Monday, 15 September 2014

KINH TẾ DỐI TRÁ (Nguyễn-Xuân Nghĩa)




Kinh tế dối trá
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Monday, September 15, 2014 4:13:14 PM

Những lý luận nhảm nhí dẫn tới tiêu vong

Một nhân vật Hoa Kỳ đã có lời phát biểu đáng suy ngẫm:

“Tôi phải nghiên cứu chính trị và chiến tranh, để các con tôi có thể được tự do học hỏi toán pháp và triết học, địa dư và lịch sử thiên nhiên, kiến trúc hải thuyền và kỹ thuật hải vận, thương mại và canh nông - ngõ hầu đời con của chúng có cái quyền được nghiên cứu hội họa, thơ văn, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, thêu dệt và nghệ thuật đồ sứ.”

Sinh vào năm 1735 và mất năm 1826, John Adams không chỉ nghiên cứu về chính trị. Ông là nhà lãnh đạo thuộc lớp “Quốc Phụ” và là tổng thống thứ nhì của Mỹ. Lời phát biểu đáng chú ý ở vài chi tiết, có và không:
Về chuyện “có,” hai lần John Adams nhắc đến “kiến trúc.”

Thế hệ của ông là những người đi làm cách mạng để giành độc lập nên phải học hỏi và vận dụng cả chính trị lẫn quân sự. Nhờ vậy mà thế hệ nối tiếp, trong đó có con trai ông là John Quincy Adams sau này cũng làm tổng thống Hoa Kỳ, được quyền tự do học hỏi về kiến trúc hải thuyền (naval architecture). Ðấy là một bộ môn kết hợp cả chiến tranh cho hải quân, lẫn khoa đóng tàu và thương mại hàng hải. Mục tiêu là để tới đời thứ ba, các con cháu mới được quyền nghiên cứu về kiến trúc, một ngành học rất gần với nghệ thuật. Họ kiến trúc cho kiến trúc, đó là sáng tạo...
Ðiều “có” trong lời phát biểu này là trình tự thăng tiến của quyền tự do.

Thế hệ đầu tiên đi vào đấu tranh là để giành được quyền học hỏi cho thế hệ nối tiếp. Việc học hỏi ấy mở từ quân sự để bảo vệ an ninh qua hàng hải để phục vụ đời sống, hầu thế hệ thứ ba có thể tự do nghiên cứu về kiến trúc hay thi ca, hội họa hay thêu thùa... Quyền sáng tạo khởi đi từ tự do, và xứ sở chỉ có tự do khi giải quyết được bài toán ban đầu.

Then chốt nhất là bài toán chính trị.

***
Ðọc cuốn “Ðèn Cù” của tác giả Trần Ðĩnh, người viết nhớ John Adams và trình tự thăng tiến của các thế hệ từ thời đấu tranh đến xây dựng để tiến tới quyền tự do mơ chuyện viển vông cho nghệ thuật vì nghệ thuật.

Nhớ đến ba vòng xoay lên của John Adams thì cũng biết được ba vòng xoáy xuống vì chính trị đốn mạt. Nếu trong đấu tranh có thể thủ tiêu đối thủ chính trị, cải cách ruộng đất hay truy diệt trí thức thì kết cuộc về nông tang là chuyện tang thương, về sáng tạo là sự nhắm mắt, hoặc thậm chí chẳng nhíu lưỡi thì “nhíu nhìn” - chữ của Trần Ðĩnh.

Còn về hàng hải, thế hệ đốn mạt thứ ba cho ta Vinashin phá sản và Hải Quân Việt Nam ngơ ngác thúc thủ trước giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc...

John Adams là đại trí thức và tranh đấu cho một nền chính trị sau này có thể đảm bảo quyền tự do cho mọi người, kể cả trí thức và nghệ sĩ. Những gì xảy ra tại Việt Nam từ 90 năm nay lại xoay theo hướng khác, và trí thức cùng nghệ sĩ là thành phần bị đầy đọa nhiều nhất.
***
Chúng ta trở lại một điều “không” trong lời phát biểu của John Adams.

Nhân vật lỗi lạc này nói đến quyền tự do nghiên cứu về toán học, triết lý, về địa dư, lịch sử, cho tới kiến trúc, thi ca, hội họa và cả nghệ thuật điêu khắc hay dệt thảm, v.v... vậy mà chẳng thấy ông nói gì về... kinh tế. Chỉ vì kinh tế cũng là chính trị, nội dung của cột báo định kỳ này.

Chính trị, như một cách diễn tả khác của Khổng Tử, là làm cho ngay ngắn. Nền tảng đầu tiên cho cả xã hội mà được ngay ngắn thì quyền tự do học hỏi và sáng tạo mới được phát huy theo viễn kiến lý tưởng của John Adams. Nếu vậy, tại sao ông không nhắc tới kinh tế, hay kinh tế chính trị học, là khái niệm đã có trong thời đại của ông?

Phải chăng vì đấy là môn học quá khó? Nhà vật lý thời danh của thế kỷ 20 là Max Planck có lần nói với kinh tế gia nổi tiếng John Maynard Keynes rằng ông cũng có lúc muốn học về kinh tế mà về sau phải bỏ là môn quá khó. Có lẽ ông chỉ muốn nói cho vui, hay cho bạn mình vui mà thôi.

Nhưng quả rằng nếu ai cũng có thể học về kinh tế, khi hành về kinh tế thì sợ đời lại khác. Vì khoa kinh tế cũng chứa đầy chân lý nhảm nhí, hoặc bị bẻ queo để phù trợ chính sách nhảm nhí của chính trị.

Nhảm nhất là “Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin,” một môn học thuộc diện khảo cổ về loài tuyệt chủng, hay trong các Trường đảng của những đảng Cộng sản chỉ còn đếm được bằng vài ngón của nửa bàn tay. Nhảm nhì là “kinh tế học xã hội chủ nghĩa,” theo định hướng nhà nước, với màu sắc Trung Hoa, Ba Ðình hay Venezuela...

Tại sao một bộ môn có vẻ khoa học mà lại có thể đưa tới áp dụng nhảm nhí và gây phá sản, hoặc hiện tượng “sản nhập” thay vì sản xuất?

Lý luận nhảm nhí thật ra không phải là chuyện điên khùng. Nó khởi đi từ những tư tưởng có vẻ hợp lý và nghe được. Nếu không thì đã chẳng được cái mẻ khoa học tráng sơ ở bên ngoài và được nhiều chính khách áp dụng với khẩu hiệu bùi tai. Nhưng xâu chuỗi lý luận ấy thiếu mất vài mắt xích - và thành lý luận nhảy cóc.

Mắt xích bị thiếu đầu tiên - vi thiếu nên ít ai thấy! - chính là định nghĩa. Không có định nghĩa thì nhân dân hay giai cấp có thể hòa làm một và đảng của một giai cấp có thể cai trị toàn dân. Không định nghĩa thì “cải tạo” là xóa rồi mới xây, mà xây không nổi nên sau cải tạo mới là khủng hoảng. Thiếu định nghĩa nên “địa tô” mới là đấu tố, điền chủ mới bước xuống hố chôn người, “công bằng” mới thành cào bằng. Và mọi người đều thành vô sản dưới quyền cai trị của một thiểu số đang là đại gia phe phẩy sau khi đảng ta đã “đổi mới.”

Ðịnh nghĩa của đổi mới hay định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Ðấy là một bí mật quốc gia của hệ thống lý luận nhảm nhí của kinh tế.

Cuốn sách của Trần Ðĩnh vẽ lại chân dung u ám của kinh tế chính trị học Mác-Lênin khiến lãnh đạo thời nay ở Hà Nội... yên tâm. Vì so với thời xưa được Trần Ðĩnh viết lại thì họ có vẻ khá hơn cha anh trong đảng. Họ có thể nhét vào đầu chúng ta cái lý luận nhảm nhí đó về kinh tế thời nay.

Mà không chỉ có tại Trung Quốc hay Việt Nam, lý luận nhảm nhí về kinh tế cũng xuất hiện - và tung hoành - trong các nước có dân chủ, kể cả Hoa Kỳ.

Nhảm nhí như lý luận về mức lương tối thiểu pháp định đang được chính trường Mỹ thổi lên với sự cổ động om xòm của các nghệ sĩ màn bạc. Cái mắt xích bị thiếu là “hậu quả bất lường.”

Chính khách viện dẫn mục tiêu cao đẹp của biện pháp mà bất chấp hậu quả không lường được về kinh tế là càng làm giới trẻ và những người nghèo hoặc thiếu tay nghề càng khó kiếm việc. Lãnh tụ các nghiệp đoàn thiên tả đều biết vậy mà lại ồ ạt chi tiền vận động không vì quyền lợi công nhân viên. Họ trục lợi nhờ biện pháp đó.

Vì sao lại có nghịch lý ấy thì nhiều người không hiểu, nhất là trong giới truyền thông!

Kỳ khác ta sẽ tìm hiểu tiếp.

***
Ở đầu dòng, bài kinh tế này khởi sự với John Adams. Xin kết thúc cũng với John Adams, một trong những nhà sáng lập ra nền dân chủ Hoa Kỳ.

Nhân vật uyên bác này vẽ ra giấc mơ lý tưởng về chính trị, nhưng chẳng là người hoang tưởng khi nhắc rằng trong lịch sử ông chưa thấy một nền dân chủ nào mà không tự sát. Nền dân chủ có thể tiêu vong không vì nạn động đất hay ngoại xâm, mà vì tự sát khi áp dụng lý luận nhảm nhí.

Thí dụ thời sự là chuyện Argentina vỡ nợ. Ðầu thế kỷ trước, xứ này thuộc về 10 quốc gia giàu nhất thế giới.

Kinh tế vốn không dối trá, nhưng lý luận nhảm nhí về kinh tế khiến xứ này lụn bại dần.

Lên tới trình độ ấy mà còn tuột dốc thì lý gì đến Việt Nam, vốn chưa leo khỏi cái hố của đảng.



SCOTLAND, DÂN CHỦ & TIẾN TRÌNH TOÀN CẦU HÓA (Lê Mạnh Hùng)




Lê Mạnh Hùng
Saturday, September 13, 2014 3:21:44 PM

Cuộc trưng cầu dân ý sắp tới tại Scotland cho ta một trường hợp kiểm chứng khá lý thú về một luận đề đã được một số người đưa ra rằng tiến trình toàn cầu hóa với những ràng buộc của nó tạo ra một nguy cơ cho các cơ cấu Dân Chủ phương Tây.

Trên phương diện lịch sử việc công dân một quốc gia nay có quyền quyết định vận mệnh tương lai của nước mình là một tiến bộ rất lớn và đáng khuyến khích. Cả dân Scotland cũng như dân Anh đều không có cái quyền này khi số phận hai nước được gắn liền với nhau vào năm 1603 khi một ông vua Scotland lên đăng quang ngai vàng Anh quốc. Việc hợp nhất hai nước, thực hiện vào năm 1707 được thông qua bởi một quyết định của Quốc Hội Scotland mà đa số nhận hối lộ để bỏ phiếu thuận (đó là lý do mà một số người Scotland vẫn tấm tức vì bị “bought with English gold”).

Nhưng mặt khác, ta có thể thấy ước muốn có một nước Scotland độc lập là một dấu hiệu của tình trạng thất vọng với nền chính trị Dân Chủ hiện hữu vốn đồng thời là động cơ tạo ra sự ủng hộ cho những đảng chính trị cực đoan tại Châu Âu như Ðảng Front National tại Pháp hoặc UKIP tại Anh. Có một cảm giác bàng bạc trong khối cử tri rằng những đảng chính trị truyền thống đều không khác gì nhau, đưa ra xấp xỉ những chính sách giống nhau, thành ra cần phải có một đường lối tiếp cận khác. Một câu trả lời là thay đổi người (bỏ phiếu cho một đảng mới) và một câu trả lời khác là rút ra khỏi nhà nước cũ và thành lập một nhà nước mới.

Còn thêm một vấn đề nữa là người dân nay cảm thấy bất lực trước một thế giới toàn cầu hóa. Tài chánh của chính phủ của họ nay tùy thuộc vào trong tay những tài phiệt tại City of London hoặc là Wall Street hoặc là trong tay một quỹ đầu tư khổng lồ nào đó của một quốc gia dầu hỏa chẳng hạn; công việc của họ tùy thuộc vào những công ty đa quốc mà trụ sở có thể nằm tại một quốc gia xa xôi. Ngay cả những quyết định có tính cách thiết thân tới cuộc sống của họ cũng chỉ được những người họ bầu lên đưa ra sau khi tham khảo với Liên Hiệp Âu Châu tại Brussels hoặc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF tại Washington. Người ta cảm thấy cần phải có một cái gì đặc thù của mình, một người nào đó hiểu biết những gì xảy ra nơi khu phố của mình hay tại chỗ làm việc của mình.

Trên thực tế trao quyền hoàn toàn về địa phương là một cái gì không thể được. Scotland có thể bỏ phiếu rút ra khỏi Vương Quốc Thống Nhất nhưng rồi cũng phải trở thành một phần của Liên Hiệp Âu Châu, và những công dân của một nước Scotland độc lập sẽ phải chịu sự chi phối của một hệ thống thư lại còn xa vời hơn nữa so với Luân Ðôn tại Brussels. Ngoài ra rất nhiều những thách thức của một thế giới hiện đại - khủng bố quốc tế, trốn thuế, thay đổi khí hậu, tội ác trên không gian ảo (cybercrime) - là những thách thức không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia và đòi hỏi phải có sự hợp tác xuyên biên giới. Nhưng hợp tác quốc tế đòi hỏi phải có sự dung nhượng. Và dung nhượng là một cái gì phức tạp không thể phân biệt trắng đen và thường chỉ đạt được sau khi thương thuyết đến tận đêm khuya trong những phiên họp kín. Thành ra đó là một điều rất khó khăn trong việc phối hợp các định chế đa quốc với chế độ Dân Chủ. Trường hợp độc nhất mà người ta làm một định chế đa quốc Dân Chủ là Nghị Viện Châu Âu và định chế này còn bị cử tri coi rẻ còn hơn là các Quốc Hội của các quốc gia hội viên.

Các nhà chính trị của các quốc gia bị mắc kẹt ở giữa. Họ có thể bất lực trong việc ảnh hưởng những chiều hướng toàn cầu tác động tới đời sống của công dân nước họ nhưng họ phải giả vờ như là có thể làm được nếu họ muốn được bầu lên. Có những chuyện vượt ra ngoài tầm tay kiểm soát của một chế độ Dân Chủ (hay là bất kể một chế độ nào khác): nếu một quốc gia có thiếu hụt trong cán cân thanh toán và phải đi vay nước ngoài thì chính phủ nó không thể nào kiểm soát được lãi suất mà mình phải trả cho món nợ đó.

Trong khi đó, toàn cầu hóa và sự chuyển dịch dân số toàn thế giới đã khiến cho hiện tượng quốc gia - dân tộc, một quốc gia trong đó những công dân chia sẻ cùng một ngôn ngữ, tôn giáo, quần áo và tập tục xã hội trở thành một cái gì cực kỳ hiếm hoi. Trong thế giới đa văn hóa hiện nay ta có thể thấy những cộng đồng khác nhau chung sống trong cùng một quốc gia.

Cố nhiên là hiện tượng này đã tạo ra những phản ứng trong một số những cử tri. Họ cảm thấy rằng tình trạng này đã bị áp đặt lên họ mà không có sự đồng ý của họ và họ diễn tả sự bất mãn đó bằng cách bỏ phiếu cho Front National hoặc là UKIP. Ðiều này đã tạo ra một nan đề cho những ai muốn phối hợp chế độ Dân Chủ với thành công kinh tế: Thành công trong một nền kinh tế toàn cầu hóa có thể tùy thuộc chính vào sự cởi mở trong việc đón nhận những nền văn hóa và cử tri mới mà những cử tri kia thù ghét. Làm thỏa mãn những cử tri này trên phương diện xã hội có thể sẽ chỉ làm họ thất vọng trên phương diện kinh tế.

Chính sự bất khả hòa giải giữa những vấn đề đó khiến người ta lo ngại cho các chế độ Dân Chủ. Các xã hội phương Tây hiện đang trên đà lão hóa khiến cho việc tăng trưởng kinh tế mau lẹ là một điều rất khó khăn.

Nhưng tăng trưởng kinh tế là một phần căn bản của khế ước xã hội. Các nhà chính trị hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp hơn để đổi lấy lá phiếu. Ðiều đáng lo ngại là có những người sẵn sàng đưa ra những câu trả lời dễ dàng để giải quyết những vấn đế khó khăn ấy tỷ như mọi chuyện đều do các nhóm thiểu số hoặc là hãy tách ra lập nhà nước mới là mọi chuyện có thể giải quyết êm đẹp. Họ có thể nhờ đó mà thành công trong việc được người dân bầu lên hay được người dân bỏ phiếu ủng hộ lập nhà nước mới. Và như chúng ta đã thấy trong quá khứ, một khi một chuyện đã xảy ra rất khó mà có thể quay ngược trở lại như cũ.



THẾ GIỚI CHỜ ĐỢI GÌ Ở HỘI NGHỊ PARIS VỀ ISIS ? (Nguyễn Văn Khanh)




Nguyễn Văn Khanh
Sunday, September 14, 2014 6:03:58 PM

LTS - Sáng Thứ Hai, 15 Tháng Chín, Hội Nghị Quốc Tế Về ISIS sẽ được tổ chức tại Paris, Pháp, với sự tham dự của hơn 20 vị ngoại trưởng của những quốc gia đã đồng ý tham gia trong Liên Minh Quốc Tế Chống ISIS do Hoa Kỳ thành lập. Nhật báo Người Việt có cuộc trao đổi ngắn với thông tín viên Nguyễn Văn Khanh về hội nghị được cả thế giới chú ý.

Người Việt (NV): Mục tiêu của hội nghị là gì?
Nguyễn Văn Khanh: Theo lời ông Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc Denis McDonough, hội nghị nhắm vào nhiều mục tiêu khác nhau. Trước hết đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của những quốc gia đã nhận lời tham gia trong liên minh do Hoa Kỳ khởi xướng để cùng nhau đi đến mục tiêu là tận diệt Nhà Nước Hồi Giáo ISIS; điểm thứ nhì là các quốc gia dự hội nghị sẽ cùng nhau bàn thảo một kế hoạch hành động chung và điểm thứ ba là dựa vào kế hoạch đó, các nước sẽ được phân công - hay nói theo ngôn từ ngoại giao - là mỗi nước lãnh một trách nhiệm khác nhau, miễn làm sao đạt được kết quả càng sớm càng tốt. Ở điểm này, một viên chức thuộc Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ có đưa ra một thí dụ khá rõ, nói rằng mỗi nước sẽ giữ một vai trò khác nhau, như có nước cung cấp phi cơ và đạn được để mở các cuộc không kích nhắm vào quân ISIS, có nước lãnh trách nhiệm cung cấp tin tức tình báo, và đương nhiên có những nước đứng ra lãnh trách nhiệm trang trải chi phí. Tôi còn nhớ ngay chính Tổng Thống Barack Obama cũng từng nói là nước Mỹ không thể một mình hoàn thành chiến lược tiêu diệt ISIS được, mà phải có sự yểm trợ, tham gia, đóng góp của cộng đồng thế giới.

Cũng cần nói thêm ở đây là mặc dù hội nghị diễn ra tại Paris, tổng thống Pháp ông Francois Holland sẽ đọc bài diễn văn khai mạc và chủ tọa cuộc họp, nhưng tất cả đều biết người có công lớn trong chuyện này chính là Ngoại Trưởng John Kerry. Paris cũng là chặng dừng chân cuối cùng của ông Kerry, sau chuyến đi kêu gọi thành lập Liên Minh kéo dài hơn 1 tuần lễ, khởi đầu là Âu Châu và NATO, sau đó là Trung Ðông.

NV: Kết quả sẽ được thông báo ngay sau Hội Nghị Paris?
Nguyễn Văn Khanh: Chưa có gì chắc chắn kết quả sẽ được thông báo ngay sau hội nghị. Hôm Thứ Sáu vừa rồi, ông Kerry chỉ nói là có nhiều quốc gia đồng ý tham gia trong Liên Minh. Hôm qua (Chủ Nhật, 14 Tháng Chín) ông Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc cũng chỉ cho biết là Thứ Tư tới đây ông Kerry sẽ ra điều trần trước Quốc Hội Liên Bang về thành quả ông đạt được, trình bày cho Quốc Hội biết rõ vai trò của Hoa Kỳ cũng như của các nước. Có thể lúc đó mới biết được những quốc gia trong Liên Minh sẽ đóng vai trò gì, trách nhiệm như thế nào.

NV: ISIS đang hoạt động ở Syria và Iraq. Có chung biên giới với cả 2 nước này là Iran, nhưng tại sao Iran lại không được mời dù họ cũng chống ISIS?
Nguyễn Văn Khanh: Theo các nguồn tin ngoại giao thì thoạt đầu chính phủ Pháp có ý định mời Iran nhưng Hoa Kỳ không đồng ý. Lý do là vì một mặt chính quyền Tehran ủng hộ ý kiến thành lập liên minh diệt ISIS, nhưng họ đặt điều kiện chỉ nên diệt quân ISIS ở Iraq chứ không nên mở rộng chiến dịch không kích sang Syria. Ðòi hỏi đó của Iran không gây ngạc nhiên cho mọi người vì đến bây giờ Tehran vẫn ủng hộ chính phủ độc tài của ông Bashar Al-Assad, trong lúc Hoa Kỳ và nhiều nước đồng minh công khai ủng hộ lực lượng nổi dậy lật đổ ông này. Theo quan điểm của Hoa Kỳ, mở rộng mặt trận sang Syria có nghĩa là vừa tiêu diệt ISIS vừa giúp lực lượng nổi dậy có cơ hội chiếm thế thượng phong, giúp họ đạt được mục tiêu lật đổ chính phủ Al-Assad. Chính vì khác biệt đó nên Hoa Kỳ không đồng ý mời Iran dự Hội Nghị Quốc Tế Paris.

NV: Như vậy những nước được mời dự hội nghị đều là những quốc gia chia sẻ toàn bộ lập trường của Hoa Kỳ?
Nguyễn Văn Khanh: Ðiều đó đúng. Tất cả các nước dự hội nghị đều có chung quan điểm là phải tiêu diệt khủng bố ISIS, điển hình ngay chính tuyên bố của Liên Ðoàn Ả Rập cũng nhấn mạnh tới điểm Nhà Nước Hồi Giáo ISIS là nguy cơ cho an ninh và hòa bình của khu vực cũng như của toàn cầu, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đã có một số nước Hồi Giáo Trung Ðông bắn tiếng cho biết sẵn sàng tham gia vào những cuộc không kích ở Iraq và Syria để tiêu diệt quân Nhà Nước Hồi Giáo ISIS. Nhưng cần phải hiểu là có chung quan điểm và sẵn sàng làm việc chung không có nghĩa là các nước sẽ đồng ý với mọi đề nghị mà Hoa Kỳ nêu ra ở Hội Nghị Paris.

NV: Tại sao vậy?
Nguyễn Văn Khanh: Mỗi quốc gia có một lý do khác nhau. Chẳng hạn như Thổ Nhĩ Kỳ là một đang giữ 49 công dân Thổ làm con tin, chính phủ Anh cũng bị bó tay vì một đạo luật ban hành từ năm ngoái cấm không được có bất kỳ hoạt động quân sự nào trên lãnh thổ Syria, hình như ông chủ nhà là Pháp vẫn nuôi ý tưởng Liên Minh hoạt động trong khuôn khổ một nghị quyết do Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ban hành, tương tự như nghị quyết về Lybia cách đây vài năm. Khi ông Kerry nói có vài chục quốc gia ủng hộ, chúng ta cũng nên hiểu rằng bên cạnh những nước đòng vai trò chủ lực có những nước chỉ đóng góp tượng trưng. Ðiều quan trọng nhất là khi lập Liên Minh cần có mặt của nhiều quốc gia, thành ra chính Tổng Thống Holland của Pháp cũng nói rằng Hội Nghị Paris không nhằm giải quyết khó khăn của từng nước, mà nhắm vào mục tiêu là sự góp sức chung.

NV: Và sẽ không nói tới việc đổ bộ quân vào Iraq và Syria?
Nguyễn Văn Khanh: Câu trả lời nghe được từ ông Chánh Văn Phòng Tòa Bạch Ốc là không. Về mặt quân sự, Hoa Kỳ và đồng minh không tính đến chuyện đổ bộ quân vào Iraq cũng như Syria, chỉ bàn đến kế hoạch không kích, chia sẻ tin tức tình báo và phí tổn. Nếu có đưa quân vào thì cũng chỉ là những cố vấn quân sự, đóng vai trò yểm trợ chứ không cầm súng chiến đấu. Ðây là điều Hoa Kỳ đang làm và nghe nói có thể Australia cũng sẽ tham gia.

NV: Nhưng anh đừng quên cho đến bây giờ báo chí Hoa Kỳ và thế giới vẫn còn hoài nghi về khả năng chiến đấu của quân đội Iraq. Nhìn chung, tình hình có tốt hơn trước đây, nhưng chưa có gì đảm bảo là họ có thể đứng vững nếu không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.
Nguyễn Văn Khanh: Theo trình bày của ông McDonough thì tình hình bây giờ sáng sủa hơn trước rất nhiều, sau khi một chính phủ mới thành hình ở Baghdad, được sự hậu thuẫn của mọi lực lượng chính trị, được sự ủng hộ của cả tập thể Hồi Giáo Sunni cũng như tập thể Hồi Giáo Shiite. Theo cái nhìn của Tòa Bạch Ốc và đồng minh, đây mới là bước khởi đầu nhưng là bước khởi đầu rất tốt, sẽ dẫn đến kết quả như mọi người trông đợi. Cũng cần nói thêm là Tổng Thống Fouad Massoum của Iraq sẽ có mặt ở Hội Nghị Paris.

NV: Còn ở Syria thì sao? Tổng Thống Obama nói sẽ oanh kích ISIS ở Syria, nhưng chúng ta có biết nhiều về lực lượng nổi dậy muốn lật đổ chính phủ độc tài Al-Assad không?
Nguyễn Văn Khanh: Theo lời ông Phụ Tá Ðặc Biệt Shawn Turner của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia thì trong 2 năm vừa qua, Hoa Kỳ đã có được mối quan hệ tốt với lực lượng nổi dậy Syria. Ông nói rõ mối quan hệ tốt này được định nghĩa là tốt cho quyền lợi của Hoa Kỳ và đồng minh, nhưng đồng thời cũng nói rõ rằng thành công hay không trong việc lật đổ chính phủ Al-Assad vẫn là nỗ lực của lực lượng nổi dậy. Hoa Kỳ chỉ đóng vai trò hỗ trợ chứ không phải là lực lượng chính.

NV: Cám ơn anh.



SÀI GÒN CÒN HAY MẤT ? (Huy Phương)




Tạp ghi Huy Phương
Sunday, September 14, 2014 2:18:47 PM

Mấy tuần này, hải ngoại xôn xao vì chuyện Sài Gòn sắp xóa Thương Tá Tax (hay Charner) trên đại lộ Lê Lợi, để xây một cao ốc 40 tầng với số tiền lên đến hàng trăm triệu đô la.

Chúng ta đã được xem nhiều bài báo và hình ảnh trong nước hàm ý tiếc nuối một cơ sở mang nhiều kỷ niệm của những người Sài Gòn thuở trước, nay sẽ không còn nữa. Một vị nữ độc giả gửi thư cho tôi yêu cầu tôi viết một bài và vận động làm sao để giữ lại được Thương Tá Tax, không bị phá bỏ. Quả là một yêu cầu quá đáng với thời thế và sức con người cũng như chúng ta nên xét lại sự suy nghĩ về chuyện mất, còn trong thế gian này. Ngay ở Sài Gòn, một số cư dân thành phố làm kiến nghị yêu cầu chính quyền ngưng ngay việc này, nhưng chắn chắn đây là những “lời nói gió bay.”

Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cả miền Nam sụp đổ, mất trắng vào tay Cộng Sản cũng không ai làm được gì để cứu vãn tình hình, bây giờ mất thêm một chuyện nhỏ trong câu chuyện lớn, là lẽ thường tình. Có người đã nói “mất nước là mất tất cả!” Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta đã mất Sài Gòn, mất tên, mất cả nhân dáng hình hài.

Chúng ta thật sự đã mất rất nhiều, không phải những chuyện nhỏ của Sài Gòn như chiếc Taxi Renault 4 CV sơn hai màu xanh trắng, chiếc xích lô máy nổ giòn giã, khói mù mịt trong đêm Sài Gon hay chiếc Velo Solex màu đen lượn lờ trên đường Nguyễn Huệ ngày cũ. Có người nhớ quán La Pagode, nhưng cũng có người nhớ đến một quán cóc cà phê nào đó, nhóm bếp lửa bập bùng vào lúc Sài Gòn chưa tỉnh ngủ. Có người nhớ đến tiếng lóc cóc của chiếc xe thổ mộ mang hoa và rau cải vào thành phố lúc hừng sáng, nhưng cũng có người nhớ mãi tiếng rao quà ngọt ngào của Sài Gòn ngày trước. Có người ra đi nhớ mãi những âm thanh của Sài Gòn ngày cũ nhưng cũng có người mang theo bao nhiêu hình ảnh của những góc phố, con đường, con kinh, bờ rạch. Chắc cũng có người nhớ đến mùi vị của Sài Gòn, ly nước mía Viễn Ðông ngọt ngào, miếng bò bía chấm tương đen, hay miếng mực khô đẫm chút tương đỏ cay đầu lưỡi.

Sài Gòn những ngày chiến tranh với những đêm thấy hỏa châu soi sáng một vùng nào đó ở ngoại ô, nghe ì ầm tiếng của đạn pháo vọng về, hay nghe tiếng xe cứu thương hụ còi tất tả trong đêm vắng. Rồi Sài Gòn với những ngày câm nín, tàn phai, chia lìa vội vã. Con mắt đèn xanh đỏ nhấp nháy thâu đêm, lo lắng, sầu muộn. Những điều này quả là quá đơn sơ, nhỏ nhoi trong cuộc sống như dòng sông mải miết chảy, không bao giờ dừng lại.

Phải chăng những cái gì mất đi chúng ta mới thấy tiếc nuối. Có người bỏ Sài Gòn ra đi vội vã, đẫm những dòng nước mắt, trên không phận hay trong dòng sông giữa hai bờ dừa nước. Cũng có người trở lại Sài Gòn lần đầu, con mắt đỏ hoe.

Nhưng có phải chăng bây giờ tất cả đã xóa mờ như vết thương đã thành sẹo, cát bụi đã chôn vùi, xóa hết vết tích của Sài Gòn ngày cũ.

Không! Sài Gòn hôm nay đã đổi tên, cái tên này, hiện diện trên những văn bản của chính quyền, nó sẽ chẳng bao giờ có chỗ đứng trong lòng người. Cái tên dài dòng này đã đảo lộn cách nói thông thường của người dân, ở Rạch Giá, Cần Thơ, người ta nói “lên thành phố,” trong khi nơi họ sống đã là “thành phố” rồi! Những công ty thương mãi, những dịch vụ, nhà hàng, không ai muốn phiền phức, ngớ ngẩn đến nỗi phải mang cái tên “bác” trên bảng hiệu.

Tôi thường gửi tiền về giúp bà con ở Sài Gòn nhưng tuyệt đối khi viết địa chỉ không dùng tên hiện nay, nếu ai có chê tên Sài Gòn xin trả lại tiền cho tôi. Nếu ba triệu người Việt ở hải ngoại khi viết thư, gửi tiền, điện thoại về nhà mà không dùng tên hiện nay thì Sài Gòn vẫn còn đó. Nếu cả nước vẫn gọi thủ đô của VNCH bằng cái tên ngày cũ thì đừng lo Sài Gòn mất.

Không phải như những đất nước khác, cả miền Nam yêu mến Sài Gòn, đó là cửa ngõ của những ngày ra đi và sẽ là nơi trở về. Chúng ta đã mang theo Sài Gòn trong cuộc hành trình bỏ nước ra đi, và ở mỗi nơi dừng chân mà chúng ta nhận là quê hương thứ hai, có những “Sài Gòn Nhỏ” được thành hình.

Cái tên mới kẻ trên những bích chương hay bảng hiệu màu đỏ máu sẽ còn tồn tại bao lâu nữa?

Thời sùng bái nhân vật Joseph Stalin, lãnh đạo của Liên Bang Xô Viết, từ năm 1925, thành phố Volgograd được đặt tên là Stalingrad. Khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, thần tượng tiêu ma, thành phố Volgograd trở lại mang tên cũ từ năm 1956. Ðài VOA loan tin, ngày 10 Tháng Chín năm nay, Hội Ðồng Thành Phố Volgograd thông báo chấp nhận cho tên Stalingrad (chỉ) được dùng lại cho sáu ngày một năm vào các dịp kỷ niệm kết thúc Thế Chiến 2, nhưng cũng trong ngày này, tất cả báo Sài Gòn (Công An, Thanh Niên, Báo Mới...) lập lờ chạy tin Volgograd sẽ được phục hồi lại tên Stalingrad, để lừa dân Việt Nam, làm như hồn ma Cộng Sản ở các nước Ðông Âu đang bắt đầu đội mồ sống dậy!

Năm 1924, sau khi Lenin qua đời, Saint Petersburg được đổi tên thành Leningrad. Cùng với số phận Stalin, theo chế độ Cộng Sản, tượng Lenin cũng đã bị giật sập đổ nhào, và năm 1991, tên Lenin cũng đã được xóa bỏ để Saint Petersburg vẫn là Saint Petersburg ngày cũ.

Bốn mươi năm chưa phải là một thời gian dài, những thần tượng Karl Marx, Stalin, Lenin đã lần lượt bị sụp đổ chôn vùi ở các nước Cộng Sản đã tan rã, liệu những nhân vật Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông, và chế độ Cộng Sản ở đây còn tồn tại được bao ngày?

Vài năm về trước, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, một nhà hoạt động chính trị ở New Zealand, đã phát động phong trào “đòi lại tên Sài Gòn,” mà tôi cho là không cần thiết, vì khi chế độ Cộng Sản Việt Nam sụp đổ, không những cái tên Hồ Chí Minh đã bị xóa mà cái lăng ở Ba Ðình cũng bị san bằng.

Tuy hiện nay, một số người còn bám víu lấy cái hình tượng Hồ chí Minh “vĩ đại,” “ đạo đức,” để “học tập,” “noi gương,” nhưng qua thời gian, tượng đất đã tróc lột hết lớp sơn phết, đổ nát thành một đống bùn nham nhở, để cho dân tộc thấy rõ con người vô đạo, bất lương, khát máu đã đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ chết chóc, khốn cùng.

“Vĩ đại” vì sự thần hóa qua kinh nhật tụng Ðảng Cộng Sản, kiên cố trên hình thể “xi măng-cốt sắt,” Stalin, Lenin cuối cùng cũng đã bị lịch sử lật nhào úp mặt xuống bùn, thứ “xi măng-cốt tre” của những thần tượng Việt Nam thì đi đến đâu!

Trong tâm trạng thương nhớ Sài Gòn, trân trọng gọi Sài Gòn bằng “Người,” ông Nguyễn Ðình Toàn đã viết, “Ta mất Người như Người đã mất tên!” Ông tin tôi đi. Tên Sài Gòn vẫn còn, và Sài Gòn sẽ mãi mãi của chúng ta, không mất đâu!



View My Stats