Sunday, 24 June 2018

TƯ DUY CỦA NHỮNG TÊN LÍNH ĐÁNH THUÊ (Huy Phương - Người Việt)




Tạp ghi Huy Phương
June 24, 2018

Người trong nước và cả người Việt hải ngoại, suốt tuần qua hẳn đã có nhiều đêm mất ngủ vì tình hình cả nước xuống đường chống Luật Ðặc Khu cho Trung Cộng thuê đất 99 năm và vụ “An Ninh Mạng” vừa được Quốc Hội đảng cử, dân bầu, “ngủ gật” thông qua tuần trước. Người yêu nước mất ngủ vì lo âu vì chuyện vong quốc, giới cầm quyền mất ngủ vì sợ hãi vì thế nước, lòng dân đang sôi sục, không biết ngày mai có còn giữ nỗi cho đảng sống còn và duy trì được tài sản cơ ngơi cá nhân hay không?

Suốt trong thời gian cầm súng cho đảng Cộng Sản quốc tế, Bắc Việt vẫn luôn luôn đưa ra khẩu hiệu “có áp bức thì có đấu tranh,” “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân,” nhưng ngày nay họ lại tìm cách biện bạch cho mình, vu vạ cho làn sóng phẫn nộ đang mỗi ngày mỗi trào dâng, sẵn sàng nhận chìm chế độ bất nhân, tàn ác.

Tuy bên trong, họ hẳn là đang lo sợ, nhưng bề ngoài qua những ống loa tuyên truyền của đảng, họ vẫn tỏ ra khinh miệt quần chúng và đánh giá các cuộc biểu tình là sản phẩm của ô hợp, bệnh hoạn, như qua một thông báo trên VNExpress ngày 14 Tháng Sáu cho rằng những kẻ gây rối ở Bình Thuận thú nhận bị kẻ xấu kích động và “Theo cảnh sát địa phương, trong số những người quá khích tham gia đập phá, nhiều thanh niên là người địa phương không công ăn việc làm, nghiện hút, có tiền án tiền sự. Họ khai được người lạ cho tiền, cung cấp gạch và xăng để ném vào trụ sở…”

Báo đảng loan tin chuyện ở khu vực huyện Thanh Oai (Hà Nội) xuất hiện nhiều đối tượng lạ từ nơi khác đến, gõ cửa nhà dân tại các xã Xuân Dương, Tân Ước, Liên Châu để dụ dỗ người dân đi “biểu tình thuê.” “Mức giá thông thường mà những kẻ này đưa ra với người dân nơi đây là từ 200,000 đến 300,000 đồng cho mỗi người một ngày. Nhóm này gồm hơn 10 người cả nam lẫn nữ tuổi đời khoảng 25-30. Ở Hưng Yên cũng đang xuất hiện một vài kẻ như trên.”

Công an ở nước này đông như rươi, ăn chực nằm chờ để nghe ngóng truy tìm phản động, mà không phát hiện mỗi một toán người đi gõ cửa từng nhà đi thuê mướn người biểu tình, trong một thời điểm mà công an cần cảnh giác như mấy ngày nay.

Theo báo chí của chế độ Hà Nội, ngoài Will Nguyễn, bốn thanh niên tham gia biểu tình bị cáo buộc đập phá xe máy, xe buýt bị khởi tố, bị cho là mỗi người đã nhận từ 300 ngàn- đến 400 ngàn đồng (khoảng $15) từ người lạ mặt để hành động như trên.

Luận điệu này làm cho chúng ta nhớ lại giọng lưỡi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn, vào Tháng Bảy, 2013, trong dịp hàng ngàn người Việt hải ngoại đã đổ về thủ đô Washington DC tham gia cuộc biểu tình về tình hình nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam, khi Tổng Thống Barack Obama tiếp Chủ Tịch Trương Tấn Sang. Y cho rằng “những biểu tình chống đối của bà con cô bác ở bên ngoài đối với chủ tịch nước vừa qua chỉ là những hiện tượng… Có những người chỉ vì đồng tiền, có những người chỉ vì mưu cầu cuộc sống, có những người chỉ vì có một chút thu nhập thêm mà tham gia những hoạt động đó…”

Ở Mỹ, Nguyễn Thanh Sơn không dám gán cho người biểu tình chống Cộng là bọn thất nghiệp, không nhà, xì-ke, ma túy mà cho những người đi biểu tình là vì tiền và cần “thu nhập” thêm!

Cũng có thể, Ban Tuyên Huấn đảng đưa ra những bằng chứng mơ hồ để lừa dân và bôi bác mục đích cao cả của cuộc đấu tranh, nhưng từ trong bản chất người cộng sản với lối suy nghĩ ai thuê thì làm, có tiền thì tiến. Nghe nói Quốc Hội CSVN, mỗi khi cần thông qua những nghị quyết thuận lòng đảng, ngược lòng dân đều có đãi đằng và phong bao cho mỗi thành viên.

Hồ Chí Minh trước sau cũng chỉ là một tên thừa phái của đảng Cộng Sản Pháp rồi sau đó là Quốc Tế Cộng Sản. Từ mùa Hè năm 1923 đến cuối năm 1924, tức là thời gian kể từ khi Hồ rời đảng Cộng Sản Pháp để bí mật đến Liên Xô, theo sự điều động, phân công của đảng Cộng Sản Pháp và của Quốc Tế Cộng Sản vào hoạt động trong bộ máy của Quốc Tế Cộng Sản, làm cán bộ của Ban Phương Đông. Đến Liên Xô vào đầu năm 1923, nhưng mãi đến Tháng Mười Hai năm đó, Hồ mới được chứng nhận tạm thời thuộc biên chế Ban Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản và rồi mãi đến ngày 14 Tháng Tư năm sau (năm 1924), mới chính thức làm cán bộ của ban này. Lịch sử đảng cho thời gian này là lúc đắc chí nhất của Hồ Chí Minh, “tay sai quốc tế Cộng Sản.”

Kế hoạch, đường lối, tài nguyên, vũ khí, quân dụng trong hai cuộc chiến tranh đánh Pháp và Mỹ, không phải của VNDCCH, vì dân Việt Bắc nghèo không đủ cơm ăn, áo mặc và thuốc men, cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu. Tập đoàn Cộng Sản quốc tế do Liên Xô và Trung Cộng cầm đầu và yểm trợ toàn diện. Điều này đã được Lê Duẫn xác nhận trong câu thú tội không hổ thẹn, được khắc trên đền thờ của y, trong ý thức “chỉ đâu đánh đó!”

“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…”

Những người lính đánh thuê hôm nay vẫn nghĩ rằng thiên hạ có những người biểu tình thuê và chúng sẵn sàng thuê mướn những côn đồ, xì-ke, ma túy lẫn lộn trong quần chúng để dễ nhận diện những người cầm đầu cuộc tranh đấu. Và cũng vì giá cho thuê sông núi hiện nay quá lớn, làm mờ mắt, thui chột lương tri, đảng Cộng Sản quên hết hậu quả trăm năm cho con cháu, quên hết tổ quốc, giang sơn.

Ngoài lối tư duy “đâm thuê, chém mướn,” những người Cộng Sản Việt Nam vẫn còn thói quen khinh miệt, nhưng tiền hậu bất nhất, câu trước chửi câu sau. Cái “bọn” mà chúng gọi là “chạy theo đế quốc để kiếm bơ thừa sữa cặn,” được Nguyễn Thanh Sơn trở giọng gọi là “bà con cô bác” khi sang đây, và đất California được coi là vùng cấm địa của các viên chức Cộng Sản, bốn mươi ba năm nay, không treo nỗi được một ngọn cờ đỏ sao vàng, mới đây được Nguyễn Đức Kiên – phó chủ nhiệm Ủy Ban Kinh Tế của Quốc Hội bắt quàng làm họ gọi “ở California mình có Little Saigon!” Ai là “bà con cô bác” với Nguyễn Thanh Sơn, đất Cali nào là Cali “mình” của Nguyễn Đức Kiên!

Trong sách giáo khoa xưa, có câu chuyện thằng bé cho tay vào hũ kẹo, tham lam vốc lấy một nắm đầy, không thể nào rút tay ra được. Đã đến lúc, dân như nước tức, đang làm vỡ bờ, đảng Cộng Sản cầm quyền phải tính chuyện bỏ của chạy lấy người.

Chính nghĩa không ở trong tay những tên lính đánh thuê!

“Chân lý ấy không bao giờ thay đổi!” (Huy Phương)









CHỦ NGHĨA XÃ HỘI & CUỘC CHIẾN NGÔN TỪ (Nguyễn Hùng - BBC Tiếng Việt)




23/06/2018

Người ta nói ‘hoà bình là sự tiếp nối của chiến tranh theo một cách khác’. Nhưng cuộc chiến ngôn từ ở Việt Nam có thể nói chưa từng có ngày hoà bình kể từ sau năm 1975. Cụm từ mà người dân miền nam nghe nói tới nhiều nhất ngay sau khi chiến tranh kết thúc là ‘cải tạo’. Đó là lần hiếm hoi trong lịch sử những con người ít hiểu biết và nghèo khó hơn đi ‘cải tạoủa’ những người am hiểu và có đời sống tương đối sung túc. Sau khi được ‘cải tạo’, Sài Gòn mất đi vẻ hào hoa và từ chỗ là hòn ngọc phương đông chỉ còn là thành phố Hồ Chí Minh ngủ vùi trong vinh quang đã mất trong nhiều năm sau đó. Tướng Lê Minh Đảo, một trong những người kiên quyết trụ lại Sài Gòn và phải đi ‘cải tạo’ tới 17 năm, nói với tôi cách đây vài năm đó là “đi đày chứ cải tạo gì”.

Cụm từ thứ hai dân cả ba miền bắc, trung, nam đều biết đó là ‘xã hội chủ nghĩa’ vốn có trong tên nước Việt Nam từ tháng 7/1976. Việt Nam có phải là nước xã hội chủ nghĩa không? Câu trả lời chắc chắn là không và cũng chưa bao giờ từng là nước xã hội chủ nghĩa. Vậy tại sao Việt Nam lại là nước có lẽ là duy nhất trên thế giới hiện vẫn còn các chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ trong tên nước? Đây có phải là điều sai trái không? Nhà hoạt động JB Nguyễn Hữu Vinh từng đem điều này ra hỏi một sỹ quan an ninh Việt Nam và sau đây là câu trả lời và đối thoại tiếp theo giữa hai bên.

– Bây giờ Việt Nam chưa phải là chủ nghĩa xã hội, nhưng sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội, đó là mục tiêu sẽ hướng đến nên đặt tên nước ghi như vậy là đúng chứ sao lại sai.
– Nếu bây giờ một cậu bé phấn đấu để sau này làm Thủ tướng, mục đích của nó rất rõ ràng nhưng nó đang là học sinh, vậy nó có thể in danh thiếp là “Thủ tướng nước Việt Nam Trần Văn Quai” để giao dịch với mọi người được không?
– Như thế thì không được, anh đang là học sinh, là công nhân hay nông dân thì chỉ ghi đúng như vậy thôi chứ, chắc gì anh ta đã làm được thủ tướng.
– Nhưng mục đích, mục tiêu của nó là sẽ làm thủ tướng, cũng như Việt Nam có mục tiêu là chủ nghĩa xã hội, sao nước ta chưa đến chủ nghĩa xã hội lại ghi là chủ nghĩa xã hội được mà nó lại không được ghi danh thiếp là Thủ tướng? Thôi, cứ cho là có thể nó không được làm thủ tướng đi, vì nó khó, nhưng chắc chắn nó sẽ làm được điều này, là nó sẽ chết. Vậy danh thiếp nó có thể ghi là “Hồn ma Trần Văn Quai” để đi giao dịch được không?
Dĩ nhiên nhân viên an ninh không thể trả lời được vì đây có lẽ là sự đánh tráo khái niệm rõ rệt nhất.

Tới thời gian gần đây hơn, ngoài những tranh luận về ‘phí’ và ‘giá’, người ta nghe tới hành động ‘đầu thú’ của Trịnh Xuân Thanh. Cho tới khi ông Thanh ngỏ ý trước toà muốn sang lại Đức thăm vợ con trước khi về thi hành án thì người ta hiểu ‘đầu thú’ theo kiểu xã hội chủ nghĩa có nghĩa là người ta tóm anh, tống vào xe, cho lên chuyên cơ rồi đưa lòng vòng về trình diện công an và buộc anh phải nói mọi việc không phải thế.

Rồi trong hai tuần gần đây, ngoài những dây thép gai, nơi tạm giam dã chiến, những cảnh khiêng người như súc vật và những hình ảnh máu me trên thân thể và quần áo của những người biểu tình ở nơi từng là Sài Gòn, cuộc chiến ngôn từ tiếp diễn với cụm từ ‘tụ tập đông người’.

Việt Nam tự hào là nước châu Á khá bao dung với người đồng tính và đã có biết bao cuộc ‘tụ tập đông người’ nhiều sắc màu, có lẽ đông hơn nhiều so với các cuộc biểu tình gần đây nhưng chính quyền chấp nhận điều đó.

Họ chấp nhận sự khác biệt về giới, hoặc buộc phải làm như vậy, nhưng không chấp nhận khác biệt về quan điểm chính trị.

Vậy tại sao người ta lại không coi các đợt xuống đường mới đây nhất là biểu tình trên phương diện ngôn từ mặc dù quyền biểu tình đã được ghi nhận tại Điều 25 của Hiến pháp 2013, vốn đứng trên mọi quy định khác của pháp luật. Xin được trích khá dài những gì mà một trang web chính thống của Việt Nam đã đăng từ vài năm trước (http://tuphaptamky.gov.vn/2014/news/Gop-y-Hien-phap/Nhu-cau-luat-hoa-quyen-bieu-tinh-theo-Hien-phap-nam-2013-1518.html) :

“Biểu tình không phải là câu chuyện hoàn toàn xa lạ ở Việt Nam. Quyền biểu tình của nhân dân được du nhập vào Việt Nam từ thời Pháp thuộc, cùng với những tư tưởng tự do khác. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, biểu tình là một công cụ hữu hiệu mà Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Đông Dương) sử dụng để vận động đấu tranh chống chính quyền thực dân, phong kiến.

“Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều cuộc biểu tình tại miền Nam Việt Nam chống chế độ bù nhìn của Mỹ, chống chiến tranh của nhiều tầng lớp nhân dân đã nổ ra, góp phần thay đổi nhận thức của xã hội và của quốc tế về cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ tiến hành tại Việt Nam. Những cuộc biểu tình lúc này chính là những xúc tác quan trọng, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Như vậy, biểu tình không phải là khái niệm xa lạ, mới mẻ ở Việt Nam mà với đặc thù lịch sử ở Việt Nam, biểu tình phải được hiểu là ủng hộ và yêu nước.”

“Quyền biểu tình tuy không được ghi nhận trực tiếp trong Hiến pháp năm 1946 nhưng nó cũng được hiểu là nội hàm của quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp. Hai tuần sau khi giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh về quyền biểu tình, đủ cho thấy tư duy đúng đắn và quan niệm ủng hộ một quyền quan trọng của người dân của chính quyền dân chủ cộng hòa non trẻ. Tại các bản Hiến pháp sau này của Việt Nam, quyền biểu tình luôn được ghi nhận đầy đủ: Điều 25 Hiến pháp năm 1959, Điều 67 Hiến pháp năm 1980, Điều 69 Hiến pháp năm 1992 và Điều 25 Hiến pháp năm 2013.”

Bài đăng trên trang web này cũng nói thêm: “Hiện nay, mỗi khi có các cuộc biểu tình tự phát của người dân thì các cơ quan nhà nước ở Việt Nam thường áp dụng Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng. Tuy nhiên, Nghị định này lại nhằm để điều chỉnh hành vi “tập trung đông người ở nơi công cộng” chứ không phải là điều chỉnh các hoạt động biểu tình… Theo quy định của Nghị định này, các hoạt động tập trung đông người chỉ được diễn ra khi có sự “cho phép” Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

“Quy định này là hoàn toàn trái với tinh thần của pháp luật về biểu tình. Biểu tình là một quyền tự do, người dân chỉ cần “thông báo” đến cơ quan nhà nước về việc tổ chức biểu tình chứ không phải là “xin - cho”. Đồng thời, các quy định của Nghị định này đều thể hiện rõ xu hướng là tạo thuận lợi cho cơ quan nhà nước trong công tác quản lý chứ không phải là tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền của mình. Hơn nữa, biểu tình là một quyền hiến định và vì thế, những nội dung liên quan đến quyền này chỉ có thể được ghi nhận trong luật chứ không thể dùng nghị định để điều chỉnh.”

Trích dẫn dài như vậy để cho thấy không phải không có các ‘đồng chí’, một sự đánh tráo khai niệm khác, hiểu rằng nên chấm dứt cuộc chiến ngôn từ và cuộc chiến quyền lực giữa người dân và chính quyền. Nhưng số ‘đồng chí’ đi ngược lại xu hướng này còn đông hơn trong khi những người sẵn sàng thực hiện quyền hiến định của mình còn quá ít ỏi. Họ thậm chí còn không dám tham gia cuộc chiến ngôn từ. Và đây sẽ là đề tài của blog sắp tới – tin thất thiệt chính thống.












NGA ĐƯỢC GÌ KHI ĐĂNG CAI WORLD CUP? (Andrew Zimbalist - Project Syndicate)




Andrew Zimbalist  -  Project Syndicate
Biên dịch: Phan Nguyên
Posted on 25/06/2018 by The Observer

Bạn sẽ tin tưởng ai hơn, Tổng thống Nga Vladimir Putin hay Thị trưởng Chicago Rahm Emanuel? Trong khi Putin đang say sưa với sự chú ý mà nước Nga đang nhận được với tư cách là chủ nhà World Cup 2018, Emanuel đã thông báo cho Liên đoàn bóng đá Mỹ và FIFA rằng Chicago sẽ không hứng thú với việc làm thành phố đăng cai sự kiện này khi nó được tổ chức ở Bắc Mỹ vào năm 2026. Canada và Mexico sẽ tổ chức mười trận đấu mỗi nước, và Hoa Kỳ sẽ tổ chức 60 trận còn lại. Vậy tại sao thành phố lớn thứ ba của Hoa Kỳ lại bỏ qua cơ hội này?

Để hiểu được ý nghĩa của việc tổ chức một sự kiện thể thao toàn cầu, hãy nghĩ về việc chính phủ Putin phải chi 51-70 tỷ USD để tổ chức Thế vận hội Mùa Đông 2014 tại Sochi và dự kiến ​​chi ít nhất 14 tỷ USD để tổ chức World Cup hiện tại. Ngân sách của Nga bỏ tiền chi cho việc xây dựng bảy sân vận động mới – bao gồm một sân ở St. Petersburg trị giá khoảng 1,7 tỷ đô la – và cải tạo năm địa điểm khác. Và đây là chưa tính đến chi phí bổ sung cho các cơ sở luyện tập, chỗ ở, cơ sở hạ tầng mở rộng và an ninh.

Chicago, vốn từng tổ chức lễ khai mạc và trận đầu tiên của World Cup 1994, đã áp dụng một tư duy khá khác biệt. Phát ngôn viên của Emanuel, Matt McGrath, gần đây đã đưa ra một tuyên bố giải thích rằng, “FIFA không thể cung cấp một mức độ chắc chắn cơ bản về các ẩn số lớn khiến cho thành phố và người nộp thuế của chúng tôi gặp rủi ro.” McGrath cáo buộc FIFA đang yêu cầu được toàn quyền về mọi thứ, bao gồm cả “khả năng mở cho việc sửa đổi thỏa thuận … bất cứ lúc nào và theo ý muốn của họ.”

Hơn nữa, FIFA cũng sẽ yêu cầu sân vận động Soldier Field – sân nhà của đội bóng Chicago Bears – phải ngừng các dịch vụ trong thời gian hai tháng trước giải đấu. Cuối cùng, văn phòng của Emanuel kết luận rằng, “Sự không chắc chắn đối với người nộp thuế, cùng với tính không linh hoạt và không sẵn sàng thương lượng của FIFA, là dấu hiệu rõ ràng rằng việc theo đuổi đăng cai giải đấu không phục vụ lợi ích tốt nhất của Chicago.”

Ngoài việc tổ chức từ hai đến sáu trận đấu – có khả năng trong một vài tuần – các thành phố chủ nhà World Cup dự kiến ​​sẽ phải tổ chức các ngày hội cổ động viên, cung cấp các cơ sở tập luyện cho các đội bóng và miễn giảm thuế cho một loạt các hoạt động. Trên thực tế, FIFA cấm các loại thuế trực tiếp và gián tiếp đánh vào tất cả các nguồn thu từ sự kiện, miễn thuế cho liên đoàn bóng đá các châu lục, nhà phát sóng truyền hình của nước chủ nhà, các hiệp hội thành viên FIFA, các nhà cung cấp dịch vụ và nhà thầu. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi Minneapolis và Vancouver cũng đã cùng với Chicago từ chối vinh dự được làm các thành phố chủ nhà World Cup 2026.

Để biện minh cho các đòi hỏi của mình, FIFA chỉ ra rằng “World Cup là một sự kiện thể thao lớn thu hút sự chú ý toàn cầu đối với (các) nước chủ nhà và tạo ra cơ hội đầu tư tài chính đáng kể cho cơ sở hạ tầng thể thao và công cộng.” FIFA tuyên bố rằng sự chú ý và nguồn đầu tư bổ sung đó “có thể đóng góp đáng kể cho các lợi ích kinh tế – xã hội trung và dài hạn … cũng như tăng trưởng kinh tế.”

Nhưng hãy lưu ý tới ngôn ngữ được lựa chọn cẩn thận của FIFA. FIFA chỉ hứa hẹn một “cơ hội đầu tư tài chính đáng kể” vào cơ sở hạ tầng, cũng như sự chú ý và đầu tư “có thể đóng góp” vào tăng trưởng. Trên thực tế, các bằng chứng học thuật cho thấy rằng World Cup hiếm khi có lợi cho các nước và thành phố chủ nhà nhiều như FIFA muốn công chúng và các quan chức thừa nhận.

Ví dụ, hãy xem xét những gì Nga sẽ nhận được từ khoản đầu tư trị giá 14 tỷ đô la cho sự kiện năm nay. Trong khi tất cả doanh thu từ bán vé, quyền phát sóng quốc tế và tài trợ sẽ trực tiếp chui vào túi FIFA, Nga sẽ được giữ lại bảy sân vận động mới và năm cơ sở được tân trang mà nước này không cần. Và trừ khi phá hủy các địa điểm này, Nga sẽ phải chi hàng chục triệu đô la mỗi năm để bảo trì chúng. Trong khi đó, hàng trăm mẫu đất đô thị khan hiếm sẽ bị mất trắng cho các dự án lãng phí kém hiệu quả.

Chắc chắn là hình ảnh của các cơ sở mới bóng bảy đang được truyền đi trên toàn thế giới. Nhưng các hình ảnh này không nhất thiết luôn có lợi cho Nga. Ví dụ, không có gì có thể giấu được 6.000 chỗ trống trong trận đấu giữa Uruguay và Ai Cập vào ngày 15 tháng Sáu.

Nếu lịch sử mang lại bất kỳ chỉ dẫn nào, thì World Cup 2018 sẽ không làm tăng đầu tư hoặc thương mại quốc tế, thúc đẩy ngành du lịch của Nga, hoặc tăng cường mối quan tâm của người dân nước này đối với việc rèn luyện thể lực.

Những gì World Cup mang lại chỉ là một cảm giác thoáng qua về niềm tự hào dân tộc trong một phần đáng kể người dân Nga, đồng thời giúp đánh lạc hướng sự quan tâm của người dân khỏi các vấn đề khó khăn ngày càng nhiều của đất nước. Có hoặc không có World Cup, biến động giá dầu và các biện pháp trừng phạt quốc tế được áp dụng để phản đối việc Putin sáp nhập Crimea năm 2014 sẽ tiếp tục làm tối đi triển vọng kinh tế của Nga và hạ thấp tiêu chuẩn sống của những người dân Nga bình thường.

Vậy thì bạn sẽ tin tưởng ai? Tôi chọn Emanuel.

---------------
Nguồn: Ian Buruma, “The Soccer Mafia,” Project Syndicate, 28/05/2015.
Biên dịch: Nghiêm Hồng Sơn | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Điều ngạc nhiên duy nhất trong vụ bắt giữ bảy quan chức của Liên đoàn Bóng đá Thế giới (FIFA) tại một khách sạn ở Thụy Sĩ vào sáng sớm ngày 27 tháng 5 là nó đã xảy ra. Hầu hết mọi người đều cho rằng những người đàn ông được ưu ái, diện những bộ com lê đắt tiền và đang chi phối liên đoàn bóng đá của thế giới, đã vượt ra ngoài tầm với của pháp luật. Bất luận […]

Andrew Zimbalist là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Smith và là tác giả của cuốn Circus Maximus: The Economic Gamble Behind Hosting the Olympics and the World Cup.










BẮC KINH SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NHƯ TIỀN TRẠM THÂN MẬT CHO QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ (Peter Hartcher - The Sydney Morning Herald)




Peter Hartcher
The Sydney Morning Herald, 18 June 2018 
Trùng Dương dịch
23/06/2018

Bạn có thấy một mô hình ở đây không? 

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng một con đường vào Tây Tạng và người Tây Tạng rất hứng thú - đó là đường cao tốc đầu tiên của họ: "Chúng tôi được hứa là với đường cao tốc chúng tôi sẽ có hòa bình và thịnh vượng, và cha mẹ và ông bà của chúng tôi đã tham gia xây dựng con đường đó". Lobsang Sangay, Chủ tịch của chính phủ lưu vong Tây Tạng, kể.


"Trong thực tế, họ đã được trả bằng đồng tiền bạc để giúp họ xây dựng con đường đó. Vì vậy, trong thời gian ấy có một bài hát phổ biến, và nó như thế này: người Trung Quốc giống như cha mẹ của chúng tôi; khi họ đến, họ trút xuống tiền bạc như mưa lên chúng tôi," người luật sư được đào tạo tại Harvard kể lại tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (National Press Club) ở Canberra năm ngoái.

Các binh sĩ Trung Quốc đã kiên nhẫn với những đứa trẻ địa phương và chịu đựng các châm chọc của chúng với những nụ cười, ông nói.

“Thế rồi họ xây một con đường. Khi con đường đến tới Lhasa - thủ đô của Tây Tạng – thì đầu tiên là xe tải đến, sau đó súng đến, rồi xe tăng đến. Chẳng bao lâu, Tây Tạng bị chiếm đóng. Vì vậy, mọi sự bắt đầu bằng con đường".

Bắc Kinh nói rằng Tây Tạng đã được giải phóng và phát triển một cách hòa bình. "Nhưng đây là định nghĩa của hòa bình - gần 1 triệu người đã chết dưới nhiều hình thức khác nhau", Sangay nói.
"Họ đã chết vì đói, họ đã chết trong tù, họ đã chết trong các trại lao động".

Sự thanh lọc văn hóa và tôn giáo của Phật giáo Tây Tạng đã được nhiều người biết đến. Chính quyền Trung Quốc đã san bằng hơn 90% các tu viện.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng đường vào Tân Cương, vùng đất với đa số dân là người Hồi giáo, ngay ở phía bắc Tây Tạng. "Khi người Trung Quốc đầu tiên đến Tân Cương, tất cả chúng ta đều nghĩ đó là những người tốt," bà Rebiya Kadeer, tiếng nói của phong trào giành độc lập của người Duy Ngô Nhĩ (Uighur), nói.

"Chúng tôi đối xử với họ một cách tử tế, chúng tôi mong đợi một số đầu tư và phát triển", bà nói với tôi.

"Ban đầu họ nói ‘chúng tôi sẽ giúp bạn phát triển nhưng bạn sẽ cai trị đất đai ‘". Bà Kadeer, trước đây là một trong những người phụ nữ giàu nhất Trung Quốc và từng là thành viên của Quốc hội Nhân dân Trung Quốc nhưng hiện đang sống lưu vong ở Mỹ, nói.

"Chỉ có ba phần trăm người dân ở Tân Cương là người Trung Quốc," dân tộc Hán nói tiếng Hoa, khác biệt với người Duy Ngô Nhĩ (Uighur) nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (Turkic), nhóm dân tộc lớn nhất sống tại nơi mà hiện nay là một tỉnh của Trung Quốc.

Chính phủ Bắc Kinh thực hành một chính sách nhập cư ở Tây Tạng và Tân Cương, di dời người Hán từ miền Nam đến để thay đổi thành phần dân tộc và chính trị ở các nơi đó. Tỷ lệ phần trăm người Hán hiện nay là khoảng 40% ở Tân Cương.

"Họ đã đông lên, và đông lên, và bây giờ họ đang giết chúng tôi". Bà Kadeer nói.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng một mạng lưới các trại cải tạo cho người Duy Ngô Nhĩ . Kadeer gọi họ là trại tập trung, nơi mọi người bị giam giữ vô thời hạn mà không có thủ tục pháp lý.

Tại thành phố lớn nhất của người Uighur, Kashgar, có 120.000 người, hoặc khoảng một phần tư dân số, đã bị giam trong các trại vào năm 2017, theo một giám đốc an ninh địa phương. Maya Wang của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) ước tính tổng số trên toàn Tân Cương có tới 800.000 người.

Tạp chí The Economist trong một bài báo về các trại giam cưỡng bức lao động (gulags) của Trung Quốc ở Tân Cương đã để tiêu đề: " Sự kỳ thị chủng tộc (apartheid) với đặc điểm Trung Quốc."

Đây là cả hai trường hợp mà Trung Quốc có yêu sách lịch sử qua nhiều thế kỷ để khẳng định có quyền sở hữu chủ quyền. Cả hai đều liên quan đến các vùng đất liền kề trung tâm của Trung Quốc.

Đây là những trường hợp Trung Quốc củng cố quyền lực trên vùng ngoại biên của họ. Đó không phải là những chuyện Đảng Cộng sản Trung Quốc chinh phục các quốc gia khác.
Tuy nhiên, đó là những chuyện để minh họa về cách mà Bắc Kinh sử dụng cơ sở hạ tầng như một tiền trạm thân mật cho quyền lực chính trị. 

Chủ tịch Tập Cận Bình miêu tả sáng kiến
​​Vành Đai và Con Đường (Belt and Road Initiative) như là món quà hào phóng của Trung Quốc dành cho nhân loại. Phạm vi đầy tham vọng của nó được trưng ra như một lối đi đến sự chia sẻ thịnh vượng và hài hòa, một "cộng đồng có cùng chung số phận".

Nhưng nó cũng là một sáng kiến ​​chiến lược. Một vị tướng trong Không Quân Giải phóng Nhân Dân, Qiao Liang, vào năm 2015 đã mô tả nó "thực sự là chiến lược của kẻ sắc sảo”. Là một nhà lý thuyết quân sự, ông giải thích rằng "nếu bạn nói với mọi người, ‘tôi đến với ý định chính trị và ý thức hệ’, ai sẽ chấp nhận bạn?"

Đó là một kế hoạch cơ sở hạ tầng với một ý định chiến lược tiềm ẩn: "Kéo chặt chẽ hơn nữa vào quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc". Nadege Rolland của cơ quan nghiên cứu phi lợi nhuận Mỹ, Văn Phòng Nghiên Cứu Quốc Gia về Châu Á (National Bureau of Asian Research), nói tóm lại là các quốc gia ôm lấy Vành Đai và Con Đường sẽ thấy là càng ngày họ càng khó đứng lên để đối đầu với Bắc Kinh.

"Khi Trung Quốc có ảnh hưởng chính trị đối với khu vực lân cận, họ sẽ có thể đẩy lùi sự thống trị của Mỹ và giành lại không gian chiến lược của khu vực mình", bà kết luận trong cuốn sách "Thế kỷ Á-Âu của Trung Quốc" (China’s Eurasian Century).


Tất nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc không phải là quyền lực đầu tiên đã nghĩ đến một mạng lưới cơ sở hạ tầng với hai mục tiêu sử dụng (dual-use). Người La Mã cổ đại đã xây dựng 80.000 km đường lát gạch, thẳng và bền, giúp quân đội di chuyển nhanh chóng để mở rộng và duy trì đế quốc, nhưng cũng giúp cho thương mại có hiệu quả.

Hệ thống đường La Mã rất hùng vĩ và lợi ích thương mại của nó bền vững nên nó mang lại lợi ích kinh tế cho ngay cả ngày hôm nay. Bốn học giả Bắc Âu trong năm nay có sắp xếp các tuyến đường La Mã cổ đại vào cường độ ánh sáng ban đêm của ngày hôm nay và thấy bằng chứng là mạng lưới đường La Mã có "đóng một vai trò quan trọng trong sự bền bỉ của sự phát triển tiếp theo". Ngay cả đến bây giờ, hàng nghìn năm sau đó.

Vậy điều gì thật khủng khiếp nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo ra một cái tương đương hiện đại? Họ có thể có các động cơ chiến lược, nhưng lợi ích kinh tế cho hàng triệu người trên hàng chục quốc gia có thể là đổi đời và vững bền.

Nhưng không may, cái giá phải trả về chính trị có thể cao. Trong số 68 quốc gia đã đăng ký, 33 quốc gia được các cơ quan xếp hạng của thế giới xếp vào hạng dưới mức có thể đầu tư (investment grade). Vì vậy, họ không phải là những nước có đủ tin cậy để cho vay (creditworthy) nhưng Trung Quốc thì vui vẻ cho họ vay hàng tỷ mà họ có thể không đủ khả năng trả nợ.

Ngay trong giai đoạn phôi thai này của chương trình Vành Đai và Con Đường, sự cho vay của Trung Quốc đã phô ra tám quốc gia có nguy cơ bị hiểm nguy tài chính (financial distress), theo một báo cáo của Trung Tâm Phát Triển Toàn Cầu (Centre for Global Development), một think-tank phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ.

Và nếu họ không thể trả nợ? Năm ngoái, khi Sri Lanka yêu cầu đàm phán lại khoản nợ Trung Quốc 8 tỷ đô la Mỹ cho dự án cảng Hambantota, Bắc Kinh đã chuyển số nợ đó thành vốn chủ sở hữu và hợp đồng thuê quản lý cảng trong 99 năm.

Nợ là một cách viết khác của nghĩa vụ. Đảng Cộng sản Trung Quốc có một lịch sử sử dụng cơ sở hạ tầng như một con ngựa thành Troy cho sự thống trị.

Vành Đai và Con Đường, trừ khi được tiếp cận với sự thận trọng, có thể cuối cùng chỉ là một cách viết khác của mua và bán, với đặc điểm Trung Quốc.

P.H.

Nguồn bản gốc:
Peter Hartcher là biên tập viên quốc tế.

Dich giả gửi BVN









27 THỰC THỂ TRÊN BIỂN ĐÔNG (AMTI / CSIS)




Người dịch: Phan Trinh
23/06/2018

Lời người dịchBài này cung cấp hình ảnh của 27 thực thể – 7 tại Quần đảo Trường Sa, 20 tại Quần đảo Hoàng Sa – gồm các đảo, đá, bãi cạn, bãi xà cừ, cồn cát đang bị Trung Quốc kiểm soát.

Để bạn đọc dễ dàng thấy các đảo, đá, bãi cạn này khác biệt ra sao trước và sau khi bồi đắp, người dịch chọn một ảnh cũ đặt trước một ảnh chụp gần đây nhất của từng thực thể.
Mọi hình ảnh trong bài đều từ AMTI, Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á, thuộc CSIS, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược, Washington. Để xem thêm ảnh về từng thực thể, bạn đọc có thể bấm vào đây.

Trung Quốc hiện có 20 tiền đồn tại Quần đảo Hoàng Sa và 7 tại Quần đảo Trường Sa. Họ cũng kiểm soát Bãi cạn Scarborough, chiếm năm 2012, với sự có mặt thường trực của lực lượng hải cảnh, dù chưa xây cất công trình gì tại đây. Từ năm 2013, Trung Quốc bắt đầu công cuộc nạo vét, xây đảo nhân tạo với quy mô chưa từng có tại Quần đảo Trường Sa, tạo nên 3.200 mẫu đất mới, đồng thời tăng cường rất đáng kể sự có mặt của họ tại Quần đảo Hoàng Sa.


-------------------

Nguồn :

CHINA ISLAND TRACKER

China has 20 outposts in the Paracel Islands and 7 in the Spratlys. It also controls Scarborough Shoal, which it seized in 2012, via a constant coast guard presence, though it has not built any facilities on the feature. Since 2013, China has engaged in unprecedented dredging and artificial island-building in the Spratlys, creating 3,200 acres of new land, along with a substantial expansion of its presence in the Paracels.








CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ THỰC TIỄN CHO VIỆT NAM (Chánh Nguyễn)




Chánh Nguyễn  -  Hate Change 

Có được một đời sống ấm no, không sợ hãi trong một xã hội phát triển ổn định là nguyện vọng của mọi dân tộc trên thế giới. Tất cả những diễn biến lịch sử, những phát triển kinh tế, xã hội, và những khám phá khoa học đều đưa đến một kết luận chính trị chung. Chỉ có thể chế dân chủ với một hệ thống chính phủ mà quyền lực của người cầm quyền đương thời bị giới hạn, kiểm soát theo những nguyên tắc dân chủ mới có thể đáp ứng được nguyện vọng của xã hội một cách dài lâu. Chỉ có một chính quyền được dân bầu lên, bị dân kiểm soát, do dân thay đổi thì mới giữ được bản chất là chính quyền của dân và vì dân.

Sự ưu việt của thể chế dân chủ không còn là một đề tài trong những cuộc tranh luận nghiêm túc ngày nay. Ngay chính độc tài cũng công nhận, cũng phô bày “dân chủ” như một món đồ giả. Giả vụng về, trắng trợn: Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Giả mập mờ, lấp liếm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản. Thế nhưng những cải cách để đưa đến một thể chế dân chủ ở Việt Nam, nếu có, thì vẫn rất chậm, rất miễn cưỡng.

Chính quyền đương thời nào cũng có động lực củng cố và triến khai quyền lực của mình. Khi nền tảng dân chủ chưa có thì chính quyền sẽ chống lại, tìm cách triệt hạ mọi xu hướng đối lập, ngay cả chém giết khi họ thấy cần. Đài Loan và Nam Hàn đều trải qua giai đoạn này dưới thời Tưởng Giới Thạch và Phát Chính Hy (cả hai đều chống cộng). Vấn đề không phải là chủ thuyết hay nhận thức mà là bản chất tự nhiên. Chính quyền Việt Nam đương thời, dân tộc Việt, xã hội Việt cũng không là ngoại lệ.

Trong nước đã xuất hiện một số người chống lại chính quyền hay chính sách của chính quyền. Nhưng nhiều người vẫn ta thán rằng chưa có phong trào và nhân vật đối lập nào có được sự ủng hộ sâu rộng của quần chúng. Một quan điểm đang thịnh hành trong số những người chống chính quyền trên mạng là quá nhiều người Việt chưa đủ trí tuệ để nhận ra tội ác của chế độ, chưa đủ dũng khí để chống lại chính quyền, và vô cảm truớc những tệ nạn xã hội mà nhà nước phải chịu trách nhiệm. Một dân tộc Việt ngu, hèn, và trơ là lý do họ thường nêu ra để giải thích sự tham gia tương đối tẻ nhạt của người dân trong phong trào đấu tranh cho dân chủ.

Sự mâu thuẩn lớn trong quan điểm này là tư duy độc tài – tự đặt mình lên trên để nhìn xuống và miệt thị số đông trái ý mình – của một số người đang lớn tiếng hô hào dân chủ. Có thể nghi ngờ họ không hiểu dân chủ thật sự là gì. Thái độ của họ không tạo ra sự tin tưởng rằng nếu được quần chúng ủng hộ thì họ sẽ không đi vào vết xe đổ của Mohamed Morsi. (Được dân Ai Cập bầu lên sau khi chế độ độc tài của Hosni Mubarak sụp đổ, Morsi và đảng Huynh Đệ Hồi Giáo đã nhanh chóng tập trung quyền lực chống lại mọi hoạt đông dân chủ.) Dù vô tình, chính họ đã là một dẫn chứng hùng hồn cho sự ngụy biện của chính quyền rằng đa đảng, đa nguyên chỉ đưa đến loạn lạc. Không có gì lạ khi họ không được đa số người Việt trong nước hổ trợ.

Một số Đảng viên, cựu Đảng viên lão thành cũng đã nhận ra sự cần thiết của cải cách dân chủ. Nhưng những lời kêu gọi cải cách của họ vẫn chưa và có lẽ cũng sẽ không có hiệu lực gì. Họ không có quyền, không còn nắm những chức vụ quan trọng. Ảnh hưởng của họ, nếu có, chỉ trên bình diện tư duy, tinh thần. Nhưng chính quyền đương thời chống những hoạt động dân chủ không phải vì thiếu suy nghĩ, cần được thức tĩnh mà chỉ vì sự bám víu quyền lợi, một bản chất cố hữu của con người. Những nhân vật như George Washington và Nelson Mandela đều là ngoại lệ, hiếm có. Khách quan mà suy luận thì cái xác suất trong giới lãnh đạo của Việt Nam hiện nay có người đủ quyền và đủ lòng để tiến hành cải cách như Mikhail Gorbachev ở Liên Xô trước đây là rất thấp.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những kiến nghị, tâm thư, đề xuất… của những người mong có được một cải cách thể chế thật sự đều đã không đi đến đâu. Ủng hộ dân chủ bằng phương pháp đưa thư, đệ đơn này không những đã không có hiệu quả thực tế mà lại còn có vấn đề về khía cạnh tư tưởng. Có thể nói những người chọn con đường này đã mặc nhiên chấp nhận chính quyền là một thực thể trên dân, có tư cách ban phát cho dân. Dù họ là người có lòng yêu nước, thương dân thì đây vẫn là tư duy lạc hậu của thời phong kiến, hoàn toàn trái ngược với lý tưởng dân chủ.

Có lẽ vì nhận thấy sự quan trọng của tư duy và phương pháp trong cuộc đấu tranh chống độc tài, một số người đã cho rằng cần phải có một đội ngũ trí thức ưu tú để hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi dân chủ. Thành phần trí thức đi tiên phong này có thể sẽ được đào tạo, học hỏi ở nước ngoài rồi về nước lãnh đạo quần chúng. Họ sẽ là những người vững vàng với lý tưởng, không ngại gian khổ, hy sinh. Sách lược này không phải là mới, đã được áp dụng thành công bởi Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của ông để chống lại chế độ thực dân Pháp. Nhưng trong thực tế ngày hôm nay thì sách lược này không thể thực hiện được.

Câu hỏi quan trọng là những người trí thức này sẽ nói gì, sẽ làm gì để được quần chúng tín nhiệm, tự nguyện đi theo cho họ hướng dẫn, lãnh đạo. Họ sẽ nói gì, làm gì để người dân chịu gánh thêm gian khổ, có thể bị tù đày và hy sinh mà không sợ cảnh “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”? Ngoài trường hợp không thực tiễn là có siêu nhân xuất hiện, câu trả lời khách quan sẽ là gáo nước lạnh tạt vào giấc mơ tranh đấu dân chủ theo sách lược này.

Hơn nữa, khác với những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước, đây không phải là một cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Tất cả những liên hệ đến thế giới bên ngoài sẽ bị chính quyền đương thời tuyên truyền là tay sai của ngoại bang. “Thế lực thù địch”, một khái niệm mơ hồ mà chính quyền vẫn dùng để biện minh cho sự đàn áp những hoạt động dân chủ, đột nhiên sẽ hết mơ hồ. Những người trí thức này sẽ bị chận bắt trước khi họ có cơ hội lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng. Đây là một sách lược tranh đấu dân chủ vô kế khả thi nếu người lãnh đạo phải là “trí thức ưu tú” thuộc một trường phái nhất định.

Những diễn biến chung quanh vụ Trung Quốc kéo giàn khoan xâm phạm lãnh hải Việt Nam vào tháng Năm vừa qua ( tháng 5/2014) đã làm rõ nét hịện trạng giới hạn cũng như một con đường đấu tranh dân chủ có hiệu quả trong tương lai. Phản ứng và thái độ của quần chúng từ những người cành sát biển, phóng viên, đến ngư dân, sinh viên, người già, giới trẻ… chứng tỏ rất nhiều người Việt, có thể là đa số, không hèn và vô cảm, không thờ ơ với vận nước khi có một mục tiêu rõ rệt như chống ngoại xâm. Rất nhiều người đã nhận định chính xác rằng phải có cải cách thể chế mới có thể bảo vệ được chủ quyền lâu dài. Thái độ bí ẩn và phản ứng khó hiểu của chính quyền trong vụ này chứng tỏ rằng đặt tin tưởng vào một chế độ độc tài trong việc bảo vệ chủ quyền chung của đất nước cũng nguy hiểm như tin rằng họ sẽ tạo ra một xã hội chung ngày càng giàu mạnh hơn. Thế nhưng khi câu hỏi ai, tổ chức nào sẽ thay thế nhóm lãnh đạo và Đảng Cộng Sản Việt Nam đuợc đặt ra trên mạng thì những người kêu gọi chống chính quyền đã không có câu trả lời thoả đáng. Phản ứng của họ gây ra ấn tượng là chính họ đang bị bế tắc trong tư duy và trong sự vận động đa đảng, đa nguyên.

Không thể gạt qua câu hỏi này bằng cách nghi ngờ động lực và trình độ của người hỏi như nhiều người vẫn làm. Bất kể người hỏi là ai, đây là một câu hỏi chính đáng cả trên nguyên tắc và trong thực tế đấu tranh dân chủ. Một câu hỏi quan trọng đòi hỏi câu trả lời rõ ràng, nghiêm túc.

Trước hết, đây là một câu hỏi thực tế về thực lực đối kháng. Đưa ra một viễn ảnh cụ thể để chứng tỏ sẽ có đủ đối trọng là một việc làm cần thiết nếu muốn được quần chúng tin theo. Cũng là một việc làm vô vọng. Dù muốn hay không, đại dìện duy nhất cho nước Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc hôm nay là nhà cầm quyền đương thời, một chính quyền đã có quan hệ ngoại giao chính thức với các quốc gia lớn. Không một nước dân chủ nào sẽ nhảy vào hổ trợ vũ lực chống chính quyền đó. Ngoại lệ duy nhất, trên nguyên tắc, là khi có nội loạn, nội chiến gây ra quá nhiều chết chóc cho dân lành. (Thực tế thì vẫn rất khó như phản ứng của Anh và Mỹ với tay độc tài Assad ở Syria đã chứng tỏ.) Thế là cách duy nhất để khả dĩ có đủ đối trọng lật đổ chính quyền vẫn phải là sự ủng hộ đông đảo của quần chúng. Nhưng những người kêu gọi cách mạng, đấu tranh lật đổ chính quyền lại không có sự ủng hộ này. Họ vẫn không thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn tạo ra bởi những tư tưởng lỗi thời, không thích hợp với thực tế ngày nay.

“Nhân dân vùng lên” là một câu khẩu hiệu, không phải là đường lối chính trị. “Dân hèn, ngu, và trơ đông như quân Nguyên” là một biện minh cho sự thất bại chính trị, không phải là một nhận định hữu ích thực tiễn.

Tạo nên một cuộc cách mạng quần chúng để lật đổ chế độ hiện hành chỉ là một ảo tưởng vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất là khi không thấy có đối trọng, không thấy có hy vọng thành công, ta thường chọn con đường để có được những nhu cầu thực tế trước mắt theo bản năng sinh tồn. Người mà nhu cầu thiết yếu của họ bị đe doa sẽ có khuynh hướng vùng lên, liều chết kháng cự, nhưng trong thực tế hiện nay thì tỉ lệ của những người như thế không đủ để làm cách mạng.

Lý do thứ hai là sự tàn độc không phải là mục đích, là nguyện vọng của nhà cầm quyền độc tài hiện nay ở Việt Nam. Nó chỉ là phương tiện để giữ vững độc quyền, đặc lợi. Chính quyền sẽ thắt nới tùy hoàn cảnh để vừa giữ vững quyền lợi vừa tránh nạn “cùng tắc biến”. Họ đã thành công và không có dấu hiệu gì là họ sẽ thất bại trong tương lai gần như nhiều người vẫn hy vọng.

Hô hào quần chúng xuống đường đối kháng chính quyền và miệt thị họ ngu, hèn khi họ không đáp ứng là việc làm vô ích, phi dân chủ và gây phản cảm, nhất là từ những người đang được sống ngoài vòng cương toả của chế độ độc tài.

Thỉnh nguyện không được, vùng lên lại chẳng có mấy ai. Tiến trình dân chủ sẽ như thế nào?
Câu hỏi “Ai sẽ thay Đảng…?” chính là một cơ hội để những người trí thức chống độc tài khẳng định lại bản chất và mục đích của cuộc tranh đấu cho dân chủ nhằm thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Trên nguyên tắc, người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa không tranh đấu cho quyền lãnh đạo của một người hay một đảng. Người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa tranh đấu cho cái quyền được chọn lựa: Mỗi người dân một lá phiếu. Đấu tranh để có quyền chọn lựa như thế là mới chính là đấu tranh dân chủ. Không phải mọi phong trào chống độc tài đều là đấu tranh dân chủ. Đặt sự chọn lựa đảng phái, chủ thuyết, người lãnh đạo… trước khi có quyền chọn lựa sẽ biến cuộc đấu tranh này thành một sự xung đột giữa những thế lực khác nhau, dễ khiến người dân nghi ngờ hơn là tin cậy.

Cuộc đấu tranh dân chủ chân chính là cuộc đấu tranh để mọi người dân thật sự có quyền chọn lựa. Chọn lựa cụ thể như thế nào thì tùy dân, là quyền của dân. Theo tinh thần bất hủ của Voltaire (khi ông nói về quyền tự do ngôn luận), người đấu tranh dân chủ chân chính hẳn phải có tâm niệm: Dù tôi không đồng ý với sự chọn lựa của họ, tôi vẫn tranh đấu đến cùng cho quyền được chọn lựa của họ. Người đấu tranh dân chủ chân chính sẽ chống lại mọi khuynh hướng giới hạn quyền chọn lựa của người dân. Ngoại trừ độc tài đương quyền, không ai chống lại mục tiêu và con người đấu tranh như thế: Đấu tranh bất bạo động cho quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người, bất chấp đảng phái và chính kiến.

Chỉ bằng cách khẳng định thật rõ ràng rằng mục tiêu đấu tranh là cái quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người mới có thể thu hút được sự hổ trợ của đông đảo quần chúng. Từ những người vẫn nghĩ rằng Đảng CSVN đã có công trong sự giành độc lập, thống nhất đất nước cho đến những người vẫn tin rằng CS là một đại họa của dân tộc, tất cả (trừ độc tài đương quyền) đều muốn có được cái quyền ấy. Đây là mục tiêu quan trọng tối hậu. Bên cạnh nó, những tranh chấp về các diễn biến lịch sử, đúng sai của những chủ thuyết chính trị, công tội của những nhân vật lịch sử v.v… chỉ là những vấn đề để nghiên cứu và tranh luận khi trà dư tửu hậu, khi đã có được một thể chế dân chủ.

Dĩ nhiên là độc tài đương quyền sẽ tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để trấn áp tất cả những hoạt động đấu tranh dân chủ. Họ sẽ đưa ra mọi lý lẽ để phân hoá, để chứng tỏ cuộc đấu tranh dân chủ chỉ là một sự tranh giành quyền lợi hay có ý đồ làm loạn. Đấu tranh thành công cần phải có đủ một số yếu tố. Quan trọng nhất là làm thế nào để có thể tạo được sự ủng hộ đông đảo, dù âm thầm, của quần chúng. Lý tưởng dân chủ – cái quyền được chọn lựa của mỗi người –  tự nó chỉ là một khái niệm trừu tượng đối với những người phải quần quật, đầu tắt mặt tối để mưu sinh. Tư tưởng và phương pháp đấu tranh cụ thể để có được một tiến trình dân chủ thành công là nội dung của Phần II.

Bài viết của tác giả Chánh Nguyễn – Hate Change đăng tải và lưu trữ để nhiều bạn đọc dễ dàng tiếp cận dưới sự cho phép của tác giả. Bạn đọc có thể đọc một vài lời tâm sự ngoài lề của tác giả tại bài viết gốc.

Nguồn ảnh minh họaNhật kí biểu tình 

*
*
Chánh Nguyễn  -  Hate Change   

Thế giới qua hơn nửa thế kỷ nay đã chứng tỏ rằng bất bạo động là phương pháp đấu tranh duy nhất thực sự hữu hiệu trong việc xây dựng nền tảng dân chủ. Có nhiều lý do để tránh mọi hình thức bạo động. Thực tiễn đơn giản nhất là khi chính quyền độc tài nắm hết mọi công cụ của bạo lực thì chiến thắng bằng bạo động là chuyện không tưởng. Hy vọng có được hổ trợ vũ lực từ bên ngoài trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam cũng hoang đường không kém. Chắc chắn không mấy ai nhân danh dân chủ mà lại cổ súy bạo động chống chính quyền. Nhưng đấu tranh bất bạo động hữu hiệu cần phải theo một số nguyên tắc mà hầu như ít ai chú ý.

Tranh chấp dưới bất cứ hình thức nào cũng nhằm tạo ra áp lực buộc đối phương phải nhượng bộ. Tranh đấu bạo động thì áp lực chính là quân sự. Trong những cuộc đình công bất bạo động ở xứ tự do thì áp lực chính là kinh tế. Tạo ra áp lực cho đối phương cũng như chống lại áp lực của đối phương đều đòi hỏi phải trả giá. Bên thua cuộc là bên không đủ sức trả cái giá cuộc đấu tranh đòi hỏi. Người đấu tranh dân chủ phải tự hỏi họ sẽ tạo ra được áp lực gì đối với chính quyền độc tài và sẽ phải trả giá như thế nào. Hô hào xuống đường khi không có câu trả lời thấu đáo thì chỉ là một hành động bồng bột khó đem lại kết quả như ý muốn.

Phong trào Occupy Wall Street dù đã lan rộng khắp các thành phố lớn ở Mỹ với sự tham dự và ủng hộ đông đảo của thanh niên vẫn không đi đến đâu vì không tạo ra áp lực gì (và cũng không có những đòi hỏi thực tiển). Ngược lại những cuộc biểu tình của Đảng Trà (Tea Party) đã có ảnh hưởng mạnh trên chính trường Mỹ vì áp lực của lá phiếu. Trong một nước toàn trị thì áp lực của lá phiếu, hay ý dân, là một điều vô nghĩa. Vì thế mà hành động xuống đường biểu tình tự nó không phải là một hình thức tranh đấu dân chủ hữu hiệu trong mọi thời điểm. Điển hình là sự bất lực của thanh niên Hồng Kông trước những áp đặt của Bắc Kinh. Dù họ có ý thức chính trị cao và đã chuẩn bị công phu nhưng vẫn không thể tạo ra áp lực đủ mạnh để buộc Bắc Kinh phải nhượng bộ.

Bất phục tùng dân sự (civil disobedience) có thể như cây gậy thọc vào cái bánh xe của chính quyền độc tài. Gậy đủ lớn thì có áp lực đủ mạnh để làm hỏng bánh xe. Nhưng trong thực tế thì rất khó có thể hô hào người dân tạo ra một phong trào bất phục tùng dân sự chống lại chính quyền độc tài. Cái giá của hành động bất phục tùng là tù đày hay ngay cả sinh mạng. Một cái giá quá cao mà bất cứ ở đâu, thời nào cũng chỉ có một thiểu số nhỏ dám chấp nhận.

Xuống đường biểu tình, đình công, bất phục tùng dân sự để tạo ra áp lực của cử tri, áp lực kinh tế, áp lực xã hội, là những hình thức tranh đấu bất bạo động hữu hiệu với một chính quyền có lương tâm. Nhưng dưới chế độ độc tài thì những hình thức tranh đấu này sẽ không tạo ra áp lực gì và do đó sẽ thất bại như ở Hồng Kông (không đạt được mục đích là có qưyền bầu cử thật sự) nếu những người tranh đấu dân chủ chỉ dựa vào chúng.

Chà đạp nhân quyền của người đấu tranh bất bạo động, chính quyền độc tài cũng phải chịu sự phê phán của dư luận quốc tế, sự tẩy chay của những nước văn minh. Nhưng lịch sử thế giới đã chứng tỏ rằng đây là một cái giá mà mọi chế độ toàn trị sẳn sàng chấp nhận khi họ thấy cần. Cuộc thảm sát ở Thiên An Môn năm 1989 là một ví dụ đẫm máu hùng hồn. Vì vậy mà đấu tranh như thế thì phần chủ động sẽ luôn luôn nằm trong tay chính quyền, khó mà thành công được.

Áp lực duy nhất sự đấu tranh bất bạo động có thể tạo ra được trong một chế độ độc tài là một áp lực mà thoáng nghe thì có vẻ mơ hồ nhưng lại là một áp lực hữu hiệu nhất, mạnh nhất. Đó chính là áp lực của lương tâm. Lương tâm của ai? Lương tâm của người dân, lương tâm của xã hội, lương tâm của những viên chức, bộ đôi, công an trong bộ máy chính quyền. Rất có thể là lương tâm của chính những người đang cầm quyền sinh sát của chế độ. Vai trò của “lương tâm” trong cuộc đấu tranh dân chủ là một vấn đề rất tế nhị. Người đấu tranh dân chủ không thể ngây thơ, chủ quan, mà phải chấp nhận và suy tính rằng chính quyền độc tài vốn không có lương tâm, sẽ không từ một thủ đoạn nào để ngăn chặn quyền dân chủ. Nhưng đồng thời họ cũng phải thấy rõ rằng lương tâm của mỗi người, ngay cả những cá nhân trong guồng máy độc tài, cũng không bao giờ biến mất. Lương tâm con người, ngay cả những lương tâm bị che mờ vì lòng tham và thù hận, chính là đối tượng đế chiến thắng của những người đấu tranh dân chủ.

Một khi con người và xã hội cho rằng những chính sách, những biện pháp hiện hành của chính quyền là “vô lương tâm” thì cái chính quyền đó hoặc sẽ phải nhanh chóng thay đổi hoặc sẽ sụp đổ mà không cần cái giá của nhiều hy sinh xương máu. Khi người lính của chính quyền ngần ngừ tay súng, khi thượng cấp của anh ta trì hoãn lệnh bắn, khi những người có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của chính quyền không muốn tiếp tục công việc.. thì chỉ cần một diễn biến nhỏ cũng có thể nhanh chóng đưa đến một sự thay đổi chính trị sâu rộng. Rất có thể những tay lãnh đạo trong chính quyền độc tài cũng sẽ nhận ra sự tỉnh thức của lương tâm xã hội để tiến hành cải cách thật sự hòng tránh tai họa cho chính họ. Nhưng nếu không có một sự rung chuyển trong lương tâm của những thành viên trong xã hội, thì đấu tranh dân chủ sẽ khó mà thành công. Nếu không có áp lực đủ mạnh của lương tâm thì cái giá độc tài phải trả khi ra tay chém giết là rất thấp so với cái giá xương máu của người đấu tranh dân chủ.

Trong cuộc đấu tranh dân chủ này, không có thành trì để chiếm đóng, không thể đánh bại binh đoàn của độc tài, chỉ có thể xoay chuyển được lương tâm của xã hội. Vì thế mà đây không phải là cuộc tranh đấu chống quân thù. Nhưng về phía chính quyền thì càng tạo ra được ấn tượng của một cuộc chống phá bởi những “thế lực thù địch” thì càng dễ khiến xã hội thờ ơ với phong trào đấu tranh dân chủ. Có thể vì không nhận ra bản chất và mục tiêu thực tế của cuộc đấu tranh, nhiều người vẫn dùng những ngôn từ và hình thức sáo mòn để đả kích chính quyền, trong đó có nhiều phần tử họ cần phải thuyết phục và có thể thuyết phục được, như một kẻ thù để tiêu diệt. Dù vô tình, chính họ đang tiếp tay cản trở tiến trình dân chủ của đất nước với cái tư duy, ngôn ngữ, và hành động đã trở thành thói quen từ những cuộc đấu tranh bằng vũ lực của thời xưa.

Để thành công, cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam hôm nay phải có bản chất của một cuộc đấu tranh về tư tưởng, đấu tranh để thuyết phục từng cá nhân trong xã hội rằng cuộc đời của họ, tương lai con cháu họ, tương lai đất nước sẽ tốt đẹp hơn với những đòi hỏi cụ thể của những người đang dấn thân tranh đấu. Tùy hoàn cảnh, quá khứ, và tâm hồn, có người đã chọn con đường đấu tranh dân chủ, có người sẽ cảm nhận và ủng hộ, dù âm thầm, và cũng sẽ có người, trong số những người đang được hưởng độc quyền và đặc lợi, quyết chống mọi tiến triển dân chủ. Cho đến khi mà đa số người dân hiểu và đồng tình ủng hộ những đòi hỏi cụ thể của phong trào dân chủ thì trọng tâm của cuộc tranh đấu vẫn phải là sự thuyết phục quần chúng chứ không phải tổ chức những hoạt động kêu gọi chống chính quyền. (Chính quyền sẽ có những vi phạm đòi hỏi một sự phản đối mạnh như một cuộc biểu tình chẳng hạn. Nhưng người xuống đường cần phải cân nhắc tùy theo vụ việc để thuyết phục thêm được quần chúng thay vì để lọt vào cái bẩy “gây rối loạn, phá hoại đời sống” của chính quyền.)

Ngày mà bà con, bạn bè của những người dấn thân cho dân chủ không hỏi tại sao làm thế, ngày mà họ ủng hộ cuộc đấu tranh, dù chỉ là ngấm ngầm trong tư tưởng, ngày mà đa số những người chọn đứng bên lề chỉ vì họ sợ, chỉ vì họ không thể hay không dám trả cái giá chống độc tài chứ không phải vì bất đồng tình thì đó là ngày mà thành trì và súng đạn của chính quyền độc tài sẽ trở thành vô hiệu dù bên ngoài vẫn rất hoành tráng. Đây là lý do tại sao những cuộc đấu tranh dân chủ bất bạo động thành công đều có vẻ như đã bùng phát đột ngột và nhanh chóng đạt được kết quả. Thật ra đó chỉ giai đoạn kết thúc của một quá trình xoay chuyển lương tâm của xã hội đã thành công. Vấn đề là làm thế nào để thành công.

Trước hết ta hãy điểm qua những việc làm không có hiệu quả, nếu không nói là phản tác dụng trong việc thuyết phục đa số quần chúng để có được một đất nước dân chủ. Một trở ngại lớn là sự chia rẽ vì lịch sử, hay đúng hơn là vì sự đấu tố lịch sử theo cảm tính, của những người đang cùng kêu gọi dân chủ. Lịch sử Việt Nam dĩ nhiên là phức tạp, bị bóp méo, viết lại nhiều hơn lịch sử của những nước tự do. Tìm hiểu sự thật lịch sử, ngay cả ở xứ tự do, vẫn là một việc làm đòi hỏi tinh thần khách quan và trình độ nghiêm túc của các sử gia chuyên nghiệp. Khi những người không thể phân biệt đâu là sử kiện, đâu là tin đồn, không thể đánh giá được sự khả tín và biện minh của nhân chứng… mà lại hùng hục lên án hay tung hô theo cảm tính thì sẽ không thuyết phục được ai. Đây là một hành động có thể đem lại hứng thú cho những người vốn có cùng niềm tin nhưng vô dụng cho tiến trình dân chủ. Dù lịch sử có như thế nào thì con đường cần đi trước mắt vẫn không thay đổi; và nếu những tệ nạn hiện thời không đủ để rung chuyển lòng người thì sự thật lịch sử cũng chỉ là chuyện cổ tích.

Sự xung khắc không đúng lúc giữa những người cùng đấu tranh dân chủ cũng là một hành động phản tác dụng khác. Dân chủ – quyền được lựa chọn của mọi người, mỗi người dân một lá phiếu – không đòi hỏi người ta phải có ý kiến cụ thể như thế nào, mà chỉ đòi hỏi sự chấp nhận quyền chọn lựa của người khác. Đây chính là mẫu số chung cho tất cả mọi hoạt động đấu tranh dân chủ. Sự bất đồng ý kiến trong những vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày là một điều không thể tránh khỏi, và cũng chính là một yếu tố làm xã hội tiến bộ với thời gian. Những người đấu tranh dân chủ thường không có, không cần có (và cũng không nên có) cùng chính kiến ngoài lý tưởng dân chủ, đặt quyền chọn lựa của dân trên hết. Khi chưa có được quyền chọn lựa thì những tranh chấp khác chỉ làm phân tán nổ lực đấu tranh đòi quyền dân chủ. Những khác biệt này, dù quan trọng, vẫn là những vấn đề phải để hạ hồi phân giải, một khi đã có được thể chế dân chủ. Đây là điều hiển nhiên đến nhàm trên lý thuyết, nhưng thực tế thì bản chất con người vẫn có những đố kỵ, những tham vọng khiến ta khó mà bỏ qua những khác biệt về quan điểm để cùng sát cánh. Rất may là thực tế cũng không đòi hỏi mọi người mà chỉ cần một vài người có uy tín, đại diện tinh thần, của những nhóm tranh đấu dân chủ khác nhau có đủ tâm trí để nói lên và làm theo nguyên tắc thỏa hiệp dân chủ này.

Mắng chửi Cộng Sản một cách chung chung cũng phản tác dụng. Gốc rễ chỉ là thể chế và bản chất con người. “Người Cộng Sản” đã là một khái niệm vô nghĩa. Trong hàng ngũ Đảng viên và lãnh đạo hôm nay có những kẻ đã bòn rút, trấn lột dân, những kẻ mà người Cộng Sản 70 năm trước hẳn sẽ giết không tha. Và cũng trong hàng ngũ của những Đảng viên hôm nay, những kẻ được hưởng quyền lợi của chế độ toàn trị lại có những người đứng lên, chịu trả giá tù đày, để đòi cải cách, quyền dân chủ. Những người dùng một cái nhãn hiệu đã lỗi thời để chửi rủa chung chung chỉ biểu lộ tâm trí cạn cợt, chỉ có thể khích động hận thù, hoàn toàn vô ích trong cuộc đấu tranh bất bạo động. Chính những người họ đang miệt thị, những cá nhân trong guồng máy chính quyền, là người mà lương tâm sẽ quyết định tương lai dân chủ của Việt Nam.

Một đặc điểm của đấu tranh bất bạo động, đấu tranh tư tưởng là sức mạnh của phong trào tùy thuộc vào sự minh bạch, công khai của những người tranh đấu. Họ lên tiếng, họ chống đối đường hoàng dõng dạc cho nhân quyền, cho lợi ích của xã hội, cho công lý… Họ không hành sự lén lút, không tuyên truyền nặc danh. Trước những người như thế, đội ngũ an ninh chuyên điều tra, đối phó với những hoạt động chống đối bí mật sẽ trở thành vô dụng đến khôi hài, ngay cả đối với những người công an đang làm nhiệm vụ. Đây cũng là bước đầu để chuyển hoá tâm tư họ. Dù trong hoàn cảnh đối nghịch, ít người có thể nuôi lòng hận thù hay hằn học lâu dài khi đối phương rõ ràng là chống đối để cải thiện, để xây dựng, không chống đối để tiêu diệt hay đập phá.

Diễn biến Thiên An Môn 25 năm trước là một bài học đáng chú ý về khả năng thức tỉnh lương tâm của đấu tranh bất bạo động cũng như cái giá độc tài chịu trả để giữ vững chế độ. Trong bảy tuần biểu tình ôn hòa của sinh viên Bắc Kinh, người dân Bắc Kinh ngày càng ủng hộ họ. Những sinh viên này chẳng nguyền rủa Mao Trạch Đông, chửi Đảng, mà chỉ đòi tự do ngôn luận, thêm quyền dân chủ, dẹp tham nhũng… Ai có lương tâm cũng phải đồng tình, bất kể chính kiến. Đặng Tiểu Bình và đồng bọn không dám tin vào sự trung thành của những binh đoàn đang trấn thủ Bắc Kinh, những người lính đã thấy, đã nghe những sinh viên này trong mấy tuần qua. Lãnh đạo Bắc Kinh đã hoán chuyển những binh đoàn ở xa về để trấn áp. Những người lính này thật lòng nghĩ rắng nhờ có Đảng và lãnh tụ mà đời sống họ khá hơn, nước Trung Hoa được ngẩn mặt với thế giới. Đối với họ những thanh niên đang tranh đấu chỉ là quân “phản động”. Vì thế họ đã không ngần ngại giày xéo khi có lệnh. Hoàn cảnh Việt Nam và thế giới hiện nay thuận tiện hơn nhiều cho cuộc đấu tranh tư tưởng để xoay chuyển lương tâm một cách rộng lớn.

Chính quyền Việt Nam ngày nay có lẽ cũng không thua kém gì Đặng Tiểu Bình và đồng bọn về thủ đoạn chống dân chủ. Những người đấu tranh có nhiều ảnh hưởng chắc chắn phải trả giá. Họ đã và sẽ phải chịu cảnh tù đày. Nhưng tiếng nói của họ dần dà sẽ có được sự ủng hộ, dù là thầm lặng lúc đầu, của đa số quần chúng. Một chính quyền có lương tâm không thể có tù nhân lương tâm. Và những tù nhân lương tâm chính là tiếng chuông mạnh nhất để thức tỉnh lương tâm xã hội, lương tâm thế giới. Tiếng chuông của Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi đã đem lại những thay đổi lớn cho nền dân chủ của nước họ (dù hiện vẫn có nhiều trở ngại). Những người chịu trả cái giá tù đày để nói lên điều cần nói, những người tù lương tâm, bao giờ cũng là nổi lo lớn nhất của độc tài. Chính quyền Việt Nam đã nghĩ ra được một giải pháp để tạm thời đối phó. Họ sẽ “xuất khẩu” những ai đã tạo ra ảnh hưởng lớn với lòng can trường dám chấp nhận ngục tù. Tiếng nói của người sống trong một xã hội phồn thịnh, tự do sẽ không có cái hùng tráng đầy sức thuyết phục của tiếng nói bị chận bóp vọng ra từ trong tù. Nhưng thủ đoạn này sẽ không thể làm ngưng tiếng chuông đánh thức lương tâm vì Việt Nam xưa nay vẫn có những người can trường chịu ngồi tù cho lý tưởng.

Mức độ lên tiếng kêu gọi cải cách dân chủ tùy vào tâm tư và hoàn cảnh của mỗi người, tùy vào cái giá họ sẳn sàng chịu trả để có tiếng nói công khai. Nhưng dù ít hay nhiều, những tiếng nói ấy, nếu tránh được những tranh cãi luẩn quẩn đưa ra ở trên, sẽ có tác dụng thay đổi cách nhìn và xoay chuyển lương tâm của xã hội. Trong cuộc tranh đấu này, “chiến trận” không chỉ là lúc đối đầu với công an, an ninh mà chính là trong những lúc đối thoại, tâm tình với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm… Dù muốn hay không, tác phong, nhân cách, tâm hồn, tính tình của những người đấu tranh dân chủ đều là những yếu tố thuyết phục (hay gây phản cảm) cho phong trào dân chủ. Để có thể “chiến thắng”, người đấu tranh dân chủ phải tránh gây ra cảm giác, dù đúng hay sai, là họ chống đối chính quyền vì hận thù hay vì tham vọng cá nhân hơn là vì quyền lợi chung của xã hội.

Người chọn dấn thân trên con đường đấu tranh dân chủ lúc nào cũng phải có một mục tiêu, một đòi hỏi cụ thể cho quyền lợi trước mắt của người dân. Dân chủ – quyền chọn lựa của mọi người – tuy là mục đích tối hậu nhưng cũng là một khái niệm trừu tượng đối với đa số dân. Khi một số đông cảm thấy là đời sống kinh tế đã có nhiều tiến bộ so với mười, hai mươi, ba mươi năm trước thì những lý luận trừu tượng khó làm rung động lòng họ. Những người phê phán chống đối mà không đưa ra được một giải pháp thực tiển, nhất là với ngôn từ và thái độ hằn học, sẽ dễ dàng bị dân coi thường. Tuy chế độ toàn trị là gốc rễ của hầu hết những tệ nạn trong xã hội, thực tế đấu tranh dân chủ hằng ngày cần phải tập trung vào những đòi hỏi thực tiển mà mọi người đều thấy rõ sự lợi ích của chúng. Qua quá trình đấu tranh đòi hỏi những điều này, và phản ứng của chính quyền, người dân sẽ cảm nhận cái giá trị và sự cần thiết của thể chế dân chủ cũng như bản chất tệ hại của mọi chính quyền toàn trị. Để minh họa, ta hãy tưởng tượng một phong trào có thể xảy ra trong thực tế như thế.

Mọi người, dân cũng như quan, đều lên tiếng chống tham nhũng. Hãy phát động một phong trào bài trừ tham nhũng, làm công khai những thu nhập của các quan lớn. Đây hẳn là một đòi hỏi rất hợp lý và có ích lợi thực tiển. Thu nhập minh bạch của quan chức sẽ tạo thêm lòng tin cho dân, làm quan thêm rạng rỡ – vàng thật không sợ lửa – và bớt gánh nặng cho dân, cho công quỹ vì tệ nạn đục khoét, hối lộ. Không ai có thể chống đối đòi hỏi này trên nguyên tắc. Trong thực tế thì đây là điều mà chính quyền độc tài, lũng đoạn bởi tham quan, sẽ kiên quyết chống. Và đây cũng chính là dip để người dân cảm nhận vai trò của thể chế và ủng hộ, dù thầm lặng, những hoạt động dân chủ không bị ràng buộc bởi quá khứ, hay màu cờ, sắc áo. Đây chỉ là một ví dụ. Có nhiều điều cụ thể như thế, trực tiếp liên quan đến đời sống hằng ngày, trước mắt của người dân, những đòi hỏi không liên quan đến ý thức hệ hay quá khứ chính trị, có thể tạo được sự ủng hộ rộng lớn để đem đến những cải cách dân chủ thật sự.

Bạo hành của công an, hối lộ của chính quyền địa phương, những tổ chức làm ăn gây thiệt hại cho xã hội, luật lệ bất công, v.v… đều có thể là đề tài cho những phóng sự cụ thể, những nhận định chính trị, những đòi hỏi mà đa số dân và ngay cả những Đảng viên có lòng yêu nước đều ủng hộ như ta đã thấy. Nhưng thay vì chỉ đưa ra những lời chỉ trích chung chung hay những kiến nghị, cần phải có những phóng sự chất lượng với những chi tiết và nhân vật cụ thể để vạch trần bản chất vô liêm sĩ, một sự vô liêm sĩ phi chính trị, của những người dùng quyền thế để bòn rút và che đậy tội lỗi. Trước luật pháp, dù là luật pháp khập khiển hiện hành tại Việt Nam, thì đây vẫn là những điều phạm pháp và những tên tội phạm đòi hỏi phải có sự xử lý và trừng phạt thích đáng. Nhưng khi kẻ cướp lại vừa là quan tòa vừa là cảnh sát, hệ quả tất yếu của chính quyền toàn trị, thì cách trả lời thường thấy sẽ là sự trấn áp những phóng viên, những nhà báo nói lên sự thật và những người đòi công lý cụ thể cho xã hội. Người dân sẽ nhìn những tay gian tham này và bộ máy chính quyền phục vụ chúng với cặp mắt đầy khinh bỉ. Không có một biện minh chính trị nào, quá khứ lịch sử nào có thể che lấp được cái bản chất xấu xa của những kẻ đã bị thoái hoá vì quyền lực và dục vọng thấp hèn.

Trong xã hội hiện nay, chính quyền đã không còn có thể hoàn toàn khống chế đời sống kinh tế của mọi người được nữa. Sẽ có những phóng viên, nhà báo độc lập điều tra và phơi bày sự tham nhũng, những đổi chác hại nước, hại dân, những sự bạo hành, phạm pháp của nhiều đại quan. Chính quyền chỉ có thể đối phó bằng cách chà đạp nhân quyền của họ. Bố ráp, kết tội, tống giam những người có dũng khí tìm hiểu và nói lên sự thật, phơi bày cái ai cũng cho là xấu để cải thiện xã hội, thì không chỉ là một vi phạm nhân quyền trắng trợn mà bản chất còn là một sự vô liêm sĩ, bất luận chính kiến và thời đại, đáng khinh của bạo quyền. Những người anh dũng dám đứng mũi chịu sào này chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của nhiều người, của cả thế giới, của ngay chính những người thấp cổ bé họng trong guồng máy toàn trị. Khi cai ngục đã có lòng kính trọng tù nhân thì thay đổi, cải cách thật sự chỉ còn là chuyện một sớm một chiều mà thôi. Bước đầu tiên có lẽ là chính quyền sẽ phải chấp nhận và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nền tảng của mọi hoạt động dân chủ. Chỉ cần một bước đầu như thế là rất có thể sẽ làm cả hệ thống toàn trị phải nghiêng ngã.

Tập đoàn lãnh đạo Việt Nam hẳn cũng không phải toàn là những người u mê. Khi họ thấy lương tâm xã hội đã thay đổi, nền tảng toàn trị đã rạn nứt, rất có thể chính họ sẽ nhanh chóng tiến hành những cải cách cần thiết mà người dân đòi hỏi. Cuộc đấu tranh dân chủ như thế có nhiều triển vọng đem đến những thay đổi sâu xa và tốt đẹp về chính trị, thể chế, như từng xảy ra ở Đài Loan và Nam Hàn.

Đấu tranh như thế dĩ nhiên đòi hỏi phải có những người dấn thân, chịu trả cái giá cá nhân rất cao, nhưng lại không đòi hỏi quần chúng phải trả giá, không làm đời sống xã hội khó khăn hơn, dù tạm thời. Đấu tranh như thế tuy vẫn rất cam go nhưng có sức thuyết phục, dễ đánh thức lương tâm hơn tất cả những gào thét, nguyền rủa, hay kêu gọi người dân đứng lên lật đổ Đảng và chính quyền Cộng Sản như ta vẫn thường nghe thấy trong 40 năm qua. Đây chính là con đường đấu tranh dân chủ thực tiễn nhất. Thực tế hiện nay cũng có những lợi điểm cơ bản khiến ta có thể hy vọng vào một tiến trình dân chủ khả quan ở Việt Nam.

Người Việt không có những xâu xé lâu đời vì chủng tộc hay tôn giáo. Cùng một tiếng nói chung, giao thông, liên lạc đã không còn nhiều trở ngại về địa lý hay hành chánh, người Việt dễ có cùng chung những giá trị về chân, thiện, mỹ khi không còn bị ràng buộc bởi ý thức hệ và lòng hận thù. Từ trong lòng của chế độ, từ lớp người hoàn toàn trưởng thành trong sự giáo dục một chiều, cứng nhắc của chế độ vẫn xuất hiện những người với tài năng, khí phách và tâm hồn khiến hầu hết mọi người phải khâm phục. Bên cạnh họ hẳn phải còn rất nhiều người cũng băn khoăn, mong muốn có được một đất nước thịnh vượng. Ngay cả những người trong tập đoàn độc tài đang bị thao túng vì quyền lợi và tham vọng cá nhân cũng không thể phủ nhận sự thật hiển nhiên đến nhàm về vai trò cơ bản của pháp quyền và dân chủ. Tuy tệ nạn công lý rừng rú và nghị gật vẫn còn nhiều, Việt Nam cũng đã có những cơ sở, dù hiện thời chỉ là hình thức như phấn son tô điểm cho chế độ độc tài, để xây dựng một xã hội dân chủ. Ta đã thấy những người đấu tranh dân chủ hiên ngang tranh luận với công an, bất phục tùng trên căn bản pháp lý, và đưa đại quan ra tòa. Nếu ta có thể rũ bỏ được ý thức hệ, nhãn hiệu, và hận thù – những tàn dư, dù là tàn dư sâu đậm của quá khứ – để tập trung vào những thay đổi, đòi hỏi, chống đối để cải thiện xã hội, chính quyền, và đời sống chung thay vì đập phá thì chắc chắn sẽ có được những thành quả lớn trong tương lai gần.

*
Bài viết của tác giả Chánh Nguyễn – Hate Change đăng tải và lưu trữ để nhiều bạn đọc dễ dàng tiếp cận dưới sự cho phép của tác giả. Bạn đọc có thể đọc một vài lời tâm sự ngoài lề của tác giả tại bài viết gốc.

Nguồn ảnh bìa: Pinterest









View My Stats