Sunday, 29 March 2015

Những điều trông thấy (TTXVA BIÊN TẬP)





Published on March 29, 2015   

Cậu bé Bill Clinton 16 tuổi


Ngày 24 tháng 7 năm 1963, một cậu bé 16 tuổi ở bang Arkansas, tên là Bill Clinton, đã được diện kiến tổng thống John F. Kennedy tại White House. Tổng thống John F. Kennedy đã thân mật bắt tay cậu bé.
Ba mươi năm sau, cậu bé Bill Clinton trở thành vị tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ.

Hồi tưởng giây phút được bắt tay tổng thống John F. Kennedy 30 năm trước, tổng thống Bill Cinton nói:
“Giây phút đó gây một tác động sâu sắc trong tôi. Tôi nghĩ rằng giây phút đó là một điều gì tôi luôn luôn mang theo, và tôi rất may mắn vì có một người nào đã chụp ảnh giây phút đó và cho tôi bức ảnh để tôi có thể tưởng nhớ.”
(It had a very profound impact on me… I think that it was something that I carry with me always, and I was very fortunate that someone took the photo of it and gave it to me so I was able to remember it.)

Giây phút đó đã được thu vào phim tài liệu của White House và hiện nay đã được chiếu lại trên Youtube để cả thế giới có thể xem.

Cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi


Ở Việt Nam, cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi, mới học lớp 11, đã đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1988 tại Canberra. Năm sau đó, một lần nữa cậu lại đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1989 tại Braunschweig. Sau kỳ tích này, thần đồng toán học đã phải đến báo cáo thành tích với ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười với tư thái như thế.

Ông Đỗ Mười (trình độ học vấn như thế nào thì ai cũng biết cả rồi!) ngồi chễm chệ trên ghế dựa, mắt không nhìn cậu bé Ngô Bảo Châu. Trong khi đó, cậu bé thần đồng toán học đứng khép nép rụt rè báo cáo về những điều mà ông Đỗ Mười không bao giờ hiểu nổi.

Trong tuần qua, tấm hình này đã được đăng lại trên rất nhiều báo ở Việt Nam. Dưới tấm hình,

báo Vietnamnet ghi:
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khi đó là Đỗ Mười, sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.

Báo Tuổi Trẻ ghi:
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với nguyên Thủ tướng Đỗ Mười sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.

Báo Bình Định, Cơ quan của Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Bình Định, ghi:
Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với lãnh đạo Đảng.

Tôi muốn hỏi: Tại sao một cậu bé thần đồng toán học lại phải báo cáo thành tích cho một ông lãnh đạo Đảng (mà chính ông ấy lại là một kẻ dốt toán)?

Cái thái độ quan liêu dửng dưng của ông lãnh đạo Đảng chứng tỏ rằng Đảng không hề quan tâm đến toán học hay khoa học gì cả. Đảng chỉ quan tâm đến những thành tích mà cậu bé thần đồng đạt được. Cái trò này chỉ là cái trò chực giành lấy thành tích của một cá nhân làm thành tích của Đảng.

Bình thường, học sinh Việt Nam sống đói rách, học hành nhếch nhác trong một hệ thống giáo dục tệ hại ra sao, thì ai cũng biết, nhưng Đảng mặc kệ. Đợi đến khi có một ai đạt thành tích gì to lớn, thì Đảng vội vàng vơ lấy, theo kiểu “nhờ ơn Đảng mà mày mới được thế này!”

Trò này cứ tái diễn mãi. Ai cũng biết cả rồi.

-------------

Ngô Minh Hằng cảm tác :

Cậu học trò Clinton mười sáu tuổi
Dẫu thông minh nhưng chưa phải thần đồng
Tòa Bạch Ốc, một chuyến thăm, cậu tới
Cậu được hân hoan lịch sự chào mừng

Đón cậu học trò, mầm xanh tổ quốc
Bằng ân cần, bằng thân ái gửi trao
Vị Tổng thống, uy quyền cao nhất nước
Cậu đến nơi, ông đứng, bắt tay chào!

*

Ngô Bảo Châu cũng năm mười sáu tuổi
Đạt giải năm châu toán học, thần đồng
Bộ trưởng Đỗ Mười noi theo LUẬT ĐẢNG
Bảo cậu tường trình thành quả lên ông

Ngồi trên ghế, ông lạnh lùng, quan cách
Không bắt tay và cũng chảng mời ngồi
Cậu bé rụt rè, chắp tay, cúi mặt
Tội nghiệp thần đồng nước Việt Nam tôi!!!

Tác giả : Ngô Minh Hằng






[Singapore] - Thi ca và phát triển (Lê Phan)





Lê Phan
Saturday, March 28, 2015 1:38:43 PM

Cố Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã có lần bảo với nhân dân Singapore, “Thi ca là một món xa xỉ phẩm chúng ta không thể có được.” Thực ra theo lý luận của ông Lý, không những thi ca mà ngay cả đến những quyền căn bản nhất của nhân dân Singapore cũng là thứ yếu cho mục tiêu phát triển kinh tế.

Lời tuyên bố cũng xin thêm được đưa ra trong những ngày khó khăn nhất của thị quốc, khi Singapore bị buộc phải đứng một mình sau khi phải rút lui khỏi liên bang Malaysia. Và cũng phải nói là ở một khía cạnh nào đó ông nói đúng. Một quốc gia chỉ bằng một thành phố, với dân số hổ lốn, không có khối nào đa số, Singapore vào cuối thập niên 1960 không biết rằng mình có tồn tại nổi không chứ đừng nói đến phát triển.

Không ai chối cãi cái công của ông Lý cho Singapore. Như Thông Tấn Xã Reuters nhận xét, thành quả chính của ông Lý là ông đã làm cho Singapore giàu có. Giữa những năm từ 1965 khi một thành phố vốn là một hải cảng tiếp tế cho đế quốc Anh khởi đầu hành trình đầy bất trắc như là một quốc gia độc lập sau khi bị trục xuất khỏi Liên bang Malaysia và năm 2011 khi ông Lý rút lui khỏi nội các của con mình, lợi tức đầu người ở Singapore đã tăng 90 lần.
Dưới sự cai trị của dòng họ Lý, bởi Thủ Tướng Goh Chok Tong thì tuy không cùng họ nhưng cũng là đàn em, Singapore đã ra khỏi giai đoạn biến động sau Đệ Nhị Thế Chiến trở thành một nền kinh tế thành công nhất, một sự tập hợp của chính quyền độc tài, những cái vỏ dân chủ, một thị trường tự do, đã được một số người tiên đoán sẽ là khuôn mẫu cho phát triển và ổn định trong thế kỷ này. Và dĩ nhiên chính sách của Singapore với báo chí đang được lập lại trên toàn vùng Đông Nam Á.

Singapore được nói là một trong những quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới. Nhưng không có báo chí theo dõi và kiểm soát, ai kiểm soát chính phủ, ngoài chính phủ ra.

Trong khi những lời ca ngợi từ khắp thế giới được phổ biến, chúng ta đừng quên là ông Lý và gia đình ông đã thành công qua một loạt những vụ kiện chống lại báo chí ngoại quốc và trong nước, vốn đã dám ngầm ý nói đến gia đình trị hay hành vi sai trái nào của chế độ ông Lý, một chế độ rõ ràng là độc tài.

Suốt mấy chục năm qua, ông Lý đã kiện và thắng kiện vô số vụ tại tòa án ở Singapore cũng như dàn xếp ngoại tòa, đối với báo chí, báo chí ngoại quốc lẫn trong nước, kể cả tờ International Herald Tribune, the Wall Street Journal, the Far Eastern Economic Review, thông tấn xã Bloomberg, và tạp chí The Economist. Ấy là chưa kể nhiều nhà báo ngoại quốc đã bị từ chối chiếu khán nhập cảnh.

Nhà báo Murray Hiebert của the Far Eastern Economic Review chẳng hạn, người đã từng bị Hà Nội từ chối không chịu gia hạn chiếu khán, trong nhiều năm phải tường thuật về Singapore từ Kuala Lumpur vì chính quyền từ chối không cho nhập cảnh. Ông Hiebert đã từng bảo với các bạn đồng nghiệp là “Singapore còn khó nhá hơn Hà Nội nữa.”

Cũng dễ hiểu thôi khi bộ trưởng Thông Tin, Truyền Thông và Nghệ Thuật của Singapore K. Bhavani, đã thản nhiên giải thích, “Nhiệm vụ của nhà báo hay của báo chí ở Singapore không phải là đề cao vấn đề, hay vận động ủng hộ hay chống đối lại chính phủ.” Hai ông Bob Dietz và Shawn W. Crispin của CPJ đã phải hỏi. “Vậy việc đó là việc của ai thế?”

Một nhà báo và nhà văn Singapore đã sống lưu vong ở Hoa Kỳ suốt 22 năm nay, bà Cheryl Lu-Lien Tan giải thích lý do tại sao phải sống lưu vong: “Nếu tôi muốn làm một nhà văn và nhà báo, tôi muốn làm công việc đó ở một xứ sở nơi tự do ngôn luận là một quyền được mạnh mẽ bảo đảm.”

Bà Tan công nhận, “Chính vì viễn ảnh của ông và luật lệ của ông mà sau cùng đã làm cho quốc gia này sạch sẽ, xanh tốt và siêu hiệu năng. Chả trách mà có người đã từng đùa bảo Singapore là 'công ty điều hành tốt đẹp nhất thế giới.’ Hay như nhà văn William Gibson đa có lợi gọi Singapore là ‘một Disneyland có án tử hình.’”

Bà Tan cũng nói bà vô cùng tự hào về nền kinh tế tiểu long, một hãng hàng không được quốc tế tín nhiệm, đường sá sạch sẽ, và rằng ở nhiều nơi, những hàng cây đặt đều đặn cách nhau được tỉ mỉ chăm sóc cắt tỉa. Nhưng đồng thời nay bà lại đang ở New York, xa quê hương yêu dấu, bởi vì bà không có tham vọng trong y khoa, tài chánh, luật hay là bất cứ một con đường sự nghiệp có ích lợi nào đã khiến bà cảm thấy mình như một kẻ bị xua đuổi tại quê nhà, và đẩy bà đi xa hơn nữa. Bà bảo cũng may là bố mẹ mình có đủ tinh thần “cấp tiến” để cho phép bà chọn con đường mình muốn, trong một gia đình đầy công chức, y tế, nhiều giám đốc của các công ty đa quốc, chỉ có bà là nhà văn duy nhất. Dĩ nhiên, bà nói thêm, đã có những nhắc nhở là có lẽ nên kiếm một công việc ổn định hơn như public relations!

Dẫn lời nhà điện ảnh, hí họa và văn sĩ Colin Goh, bà nói là nếu ở Singapore thì sẽ chỉ thấy thêm tức giận. Ông Goh và bà vợ Yen Yen Woo đã chỉ ra một ảnh hưởng đáng buồn cho sự cứng ngắc của thế hệ những người sáng tác sống dưới chế độ ông Lý, đó là mọi tác phẩm của họ đều là về ông Lý, chống hay không chống.

Thông tấn xã Reuters thì nhắc đến sự việc là trong khi thị quốc này chuẩn bị chào đón năm thập niên độc lập, dân chúng Singapore đang có đà bất ổn trong dân số. Với chỉ vỏn vẹn có 3.3 triệu dân, hầu hết thế hệ trẻ của nhóm thiểu số người Hán và người Ấn và người dân Malay là bản xứ, đã ngày càng nghi ngờ về quyết định theo đuổi phồn vinh mà đại diện là chính là ông Lý, vốn xuất thân từ Hoa Lục.

Tuy Singapore đã giảm thiểu chống đối qua phát triển nhưng sự chống đó không phải đã được dẹp hết. Trong khi đó dân chúng còn bất mãn vì nhiều vấn đề khác nữa: Hố phân biệt giàu nghèo gia tăng, giảm tiền lương địa phương qua việc nhập cảng công nhân; thành phố quá chật hẹp rồi; và giá nhà tiếp tục tăng khiến các sinh viên sắp ra đời không thể nào có triển vọng sở hữu nhà riêng cho mình.

Ngày nay, công dân Singapore, học vấn cao hơn, và giàu có hơn “yêu cầu chính phủ hãy nới lỏng hầu bao và hãy đừng bảo với họ, như luận điệu của ông Lý, là nhà nước biết làm cái gì tốt cho bạn.” Ngay cả những vị dân cử trong Đảng Nhân Dân Hành Động, cũng đã kêu gọi một kiểu tư bản chủ nghĩa dễ thương hơn để giảm bớt sự bất mãn.

Ông Lý sẽ được nhớ đến như là cha già của dân tộc, một chính trị gia lão luyện đã học chính trị chống lại chế độ thuộc địa. Một số sẽ nhớ ông như là một lãnh tụ được tôn trọng hơn là kính yêu, người mà tinh thần thực tế đã biến một tiền đồn của đế quốc Anh thành một đô thị giàu có và một trung tâm thương mại toàn cầu. Cũng có những người sẽ nhớ ông như là người đã lớn tiếng bênh vực “giá trị truyền thống Á Châu” và mạnh mẽ chỉ trích dân chủ kiểu Hoa Kỳ. Tất cả đều đúng và đã tả được một phần của con người ông ta. Nhưng thêm vào đó, tờ Foreign Policy đề nghị phải nói, “Ông Lý là nhà độc tài thành công nhất lịch sử.”
Sở dĩ ông Lý thành công là vì ông đã thực sự tạo nên một quốc gia phồn thịnh từ một mẩu đất không có tài nguyên thiên nhiên, không có cả đến một dân tộc thuần nhất. Dân chúng Singapore, ngay cả những người như nhà văn Tan thấy rõ phẩm chất của cuộc sống của mình cải thiện mỗi năm. Một số các nhà chính trị học ca ngợi chính sách dùng kinh tế để duy trì quyền cai trị của Trung Quốc, nhưng so với Singapore của ông Lý thì Trung Quốc thua xa. Chả thế mà Hoa Lục đã gửi nhiều viên chức đi nghiên cứu chính sách của thị quốc này và nhập cảng bất cứ cái gì mà họ nghĩ sẽ thành công.

Hơn thế Singapore đạt được tiến bộ vượt mực về kinh tế mà không bị nạn tham nhũng hoành hành. Tính thực tế của ông Lý còn biểu hiện qua việc trả lương cho công chức. Ông trả lương cho họ thật cao để bảo vệ liêm khiết cho họ cũng như để giữ người tài.

Nhưng “con người đâu chỉ sống bằng bánh mì.” Nếu ông Lý có thể tạo nên một quốc gia ít phát triển hơn nhưng còn có chỗ đứng cho thi ca thì hay biết mấy.






50 năm nhìn lại Phong Trào Du Ca Việt Nam (Trịnh Thanh Thủy)





Trịnh Thanh Thủy (ghi)     
Saturday, March 28, 2015 4:59:43 PM

Tôi đến với Phong Trào Du Ca Việt Nam, Bắc California, vào chiều thứ Bảy 21 tháng 3. Thính phòng Le Petit Trianon Theater ở San Jose, chiều nay hân hoan được đón tiếp những tâm hồn yêu du ca từ các ngả đường về tham dự. Những đoàn viên du ca ăn mặc trang trọng, sẵn sàng cho buổi trình diễn của Ngày Truyền Thống kỷ niệm Nửa Thế Kỷ Du Ca.”

Các thành viên Du Ca chụp hình lưu niệm. (Hình: Trịnh Thanh Thủy cung cấp)

Ban Tổ Chức gồm có nhạc sĩ Nguyên Nhu, Luật Sư/Nghị Viên Nguyễn Tâm, Kiến Trúc Sư Bách Phi, nhà báo Huỳnh Lương Thiện và nhiếp ảnh gia Trương Xuân Mẫn. Có cả sự góp mặt của đoàn Du Ca Nam California như Hoàng Bích Hạnh, Ngọc Anh, Phan Huy Đạt và Hà Tường Cát.

Sau khi nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tạ thế, Đoàn Du Ca San José được thành lập khoảng 4 năm gần đây do anh Trương Xuân Mẫn làm Trưởng Đoàn. Anh nguyên là cựu đoàn phó của đoàn Du Ca Đà Nẵng vào năm 1970. Sau 41 năm, anh đứng ra gầy dựng lại một nhánh nhỏ trong năm cành cây hoa trái Du Ca (huy hiệu Du Ca), đó là Đoàn Du Ca San José. Đoàn gồm một số cựu Du Ca viên như Luật Sư Nguyễn Tâm, nhạc sĩ Nguyên Nhu, MC Mây Lan và một số đoàn viên mới trong đó có ca sĩ Đồng Thảo. Tất cả khoảng 20 người. Đoàn họp mặt mỗi tháng 1 lần và có góp tiếng hát trong các sinh hoạt cộng đồng. Đoàn cũng tổ chức các Ngày Truyền Thống Du Ca mỗi năm một lần.

 “Im lặng là đồng lõa” - chủ đề của buổi sinh hoạt chiều nay.

Tôi tự hỏi “Tại sao im lặng là đồng lõa?” Tiếng hát vang vang của đoàn du ca đã trả lời câu hỏi trong đầu tôi.

“Khi chúng ta quay lưng im hơi/Khi chúng ta không buông thành lời/Bọn mưu toan, bọn gian ác quái vật lên ngôi/Khi chúng ta yên thân phận mình/Khi chúng ta không ai thật tình/Là kéo dài một cuộc sống trăm ngàn điêu linh.” (Im lặng là đồng loã/Nguyễn Đức Quang)
Họ đứng đó, hát những lời như tâm sự gởi trao, những câu tình tự dân tộc, dào dạt tình người. Có bài hát mới sáng tác gần đây như bài “Trái tim Việt Nam” và “Người Anh Du Ca” của Luật Sư Nguyễn Tâm.

“Một buổi sáng rất sớm, người anh tôi ra đi/Về bên kia sông, đi tìm ánh mặt trời/Một tiếng khóc chới với, tìm đâu trong hư vô/Người yêu Quê Hương, chờ mong sao anh đành chia xa!” (Người Anh Du Ca)

Bài hát khiến tôi rưng rưng. Đó những tiếng khóc của anh em du ca đưa tiễn người anh cả Nguyễn Đức Quang về với mẹ với cha... Lời du ca vang xa, hẹn anh em tôi, Việt Nam mai ta cùng vẻ vang. Anh Nguyễn Tâm trong những phút thương tiếc vô cùng đã thay anh em du ca nói lời chia biệt cùng anh Nguyễn Đức Quang. Anh Nguyễn Tâm theo đoàn Du Ca Trung Ương từ năm 16 tuổi, 17 tuổi anh vào đoàn Du Ca Đà Nẵng và sau sinh hoạt với Du Ca Sài Gòn. Khi đoàn Du Ca San José thành lập anh đã sát cánh với anh trưởng đoàn Trương Xuân Mẫn hỗ trợ và sinh hoạt rất nhiệt tình.

Họ đứng đó, những người con Việt tha hương cùng hát, cùng trải những lời tâm huyết vào không gian, cùng góp lửa cho những trái tim hãy còn bầu máu nóng trào dâng. Có bài đã xưa lắm, từ những thập niên 60,70, mà nghe như mới viết cho Việt Nam đang trong thời đại đất nước nhiễu nhương hiện nay như, “Đến với quê hương tôi“của Bùi Công Thuấn, “Hát để nhớ đời” của Trần Đình Quân.
Họ, người trên sân khấu, người dưới sân khấu, kêu gọi nhau hát, tự động hát, cùng vỗ tay với khuôn mặt hân hoan và nụ cười tươi nở. Họ hát những lời tha thiết như trăn, như trở, như niềm uất ức đang bùng phát.

“Tuổi trẻ chúng tôi đã bao nhiêu năm/ lần lượt đi trên dàn lửa thiêu... Sao chúng tôi không có quyền lên tiếng nói/ tìm cuộc đời, đời đáng sống/ tìm về nguồn, nguồn quê hương/ bao nghìn năm anh dũng. Sao chúng tôi phải gục đầu, phải gục đầu mà hy sinh cho ngoại quyền/ mà hy sinh cho chủ nghĩa, cho danh từ rỗng không...”(Tuổi Trẻ Chúng Tôi/Giang Châu)

Tôi thấy nhói lòng. Bài hát này Giang Châu viết từ năm 1972 cho tuổi trẻ hai miền Nam Bắc, lúc ấy đang trong cảnh chinh chiến, tương tàn. Sau 43 năm, tuổi trẻ Việt Nam bây giờ làm gì, có thao thức những điều mà Giang Châu bộc lộ thời đó không? Tiến Sĩ Alan Phan, người có hơn 25 năm làm việc ở nhiều quốc gia trên thế giới, người Việt đầu tiên đưa một công ty lên sàn chứng khoán, nhận xét, “Tại các nước phương Tây hoặc Nhật Bản, hình ảnh chúng ta thường thấy trên xe buýt, tàu điện ngầm hay ngay cả trên đường phố là hình ảnh các bạn học sinh, sinh viên say sưa với cuốn sách trên tay. Ở các nước Âu-Mỹ, thời gian rảnh sinh viên họ thường ngồi trước computer đọc tin tức, tìm thông tin hay đọc sách. Còn sinh viên Việt Nam, họ đang bận ‘ngồi đồng’ chém gió, tại các quán cà phê, trà đá.”

Tuy nhiên, ta vẫn thấy những tuổi trẻ Việt Nam sáng suốt và bất khuất, không chịu im lặng, làm ngơ trước những vi phạm lãnh thổ của Trung Cộng, cũng như chuyện Trung Cộng bắn phá tàu đánh cá của người Việt Nam. Họ không gục đầu trước sự nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam, mà đứng lên thể hiện lòng yêu nước của mình như Việt Khang, Lê thị Công Nhân, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha....

Có phải tiếng lòng thao thức của những nhạc sĩ Du Ca như Nguyễn Đức Quang, Giang Châu ngày nào, nay vẫn sáng chói sau nửa thế kỷ thăng trầm của đất nước Việt Nam?

Họ đứng đó, hát những bài mang lời tích cực, hăng hái, những quyết tâm phục vụ tha nhân, xây dựng xã hội lành mạnh, bảo tồn tinh hoa văn hóa Việt Nam. Tôi tự hỏi họ là ai, sao lý tưởng làm vậy? Họ là những hậu bối của Phong Trào Du Ca Việt Nam do hai nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và Đinh Gia Lập thành lập vào năm 1966 tại miền Nam Việt Nam.

Tôi nhận thấy một phần lớn các đoàn viên của Phong Trào Du Ca đều xuất thân từ phong trào Hướng Đạo Việt Nam nên không ít thì nhiều các Tôn Chỉ và mục đích hướng thượng của Du Ca và Hướng Đạo gần gần như nhau.

Mục đích của Hướng Đạo là giáo dục bổ túc cho giáo dục gia đình và học đường. Giúp thanh thiếu niên rèn luyện tính khí, tháo vát, để có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh, chuẩn bị để trở thành những công dân tốt, có trách nhiệm, biết trọng danh dự, hữu ích cho xã hội.

Trong khi Du ca là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng. Tôn chỉ của họ là “Dùng tiếng nhạc lời ca qua những sinh hoạt cộng đồng, công tác xã hội tạo môi trường lành mạnh và sáng tạo cho giới trẻ hoạt động. Mục đích đem những những trái tim lại gần với nhau để cùng phục vụ cho quê hương Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ.”

Kim chỉ nam của hai phong trào đều là đào tạo những con người tốt có lòng nhân ái, biết trọng danh dự, trách nhiệm, giúp đỡ tha nhân và xã hội. Cái khác là Du Ca hát nhiều hơn vì Du là đi khắp nơi, ca là ca diễn. Du Ca là đi khắp nơi để ca diễn ( nói chung là làm văn nghệ ) Nhằm mục đích phổ biến tinh thần cộng đồng. Chỉ cần một cây đàn Guitar, những lời hát giản dị nhưng rất lành mạnh, tích cực và những tâm hồn yêu cái đẹp, cái thiện là Du Ca có thể đi bất cứ nơi đâu và đi cả vào lòng người. Có những bài hát của Hướng Đạo vẫn được hát bên Du Ca và ngược lại.

Sinh hoạt Du Ca chiều 21 tháng 3 tại San Jose. (Hình: Trịnh Thanh Thủy cung cấp)

Nhớ lại ngày xưa, như một con sâu hóa bướm Du Ca thoát thai từ Ban Trầm Ca sau thành Du Ca. Trong bài viết của Nguyễn Đức Quang “Già Cơ” viết về Nguyễn Đức Quang “Du Ca,” ông có kể lại đêm ra mắt Phong Trào Du Ca: “Hoàng kim Châu kể lại ... Ngày 19 tháng 12 năm 1966 là ngày thành lập Phong Trào Du Ca. Đêm hôm đó tại giảng đường Spellman, rất đông quan khách, giáo sư, sinh viên và một số đông đồng bào Đà Lạt đã đến để nghe những sinh viên của trường hát với một bầu không khí vui khỏe, đầy ý thức và tình tự dân tộc. Trong cái lạnh cắt da của Giáng Sinh Đà Lạt, những ánh đuốc bập bùng kéo dài từ cổng Viện vào đến giảng đường do những anh sinh viên mặc đồ đen cầm đuốc soi đường. Ban tổ chức là một số anh chị em tự nguyện của trường Chính Trị Kinh Doanh Khóa I như Trần Văn Chang, Trần Văn Hùng, Trần Phú Hữu, Nguyễn Quang Tuyến, Trần Trọng Thức, Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Trần Tiễn Tuấn, và các chị Trần Khánh Tuyết, Hoàng Lan Anh, Bùi Ngọc Nga ... Ngoài các thành viên sáng lập phong trào, còn có sự hiện diện của các nhà thơ Đỗ quý Toàn, Trần dạ Từ, Nhã Ca, Viên Linh, Tú Kếu và nhà báo Nguyễn ngu Ý cùng các anh Hoàng Ngọc Tuệ, Đỗ Ngọc Yến, Hà Tường Cát trong giới sinh hoạt thanh niên đến dự ... Ngoài sự yểm trợ tinh thần và vật chất của cha viện trưởng, còn có sự yểm trợ rất đắc lực của anh Phương Thảo, Đào Văn Hòa giám đốc cơ quan USIS Đà Lạt. Bảy thành viên sáng lập trình diễn ca nhạc, kịch ngắn, thơ. Các nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Viên Linh, Tú Kếu đã diễn đọc những bài thơ “rất nóng” của chính họ cùng với tiếng đàn dương cầm của Thanh Thoại. Không khí ấm cúng, thân tình, chứa chan tình dân tộc qua các bài ca cổ, dân ca ba miền, và các sắc tộc, các bài nhận thức ca ... khiến cho khán giả đa số là các anh chị em sinh viên nhận thấy rằng đang có một thứ văn nghệ lành mạnh, ý thức, mời gọi, thúc giục rất hợp với tâm tình của thanh niên lúc ấy. Anh chị em sinh viên đã nhiệt tình cổ vũ khích lệ. Cũng từ đêm hôm đó, những tiếng hát lời ca của sáu chàng trai Đà Lạt và các đoàn viên Du Ca mỗi ngày một lan rộng khắp mọi miền đất nước và không một bạn trẻ nào vào thời đó lại không một lần nghe đến hai tiếng Du Ca ...”

Nhờ Phong Trào Du Ca tập trung được nhiều nhạc sĩ tên tuổi cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ nên nguồn nhạc sáng tác rất dồi dào. Đó là những nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Trần Tú, Nguyễn Quyết Thắng, Giang Châu, Nguyễn Hữu Nghĩa, Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Nguyễn Thiện Cơ, Lê Quang Dũng, Nguyễn Văn Phiên, Võ Thị Xuân Đào...

Sau đó Phong Trào Du Ca ảnh hưởng sâu rộng vào quần chúng, qua các đoàn, toán ca diễn đây đó, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể ban hướng đạo, hay Thanh Sinh Công, Gia Đình Phật Tử trong khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam. Con số Du Ca đoàn lên tới trên 34 như: Con Sáo Huế, Du Ca Áo Nâu, Du Ca Lòng Mẹ, Du Ca Trùng Dương, Du Ca Vàm Cỏ Tây, Du Ca Vàm Cỏ Đông, Hồ Gươm, Sông Hậu, Du Ca Vượt Sóng, Ca Đoàn Trung Ương, Du Ca Áo Xanh, Du Ca Giao Chỉ, Du Ca Đà Nẵng, Du Ca Kiên Giang, Biên Hòa, Du Ca Mùa Xuân, Du Ca Phù Sa, Đồng Vọng v.v...

Phong Trào Du Ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc Phong Trào Du Ca thường sử dụng là: thanh niên ca, thiếu nhi ca, sinh hoạt ca, nhận thức ca, sử ca, dân ca.. Những tuyển tập Du Ca đã phát hành như: Tuyển tập Duca 1, Duca 2, Duca 3, Những Bài Ca Khai Phá, Ta Đi Trên Dòng Lịch Sử, Những Điều Trông Thấy, Những Khuôn Mặt Duca, Hát Cho Những Người Sống Sót, Anh Hùng Ca, Sinh Hoạt Ca v.v..

Nhiều nhạc phẩm trở nên quen thuộc như “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ,” “Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương” của Nguyễn Đức Quang, “Hát Từ Tim, Hát Bằng Hơi Thở,” “Đứa Học Trò Trở Về” của Nguyễn Quyết Thắng, “Trở Về Nguyên Thủy,” “Anh Sẽ Về” của Nguyễn Hữu Nghĩa phổ thơ Khê Kinh Kha.

Sau nửa thế kỷ, những con chim đầu đàn và khai phá Phong Trào Du Ca phần lớn đã lìa bầy như Trưởng Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Quốc Văn, Nguyễn Tri Bình, Giang Châu, Huỳnh Trọng Đạt, Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Tất Nhiên, Lê Đình Điểu, Nguyễn Đức Dziên, Hồ Văn Nuôi, Nguyễn Đức Tấn, Trần Đại Lộc, Trần Đình Quân, Trầm Tử Thiêng, Lý Văn Chương, Nguyễn Thanh Hùng, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Ngọc Thạch, Ngô Mạnh Thu.... Một số còn lại vẫn còn hoạt động hay chỉ đóng vai trò cố vấn hay hỗ trợ như Hoàng Ngọc Tuệ, Hà Tường Cát, Trương Xuân Mẫn, Nguyễn Quyết Thắng, Phan Huy Đạt, Tống Hoằng, Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Quý Toàn...

Hiện nay, Phong Trào Du Ca ở hải ngoại tuy ít hơn xưa nhưng vẫn còn hoạt động như, các toán: Du Ca Về Nguồn Toronto Canada, Du Ca Đồng Vọng Canada, Du Ca Hamilton Canada, Du Ca Úc Châu, Du Ca Mùa Xuân Nam Cali, Du Ca San José Bắc Cali, Du Ca Hòa Lan, Du Ca Paris, Du Ca Paloma...

Phần lớn họ là hậu bối, những Du Ca viên thuộc thế hệ sau, nhưng vẫn còn tinh thần và bầu nhiệt huyết dưỡng nuôi. Các trưởng Du Ca xưa đã khai phá khơi nguồn cho ngọn lửa Du Ca cháy lên, Du Ca hậu bối là những người giữ lửa và bảo tồn ngọn lửa Du Ca vẫn sáng. Họ nuôi lửa, rèn luyện bản thân, rèn luyện con cháu nương theo ngọn lửa soi đường của Du Ca, quý tinh thần đồng đội, trọng trách nhiệm và danh dự, hoạt động cộng đồng, phục vụ tha nhân. Họ có ước vọng bảo tồn tinh hoa văn hóa Việt Nam và xây dựng một xã hội Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ. Tôi là một người đầu tiên đến với Phong Trào Du Ca như một người ngoại đạo nhưng đã yêu và mến phong trào. Tôi cũng ước mong nguyện vọng của họ được thành công như ý.

------------------
Tài liệu tham khảo: Phong Trào Du Ca Việt Nam.







View My Stats