNCH. Điểm quan trọng là cờ vàng ba sọc đỏ đã từng là cờ của toàn thể nước Việt Nam (bấy giờ có tên là Đại Nam), và hiện hữu trước lá cờ đỏ sao vàng của nước VNDCCH, bây giờ là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).

Tuy nhiên, việc lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của quốc gia VNCH cho tới năm 1975 khác với việc lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng hiện nay của NVHN. Sự khác biệt này rất tinh tế và thường bị lẫn lộn ngay cả với vài NVHN. CSVN có thể cũng không thấy sự khác biệt đó, hoặc thấy nhưng làm như không thấy, khai thác tính chất thiếu rõ rệt của sự khác biệt đó để xuyên tạc về NVHN, tạo chia rẽ giữa NVHN và người dân Việt Nam trong nước, và giữa các nhóm trong NVHN.

Trong phần trình bày sau đây, tôi lý luận rằng NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ thuần túy là biểu tượng cho cộng đồng NVHN, và không phải là biểu tượng cho quốc gia VNCH trước năm 1975, tuy họ vẫn không quên chính thể VNCH. Do đó, về phương diện pháp lý, lá cờ vàng ba sọc đỏ có đầy đủ đặc tính hợp pháp của bất kỳ lá cờ nào cho một quốc gia, tổ chức, hội đoàn, hay một cơ sở. 

A. Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của NVHN cho di sản tốt đẹp trong quá khứ, xác nhận bản sắc trong hiện tại, và tinh thần tự do dân chủ cho tương lai

NVHN trưng bày lá cờ vàng ba sọc đỏ tại nhiều nơi công cộng, cơ sở thương mại, phố xá trong cộng đồng, các cuộc diễn hành, biểu tình, trên khán đài, trong các chương trình văn nghệ, v.v... Lá cờ vàng, do đó, không được dùng là biểu tượng cho quốc gia VNCH trước 1975, mà là biểu tượng tinh thần trong những hoạt động của NVHN khắp nơi trên thế giới. Những biểu tượng tinh thần này có thể được phân ra ba loại chính theo khía cạnh ý nghĩa thời gian: ký ức, bản sắc, và tinh thần dân tộc tự do dân chủ.

1. Lá cờ vàng là biểu tượng cho ký ức trong quá khứ và là một phần quan trọng trong di sản NVHN:

Là một cộng đồng tị nạn chính trị phải lưu vong nơi xứ lạ quê người, NVHN đương nhiên có những hoài cảm về quá khứ. Sự nhung nhớ, tiếc nuối về quá khứ hoàn toàn không dính líu gì đến hận thù, cay đắng. Trên thực tế, NVHN thừa biết quốc gia VNCH không còn nữa. Chuyện đó không có nghĩa là tinh thần của chính thể VNCH không còn nữa. Ngược lại là khác, như sẽ được trình bày sau, cái tinh thần đó còn được tiếp tục và phát huy ngày càng mạnh mẽ hơn. NVHN lựa chọn lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng NVHN vì lá cờ giúp họ tạo dựng lại ký ức mà họ không muốn quên.

Tạo dựng ký ức, hoặc cái gọi là "dự án ký ức chiến lược" theo Aguilar-San Juan (2009, 65-66, 128), là một tiến trình quan trọng mà NVHN dựa vào để giữ lại danh tính và giá trị văn hóa của họ (sđd.). Duy trì quá khứ và tham gia các hoạt động tái tạo quá khứ - chẳng hạn như biểu tình, dựng đài tưởng niệm, hoặc chào lá cờ của Nam Việt Nam cũ - không phải là một biểu hiện của sự cay đắng, giận dữ, hoặc hận thù (Cao-Đắc 2014a, 326). Thay vào đó, những nỗ lực này "xây dựng và đào tạo ký ức trong một cách để củng cố ranh giới lâu dài của cộng đồng" (Aguilar-San Juan 2009, 131). 

Tại Hoa Kỳ, nhiều tượng đài, đài tưởng niệm đã được dựng lên trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt như là một phần của những ký ức xã hội này. Thí dụ, đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Hình 1) và tượng tưởng niệm thuyền nhân (Hình 2), cả hai đều nằm trong thành phố Westminster, California, là bằng chứng mạnh mẽ của những "dự án ký ức chiến lược" này. 


Thành phố Westminster ở California không phải là nơi duy nhất mà những "dự án ký ức chiến lược" được thực hiện. Nhiều tượng, đài tưởng niệm đã được dựng lên trong các cộng đồng NVHN ở các thành phố khác tại Hoa Kỳ và các nước khác, chẳng hạn như đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam tại Houston, Texas; tượng mẹ và con tỵ nạn ở Ottawa, Canada; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt với lòng biết ơn ở Victoria, Canada; đài tưởng niệm thuyền Việt Nam ở Bankstown, New South Wales, Australia; đài tưởng niệm thuyền thân Việt Nam ở Bagneaux, Pháp; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam ở Hamburg, Đức; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam ở Geneva, Thụy Sĩ (Cao-Đắc 2014a, 327). 

Giống như các đài tưởng niệm, lá cờ vàng ba sọc đỏ đóng vai trò tạo dựng ký ức xã hội và ghi nhận di sản dân tộc. Khi nhìn lá cờ vàng bay phất phới trên đường phố hoặc trong những ngày lễ hội họp, NVHN được nhắc nhở đến quá khứ là phần kỷ niệm trong đời họ. Các thế hệ sau, có ít hoặc không có ký ức về quá khứ dính líu đến cờ vàng ba sọc đỏ nên không có những tình cảm sôi động như thế hệ đầu tiên, nhưng họ vẫn tiếp tục coi lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho ký ức này vì họ được thế hệ đầu giải thích nguồn gốc đó.

NVHN đi ra nơi vùng đất mới, làm lại cuộc đời. Họ vẫn có thể dùng một biểu tượng mới mẻ, đánh dấu cuộc sống mới. Họ vẫn có thể dùng một biểu tượng nguồn gốc dân tộc, thí dụ con Rồng cháu Tiên, có lẽ còn có ý nghĩa dân tộc trường tồn hơn cờ vàng ba sọc đỏ. Nhưng những biểu tượng này chỉ có giá trị lịch sử mà không có giá trị ký ức. Ngoài ra, cái giá trị ký ức của lá cờ vàng ba sọc đỏ có ý nghĩa nhất vì nó gợi đến mốc thời gian và lý do cho sự ra đi của đợt NVHN đầu tiên. Tuy nhiên, duy trì ký ức của một việc không có nghĩa là muốn làm sống dậy việc đó. Bạn có thể giữ một lá thư tình với người yêu cũ là một kỷ niệm nhưng bạn không muốn lập lại cuộc tình đó. Trong trường hợp lá cờ, vấn đề hơi có chút khác, vì lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho quốc gia VNCH, nên việc duy trì lá cờ vàng ba sọc đỏ đưa đến tức khắc hình ảnh quốc gia đó. Vì vậy, có sự mơ hồ thiếu rõ rệt về ý nghĩa của biểu tượng này.

Có hai khía cạnh trong vấn đề này. 

Trước hết, nếu một ký ức nhắc nhở đến một việc xấu xa nhục nhã thì ta có nên duy trì cái ký ức đó không? Nếu VNCH quả thật là quốc gia của chính quyền ngụy, đi bợ đít Mỹ, bị quân dân Việt Nam đánh đuổi phải chạy, như CSVN vẫn tuyên truyền một cách ngu dốt và hiểm độc, thì NVHN có muốn giữ lại cái ký ức đó không? Đương nhiên là không. Họ sẽ không muốn bị thế giới cười chê. Họ sẽ nhân dịp này mà dùng biểu tượng khác và không muốn bị nhắc lại cái quá khứ tủi nhục, xấu xa. Giả sử bạn mang một họ có liên hệ đến một quá khứ xấu xa tàn ác, thí dụ như Hitler, khi bạn có cơ hội đổi tên, bạn có muốn giữ lại họ đó không? Hoặc bạn bị cha mẹ đặt cho một tên xấu xí (thí dụ Nguyễn Văn Dốt Nát, Trần Thị Lăng Loàn) và phải xấu hổ mang tên đó đi học, bị bạn bè chế giễu. Khi bạn có cơ hội đổi tên, chắc chắn bạn sẽ không ngần ngại lấy một tên khác, tốt đẹp hơn.

Đằng này, không những NVHN không dùng dịp này để lấy biểu tượng khác, mà họ lại còn đồng loạt trên toàn thế giới, không cần ai hoặc tổ chức nào hô hào dụ dỗ, tiếp tục dùng cờ vàng ba sọc đỏ. Không những thế, NVHN còn hãnh diện về lá cờ vàng, trưng bày khắp nơi, trong mọi dịp lễ, văn nghệ, hội họp, địa điểm kinh doanh, v.v... Điều đó chứng tỏ cái quá khứ của VNCH có cái gì tốt đẹp, xứng đáng để NVHN yêu quý tôn trọng, và muốn gắn bó mãi mãi. Chỉ cần chứng cớ NVHN dùng lại lá cờ vàng là biểu tượng cộng đồng NVHN cho thấy lá cờ vàng và chính thể VNCH là thể chế cao quý, hào hùng, mà NVHN mãi mãi ghi nhớ. Do đó những gì CSVN nói xấu về chính thể VNCH là láo khoét, bịa đặt, và bóp méo sự thật. 

Thứ nhì, tuy chính thể VNCH huy hoàng tốt đẹp, NVHN không duy trì lá cờ vàng ba sọc đỏ với ý định "phục quốc," mà chỉ vì lòng thương nhớ luyến tiếc cho thời vàng son. Hơn nữa, cho dù họ có ý định khôi phục lại quốc gia VNCH, họ không có ý định gây dựng lại y hệt những gì trước năm 1975, mà họ sẽ làm tốt đẹp hơn, để phù hợp với thế giới và văn minh hiện đại. CSVN lý luận rằng NVHN giữ cờ vàng vì họ nung nấu hận thù và muốn phục quốc. Bằng cách dùng từ ngữ "phục quốc" thay vì "tiếp nối," "tiếp tục," hoặc "phát huy tinh thần," CSVN và những người thiên cộng vẽ ra hình ảnh cộng đồng NVHN là những người điên rồ, dại dột, vẫn còn mơ tưởng đến một quốc gia đã chết. (Dựa vào định nghĩa rộng rãi của "quốc gia" trên căn bản bốn yếu tố chính của dân tộc: ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống, và nguồn gốc dân tộc (Council 2005), tôi có thể lý luận là quốc gia Việt Nam Cộng Hòa chưa chết. Nhưng đó không phải là ý chính của bài này.) Vì là những người không có tình cảm và chỉ biết chém giết cướp bóc, CSVN không hiểu được cái giá trị vô bờ bến của sự duy trì lòng luyến tiếc quá khứ huy hoàng. 

Ta có thể coi chuyện NVHN giữ gìn lá cờ vàng ba sọc đỏ tương tự như chuyện một người con giữ gìn bức hình mẹ mình sau khi bà đã mất vì bức hình đó là biểu tượng cho tình yêu thương mẹ. Người con hoàn toàn không có ý định giữ gìn bức hình mẹ với mơ ước là mẹ mình sống lại, và bức hình bà mẹ không tượng trưng cho xương cốt bà đã mục nát trong quan tài nằm sâu dưới lòng đất. Nhưng người con đó sẵn sàng tiếp nối những đức tính của mẹ mình cho mình và những thế hệ sau. Thay vì công nhận ý nghĩa thiêng liêng đó, CSVN và những người thiên cộng gán ghép NVHN là vẫn còn điên rồ mơ tưởng đào lại xương cốt của quốc gia VNCH vì hận thù thua trận và mưu đồ phục quốc.

1. Lá cờ vàng là biểu tượng xác nhận bản sắc trong hiện tại để phân biệt NVHN chống cộng với các thành phần xã hội khác:

Ngoài việc ghi nhận ký ức xã hội, lá cờ vàng còn là biểu tượng xác nhận bản sắc (identity) của cộng đồng NVHN chống cộng và yêu chuộng tự do dân chủ. Chuyện đó có ý nghĩa gì không? Đương nhiên là có. Tại sao NVHN, sinh sống tản mác khắp nơi trên địa cẩu, không có một khối lãnh đạo trung ương, mà chọn cùng một biểu tượng xác nhận bản sắc và dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ? Trong bất kỳ một cuộc hội họp nào của NVHN, một cuộc biểu tình, quyên tiền, văn nghệ, mừng lễ, Tết, ở khắp nơi trên thế giới, họ đều dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Tại sao họ không dùng một biểu tượng hình ảnh khác, phản ảnh ý nghĩa của cộng đồng NVHN tị nạn và hòa bình, như hình ảnh một con chim bồ câu bay trên toàn địa cầu và đất nước Viêt Nam, hoặc con tàu chở thuyền nhân, hoặc bất kỳ một biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc nào khác?

Câu trả lời thật đơn giản. Đó là vì lá cờ vàng ba sọc đỏ trong thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH, ngoài chuyện là biểu tượng quốc gia, còn là biểu tượng cho nhiều ý nghĩa thiết tha với NVHN, gồm có tự do, dân chủ, chống cộng và đoàn kết. 

Quốc gia Việt Nam từ thời Đệ Nhất đến Đệ Nhị Cộng Hòa đều có tinh thần chống cộng tích cực, và cả hai chính thể đều tôn trọng tự do dân chủ. Tuy không hoàn hảo, cả hai chính thể đều hướng đến con đường tự do dân chủ. Ta nên chú ý rằng ta không thể phán xét chế độ VNCH trong các thập niên 1950, 1960, và nửa thập niên đầu 1970 dùng tiêu chuẩn hiện đại.

Về khía cạnh đoàn kết, tuy có nhiều giải thích cho ý nghĩa của màu vàng và ba vạch đỏ, ý nghĩa thông thường nhất là màu vàng tượng trưng cho màu da, màu đỏ tượng trưng cho màu máu. Do đó mới có câu "da vàng máu đỏ." Ba vạch tượng trưng cho ba miền Bắc Trung Nam. Tôi sẽ không đi sâu thêm về ý nghĩa hình ảnh lá cờ, nhưng có điểm tôi muốn nhấn mạnh là trái với nhiều người cho rằng ba vạch đỏ nói lên đường lối "chia để trị" của Pháp thời Pháp thuộc và do đó có ý nghĩa chia rẽ, ba vạch đỏ tượng trưng cho tình đoàn kết sâu đậm nhất của dân Việt Nam vì nó nói lên sự khác biệt của dân tộc Việt nhưng vẫn đoàn kết yêu thương nhau trên cùng lãnh thổ.

Với một biểu tượng sẵn có như vậy, NVHN không ngần ngại dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng xác nhận bản sắc. Cái bản sắc đó giúp họ phân biệt được các thành phần xã hội khác, như các đoàn thể thân cộng, các nhóm đến từ Việt Nam tạm thời, và các tổ chức, đoàn thể địa phương của xứ sở họ cư ngụ. Một lần nữa, giống như biểu tượng về ký ức xã hội, ý nghĩa của biểu tượng này không dính líu gì đến quốc gia VNCH đã mất, nhưng sự khác biệt rất tinh tế, và nhiều khi chỉ được cảm nhận trong tiềm thức.

Cái biểu tượng xác nhận bản sắc này được thể hiện qua những nỗ lực của NVHN để "củng cố biên giới lâu dài của cộng đồng" (Aguilar-San Juan 2009, 131) và "để khẳng định sự hiện diện của họ" (Aguilar-San Juan 2009, 88) trong cộng đồng họ vì sự vắng mặt của những tường thuật hay bình luận về sự đóng góp của miền Nam Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, nhất là tại Hoa Kỳ (sđd.). Sự khẳng định hiện diện đó được biểu thị qua các hội lễ, Tết, diễn hành, biểu tình, họp mặt cộng đồng khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phô trương nổi bật. Các cơ sở thương mại, quán ăn, nhà hàng, đường xá trong cộng đồng cắm cờ vàng ba sọc đỏ khắp nơi. Tất cả những biểu tượng này xác nhận bản sắc của cộng đồng NVHN tại vùng địa phương nơi họ cư trú.

Cái biểu tượng xác nhận bản sắc đó không những được thúc đẩy bởi các tổ chức, đoàn thể, NVHN trong cộng đồng, mà còn được công nhận bởi các cơ quan chính quyền địa phương của xứ sở nơi NVHN cư ngụ. Thí dụ, tại Hoa Kỳ, từ tháng hai năm 2003 tới tháng 12 năm 2009 đã có 9 tiểu bang, 3 quận hạt, vả 77 thành phố ra nghị quyết công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ tự do và di sản (Freedom and Heritage Flag) của cộng đồng NVHN (quockyvietnam). Con số này còn gia tăng hơn nữa trong vài năm gần đây. 

2. Lá cờ vàng là biểu tượng cho ý chí quật cường, tinh thần tư do dân chủ, và tình yêu thương đồng bào thiết tha:

Ngoài biểu tượng cho ký ức và xác nhận bản sắc, lá cờ vàng còn là biểu tượng cho một hình ảnh vĩ đại, oai hùng, và tráng lệ hơn. Đó là tinh thần dân tộc, ý chí quật cường, trí thông minh, lòng can đảm, nhân bản, tinh thần yêu chuộng tự do dân chủ, thiết tha với đất nước và đồng bào Việt Nam. 

Đến xứ lạ quê người, kém cỏi ngôn ngữ, NVHN đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn trong cuộc sống, để đạt thành công. Những thành quả của NVHN đã được biết rõ. NVHN đã đóng góp biết bao cho sự tiến bộ nhân loại trên mọi lãnh vực: khoa học, văn học, luật pháp, chính trị, quân sự, nghệ thuật, xã hội học, y khoa, kinh tế, v.v... Tại Hoa Kỳ, biết bao nhiêu NVHN đã thành công rực rỡ trên thương trường, thành lập công ty xí nghiệp với tổng thu nhập hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm. Đại học Mỹ đào tạo hàng vạn NVHN với bằng cấp bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư, kỹ sư, tiến sĩ đủ ngành. Hàng ngàn NVHN có tên là người phát minh trên hàng vạn bằng sáng chế cấp bởi Văn Phòng Bằng Sáng Chế vả Thương Hiệu Hoa kỳ. Con cháu họ rất xuất sắc trong hầu như tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả kinh doanh, khoa học và công nghệ, pháp luật, giáo dục, nghệ thuật, dịch vụ cộng đồng, và nhiều ngành khác. Các em học sinh con cháu NVHN học hành xuất sắc đến độ "thành tích học tập của các học sinh Việt Nam ở Mỹ gần như là huyền thoại" (Freeman 1995, 69). Trong một nghiên cứu về thành tích học tập của học sinh trung học người Mỹ gốc Việt tại một khu học chánh trong quận Orange, California, Saito (2002, 6) báo cáo rằng học sinh Việt Nam có được tỷ lệ ra trường thủ khoa cao nhất trong năm 1997 trong mọi sắc dân (kể cả Mỹ trắng). Những nghiên cứu tương tự như nghiên cứu của Saito đã dẫn đến định kiến về NVHN là những người nhập cư kiểu mẫu, cái "hội chứng thủ khoa Việt." NVHN ở các quốc gia khác cũng có những thành đạt tương tự. 

Trong những cuộc hội họp vinh danh những thành công của NVHN, lễ trao giải thưởng các học sinh xuất sắc, những chương trình văn nghệ thiện nguyện quyên tiền gửi về Việt Nam giúp người nghèo, nạn nhân, thương phế binh, lá cờ vàng ba sọc đỏ luôn luôn được trưng bày. Võ sĩ Phan Nam và Lê Cung thường mang lá cờ vàng ba sọc đỏ lên võ đài, biểu dương tính chất hùng mạnh của dân Việt. Tướng Lương Xuân Việt của quân đội Hoa Kỳ từng khoác lá cờ vàng trong dịp văn nghệ cộng đồng. NVHN còn có tình tha thiết yêu thương đồng bào trong nước. Ngoài các cuộc văn nghệ quyên tiền, các hội họp đoàn thể từ thiện, NVHN gửi tiền về cho thân nhân, quyến thuộc, bạn bè hàng năm lên đến 10 tỷ đô la Mỹ. Ngoài ra, NVHN tích cực tranh đấu cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Trong những cuộc diễn hành, biểu tình tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam, lá cờ vàng luôn luôn được phô trương nổi bật. 

Tinh thần yêu chuộng tự do dân chủ còn được biểu hiện là ý muốn tiếp tục và phát huy một nền tự do dân chủ đã có nền tảng trong hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH từ năm 1954 đến năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, như ̣trình bày ở trên, tiếp tục phát huy tinh thần tự do dân chủ thiết lập từ thời VNCH không có nghĩa là khôi phục lại quốc gia VNCH với nguyên trạng ở năm 1975. Sự khác biệt rất tinh tế nhưng quan trọng. 

Do đó, lá cờ vàng không những là biểu tượng cho ký ức và xác nhận bản sắc, mà còn cho tinh thần dân tộc, ý muốn phát huy tự do dân chủ cho Việt Nam trong tương lai, và tình yêu thương đồng bào của người Việt. 

B. Lá cờ vàng dưới mắt CSVN và dân trong nước Việt Nam: 

Trong khi NVHN coi lá cờ vàng là biểu tượng cao quý cho di sản, bản sắc, và ý chí của người Việt sống ngoài nước Việt Nam, CSVN tự đặt ra những lý thuyết, diễn giải của họ về ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ với ý định nham hiểm nhằm triệt hạ uy tín và chia rẽ cộng đồng NVHN, và tránh ảnh hưởng của NVHN vào trí óc và tâm hồn dân Việt trong nước 

1. CSVN cố hủy hoại hình ảnh lá cờ vàng bằng cách giải thích NVHN duy trì cờ vàng là do hận thù thua trận: 

CSVN và những người thiên cộng thường rêu rao cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của nước VNCH và vì nước VNCH không còn nữa, nên lá cờ đó vô giá trị. Ngoài ra, sự duy trì cờ vàng của NVHN là do bởi lòng hận thù vì thua trận. Những lời rêu rao như vậy vừa sai lầm vừa có ý định hiểm ác. 

Sai lầm là vì họ không hiểu ý nghĩa của một lá cờ. Như đã trình bày ở trên, NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ không phải để tượng trưng cho quốc gia VNCH hiện hữu trước năm 1975, mà để tượng trưng cho cộng đồng NVHN chống cộng sản. Với nhiều người, lá cờ đó còn tượng trưng cho chính thể VNCH, nhưng tượng trưng cho một chính thể không có nghĩa là tượng trưng cho quốc gia có chính thể đó. NVHN vẫn có thể dùng một biểu tượng khác, nhưng tại sao phải dùng một biểu tượng khác khi họ đã có sẵn một biểu tượng của chính nghĩa, tự do, dân chủ? 

Một cách ngu xuẩn, khi CSVN và những người thiên cộng rêu rao như vậy, họ đã mặc nhiên phủ nhận giá trị của chính lá cờ của họ trước năm 1945, hoặc lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) trong chiến tranh Việt Nam. Đó là không kể MTGPMN chưa từng bao giờ leo lên hàng quốc gia. Theo lý luận họ, một lá cờ không có giá trị nếu nó không đại diện một quốc gia. Nếu thế, chính lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh cũng vô giá trị, vì nó không đại diện một quốc gia trước năm 1945. Nếu nó vô giá trị trước năm 1945, thì tại sao nó lại được CSVN coi là quốc kỳ, với chút sửa đổi, của nước Việt Nam năm 2014? Nếu họ chấp nhận chuyện đó, và cho dù lá cờ vàng ba sọc đỏ không đại diện cho một quốc gia vào năm 2014, tại sao họ không chấp nhận chuyện lá cờ vàng ba sọc đỏ sẽ là quốc kỳ của nước Việt Nam năm 2015, 2016, 2018? Đó là không kể cờ đỏ sao vàng của Việt Minh trước năm 1945 chưa từng là quốc kỳ của một quốc gia, trong khi cờ vàng ba sọc đỏ đã từng là quốc kỳ của một quốc gia trong suốt mấy chục năm. 

Do đó cái lý luận cờ vàng ba sọc đỏ không có giá trị vì nó không đại diện cho một quốc gia đang hiện hữu là một lý luận ngu xuẩn. 

Lý luận đó còn hiểm ác vì nó có tính chất lừa đảo và lấp liếm cho tội ác chiến tranh, xâm lược, và cướp đất của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và tà quyền của họ. Bằng cách liên kết cờ vàng của NVHN với quốc gia VNCH, CSVN và những người thiên cộng vẽ ra hình ảnh cộng đồng NVHN là những quân nhân cán chính, hoặc con cháu họ, của chính quyền VNCH chứa chất hận thù vì thua trận, vì mất quốc gia VNCH. 

NVHN hẳn nhiên không ưa, hoặc ghét, chế độ cộng sản đang hoành hành tại Việt Nam. Nhưng không ưa hoặc ghét không bắt buộc là chỉ do bởi hận thù. Giả sử người Việt trong nước khám phá ra NVHN đang dậy dỗ con cháu họ là Tổng thống Ngô Đình Diệm đoạt giải Nobel về văn chương. Họ có ghét không? Họ có muốn tranh đấu để cho con cháu NVHN biết được sự thật và không làm trò cười cho thiên hạ không? Cái đó là do hận thù hay sao? 

NVHN tranh đấu để đem tự do dân chủ cho dân Việt tại Việt Nam, đem sự thật về cho lịch sử Việt Nam, để không cho CSVN tuyên truyền, nhồi sọ tuổi trẻ, tung ra những tin tức bịa đặt như Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, Võ Nguyên Giáp là thiên tài quân sự, trận Điên Biên Phủ sánh ngang với trận Bạch Đằng, Đống Đa, v.v..., khiến cho tuổi trẻ Việt Nam tưởng thật, khi đi ra nước ngoài, làm trò cười cho thiên hạ, hoặc có sự kính nể sai lầm về các tội nhân của dân tộc, và suy đồi trí tuệ độc lập. Đó là không kể biết bao nhiêu chuyện xuẩn ngốc, lừa đảo, hiểm ác, làm băng hoại tâm hồn người dân Việt, hãm hiếp trí óc trẻ em, tiêu hủy một nền văn hóa sáng chói, tra tấn thế hệ này qua thế hệ khác, làm suy đồi ý chí bất khuất của dân Việt. 

Một số NVHN cũng có thể hận thù cộng sản, nhưng lý do hận thù không phải vì thua trận, vì mất nước VNCH, mà là vì ghê tởm chính sách tàn bạo của tà quyền cộng sản đàn áp dân Việt Nam trong khi hèn nhát với quan thầy Tàu cộng. CSVN và những người thân cộng không có lòng nhân bản, không biết yêu thương đồng bào, không có tinh thần hiệp sĩ. Họ chỉ biết hận thù chém giết. Họ không hiểu tại sao có những người sẵn sàng hy sinh tính mạng mình để cứu vớt những người xa lạ trong cơn hoạn nạn. Họ không hiểu tại sao có những người có cuộc sống vật chất sung sướng mà lại lao đầu vào chuyện đấu tranh cho tự do dân chủ. Vì không hiểu, hoặc hiểu nhưng làm như không hiểu, họ tìm những lý do tiêu cực nhất, xấu xa nhất, dựa vào bản chất họ, để giải thích những hành động cao cả, thương yêu đồng bào, của NVHN với mục đích chia rẽ và làm suy yếu ảnh hưởng NVHN trên người dân Việt Nam trong nước. Mặt khác, cũng với đầu óc hiểm độc, ích kỷ, và dốt nát, họ tìm đủ mọi lý do tích cực nhất, nhiều khi phải bịa đặt sự việc, để suy tôn họ và chủ nghĩa họ. Họ hoan hô những người hy sinh tánh mạng trong lúc phục vụ họ và phong những người này là liệt sĩ. Họ vỗ tay đón chào thiểu số NVHN trở về Việt Nam trong tinh thần nghị quyết 36, và gọi những người này là những người con tổ quốc. 

Trên thực tế, NVHN chống cộng không vì hận thù thua trận. Số quân nhân cán chính của chính quyền VNCH còn sót lại hiện nay tại hải ngoại chỉ là một thiểu số trong cộng đồng NVHN. Ngay từ lúc đầu, số người này không nhiều lắm. Trong đợt thoát khỏi Việt Nam năm 1975, chỉ có khoảng 140 ngàn người, trong đó số quân nhân cán chính của VNCH cao lắm là độ một nửa. Phần còn lại là vợ con, cha mẹ già, trẻ em, sinh viên, học sinh, và những người dân thường. Số thuyền nhân còn có ít quân nhân cán chính VNCH hơn nữa, vì đa số là đàn bà trẻ em, hoặc dân thường người Việt gốc Hoa. Sau bốn mươi năm, những quân nhân cán chính của chính thể VNCH đã lớn tuổi, qua đời, hoặc về hưu trí. Hiện nay số NVHN lên tới 4 triệu người trên khắp thế giới. Trong số đó, còn bao nhiêu người quân nhân cán chính VNCH? Và trong số những người này có bao nhiêu người hận thù vì lý do thua trận? 

Thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ nhì, một phần ngày càng rộng lớn trong cộng đồng NVHN, sinh sống trên vùng trời tự do từ lúc còn nhỏ, biết rất ít về chiến tranh Việt Nam, và nhiều khi không có trí nhớ hoặc khái niệm gì về nước Việt Nam. Quan trọng hơn, những người trong thế hệ này sinh trưởng trên đất nước tự do dân chủ, nên họ không dễ dàng bị nhồi sọ hoặc tuyên truyền hận thù từ cha mẹ ông bà họ. 

CSVN và những người thiên cộng suy bụng ta ra bụng người, cho rằng con cháu quân nhân cán chính VNCH bị ảnh hưởng cha mẹ ông bà nên có lòng hận thù cộng sản. CSVN không có một chút khái niệm gì về cuộc sống gia đình và xã hội trong thể chế tự do dân chủ, nơi mà cha mẹ con cái có sự tôn trọng lẫn nhau. Họ không thể nào tưởng tượng được cha mẹ ông bà trong cộng đồng NVHN sẵn sàng dẹp qua uy quyền bậc cha mẹ để tranh luận với con cái trong tinh thần tự do dân chủ, hoặc để cho con cháu tự do tìm tòi, phát huy tư tưởng độc lập. Bằng cách tự tìm hiểu cho kiến thức mình và học hỏi từ những người có kinh nghiệm, các thế hệ sau của NVHN nỗ lực chống cộng sản và tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam không phải vì hận thù thua trận, mà vì lòng thương yêu đồng bào sống trong cảnh đọa đầy dưới chế độ cộng sản và lòng yêu nước Việt Nam. 

CSVN và những người thiên cộng sẽ chống chế và nói, "Chúng tôi nói hận thù, chứ chúng tôi đâu có nói hận thù vì lý do thua trận?" Họ là những người ăn nói xảo quyệt. Nếu đúng là họ không ngụ ý hận thù vì lý do thua trận, thì vì lý do nào? Vì lý do ganh ghét cuộc sống vật chất? Hoàn toàn sai lầm. Thu nhập gia đình hàng năm của người Mỹ gốc Việt là khoảng $59.000 đô la Mỹ (Census 2010). Với khoảng 1.8 triệu người Mỹ gốc Việt và trung bình 3.85 người trong một gia đình, con số này khoảng 27 tỉ đô la Mỹ. Đó chỉ là ở Hoa Kỳ mà thôi. Nếu kể tất cả NVHN trên toàn thế giới với 4 triệu dân số NVHN (Wikipedia 2014c), con số này it nhất là khoảng 50 tỉ đô la Mỹ. Giả sử Gross Domestic Product (GDP) cao hơn thu nhập cá nhân khoảng 10%, con số này tương đương với 55 tỉ đô la Mỹ GDP, gần bằng nửa GDP của toàn thể nước Việt Nam. Với cuộc sống vật chất như vậy, làm sao mà NVHN có lòng ganh ghét? Đó là không kể hàng năm NVHN gửi về Việt Nam khoảng 10 tỷ đô la Mỹ. Còn lý do hận thù nào khác? Vì cộng sản tàn ác, hèn với giặc và ác với dân? Nếu vậy thì hận thù có gì sai đâu? (Đặng 2014). 

Nhiều người, không biết vô tình hay cố ý, đưa ra những lời ngụ ý, bóng gió, như "...có bao nhiêu người tưởng nhớ, tiếc nuối cờ vàng, và bao nhiêu người xem cờ vàng là cờ thua trận... Còn lại lớp trẻ, hầu hết, dưới mái trường XHCN cờ vàng là cờ thua trận, thất bại của một quốc gia. Điều này do tác động bởi chính sách nhồi sọ của CS, nhưng không thể chối cãi đó là sự thật của lịch sử mà không ai có thể phủ nhận" (Trần 2014). Nhắc nhở đến việc thua trận trong nội dung hận thù, rõ ràng ám chỉ cuộc đấu tranh của NVHN cho tự do dân chủ tại Việt Nam được thúc đẩy bởi lòng hận thù vì thua trận. 

Còn gì ngu xuẩn và hiểm ác hơn? 

2. CSVN lo sợ ảnh hưởng lớn mạnh của lá cờ vàng nên sẵn sàng tiêu diệt cờ vàng bằng mọi cách, kể cả dùng chiến thuật kamikaze: 

CSVN và những người thiên cộng còn có một kế hoạch hiểm độc, nhưng lộ ra nỗi lo lắng, sợ hãi, và tuyệt vọng. Đó là kế hoạch kamikaze, được dùng bởi phi công Nhật lao vào hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ trong thế chiến thứ hai. 

Chiêu này thực hiện thế nào? 

Đó là cách để cờ đỏ cùng chết với cờ vàng, như hy sinh những chiếc máy bay nhỏ để làm chìm các chiến hạm. 

Với CSVN, sự sống còn của cờ đỏ không quan trọng bằng sức mạnh đang vùng lên của cờ vàng. Do đó, họ sẵn sàng đồng ý dẹp cờ đỏ miễn là cờ vàng cũng phải bị dẹp theo, và thay bằng cờ khác. Không có gì sai với chuyện dùng cờ khác, không phải cờ đỏ hoặc cờ vàng, để làm quốc kỳ cho Việt Nam. Nhưng chuyện đó phải được quyết định bởi toàn dân Việt Nam trong một cuộc trưng cầu dân ý hoặc qua các phương pháp dân chủ tự do. Chuyện đó không thể được thực hiện bởi cộng sản. Đối với CSVN, lá cờ không có ý nghĩa. Không đỏ thì xanh, vàng, trắng. Có sao đâu, miễn là họ vẫn nắm quyền. Nhưng cái lợi to tát cho việc trao đổi đó là họ tiêu diệt được cái biểu tượng của NVHN, và làm suy yếu tinh thần đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam. 

Có những người, không hiểu vì ngây thơ chính trị, hoặc kém hiểu biết, hoặc có ý tưởng suy nhược, hoặc thiên cộng tung ra ý kiến dọ dẫm, với những lời dụ dỗ hòa giải. Họ nói, "Chắc chắn cờ đỏ không bao giờ là biểu tượng cho tự do dân chủ, nó sẽ bị đào thải ngay khi đất nước thành công, nhưng cờ vàng chưa là mẫu số chung của cả 2 bên, nó còn phải chờ cuộc biểu quyết toàn dân sau này" (Trần 2014), đi theo sau "Câu hỏi? Liệu lá cờ vàng có thể tung bay trở lại trên mãnh đất VN hình chữ S hay không?... Câu trả lời: Không" (Trần 2014). 

Một cách lạ lùng, trong khi quả quyết là cờ đỏ sẽ chết khi cuộc tranh đấu thành công, và cờ vàng chỉ được tôn trọng bởi NVHN và bị dị ứng, vì sai lầm, bởi người Việt trong nước, họ lại không đề ra giải pháp dễ dàng và chính đáng nhất là sửa lại cái dị ứng sai lầm đó để toàn thể dân Việt, hải ngoại và trong nước, cùng tôn trọng cờ vàng trong việc đấu tranh cho tự do dân chủ. Thay vì vậy, họ quả quyết cờ vàng không thể nào tung bay trên lãnh thổ Việt Nam, và do đó cả cờ vàng và cờ đỏ đều chết. 

Đây có phải là chiến thuật kamikaze hay không? 

Lý do chính đáng để sửa chữa dị ứng sai lầm của dân Việt trong nước về cờ vàng là cái gì sai lầm thì ta nên sửa chữa. Trong giai đoạn đấu tranh hiện tại, ta lại càng nên thúc đẩy chuyện đó mạnh hơn bằng cách kêu gọi dân Việt trong nước phát động phong trào giương cờ vàng trong nước. 

3. Tại sao người Việt trong nước nên cổ xúy việc giương lá cờ vàng ba sọc đỏ ngay trong nước? 

Mới thoạt nghe, việc người Việt trong nước cổ xúy cho lá cờ vàng ba sọc đỏ bay trong nước Việt Nam có vẻ là chuyện hoang đường, nhưng thực ra đó là một hành động khôn ngoan nhất, biểu lộ tình yêu thương đồng bào và quê hương của người Việt trong nước, và gửi thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản, Tàu cộng, và ngay cả Hoa Kỳ, và thế giới về sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt. 

Đương nhiên, CSVN sẽ không chấp nhận chuyện đó. Với các điều luật rừng rú, họ sẽ bắt bớ, giam cầm những người giương cờ vàng với lý do mưu đồ lật đổ tà quyền. Tuy nhiên, điều đó chứng tỏ chính họ mới là người có lòng hận thù. Tôi không có ý định xúi ḍại người Việt trong nước vác lá cờ vàng ba sọc đỏ đi nghênh ngang trong thành phố. Có nhiều cách biểu hiện lá cờ vàng ba sọc đỏ. Thí dụ như thiết kế nghệ thuật biểu tượng đó trên mũ, áo, quần, xe, nhà, v.v... Người Việt có rất nhiều sáng kiến. Họ dư sức nghĩ ra cách để người Việt trong nước bày tỏ sự hỗ trợ cờ vàng mà không bị tà quyền bắt bớ hoặc làm khó dễ. 

CSVN và những người thiên cộng nghĩ rằng người dân Việt Nam không biết gì về VNCH và lá cờ vàng ba sọc đỏ, hoặc nếu có biết thì chỉ khinh thường lá cờ vàng ba sọc đỏ. Ý nghĩ hoặc lối lý luận này thật ngu xuẩn và hiểm ác cùng cực. 

Trước hết, CSVN và những người thiên cộng/ngây thơ cho rằng cờ vàng có giá trị rất ít tại Việt Nam. Có người còn khẳng định "như vậy cờ vàng có giá trị bao nhiêu ở trong nước, cao lắm 1% do những người lớn tuổi còn tồn tại. Phần đông là dị ứng." (Trần 2014). Con số 1% này không có cơ sở và chỉ là một con số vô nghĩa. Tuy chưa có một thống kê chính thức cho biết số phần trăm dân Việt trong nước ủng hộ cờ vàng (CSVN chắc chắn sẽ không dám tìm hiểu chuyện đó), ta có thể ước đoán con số này vượt quá con số 1% như sau. 

Với khoảng 25 triệu dân sống trong chính thể VNCH vào năm 1975 (Wikipedia 2014a ước lượng 19,582,000 cho miền Nam vào năm 1974; Wikipedia 2014b ước lượng 49.896.000 cho toàn thể Việt Nam vào năm 1975; và ta biết dân miền Nam đông hơn dân miền Bắc), và ước lượng khoảng 50% là dân ở tuổi 10-40 tuổi, hoặc 12,5 triệu, là lứa tuổi sống dưới thời VNCH, và thường trung thành với chính thể VNCH. Sau 40 năm, ta có thể giảm thiểu số phần trăm này 30% thêm vì chết, thoát khỏi Việt Nam, hoặc di dân qua các xứ khác. Với những ước lượng này, lứa tuổi 10-40 ở năm 1975 thành lứa tuổi 50-80 hiện nay, và tổng cộng khoảng 8,75 triệu, tức khoảng 10% dân số Việt Nam hiện nay. 

Con số dân Việt trong nước ủng hộ cờ vàng thực ra còn cao hơn con số này rất nhiều. Con số 8,75 triệu, hoặc 10% dân số, tiêu biểu cho dân số cốt lõi trung thành với cờ vàng. (Sẽ có người nói không phải ai sống dưới cờ vàng cũng trung thành với cờ vàng, nhưng ta cũng có thể nói không phải ai sống dưới cờ đỏ cũng trung thành với cờ đỏ, và ta có thể coi hai lực này triệt tiêu nhau.) Trong cuộc sống gia đình tại Việt Nam, ảnh hưởng của cha mẹ ông bà rất mạnh, thường là mạnh rất nhiều hơn ảnh hưởng trường học. Do đó, tuy sau 1975, có nhiều người hấp thụ nền giáo dục nhồi sọ tuyên truyền của cộng sản, ảnh hưởng đó bị triệt tiêu hoặc giảm thiểu bởi gia đình của số 8,75 triệu dân trung thành với VNCH. Ta không rõ con số chính xác của hậu duệ 8,75 triệu người này là bao nhiêu, và trong số hậu duệ này, bao nhiêu người chịu ảnh hưởng nặng của gia đình để vẫn còn trung thành với cờ vàng. Tôi chỉ ước lượng một con số khiêm tốn 1,25 triệu để làm chẵn 10 triệu, tức khoảng 11% tổng số dân số hiện nay. Đó là tôi không kể số người dân miền Bắc và miền Nam sinh sau, ghét bỏ chế độ cộng sản. 

Mười triệu dân, hoặc 11%, là một lực lượng đáng kể, dư sức lật đổ một chế độ. 

Thứ nhì, CSVN và những người thiên cộng/ngây thơ khinh thường dân Việt Nam trong nước quá độ. Họ cho rằng dân Việt trong nước là những con cừu non, không biết suy luận hoặc tìm tòi, không biết dùng sức mạnh của Internet và các phương tiện truyền thông xã hội để học hỏi và phanh phui những lừa đảo của tà quyền cộng sản. Đúng, chỉ có một số it người biết dùng Internet vượt tường lửa và các phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng đây là những tinh túy của đất nước Việt Nam, đây là những lãnh tụ tương lai của nước Việt Nam tự do dân chủ, đây là những người có tài năng và lòng can đảm để đứng lên hướng dẫn cuộc nổi dậy, và họ dư sức cổ võ và huy động một lực lượng đáng kể để thực hiện mục tiêu họ. Những người này hiểu được tâm địa ác hiểm của CSVN trong việc tuyên truyền, phỉ báng, nói xấu VNCH và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ thừa biết chỗ đứng của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong lịch sử. Họ thừa biết ý nghĩa phản bội tổ quốc của cờ đỏ. Họ thừa biết hàng triệu NVHN, tuy có cuộc sống vật chất thong thả ở các xứ tự do, lúc nào cũng nghĩ đến họ và tương lai quê hương và miệt mài tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc và quê hương. Cho dù con số 1% là đúng, con số này tượng trưng một sức mạnh vĩ đại. Thực ra, với dân số 90 triệu dân, chỉ cần một phần ngàn hoặc một phần vạn cũng đủ khuynh đảo được chế độ. Trên thực tế, như tôi ước lượng ở trên, chúng ta có 11%, tức 10 triệu người. 

Người dân Việt trong nước hiểu giá trị cờ vàng và họ biết cộng đồng NVHN gồm có những bộ óc thông minh, làm việc cần cù, và lòng thương yêu đồng bào quê hương vô bờ. Họ hiểu cộng đồng NVHN có những đóng góp to tát cho xứ họ cư ngụ, đã khiến dân trong xứ họ cư ngụ kính nể người Việt Nam và đem lại vinh quang cho Việt Nam gấp trăm gấp ngàn lần tà quyền cộng sản đang làm. Cộng đồng đó đã cho ra một Ngô Thanh Hải, một Lương Xuân Việt, một Janet Nguyễn, một Dương Nguyệt Ánh, và hàng ngàn người thành công rực rỡ trên mọi lãnh vực khắp nơi trên thế giới. Lý do gì mà một cộng đồng đầy rẫy những nhân tài như vậy chọn lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ biểu tượng cho cộng đồng họ? 

CSVN hoặc những người thiên cộng/ ngây thơ còn đưa ra những lý luận trẻ con, thí dụ như "Thanh niên học sinh, họ lớn lên dưới cờ đỏ, dị ứng với cờ vàng, không lẽ họ không được yêu nước, mà yêu nước không có nghĩa là phải chấp nhận cờ vàng, phải chấp nhận VNCH, sao giống yêu CHXH quá vậy?" (Trần 2014). Tại sao họ không đặt câu hỏi đó vào năm 1975 khi hàng triệu thanh niên học sinh miền Nam, lớn lên dưới cờ vàng, dị ứng với cờ đỏ, không lẽ họ không được yêu nước, mà yêu nước không có nghĩa là phải chấp nhận cờ đỏ, phải chấp nhận CHXH. Nếu chuyện đó là sai lầm, thì nó sai lầm vào năm 1975 và cả mấy chục năm sau đó. Do đó, cái dị ứng cờ vàng, cho là có thật, là một dị ứng dựa trên căn bản sai lầm. Vì vậy, gỉải pháp là sửa đổi cái dị ứng sai lầm đó, chứ không phải dùng cái sai lầm đó để chỉ trích một sai lầm khác. Quan trọng hơn, lời cáo buộc đó là lời xuyên tạc, vì NVHN không hề bắt buộc người dân Việt Nam trong nước phải chấp nhận cờ vàng. NVHN chỉ vạch ra giá trị lịch sử của cờ vàng, và ý nghĩa phản trắc của cờ đỏ. NVHN cũng không hề bắt buộc ai phải tôn trọng cờ vàng. Nhưng cờ vàng là biểu tượng của cộng đồng NVHN, và do đó nếu ai muốn gia nhập vào cộng đồng NVHN, họ phải tôn trọng cái biểu tượng đó. 

Tuy nhiên, dù NVHN không bắt buộc người Việt trong nước phải tôn trọng cờ vàng, người Việt trong nước cũng nên tự động có ý thức tôn trọng cờ vàng ba sọc đỏ. Có nhiều lý do cho việc này. 

Trước hết, bằng cách tôn trọng cờ vàng ba sọc đỏ, người Việt trong nước biểu lộ tình nghĩa sâu đậm với cộng đồng NVHN. Họ hiểu lá cờ vàng ba sọc đỏ không phải là tượng trưng vật chất cho quốc gia VNCH trước năm 1975, cũng như tấm hình bà mẹ trên bàn thờ không phải tượng trưng cho xương cốt bà đã mục nát trong quan tài nằm sâu dưới lòng đất. Họ hiểu lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN là biểu tượng cho quá khứ huy hoàng, cho bản sắc đặc thù, và cho tinh thần dân tộc, tự do dân chủ, nhân bản, trí tuệ thông minh, và lòng thương yêu đồng bào. 

Bằng cách tuyên dương cờ vàng ba sọc đỏ, người Việt trong nước bày tỏ sự tôn trọng ý nghĩa của các biểu tượng đó, và lòng tri ân của họ cho những nỗ lực vô bờ của cộng đồng NVHN trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam. Đó là lòng yêu thương lẫn nhau trong tinh thần "Bầu ơi thương lấy bí cùng" hoặc "chị ngã em nâng" đã hằn sâu trong tâm khảm dân Việt. Đây là lúc thuận lợi nhất để người Việt trong nước bày tỏ tinh thần đoàn kết với NVHN. Họ không nên chờ tới lúc một người Mỹ gốc Việt trở thành Tổng thống Hoa Kỳ rồi mới làm. Cái xác suất để một người Mỹ gốc Việt trở thành người quyền thế nhất trên thế giới càng ngày càng gia tăng. Thực ra, bằng cách hỗ trợ cờ vàng ngay ở trong nước, người Việt trong nước còn giúp NVHN một cách đắc lực trong việc tạo áp lực chính trị trên xứ sở nơi họ cư ngụ. Đó là vì người dân và các cơ sở chính trị địa phương và quốc gia đột nhiên ý thức được sức mạnh đoàn kết của dân Việt và của NVHN. Cộng đồng NVHN sẽ trở nên đoàn kết hơn và tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, bầu cử tại xứ sở họ cư ngụ. 

Thứ nhì, bằng cách cổ xúy cho lá cờ vàng ba sọc đỏ trong nước, người Việt trong nước gửi một thông điệp hùng mạnh nhất cho đảng và nhà cầm quyền cộng sản là họ không phải là những con cừu non, chỉ biết cúi đầu ngoan ngoãn nghe mệnh lệnh của ĐCSVN. Quan trọng hơn, cái thông điệp đó còn làm run sợ Tàu cộng đang lăm le xâm chiếm Việt Nam qua mọi hình thức, từ chính trị, lãnh thổ, tới kinh tế, văn hóa. Không còn gì làm Tàu cộng run rẩy hơn khi những biểu tượng nền vàng ba sọc đỏ phủ ngập trời trên khắp đô thị, từ Hà Nội tới Sài Gòn. Hình ảnh đó còn oai hùng, lộng lẫy, vĩ đại, hoành tráng gấp trăm ngàn lần hình ảnh hàng ngàn sinh viên học sinh Hồng Kông dương dù biểu tình trên đường phố. Thế giới sẽ phải nghiêng mình ngả mũ trước sức mạnh đoàn kết thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ kinh hồn bạt vía khi thấy biểu tượng của đồng minh mà mình bỏ rơi ngày nào đã trở thành hùng mạnh. 

C. Kết Luận: 

Lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN không là biểu tượng của quốc gia VNCH cho tới 1975 vì quốc gia VNCH đã không còn. Thay vì vậy, lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của NVHN cho ký ức trong quá khứ, bản sắc trong hiện tại, và tinh thần dân tộc, tự do dân chủ, trí tuệ, và lòng thương yêu đồng bào cho cuộc đấu tranh cho tương lai. Những người thuộc thế hệ đầu đã già, qua đời, hoặc về hưu. Đa số NVHN, kể cả những người thuộc thế hệ một rưỡi và thứ hai biết rất it về chiến tranh Việt Nam, không hề có lòng hận thù vì thua trận. NVHN thực sự thiết tha thương yêu đồng bào trong nước "điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm" như được diễn tả trong bài "Chuyến Đò Vĩ Tuyến" của nhạc sĩ Lam Phương. 

Người Việt trong nước nên cổ xúy việc giương biểu tượng cờ vàng trong nước để biểu lộ tinh thần đoàn kết với NVHN và gửi một thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản, Tàu cộng, và thế giới về sức mạnh đoàn kết vĩ đại của dân tộc Việt. 

Để kết thúc, tôi xin tặng độc giả đoạn thơ sau, trích từ bài thơ "Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn" (Cao-Đắc 2014b): 

Khi cờ vàng tung bay gió thổi 
Phất phơ trên thành thị nước non 
Ta mỉm cười đón mưa Hà Nội 
Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn. 
(Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn - Cao-Đắc Tuấn) 

CẢM TẠ 

Tôi xin có lời cảm tạ bạn daubetangthuong đã có lời khích lệ tôi viết bài này. 



_____________________________________

Tài Liệu Tham Khảo: 

Aguilar-San Juan, Karin. 2009. Little Saigons: Staying Vietnamese in America. The University of Minnesota Press, Minnesota, U.S.A. 

Cao-Đắc, Tuấn. 2014a. Lửa Cháy Trong Mưa. Hellgate Press, Oregon, U.S.A. 
_______. 2014b. Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn. 26-7-2014. 
(truy cập 21-12-2014). 

Census. 2010. The Vietnamese Population in the United States: 2010.
(truy cập 19-12-2014). 

Council of Europe. 2005. The concept of “nation”. 13-12-2005.
(truy cập 20-12-2014). 

Dân Nam. 2012. Những mốc lịch sừ quan trọng khởi từ thập niên 1940. Phần 12: Cờ Nào Mang Đầy Đủ Truyền Thống Quốc Gia Dân Tộc? 5-2012. 
(truy cập 20-12-2014). 

Đặng Chí Hùng. 2014. Hiệp lực hay chia rẽ. 16-12-2014. 
(truy cập 20-12-2014). 

_______. 2013. Những sự thật cần phải biết (Phần 8) - Lịch sử lá cờ của dân tộc. Đăng 7-1-2013. 
(truy cập 18-12-2014). 

Freeman, James M. 1995. Changing Identities: Vietnamese Americans, 1975-1995. Allyn and Bacon, Massachusetts, U.S.A. 

quockyvietnam. Không rõ Ngày. Người Việt Quốc Gia tại các thành phố và tiểu bang vận động cho Nghị Quyết Vinh Danh Quốc Kỳ Việt Nam
(truy cập 20-12-2014). 

Saito, Lynne Tsuboi. 2002. Ethnic Identity and Motivation: Socio-cultural Achievement of Vietnamese-American Students. LFB Scholarly Publishing, New York, U.S.A. 

Trần Duy Sơn. 2014. Hiệp lực đấu tranh. 16-12-2014. 
(truy cập 20-12-2014). 

Wikipedia. 2014a. South Vietnam. Thay đổi chót: 17-12-2014. 
(truy cập 21-12-2014). 

_______. 2014b. Demographics of Vietnam. Thay đổi chót: 14-12-2014. 

_______. 2014c. Overseas Vietnamese. Thay đổi chót: 17-11-2014. 
en.wikipedia.org/wiki/Overseas_Vietnamese (truy cập 19-12-2014). 

© 2014 Cao-Đắc Tuấn







View My Stats