Thursday, 30 October 2014

Người Mỹ gốc Việt chống tuyên truyền lịch sử của Hà Nội (Kính Hòa, RFA)





Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-10-29

Phóng viên Kính Hòa (trái) và chị Triều Giang trong tại studio RFA tháng 10, 2014.  RFA

Tổ chức bảo tồn văn hóa và lịch sử người Mỹ gốc Việt tại Hoa kỳ đang tiến hành cuộc vận động chống lai những tài liệu văn hóa và lịch sử được cho là có mang quan điểm tuyên truyền của đảng cộng sản Việt nam tại Mỹ. Đồng thời Hội cũng đang thực hiện một bộ phim về hành trình của người Việt đến Mỹ trong gần 40 năm qua. Bà Triều Giang, Hội trưởng Hội bảo tồn văn hóa và lịch sử người Mỹ gốc Việt dành cho Kính Hòa một cuộc trao đổi ngắn về vấn đề này.

Bà Triều Giang: Hội được thành lập đến nay đúng mười năm. Việc làm của Hội đúng như tên gọi của nó là bảo tồn lịch sử văn hóa. Khi con em chúng ta đi học ở Hoa kỳ này hay đọc những sách vở viết về chiến tranh Việt nam thì phải nói là đến 80% là sai lệch. Nói về quan điểm thì nó bị ảnh hưởng bởi quan điểm phản chiến, thứ đến là bị ảnh hưởng của chính phủ Việt nam ở bên kia trong vấn đề tuyên truyền của họ. Hội được lập ra để cải thiện nó.
Cái thứ hai là ghi chép lại những kinh nghiệm của người Mỹ gốc Việt chúng ta, trong chiến tranh thế nào, sau chiến tranh ra sao và chúng ta đến đây như thế nào, tại sao mình phải đến đây, và trên đường đi thì những cái gì đã xảy ra. Và mình bắt đầu cuộc đời mới như thế nào. Tất cả những ghi chép đó sẽ được đưa vào các trường Đại học, các bảo tàng để triển lãm, hay là Hội đi nói chuyện ở các trường. Hiện Hội đã đưa được vào bốn trường Đại học, đó là Đại học Rice, Đại học California ở Irvine, Texas Tech, và UTM ở Austin.

Kính Hòa: Bà có thể cho ví dụ cụ thể về sự sai lệch của các tài liệu lịch sử về Việt nam?
Bà Triều Giang: Hiện Hội có một cuộc vận động, nói về hai tài liệu. Một là trong phần nói về người Mỹ gốc Việt trong một bộ sử bốn cuốn. Trong này cũng có nói về các cộng đồng khác. Đây là một cuốn bách khoa toàn thư nói về lịch sử của những người Mỹ mới. Trong đó có một chương nói về những người di dân Việt nam tới Mỹ. Họ viết rất sai lạc và Hội đã liên lạc với người chủ biên, và nhà xuất bản.
Ngoài cái tài liệu trong bộ sử đó thì còn có một quyển sách riêng về lịch sử người Mỹ gốc Việt có tên là The Vietnamese American.
Ngoài ra khoảng năm 2006, tại Houston tràn ngập những quyển sách từ Houston qua, trong đó có những quyển sách, tác phẩm rất sai lạc và có tính cách tuyên truyền. Ví dụ họ nói là việc đưa khoảng 3000 em mồ côi sang bên này, hay còn gọi là Baby Lift, là để huấn luyện thành gián điệp và gái điếm…

Kính Hòa: Thực sự có một tài liệu như vậy sao?
Bà Triều Giang: Thưa có. Hội đến các thư viện công cộng của Houston để trình bày rằng đây là những cuốn sách độc hại có tính chất cổ võ cho sự căm thù nước Mỹ, cổ võ cho bạo lực, vậy mà có những cuốn nằm trong khu thiếu nhi nữa. Chúng tôi đã dịch các tài liệu đó ra, và sau chín tháng làm việc thì họ đồng ý cho mình thành lập một ban tuyển sách làm việc song song với họ. Họ làm thì có lương, mình thì không… (cười)

Kính Hòa: Còn cuốn sử nào bà nói là rất sai lệch…
Bà Triều Giang: Chương năm của bộ sách Những người Mỹ mới gồm bốn mươi mấy trang. Hội đã lọc ra nhiều điểm, có những điểm nho nhỏ thì mình không nói tới, nhưng những chuyện lớn thì mình phải đặt vấn đề. Mình thấy có 15 điểm mà có những điểm là sự sai lệch rất là trầm trọng. Ví dụ như là ông Nguyễn Thái Học vào năm 1943 đổi sang tên là ông Hồ Chí Minh. Mình không biết là tại vì người viết kém hay là họ cố tình. Nếu họ có ẩn ý thì chắc là họ nghĩ rằng thì là ai cũng biết ông Nguyễn Thái Học là anh hùng, thì có thể lờ mờ mà nói rằng chính người anh hùng đó là ông Hồ Chí Minh “nhà chúng ta” sau này.
Còn chuyện chiếc tàu Việt nam Thương tín trở về thì họ nói rằng là chính quyền Việt nam cho phép chiếc tàu đó trở về. Sự thực thì theo nghiên cứu của các anh em trong Hội, và theo báo cáo của Quốc Hội Hoa Kỳ thì mặc dù sau bao nhiêu lần liên lạc và có gửi cho Việt nam vào tháng 9 và tháng 10 năm 1975 để xin cho những người này trở về nhưng mà họ không cho.
Khi mà về thì tất cả bị bỏ tù trừ một em bé 5 tuổi. Theo tài liệu của ông Trung tá hải quân Trần Văn Trụ, người lái con tàu đó, thì tất cả đều bị bắt ngay cửa biển và đưa thẳng vào trong tù, không ai được về nhà cả.
Dạy lịch sử của chúng ta như thế nên chúng tôi cho rằng nó không công bằng. Những cái này là tài liệu tuyên truyền mà lại đưa vào trường học Hoa Kỳ, dạy con em chúng ta, dạy trẻ em Mỹ, hay người lớn cũng có thể đọc, thì chúng tôi thấy rằng nó rất là độc hại.

Kính Hòa: Hồi đầu câu chuyện bà có nói đến một cuốn phim
Bà Triều Giang: Vâng cuốn phim mang tên là The Journey to Freedom of the Vietnamese American, tức là Hành trình tìm tự do của người Mỹ gốc Việt chúng ta. Phim đã bắt đầu thực hiện vào năm 2012, và bây giờ là giai đoạn cuối. Hội hy vọng là sẽ có cuốn phim vào năm tới nhân kỷ niệm 40 năm. Một cuốn phim nói về cuộc sống của những người đã ra đi như thế nào. Bộ phim nói về những người vượt biển, những tù nhân chính trị, những người đến đây bằng nhiều cách khác nhau, và đời sống bây giờ của họ như thế nào.
Hội cố gắng đưa phim vào dòng chính của nước Mỹ, phim được thực hiện bằng tiếng Anh, những đoạn nói tiếng Việt thì có phụ đề. Việc thực hiện bằng tiếng Anh là để đưa vào dòng chính, đưa vào các Đại học, cũng như là các cộng đồng bạn, để nói về cái lịch sử mình đã trải qua, đau thương như thế nào, và hôm nay mình đã vực dậy làm được cái gì có ích cho quê hương và đất nước bên này.

Kính Hòa: Xin cám ơn bà Triều Giang.

--------------------------------





Việt Nam giữa Phương Tây và Trung Quốc (Kính Hòa, RFA)





Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-10-29

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ, Tướng Martin Dempsey và Tổng tham mưu trưởng quân độ nhân dân Việt Nam, Trung tướng Đỗ Bá Tỵ duyệt hàng quân danh dự tại Bộ Quốc phòng Hà Nội vào ngày 14 tháng 8 năm 2014.   AFP

Một học giả người Nhật bản là ông Yoshiharu Tsuboi có viết một tác phẩm mang tựa đề Nước Đại Nam giữa Pháp và Trung Hoa để mô tả tình thế Việt nam kẹt giữa đế quốc kiểu cổ là Trung hoa với thế giới phương Tây hồi giữa thế kỷ 19. 

Trong những năm đầu thế kỷ 21 này, Việt nam lại một lần nữa kẹt giữa phương Tây và nước Trung quốc đang lên. Trong bối cảnh đó trong những năm gần đây chính phủ Việt nam đề ra một chính sách gọi là làm bạn với tất cả các nước, mà được gọi nôm na là chính sách đu dây.

Chính trị ngoại giao

Chính sách ngoại giao đu dây của Việt nam thể hiện rõ ràng nhất trong những tháng gần đây. Giữa tháng tám chủ tịch hội đồng liên quân Hoa Kỳ, ông Martin Dempsey đến thăm Việt nam, đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng giữa quân đội hai quốc gia. Sau đó phía Mỹ có tuyên bố là sẽ nới lõng lệnh cấm bán vũ khí cho Việt nam trong dịp Bộ trưởng ngoại giao Việt nam thăm Hoa kỳ vào đầu tháng 10.

Chỉ vài ngày sau, Bộ trưởng quốc phòng Việt nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh sang thăm Trung quốc. Trong dịp này những lời lẽ ngoại giao nhẹ nhàng được hai bên đưa ra trong các tuyên bố với báo chí. Hầu như cùng thời điểm đó, Thủ tướng Việt nam Nguyễn Tấn Dũng, trong chuyến thăm châu Âu đã ra tuyên bố rằng dân chủ và nhân quyền là xu thế của thời đại và Việt nam không đi ngoài cái xu thế đó. Lời tuyên bố có vẻ như hợp với những áp lực thường xuyên của Hoa kỳ và phương Tây về những vấn đề dân chủ và nhân quyền.

Hầu như các nhà quan sát chính trị Việt nam đều đồng ý với nhau rằng Việt nam đang đứng giữa một bên là mô hình xã hội tự do mà nhiều người Việt mong muốn để có một cuộc sống tốt hơn, còn bên kia là mô hình độc đảng quen thuộc của đảng cầm quyền, tương đồng với Trung quốc, một cường quốc đang lên và đang mong muốn lan tỏa ảnh hưởng toàn cầu của mình.

Đánh giá về mối quan hệ tay ba Việt nam Mỹ Trung quốc, Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm từ Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á ở Hawaii cho rằng:

Tổng thể những ràng buộc về kinh tế, chính trị, quân sự, về ý thức hệ giữa Trung quốc, Việt nam và Mỹ thì từ xưa tới nay, Việt nam bao giờ cũng nghiêng về phía Trung quốc chứ chưa bao giờ đứng ở giữa. Người ta thường nói là Việt nam đi giây giữa Mỹ và Trung quốc nhưng theo tôi thì cách nói đó không nêu lên thực chất của vấn đề. Vấn đề là Việt nam đi tìm sự kết hợp trong mối quan hệ giữa Mỹ và Trung quốc sao cho có lợi nhất cho mục đích của họ. Mà mục đich lớn nhất của họ là bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng, cho nên họ vẫn nghiêng về Trung quốc nhiều hơn.”

Về chuyến thăm Trung quốc của Đại tướng Phùng Quang Thanh, ông Vũ Hồng Lâm nói là chuyện đó nằm trong mối quan hệ truyền thống giữa quân đội hai nước kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc.

Ông Vũ Hồng Lâm nói thêm là quan điểm đó của những nhà lãnh đạo Việt nam là phần cơ bản, nhưng ngoài ra quan hệ tay ba Việt Mỹ Trung cũng đang chuyển động, và sự kiện giàn khoan Trung quốc xâm nhập vào thềm lục địa Việt nam làm cho Việt nam nhích gần với Mỹ hơn.

Vào những ngày cuối tháng 11, người có quyền lực cao nhất của ngành ngoại giao Trung quốc là ông Dương Khiết Trì thăm Việt nam. Đây là chuyến thăm Việt nam thứ hai trong vòng năm tháng của ông Dương. Truyền thông thế giới quan tâm tới việc này như là một cố gắng từ phía Trung quốc để làm giảm căng thẳng giữa hai quốc gia. Điều này có thể thấy ở lời lẽ nhẹ nhàng hơn của ông Dương, cũng như vẻ mặt vui vẻ hơn của người tương nhiệm Việt nam Phạm Bình Minh so với lần viếng thăm trước của ông Dương Khiết Trì.

Ông Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến trong nước, nhận xét về chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì, khi được hỏi rằng những biểu hiện trên liệu có phải cho thấy rằng quan hệ Việt Trung đã trở nên nồng ấm hơn hay không:

Tôi không thích dùng chữ nồng ấm, mà tôi nghĩ rằng họ biết điều hơn nên họ xuống thang một cách bất đắc dĩ. Họ thấy được tin thần phản kháng của người Việt nam đối với Trung quốc. Lý do thứ hai là họ thấy sự xích lại của Việt nam với phương Tây, đặc biệt là với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và phương Tây cũng thấy vai trò cần thiết của Việt nam ở Đông nam Á. Trung quốc thấy cái nguy cơ một liên minh với Hoa Kỳ đang được hình thành. Họ phải giả vờ nhún xuống để làm giảm đi cái tình cảm thoát Trung của người Việt nam đối với chủ nghĩa đại Hán.”

 Kinh tế tài chánh

Trong những nổ lực mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của mình trên thế giới, Trung quốc cũng dùng khối dự trữ tài chính khổng lồ của mình. Vào ngày 24/10/2014,  21 quốc gia châu Á, trong đó có Việt nam cùng nhau ký một thỏa thuận thành lập Ngân hàng phát triển cơ sở hạ tầng châu Á tại Bắc Kinh, trong đó Trung quốc là quốc gia sẽ cung cấp tín dụng nhiều nhất.

Sự ảnh hưởng của kinh tế Trung quốc lên Việt nam đã được nhiều người nói đến, từ sự nhập siêu của Việt nam, cho đến sự có mặt của hàng ngàn công nhân người Trung quốc ở Việt nam. Khi được hỏi liệu việc Việt nam vay mượn tiền từ ngân hàng phát triển cơ sở hạ tầng này sẽ làm cho Việt nam phụ thuộc hơn nữa vào Trung quốc không, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động xã hội dân sự thường có những phản biện đối với chính phủ Việt nam nói rằng ông không bi quan như vậy:

Đối với một nước lớn như Trung quốc thì ảnh hưởng quốc tế và khu vực của họ là một điều khó có thể tránh khỏi. Tôi nghĩ là nếu chúng ta gắn nhiều quá vấn đề chính trị vào kinh tế thì khó có thể hài hòa được trong vấn đề phát triển. Với Việt nam cũng cần khôn khéo để tận dụng tất cả những lợi thế của mối quan hệ của Trung quốc với khu vực.”

Có một sự kiện là các quốc gia phát triển ở vùng châu Á Thái Bình Dương như Nhật bản, Hàn quốc và Úc không tham gia vào sự thành lập ngân hàng này. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế từ Hà nội cũng có nhận xét rằng sự kiện này đáng chú ý vì sự cạnh tranh địa chính trị của nó, một bên là ngân hàng do Trung quốc chủ xướng thành lập, còn bên kia là các định chế tài chính phương Tây như ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển châu Á. Ông Lê Đăng Doanh nói là Việt nam và các quốc gia Asean khác đang cần vốn để phá triển cơ sở hạ tầng nên tham gia ngân hàng do Trung quốc thành lập.

Trả lời câu hỏi về sự ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai của Trung quốc lên kinh tế Việt nam Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói:

Việt nam cũng đã ý thức được rất rõ tình hình này nên đã có một quyết định chiến lược là sẽ tham gia hiệp định hợp tác xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là TPP. Bằng cách đó thì Việt nam có thể đa dạng hóa được các đối tác về thương mại, bằng cách đó mở cửa ra để thu hút đầu tư nước ngoài, làm cho Việt nam thực hiện được sự đa dạng hóa về quan hệ kinh tế, và bớt phụ thuộc vào một nước cụ thể nào, và đặc biệt là Trung quốc.”

Nhận định chung về quan hệ tay ba Việt Mỹ Trung, nhiều nhà quan sát tình hình Việt nam, trong đó có Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm, cho rằng mối quan hệ đó đang vận động, nó phụ thuộc vào sức ép từ Trung quốc trong mối quan hệ của hai đảng cộng sản, sức ép từ phương Tây về những điều kiện dân chủ nhân quyền, và sức ép từ chính nhân dân Việt nam trong cách nhìn Trung quốc như một đế quốc kiểu đại Hán thời trung cổ.

---------------------------

Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam-Ấn Độ: Có gì đáng chú ý?   (RFAVietnamese)  29-10-2014
Lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc đến Việt Nam, trong lúc Thủ tướng VN đem phái đoàn doanh gia đi ký kêt với Ấn Độ. Diễn tiến có ý nghĩa ra sao?



Giành lại tương lai Hong Kong (Joshua Wong Chi-Fung, The New York Times)





Joshua Wong Chi-Fung, The New York Times
30-10-2014

Đêm thứ ba đánh dấu tròn một tháng kể từ ngày cảnh sát Hồng Kông tấn công những người biểu tình ủng hộ dân chủ ôn hòa bằng hơi cay và bình xịt tiêu, một hành động vô tình xui khiến hàng ngàn người khác tràn ra chiếm các đường phố để đòi quyền tự do bầu cử các lãnh đạo của Hồng Kông.

Tôi bị cảnh sát bắt vào hôm đó, ngày 28 tháng 9, vì đã tham dự trong một hành động bất tuân dân sự do sinh viên dẫn đạo ở phía trước trụ sở chính của chính phủ. Tôi đã bị giam trong 46 giờ, cắt đứt khỏi thế giới bên ngoài. Khi tôi được thả ra, tôi rất cảm động khi thấy hàng ngàn người tụ tập đòi hỏi dân chủ trên các đường phố. Từ lúc ấy, tôi biết rằng thành phố đã mãi mãi đổi thay.

Kể từ Hồng Kông được trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997, chưa đầy một năm sau khi tôi sinh ra, người dân thành phố đã luẩn quẩn trong một hệ thống chính trị vốn để quyền lực trong tay của những người giàu có và những kẻ giỏi kết nối. Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là thế hệ của tôi, đã hy vọng rằng cuối cùng thì thay đổi dân chủ sẽ đến được sau nhiều năm trời hứa hẹn từ Bắc Kinh rằng chúng tôi sẽ có bầu cử tự do. Nhưng ngưọc lại, vào cuối tháng Tám, Bắc Kinh đã phán quyết rằng đội ngũ đầu sỏ của Hồng Kông sẽ vẫn chịu trách nhiệm. Phổ thông đầu phiếu đã trở thành một giấc mơ tan vỡ.

Nhưng không lâu sau đó. Hàng nghìn người biểu tình, hầu hết còn trẻ, tiếp tục chiếm đóng các khu vực chính của thành phố, đang ngày ngày cho thấy sự đổi thay chính trị cuối cùng sẽ đến như thế nào: bằng lòng kiên trì. Cuộc biểu tình dân chủ trong hòa bình của chúng tôi đã phá hủy huyền thoại cho rằng đây là một thành phố của những người chỉ quan tâm đến tiền bạc. Người Hồng Kông muốn cải cách chính trị. Người Hồng Kông đang muốn thay đổi.

Thế hệ của tôi, lứa tuổi sinh sau những năm 90, lớn lên sau khi lãnh thổ đã được trả về cho Trung Quốc, sẽ có nhiều thứ để mất nếu Hồng Kông sẽ chỉ trở nên một thành phố nào đó của Trung Quốc đại lục, nơi mà thông tin không được tự do chia sẻ và quy định của pháp luật bị bỏ qua. Chúng tôi rất tức giận và thất vọng rằng Bắc Kinh và chính quyền địa phương của Leung Chun-ying đang tìm cách đánh cắp tương lai của chúng tôi.

Thế hệ sinh trưởng sau những năm 90 lớn lên trong một thành phố hết sức thay đổi so với thời của cha mẹ và ông bà chúng tôi. Các thế hệ trước đó, đa phần đến đây từ Trung Quốc đại lục chỉ muốn một cuộc sống ổn định. Một công ăn việc làm an toàn luôn luôn quan trọng hơn chính trị. Họ làm việc siêng năng và không đòi hỏi gì nhiều hơn ngoài một số tiện nghi và ổn định.

Thế hệ chúng tôi muốn nhiều hơn thế nữa. Trong một thế giới mà những ý tưởng và lý tưởng được tuôn chảy tự do, chúng tôi muốn những gì mà mọi người khác trong các xã hội tiên tiến đang có: một tiếng nói về tương lai của mình.

Tình hình kinh tế ảm đạm của thành phố góp phần vào sự thất vọng của chúng tôi. Triển vọng công ăn việc làm thật chán nản, tiền thuê nhà và giá bất động sản vượt quá khả năng của hầu hết giới trẻ. Khoảng cách giàu nghèo của thành phố quá lớn. Thế hệ của tôi có thể là thế hệ đầu tiên ở Hồng Kông tồi tệ hơn so với thời của các cha mẹ mình.

Cha mẹ tôi không phải là những người hoạt động chính trị. Nhưng trong vài tháng qua, vì vai trò đáng chú ý của tôi trong phong trào phản đối, địa chỉ nhà của gia đình tôi bị tiết lộ trên mạng trực tuyến và cha mẹ tôi đã bị sách nhiễu. Bất chấp các phiền phức, cha mẹ tôi vẫn tôn trọng sự lựa chọn tham dự các cuộc biểu tình của tôi. Họ cho tôi sự tự do để làm những gì tôi tin là quan trọng.

Những bạn trẻ khác không được may mắn như thế. Nhiều thanh thiếu niên tham dự cuộc biểu tình của chúng tôi không hề được cha mẹ đồng ý. Họ phải nghe những lời chỉ trích về việc đi đấu tranh cho dân chủ khi trở về nhà, rốt cuộc nhiều bạn phải nói dối cha mẹ về các buổi tối vắng nhà. Tôi đã nghe những câu chuyện của các cha mẹ xóa địa chỉ liên lạc và các trao đổi trên phương tiện truyền thông xã hội từ điện thoại di động của các thiếu niên con em mình để ngăn cản họ không tham gia vào các nhóm hoạt động.

Thức tỉnh chính trị của thế hệ tôi đã được nung nấu trong nhiều năm. Gần năm năm trước đây, những cuộc biều tình do giới trẻ chủ xướng chống lại việc xây dựng lãng phí một tuyến đường sắt mới nối Hồng Kông với Trung Quốc đại lục. Trong năm 2011, nhiều người trẻ tuổi, trong đó có tôi, đã tổ chức chống lại một chương trình giáo dục quốc dân tuyên truyền của Trung Quốc mà Bắc Kinh muốn áp đặt lên chúng tôi. Khi ấy tôi 14 tuổi, và tất cả những gì tôi có thể nghĩ là các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không có quyền tẩy não chúng tôi với quan điểm biến dạng của họ về thế giới.

Nếu có điều gì tích cực về quyết định mới đây về phổ thông đầu phiếu của chính phủ trung ương, thì đó chính là hiện nay chúng tôi biết được vị trí của mình. Bắc Kinh tuyên bố sẽ cho chúng ta được mỗi người một là phiếu, nhưng trong một kế hoạch chỉ gồm các ứng cử viên được chính phủ phê duyệt mới có thể tranh cử cho cuộc bầu cử không có giá trị như việc phổ thông đầu phiếu. Trong việc lựa chọn lộ trình này, Bắc Kinh cho thấy họ xem công thức "một quốc gia, hai chế độ" đã cai quản thành phố từ năm 1997 đến nay như thế nào. Đối với Bắc Kinh, "một quốc gia" là ưu tiên.

Tôi tin rằng quyết định trong tháng Tám và phản ứng mạnh mẽ đối với người biểu tình của cảnh sát Hồng Kông - bắn hơn 80 hộp hơi cay vào đám đông, sử dụng bình xịt hơi cay và dùi cui - là một bước ngoặt. Kết quả là cả một thế hệ từ những người quan sát bên lề đã trở thành người đấu tranh. Dân chúng buộc phải đứng lên chiến đấu.

Ngày nay, có rất nhiều học sinh trung học hoạt động trong phong trào dân chủ: có các học sinh trẻ đến lứa tuổi 13 đã tẩy chay lớp học, trong khi các thanh thiếu niên ở mọi lứa tuổi đã ngủ lại qua đêm tại những địa điểm biểu tình. Mặc dù bị tấn công bởi cảnh sát và những tên côn đồ được thuê mướn, tất cả đã phản đối một cách duyên dáng.

Một số người cho rằng các đòi hỏi của chúng tôi là không thể đạt được, vì lập trường cứng rắn chống lại cuộc phổ thông đầu phiếu trung thực của chính phủ. Nhưng tôi tin chủ nghĩa tích cực là làm cho điều không thể trở nên có thể. Giai cấp thống trị của Hồng Kông cuối cùng sẽ đánh mất trái tim, tâm trí và ngay cả khả năng cai trị từ người dân, bởi vì họ đã đánh mất một thế hệ tuổi trẻ.

Trong tương lai, tôi có thể bị bắt một lần nữa, thậm chí có thể bị đi tù vì vai trò của mình trong phong trào này. Nhưng tôi sẵn sàng trả giá nếu điều này làm cho Hồng Kông trở nên một nơi tốt hơn và công bằng hơn.

Các phong trào phản đối có thể không mang lại kết quả cuối cùng. Nhưng tối thiểu, nó đã mang lại niềm hy vọng.

Tôi muốn nhắc nhở mọi thành viên của giai cấp cầm quyền tại Hồng Kông rằng: Hôm nay quý vị đang cướp đi tương lai của chúng tôi, nhưng sẽ đến ngày chúng tôi quyết định tương lai của quý vị. Bất kể điều gì xảy đến cho phong trào tranh đấu, chúng tôi sẽ giành lại nền dân chủ thuộc về mình, bởi vì thời gian đang ủng hộ chúng tôi.

 Lê Quốc Tuấn dịch

---------------------------------




Giới cầm quyền Nga xưa và nay (Nguyễn Trần Sâm)





Nguyễn Trần Sâm 
28/10/2014

Khi kể tên các dân tộc có đóng góp lớn cho nhân loại, không thể không nói đến nước Nga. Chỉ cần nhắc đến những cái tên người Nga như các nhà văn Aleksandr Pushkin, Lev Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn,… các nhà soạn nhạc Pyotr Chaikovsky, Dmitry Shostakovich,… các nhà khoa học Pyotr Kapitsa, Andrey Kolmogorov,… các vị tướng soái Mikhail Kutuzov, Georgi Zhukov,… hay công lao của nước Nga trong việc đập tan các nhà nước phát-xít Đức và quân phiệt Nhật, cũng đã thấy phần nào tầm vóc vĩ đại của dân tộc này.

Mặc dù vậy, cuộc sống của người dân Nga cho đến đầu thế kỷ XXI này vẫn chưa thoát khỏi những bi kịch. Xã hội Nga vẫn chưa thật sự có dân chủ. Đời sống người dân Nga vẫn còn khá chật vật, và người Nga đi ra nước ngoài vẫn còn bị kỳ thị. (Tất nhiên đây là so sánh với châu Âu và Bắc Mỹ, chứ không so với Việt Nam hoặc Triều Tiên.)

Lý do chính có lẽ ở chỗ nhiều tầng lớp người Nga vẫn chưa có bản lĩnh và nhận thức tốt về chính trị – xã hội, chưa có tác phong sống năng động và vẫn còn tâm lý dựa dẫm vào nhà nước, trông chờ vào “lãnh tụ”.

Trên một nền dân trí như vậy, giới quan chức thường lợi dụng sự nhẹ dạ của quần chúng để tạo ra sự sùng bái cá nhân cùng một guồng máy cai trị hà khắc, tiếp tục chính sách ngu dân. Đối với họ, những thành tựu của dân tộc trở thành phương tiện để họ gieo vào đầu dân chúng tâm lý tự tôn dân tộc đến mức ngông cuồng. Về đối ngoại, họ lợi dụng những ưu thế của dân tộc, trong đó có ưu thế về vũ khí, và tâm lý bài ngoại của dân chúng để gây rắc rối trong quan hệ với các nước khác. Rồi sự rắc rối và căng thẳng trong quan hệ đối ngoại lại được họ lợi dụng để kích động tiếp tinh thần bài ngoại và củng cố địa vị thống trị trong nước.

Ít nhất trong vài thế kỷ qua, giới cầm quyền Nga – kể cả lãnh tụ Liên Xô người Gruzia Iosif Stalin (Jugashvili) – luôn theo đuổi chính sách bành trướng. Với các nước láng giềng vốn nhỏ hơn, họ tìm mọi cách gây sức ép hoặc ve vãn để các nước này tham gia vào các cơ chế do người Nga thao túng. Việc thành lập Liên Bang Soviet vào năm 1922 và mở rộng nó trong 3 thập niên tiếp theo là một trong những động thái như vậy. Với các cường quốc phương Tây, chính quyền Nga luôn làm mình làm mẩy, và đặc biệt luôn tiến hành chính sách chạy đua vũ trang và cố tìm cách mở rộng (một cách vô vọng) vùng ảnh hưởng của mình. Các cuộc giao tranh với người Cosack ở Ukraina, người Tatar ở Crym, xung đột với đế chế Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), chiếm đóng Phần Lan trong thế kỷ XIX là những thí dụ về chính sách bành trướng đó. Gần đây nhất, khi hai nước “đàn em” là Gruzia (2008) và Ukraina (2014) ngả sang phương Tây, giới cầm quyền Nga đã vô cùng tức tối và ra tay “trừng phạt”, đẩy dân hai nước này vào thảm họa chiến tranh. Về Ukraina, Vladimir Putin còn liên tục đưa ra những phát biểu bóng gió rằng phần lớn lãnh thổ Ukraina thực ra là một phần của Nga (và để vuốt ve người hàng xóm Ba Lan, ông ta nói Lviv – hay Lwow, Lvov – phải trở về với nước này), rằng Nga phải “lấy lại” Kiiv (Kiev). 

Chính sách bài phương Tây và chạy đua vũ trang, sự tranh giành ảnh hưởng và thái độ ngang ngược trước các nước lân bang nhỏ yếu hơn trong đối ngoại, cùng với sự cai trị độc đoán trong đối nội là những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong phát triển kinh tế và sự sụt giảm uy tín không chỉ của nhà nước Nga, mà còn cả của dân tộc Nga trên trường quốc tế. Người Nga đi sang phương Tây không chỉ bị coi thường vì sự nghèo hèn, mà còn bị ghét vì đến từ một quốc gia hay kiếm chuyện, không hòa nhập được với cộng đồng quốc tế. Nước Nga càng trơ trọi thì nhà cầm quyền Nga càng điên lên, càng tìm cách o ép các nước nhỏ phải theo mình. Và họ không bao giờ tự hỏi vì sao các nước “đàn em” từng rất thân thiết cứ dần bỏ họ mà đi (trừ những nước mà nhóm cầm quyền được Kreml nuôi béo). Những người Nga hiểu biết nhận thức rõ điều này, nhưng họ không làm gì được. 

Trong quá khứ, giới cầm quyền Liên Bang Soviet, mà thành phần quyết định là Nga, trong khi tìm cách bành trướng đã vô tình tự cô lập và làm suy yếu chính mình. Kết quả là sự tan ra của liên bang này và sự sụp đổ của thể chế XHCN ở tất cả các nước thành viên Liên Bang. Sự theo đuổi chính sách của các Sa Hoàng trong thời đại mới tất yếu cũng sẽ dẫn đến sự cô lập ngày càng trầm trọng của Nga trên trường quốc tế. Việc lợi dụng thứ vũ khí mạnh hơn cả bom hạt nhân là dầu và khí đốt để làm các nước bạn hàng phải điêu đứng chắc chắn sẽ không thể duy trì lợi thế của nước Nga được lâu. Những đối tác châu Âu đang tìm cách để thoát dần khỏi ảnh hưởng của nguồn cung khí đốt từ Nga. Giá dầu và khí đốt trên thị trường quốc tế đang tiếp tục giảm. Giá trị của đồng ruble Nga cũng đang xuống dốc. Các nhà đầu tư, kể cả chính người Nga, đang theo nhau rút vốn khỏi Nga để đầu tư sang các thị trường khác.

Trong những ngày vừa qua, tổng thống Nga Putin một mặt vẫn tiếp tục đe dọa Ukraina và phương Tây, nhưng mặt khác đã có những động thái xuống thang rõ rệt. Điều đó không phải do lòng trắc ẩn của ông ta trước số phận của người dân Ukraina hay của người dân Nga ở Ukraina, mà nó thể hiện thế yếu và việc ông ta đã thấm đòn. Nếu tiếp tục chính sách thù địch với phương Tây và các nước láng giềng, kinh tế Nga trong những năm tới sẽ hết sức khó khăn và khủng hoảng ở Nga là không tránh khỏi, giống như ở Liên Xô những năm 1980. Khi đó, xã hội Nga sẽ bị xáo trộn một lần nữa, giống như Liên Xô năm 1991, và tập đoàn Putin sẽ khó lòng giữ được vai trò cầm quyền. Một mình Nga cùng với vài nước đàn em không thể chống lại được cả thế giới phương Tây hiện vẫn rất hùng mạnh và vẫn đang có ảnh hưởng quyết định nhất đối với tương lai của hành tinh.

Có thể nói giới cầm quyền Nga cho đến tận những năm đầu thế kỷ XXI này vẫn hành xử theo cách của các Sa Hoàng trước đây. Không phải ngẫu nhiên mà thủ tướng Đức Angela Merkel, người mà vài năm trước đã thể hiện mối thiện cảm khá đặc biệt với Putin, gần đây đã phải thốt lên rằng bà “không tin là ông ta đang sống với thực tại (in touch with the reality)”, rằng Putin đang sống “trong một thế giới khác”.

NGUYỄN TRẦN SÂM





View My Stats