Monday, 21 June 2021

CỘNG SẢN và LỊCH SỬ (Hiếu Chân - Người Việt)

 



Cộng Sản và lịch sử

Hiếu Chân/Người Việt

June 18, 2021

https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/cong-san-va-lich-su/

 

Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập vào ngày 1 Tháng Bảy sắp tới. Trong nhiều công việc chuẩn bị, có một lĩnh vực mà Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình coi trọng nhất: viết lại lịch sử của đảng và đất nước Trung Quốc nhằm đề cao những thắng lợi – nhiều phần tưởng tượng hoặc phóng đại – và che giấu những tội ác ghê tởm mà đảng đã gây ra cho nhân dân Trung Quốc suốt 100 năm qua.

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2021/06/A1-Cong-San-va-lich-su-1068x712.jpg

Trung Quốc đang tăng cường tuyên truyền rầm rộ để chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập vào ngày 1 Tháng Bảy sắp tới. (Hình minh họa: Wang Zhao/AFP via Getty Images)

 

Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cũng như các đồng đảng ở Liên Xô cũ, ở Việt Nam và một số nước khác, có truyền thống xuyên tạc lịch sử để phục vụ các mục đích chính trị trong từng thời kỳ. Những văn kiện được sửa đổi, hình ảnh bị bôi xóa, sách giáo khoa lịch sử và viện bảo tàng được chỉnh lý để ghi dấu cho đời sau những chiến công “hiển hách” chống thực dân đế quốc giành độc lập, những nhân vật anh hùng tưởng tượng sống giản dị khiêm tốn, một lòng một dạ hy sinh cho đất nước quê hương.

 

Nhưng như nhận định của tạp chí Foreign Policy, nghiên cứu lịch sử dưới chế độ Cộng Sản là “xóa bỏ lịch sử – xóa bỏ mọi dữ kiện trái với câu chuyện về thắng lợi hoàn toàn của đảng.” Không ở đâu thể hiện rõ chân lý đó hơn là công cuộc chỉnh sửa lịch sử đang thực hiện ở Trung Quốc hiện nay.

 

Cho đến thế kỷ 21, đảng Cộng Sản Trung Quốc tập trung chủ yếu vào lịch sử ô nhục của đất nước Trung Hoa dưới sự chèn ép của các cường quốc phương Tây và Nhật trong cái gọi là “Một Trăm Năm Nhục Nhã” từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, nhằm khơi dậy trong dân chúng nỗi căm thù thực dân đế quốc và ghi ơn công cuộc giải phóng của đảng Cộng Sản Trung Quốc, lập ra đời nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

 

Đài tưởng niệm, bảo tàng mọc lên như nấm sau mưa trên toàn đất nước Trung Quốc, ghi khắc bằng bê tông cốt thép câu chuyện hào hùng của đảng Cộng Sản Trung Quốc; sách giáo khoa và toàn bộ các phương tiện truyền thông đều tập trung quảng bá câu chuyện này mà không được đề cập đến những thảm cảnh mà người dân phải chịu đựng dưới sự cai trị độc tài toàn trị của đảng, dưới những chính sách “cách mạng” đầy hoang tưởng của các “lãnh tụ anh minh.”

 

Chương trình Đại Nhảy Vọt (Great Leap Forward) năm 1958-1962 dẫn tới thảm họa hàng chục triệu người chết đói; nhiều nơi người dân phải ăn thịt lẫn nhau để sống; hay cuộc Cách Mạng Văn Hóa 1966-1967 phá hủy toàn bộ nền tảng tinh thần và đạo đức của người dân Trung Hoa và thủ tiêu hàng triệu sinh mạng… đều không được đề cập công khai; nếu giới nghiên cứu thỉnh thoảng có bàn tới những biến cố lịch sử khủng khiếp này thì đều cho rằng đó chỉ là những sai lầm, khuyết điểm trên con đường cách mạng và đã được sửa chữa; người khởi xướng ra chúng, ông Mao Trạch Đông, vẫn được đảng Cộng Sản Trung Quốc đánh giá là “bảy phần công, ba phần tội.”

 

Nhà lãnh đạo có quan điểm cải cách của Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình, từng cố gắng diễn dịch lại lịch sử hiện đại Trung Quốc, không ngại phê phán một số sai lầm của cố Chủ Tịch Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa đầy thảm họa những năm 1966-1967. Nhưng Đặng không chủ tâm lật đổ Mao; hình ảnh của Mao vẫn ngự trị chính trường và xã hội Trung Quốc; chân dung của ông ta vẫn treo cao trên quảng trường Thiên An Môn.

 

Vạch ra những sai lầm của Mao là cách để Đặng lên án chủ nghĩa sùng bái cá nhân và chế độ cai trị độc tài của một “hoàng đế đỏ;” từ đó đưa ra một mô hình cai trị tập thể và thu hẹp dần sự thống trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong đời sống kinh tế-xã hội Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn năm 1989 – hàng ngàn sinh viên biểu tình ôn hòa đòi cải cách chính trị dân chủ, đã dập tắt ý định cải tổ của Đặng về phương diện chính trị và lịch sử dù ông ta vẫn nỗ lực cải cách về kinh tế và thương mại để đưa Trung Quốc khỏi tình trạng nghèo đói kinh niên dưới thời Mao.

 

Ông Tập Cận Bình đi xa hơn trong công cuộc củng cố chế độ độc tài toàn trị bằng cách tập trung quyền lực vào tay cá nhân ông và tái lập sự kiểm soát toàn diện của đảng Cộng Sản Trung Quốc, kể cả viết lại câu chuyện lịch sử Trung Quốc để thúc đẩy dân chúng ủng hộ đảng của ông. Tháng Giêng, 2013, tức là chỉ vài tuần sau khi lên làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Tập đã chỉ thị cho các cán bộ cao cấp của đảng phải cảnh giác với các thế lực thù địch đang tìm cách lật đổ đảng Cộng Sản Trung Quốc bằng cách bôi nhọ lịch sử của đảng.

 

Nhờ kinh tế phát triển mạnh dưới thời Đặng và những thập niên sau đó, Tập có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng một thứ chủ nghĩa dân tộc toàn trị, lấy đảng Cộng Sản Trung Quốc làm trung tâm, để chống lại trào lưu dân chủ hóa đang dâng trào như thác lũ trong thế kỷ 21.

 

Tháng Tư, 2013, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng này đã cho lưu hành một tài liệu mật có tên “Thông cáo về tình trạng hiện hành của ảnh hưởng ý thức hệ” (Communique on the Current State of the Ideological Sphere), gọi tắt là tài liệu số 9. Cũng như mọi văn kiện quan trọng của đảng, toàn bộ đảng viên, cán bộ phải học tập và áp dụng vào công việc của mình.

 

Văn kiện nhấn mạnh tới việc khẳng định sự đúng đắn của đảng về ý thức hệ, yêu cầu giới truyền thông và mọi cơ quan phải tuân thủ đúng đường lối; ngăn chặn việc “đặt vấn đề sự thật lịch sử” mà phải tin vào quyết định của đảng đối với các sự thật đó. Lần đầu tiên, văn kiện này đưa ra khái niệm “chủ nghĩa hư vô lịch sử (historical nihilism): “Mục tiêu của chủ nghĩa hư vô lịch sử là núp bóng cái gọi là đánh giá lại lịch sử để bóp méo lịch sử đảng và lịch sử nước Trung Quốc mới,” văn kiện viết.

 

Từ đó lịch sử Trung Quốc hiện đại là câu chuyện do đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa ra theo chỉ đạo của ông Tập Cận Bình, trong đó đảng Cộng Sản Trung Quốc là vị cứu tinh đưa dân tộc Trung Hoa thoát khỏi nỗi ô nhục trăm năm, xây dựng nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và đang trên đường thực hiện “giấc mộng Trung Hoa,” trở thành cường quốc thống trị thế giới.

 

Những tội ác của đảng này cơ hồ đã được gột sạch khỏi sách vở, truyền thông, sâu xa hơn là loại ra khỏi ký ức của người dân Trung Quốc. Sách vở không nói tới, và việc tìm kiếm thông tin trên mạng trực tuyến về những biến cố gắn liền với tội ác của đảng Cộng Sản Trung Quốc đều bị ngăn chặn triệt để đã làm cho những thảm họa đó phai tàn dần trong trí nhớ của người dân, nhất là khi các thế hệ chứng kiến hoặc nạn nhân của thảm họa đã qua đời mà không thể truyền lại ký ức cho con cháu.

 

Vụ thảm sát Thiên An Môn chấn động địa cầu mới xảy ra chưa lâu (Tháng Sáu, 1989) chẳng hạn, gần như không người trẻ nào của Trung Quốc lục địa còn biết tới, đến nỗi nhà nghiên cứu Lousia Lim phải đặt tên cho công trình khảo cứu về vụ Thiên An Môn của mình là “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Quên Lãng” (The People’s Republic of Amnesia) – cuốn sách được tuần báo The Economist bình chọn là xuất sắc nhất năm 2014.

 

Hai năm trước, ông Tập cho thành lập Viện Hàn Lâm Lịch Sử với nhiệm vụ “chỉnh đốn quan điểm về lịch sử,” chuẩn bị cho đại lễ 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc. Một trong những công việc chính của viện là chỉnh sửa bộ sách “Lịch sử tóm tắt đảng Cộng Sản Trung Quốc,” xuất bản hồi Tháng Hai, 2021, dùng làm tài liệu học tập trong đảng và trong hệ thống trường học Trung Quốc.

 

Trong bản sửa đổi này, các chương sách “những bài học lịch sử không nên quên” dưới thời Mao như cuộc Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa – hàng loạt vụ thanh trừng “các phần tử phản cách mạng” tàn phá xã hội Trung Quốc và hàng triệu người chết đều bị cắt bỏ. Thay vào đó các tác giả chỉ tập trung vào những thành tích công nghiệp, công nghệ và ngoại giao dưới thời Mao.

 

Ngay cả những châm ngôn của Đặng Tiểu Bình về cuộc đổi mới Trung Quốc cũng đã bị loại bỏ, kể cả lời dạy của ông Đặng rằng Trung Quốc phải “thao quang dưỡng hối,” ẩn mình chờ thời. Một phát biểu đáng chú ý của Đặng năm 1989 về cải cách cơ chế chính trị Trung Quốc, từ bỏ sự chuyên chế cá nhân để chuyển sang tập thể lãnh đạo: “Xây dựng số phận của một dân tộc trên danh tiếng của một hoặc hai người là chuyện rất không lành mạnh, rất nguy hiểm,” cũng đã bị ông Tập cho cắt bỏ.

 

Cuốn sách 531 trang còn dành một phần tư nội dung cho tám năm cầm quyền của ông Tập trong khi chỉ dành một nửa số trang như vậy cho Đặng Tiểu Bình, vị cứu tinh thực sự của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

 

Trước ngày kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc, đích thân ông Tập đã có nhiều bài phát biểu, bài đăng báo, đòi hỏi người dân Trung Quốc “đóng gói lại quá khứ” (repackage the past) để hướng tới sự trỗi dậy của Trung Quốc.

 

Tạp chí Cầu Thị – tạp chí lý luận chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc – số 12-2021 ra ngày Thứ Tư, 16 Tháng Sáu, đã đăng trang trọng bài viết của ông Tập “nhấn mạnh nhu cầu hiểu biết lịch sử Trung Quốc, rút kinh nghiệm từ quá khứ, có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện lớn, các nhân vật quan trọng trong lịch sử của đảng và của đất nước,” theo tường thuật của hãng tin nhà nước Tân Hoa Xã.

 

“[Bài viết của ông Tập] kêu gọi các đảng viên đảng Cộng Sản Trung Quốc, công chúng Trung Quốc nói chung, hãy học tập kỹ lưỡng và hiểu biết sâu sắc lịch sử của đảng và của nước Trung Hoa mới để tiến hành lý tưởng vĩ đại của chủ nghĩa xã hội,” Tân Hoa Xã ca tụng.

 

Ngày nay Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức bên ngoài như áp lực của Hoa Kỳ và những bất đồng nội bộ chung quanh cách thức xử lý đại dịch COVID-19. Trong hoàn cảnh đó đảng Cộng Sản Trung Quốc phải ra sức dập tắt mọi ý định xét lại những tội lỗi của đảng trong quá khứ và cổ vũ cho ý tưởng rằng đảng là một lực lượng “bất khả chiến bại” đã đi qua chiến tranh và hỗn loạn để lèo lái sự trỗi dậy của Trung Quốc.

 

“Thông qua việc học tập lịch sử, sẽ không khó nhận ra rằng, không có sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đất nước và dân tộc Trung Hoa sẽ không thể có được những thành quả ngày hôm nay, không có được vị thế quốc tế ngày hôm nay,” ông Tập viết và khẳng định “Sẽ không được mơ hồ, dao động về nguyên tắc căn bản là duy trì sự lãnh đạo của đảng.”

 

Trước thời điểm bài viết của ông Tập đăng trên tạp chí Cầu Thị, báo The South China Morning Post đưa tin các cơ quan quản lý mạng Internet của nước này đã xóa bỏ hai triệu bài đăng trên mạng có nội dung thảo luận “nguy hại” về lịch sử, “đầu độc môi trường mạng” hoặc tấn công vào các nhà lãnh đạo và trái với câu chuyện chính thức của đảng về lịch sử Trung Quốc.

 

Cơ quan quản lý mạng Trung Quốc còn thiết lập “đường dây nóng” để công chúng tố giác những trường hợp “chủ nghĩa hư vô lịch sử,” tức là những bài viết, phát biểu phê phán các nhà lãnh đạo đảng, các chính sách của đảng hoặc phủ nhận “nền văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến.” Những người vi phạm sẽ bị xử phạt rất nặng theo một đạo luật an ninh mạng năm 2018.

 

Trong khi đó, cả xã hội Trung Quốc được huy động vào một chiến dịch học tập lịch sử quy mô chưa từng có từ sau thời Mao, thực chất là chiến dịch tuyên truyền về “công ơn” của đảng Cộng Sản. Các nhà hát dàn dựng những chương trình ca nhạc theo chủ đề “Không có đảng Cộng Sản, không có nước Trung Hoa Mới.”

 

Cán bộ đảng viên và sinh viên tranh nhau trong những cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng. Cơ quan kiểm duyệt soát lại sách báo sắp xuất bản để loại bỏ những câu chữ nói về tội ác độc tài của Mao. Bộ Giáo Dục đưa vào đề thi tuyển sinh đại học những câu hỏi về lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc để “hướng dẫn học sinh kế thừa mạch máu đỏ”…. Ngay cả các công ty tư nhân, văn phòng luật sư, thậm chí một đền thờ Thần Tài ở Thượng Hải cũng tổ chức các lớp học về lịch sử đảng cho nhân viên; các viện bảo tàng và đài tưởng niệm tổ chức các tour du lịch đỏ (red tourism); còn các hãng hàng không tổ chức hát tập thể và đọc thơ trên các chuyến bay về đề tài lịch sử đảng…

 

Các quan sát viên Trung Quốc và nước ngoài đều bình luận sự phục hồi các quan điểm cộng sản về lịch sử, phục hồi cung cách tuyên truyền thời Mao Trạch Đông hiện nay là nhằm giúp ông Tập Cận Bình biện minh cho chính sách độc tài cá nhân của ông ta và hợp pháp hóa tham vọng làm lãnh đạo trọn đời thay vì hai nhiệm kỳ trong cuộc đại hội sắp tới của đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm sau 2022.

 

Ông Cao Văn Sảnh (Gao Wenqian), nhà sử học của đảng Cộng Sản Trung Quốc, người viết tiểu sử Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trước khi đào thoát sang Hoa Kỳ sau vụ thảm sát Thiên An Môn, nhận xét: “Mục đích [của việc viết lại lịch sử] là nhằm bảo đảm sự tồn tại của đảng Cộng Sản Trung Quốc và củng cố sự cai trị cá nhân vào thời điểm đang có những sự thay đổi chóng mặt trong tình hình quốc tế.”

 

Một số nhà sử học Trung Quốc phản đối việc viết lại lịch sử để phục vụ mưu đồ chính trị. Một giáo sư nổi tiếng ở Bắc Kinh đã từ chối lời mời của Viện Hàn Lâm Lịch Sử mời cộng tác trong dự án viết lại “Lịch sử tóm tắt của đảng Cộng Sản Trung Quốc” vì cho rằng “Họ đã không theo con đường nghiên cứu học thuật. Những người này làm chuyện này [sửa đổi lịch sử] chỉ để kiếm tiền và thăng quan tiến chức,” ông nói. Nhưng cho đến nay chưa có gương mặt nổi bật nào công khai phản đối việc xuyên tạc lịch sử mà đảng Cộng Sản Trung Quốc đang ráo riết thực hiện nhân kỷ niệm 100 năm thành lập.

 

Những chuyện đang xảy ra ở Trung Quốc cũng có ở Việt Nam, do hai nước theo cùng một ý thức hệ Cộng Sản. Ở Việt Nam lịch sử là do “bên thắng cuộc” nhào nặn theo ý đồ chính trị của họ. Trong cái lịch sử giả tạo ấy, những tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam với đất nước, với dân tộc đều bị bôi xóa và các thế hệ sau sẽ không bao giờ còn biết tới.

Vụ “cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim hồi Tháng Tám, 1945, cuộc thanh trừng các đảng phái quốc gia năm 1946, cải cách ruộng đất làm hàng trăm ngàn người chết và hủy diệt nền tảng văn hóa của xã hội miền Bắc những năm 1953-1955, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm 1958-1960, vụ “Xét lại chống đảng” năm 1956 và cao điểm là cuộc xua quân xâm lược miền Nam 1959-1975… hoặc đều bị xóa khỏi ký ức hoặc được biện minh bằng những lời lẽ hoa mỹ “giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.”

 

Trong cả nước sau ngày hòa bình, những tội ác đày đọa hàng triệu quân dân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cải cách công thương nghiệp và cướp tài sản qua ba lần đổi tiền, chính sách đưa dân thành thị đi ra vùng kinh tế mới, đối xử kỳ thị bằng chủ nghĩa lý lịch, ép buộc hàng triệu người phải vượt biển tìm đường sống… đều không được đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thừa nhận dù họ luôn rêu rao hòa hợp hòa giải.

Bị nhồi sọ trong một thứ lịch sử giả tạo đó, thế hệ trẻ trong nước đang mất phương hướng, trở thành những con thiêu thân cho ý đồ của đảng. Tương lai của dân tộc thật là mờ mịt.

 

Ở hải ngoại, một số học giả và nhà nghiên cứu tâm huyết, như các ông bà Trần Gia Phụng ở Canada, Lê Mạnh Hùng ở Anh, Lê Xuân Khoa, Vũ Tường, Liên Hằng ở Hoa Kỳ vẫn nỗ lực tìm hiểu và viết lại lịch sử Việt Nam theo tinh thần khoa học, khách quan hơn. Công trình nghiên cứu lịch sử của họ, cùng với những trước tác đã xuất bản ở miền Nam trước năm 1975 như hồi ký của các cụ Trần Trọng Kim, Cao Văn Luận, Hoàng Văn Chí, biên khảo của Tạ Chí Đại Trường và nghiên cứu của nhiều học giả Mỹ, Pháp, Đức có thể giúp “đính chính” lại những sự bóp méo, xuyên tạc của đảng Cộng Sản ở trong nước.

 

Đây là những học giả tư nhân, kiến giải của họ có chỗ đúng có chỗ cần thảo luận thêm nhưng dứt khoát không phải là việc bóp méo lịch sử theo những yêu cầu chính trị của kẻ cầm quyền. Những nỗ lực như vậy cần được ủng hộ và nhân rộng. [qd]

 

 

 


VIỆT NAM : KHI CHÍNH QUYỀN BỊ NHIỄM "VIRUS THÀNH TÍCH" (Nguyễn Long Chiến)

 



Việt Nam: Khi chính quyền bị nhiễm “virus thành tích”

Nguyễn Long Chiến

June 21, 2021

https://saigonnhonews.com/article-can-promote/viet-nam-khi-chinh-quyen-bi-nhiem-virus-thanh-tich/

 

Hình : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2021/06/200896647_10220065297963848_1868620668731104943_n-750x430.jpg

 

Chuyện Việt Nam nói hoài không hết: mới đây, một tòa án cấp huyện “vẽ” ra 59 vụ án ảo để lấy thành tích báo cáo thi đua. Thành tích, người ta hay gọi nó là bịnh, bây giờ lây nhanh không thua Covid-19.

 

Trong lúc thành phố Sài Gòn chủ trương giãn cách thì cũng thành phố làm lễ ra quân chích ngừa vaccine rầm rộ. Tập họp đông người không là “mồi” cho virus chắc? Chích ngừa là lo cho sức khỏe nhân dân. Cần phải biểu dương lực lượng để nhân dân thấy nhà chức trách yêu thương nhân dân? Rồi một cháu bé 5 tuổi mang một số tiền 100 triệu đồng “tiết kiệm” hai năm ra để ủng hộ quỹ mua vaccine. Nhìn cặp mắt cháu trong ảnh, tôi thấy dường như cháu có vẻ bất an: số tiền lớn như thế, ngay cả một vị bộ trưởng cũng không có để ủng hộ quỹ, huống hồ chi cháu; bất an là phải rồi. Cháu được truyền thông quảng bá như một “Phù Đổng Thiên Vương” thời đại dịch. Trẻ con tuổi cháu có em còn phải đi bán vé số không đủ ăn để sống. Tiền tiết kiệm “to” như thế chỉ có thể nhờ… “Thánh Gióng” độ trì.

 

Theo tôi, bịnh thành tích xuất phát từ hai yếu tố: tự tôn và tự ty. Vì tự ti, người ta mới yêu thích thành tích – thành tích càng to, tự tôn, tự ti càng lớn. Thành tích là lẽ sống còn trong chốn quan trường? Đố ai thăng tiến nếu không có thành tích.

 

Ban đầu, thành tích là để đo lường khả năng cống hiến cho xã hội của mỗi con người trong guồng máy quốc gia. Càng về sau, thành tích là mục tiêu chứ không phải mục tiêu là cống hiến. Tôi thường thấy, người thật sự muốn cống hiến, hơi trớ trêu, lại là người không màng thành tích.

 

Người ta hay nói, giáo dục là máy cái của mọi cỗ máy. Máy cái nghe sao máy móc quá. Không sao. Trong học đường, sản phẩm của máy cái, thành tích không còn là ghi nhận công lao giảng dạy và học tập mà trở thành những con số “ám ảnh” không những trò lẫn thầy, ngành giáo dục, mà cả xã hội.

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2021/06/201776024_10220065298003849_639869056803024029_n.jpg

Cháu bé 5 tuổi mang một số tiền 100 triệu đồng “tiết kiệm” hai năm ra để ủng hộ quỹ mua vaccine

 

Tôi từng là học sinh rồi sinh viên, được đào tạo một thời gian gần 15 năm trong nền giáo dục thể chế VNCH. Học bạ chúng tôi có ghi điểm số, thứ hạng, cả giấy khen (gọi là bằng danh dự) của từng tháng, từng học kỳ, từng năm, từng cấp học. So sánh với các cháu học sinh và sinh viên, chúng tôi thấy việc học hành thế hệ chúng tôi không nặng nề bằng thế hệ các em sau này. Có thể học chương trình nhẹ hơn, “thấp” hơn, nhưng chúng tôi và cả thầy cô không hề bị áp lực bởi thành tích, hay vật vã với chỉ tiêu thi đua.

 

Học là học cho bản thân không phải để học cho người khác. Thành tích nếu có là ghi nhận công sức học tập mà không phải để làm điều kiện thi đua, đánh giá phẩm chất học sinh. Dạy là để cho học sinh tiến bộ như thầy, hơn thầy, chứ không phải dạy để đạt thi đua danh hiệu này kia. Mục đích tối thượng của dạy học là giúp “khai trí” học sinh. Thi đua lập thành tích không phải là mục tiêu của người thầy; tiền đồ của người thầy là tiền đồ dành cho học sinh. Thế thì cần gì phải phấn đấu trở nên “thầy giáo ưu tú”, “thầy giáo nhân dân”?

 

Học sinh học để mở mang trí tuệ chứ không phải để đạt học sinh giỏi, học sinh xuất sắc. Giỏi, xuất sắc được ghi nhận chứ không phải lấy “giỏi”, “xuất sắc” là mục đích học tập cho thành tích thi đua.

 

Máy cái sẽ đẻ ra các cỗ máy con. Giáo dục làm sao để con người không coi thành tích là tối thượng: cống hiến mới là tối thượng.

 

Giáo dục như vậy có quá lý tưởng, có là không tưởng?

 

Không đạt đến một mức độ giáo dục con người Việt Nam thành những người cống hiến – tùy theo vai trò của mình trong xã hội – thì chí ít, giáo dục cũng không thể coi thi đua lập thành tích là… “cống hiến”.

 

Người ta cho rằng thi đua lập thành tích là… yêu nước. Có chỗ nào đó “sai sai” không?

Thi đua là yêu nước. Yêu nước là thi đua. Một số người có suy nghĩ như thế. Tôi thấy hơi bất ổn. Chúng ta không thi đua nhưng yêu nước, được không? Một người chạy xe ôm mỗi ngày làm ra vài trăm ngàn; anh ta không thể “thi đua” với ai cả. Thi đua mà vắng khách thì làm sao thi đua? Anh này không “yêu nước” ư? Đưa một người gấp rút đến trạm xá băng bó vì tai nạn té xe, anh xe ôm nhận thù lao nhưng anh đã làm một việc có ích: giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn. Yêu đồng bào – tôi cho là đó là yêu nước. Anh xe ôm này không được xem là yêu nước vì không thi đua với đồng nghiệp đưa người bị nạn đi cấp cứu? Những nhân viên y tế, những bác sĩ trên tuyến đầu chống dịch, nguy hiểm tính mạng rình rập họ từng giờ từng phút. Lấy lại lẽ sống cho một người sắp chết vì Covid, ngăn chặn dịch lây lan… là cống hiến hay thi đua?

 

Mọi người ở mọi cương vị tận tâm với công việc của mình chính là cống hiến. Mục đích tận tâm vì công việc để có thành tích thi đua, điều ấy thế nào?

Khi con người làm việc mà không đoái hoài đến thành tích, họ sẽ tự do cống hiến, có thể nói nhiều hơn khi nghĩ đến thi đua.

 

Đây là điều đơn giản lại hóa ra rất phức tạp và không dễ dàng biến thành hiện thực. Tự tôn hay tự ty, tôi nghĩ, chính là thủ phạm đẻ ra thành tích. Đối nghịch với hai cái này là khiêm cung và tự tin. Không cần thành tích, người ta sẽ tự do có cống hiến nhiều hơn hay ít hơn? Tự tin và khiêm cung, tôi thấy không nhiều trong con người Việt Nam ngày nay, nhất là ở những nhà quản trị đất nước. Nếu gọi là tính cách – cho văn vẻ hơn – căn tính dân tộc, thì TỰ TÔN và TỰ TI có lẽ là phổ biến. Đây là cội nguồn của bịnh thành tích. Điều rất buồn, căn tính này vẫn không hề thay đổi như hơn 100 năm trước lúc cụ Phan Châu Trinh vạch ra: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti (*)

 

Người ta nóng lòng cải cách giáo dục bằng đủ mọi biện pháp. Có một biện pháp đơn giản không thấy nói đến: làm sao biến học sinh tự tôn, tự ti thành công dân tự tin và khiêm cung. Biết đâu hết bịnh thành tích. Chích ngừa cho người dân là một nhiệm vụ. Làm từ thiện (như góp tiền mua vaccine) là việc tự tâm. Các việc này không phải là thành tích để tự hào. Làm được như thế, người ta sẽ thấy ra, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam không nên đặt trọn vào một đội bóng đá, đá bằng chân, và một ông ngoại quốc có tên “lạ hoắc” Park Hang-seo.

 

(*) Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan Châu Trinh, Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 57-58, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005.

 

 

 

HÀ NỘI GIAN TRÁ, LƯƠN LẸO VỚI DÂN (Đỗ Ngà)

 



NỘI DUNG :

 

Người Sài Gòn trước trùng vây dịch bệnh    

Trần Tiến Dũng  -  Sài Gòn Nhỏ

.

Hà Nội gian trá, lươn lẹo với dân

Đỗ Ngà

 

==============================================

.

.

Người Sài Gòn trước trùng vây dịch bệnh    

Trần Tiến Dũng  -  Sài Gòn Nhỏ 

June 20, 2021

https://saigonnhonews.com/article-can-promote/nguoi-sai-gon-truoc-trung-vay-dich-benh/

 

Sài Gòn hiện nay là một đô thị với đa phần dân số là người trẻ, trung niên. Các thế hệ dân cư này đều chưa từng trải qua thời chiến tranh Việt Nam, và trong suốt gần nửa thế kỷ chưa từng phải đối mặt với thiên tai, dịch họa ở mức độ giết người hàng loạt như đại dịch Covid-19.

 

Khi Sài Gòn đang rối lo rầu, sợ hãi vì đợt bùng phát Covid-19 lần thứ 4, nhiều Việt sống ở nước ngoài gọi điện về thăm hỏi thân nhân. Tất nhiên Việt kiều sống ở Mỹ, châu Âu… đều từng qua các đợt lây nhiễm nặng. Có quốc gia còn khủng khiếp hơn tình trạng dịch bệnh đang diễn ra ở Sài Gòn, nhưng sự quan tâm khiến họ muốn biết là nhịp sống thường ngày ở Sài Gòn lúc này ra sao?

 

Có dư luận đánh giá: về căn bản dân Sài Gòn rất đang răm rắp tuân theo các lệnh phát ra từ hệ thống chống dịch bệnh của chế độ. Nhưng có thật tất cả mọi người đều tuân lệnh, từ bỏ thói quen sống hàng ngày quen thuộc chăng?

 

Bất chấp hệ thống chống dịch cảnh báo coronavirus phát tán trong không khí; sáng 20-6, các đường nội bộ cư xá Lữ Gia vẫn có người đi bộ thể dục. Câu chuyện về tình hình dịch bệnh mà họ nói với nhau trong thời cách ly phong tỏa y như trước năm 1975 bàn tán về tin nóng chiến sự. Người này lặp lại cho người kia nghe bất kể người kia đã biết, hay có lo sợ mà không muốn nghe; kiểu như “Hay gì chưa, nguy lắm rồi nên ông chủ tịch thành phố mới ra thêm chỉ thị số 10?”.

 

Thời sự bây giờ, luôn xuất phát với cụm từ đầu môi của dân cư Sài Gòn: “Hay gì chưa? Biết phường giăng dây khu… đó chưa? Tính chích ngừa thuốc của nước nào? Có tìm được chỗ nào chích ngừa dịch vụ chưa? …

 

Đã là người Sài Gòn thì sao có thể nuốt cho trôi mì gói, bánh mì suốt hai ba tuần giãn cách – phong tỏa, đến mức cả một đô thị từng được ví như vương quốc món ngon vật lạ với hàng quán, thực khách náo nhiệt quanh năm, nay chỉ còn người lưa thưa. Trên phố quý ông, quý bà, tiểu thư, công tử treo xách túi nhựa phần thức ăn mang về. Mùa dịch này không ai biết Sài Gòn có bao nhiêu triệu người ăn sáng bằng mì gói, nhưng rõ rằng số ca dương tính ngày càng tăng thì mỗi sáng vẫn vang tiếng rao bánh mì Sài Gòn khắp phố hẻm.

 

Nhưng có người Sài Gòn không dễ từ bỏ thói quen. Họ bất chấp trùng vây virus trong việc tìm đổi món ăn sáng. Nhưng nói gì thì nói, cũng nhờ tật khó tính, ưa tìm món lạ chỗ ăn ngon để đổi món ăn sáng mà người Sài Gòn cũng cứu được phở, hủ tíu, cơm tấm, bún bò… phần nào thoát đại nạn giãn cách, cách ly.

 

Thêm nữa, người bình dân Sài Gòn tuy biết nguy cơ bị lây nhiễm Covid-19, nhưng biểu họ từ bỏ tức thì, không đến chỗ đông người là chợ thực phẩm thì đâu có dễ.

 

Phải nói từ khi chế độ Hà Nội chiếm Sài Gòn, cái chợ của Người Ta lâu nay, tự nhiên bị ép thêm từ: “Truyền thống”. Trong thông báo từ chỉ thị số 10 của ông chủ tịch thành phố vào tối ngày 19-6, có lệnh “dừng hoạt động các chợ tự phát”. Một bà nội trợ ở khu Ông Tạ khi nghe lệnh này liền phản ứng. “Chui vô siêu thị, cửa hàng tiện lợi máy lạnh bít bùng sợ lây bệnh đến phát run; chỉ còn mấy cái chợ nhỏ, chợ chạy mua cá, mua rau ăn mà sống cho qua ngày, mấy cha chống dịch trong phòng cứ thấy cái gì tiện cho dân là đòi dừng, đòi cấm.”

 

Thật ra chợ nhỏ, chợ chạy, chợ tự phát là tinh hoa thương mại của người bình dân đô thị, vì tính ứng biến thích nghi trước mọi biến cố trong đời sống người Sài Gòn. Một cửa hàng ở một căn nhà bên cái chợ nhỏ thuộc quận 11, cô bán cá biển quê ở Bạc Liêu nói nhỏ với nhiều khách hàng. “Mai cấm chợ, cháu vẫn bán trong nhà nghe cô, chú. Dù cô, chú có thấy cửa đóng nhưng cháu vẫn bán. Cháu bán cá ghe nhà gởi lên, cấm không cho bán chẳng lẽ đổ cá lại xuống biển sao!”.

 

Giới bình dân Sài Gòn hiện nay dù có nhiều thay đổi về gốc gác nhập cư, nhưng nhiều người vẫn tin rằng, đã sống ở Sài Gòn thì ít nhiều đều nhận được “gien di truyền”, biết cách thích ứng để nội tại đề kháng, vượt qua các hiểm họa thiên tai hay nhân tai.

 

Nhiều người Sài Gòn vẫn giữ lại vài thói quen sinh hoạt trong nhịp sống hàng ngày, trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4, đẩy Sài Gòn vào rối loạn. Có thể họ bị chê bai, phê phán nhưng với họ, thà như vậy còn hơn là để cho nỗi ám ảnh dịch bệnh và các lệnh phòng chống dịch bất nhất, bất tài từ chế độ, làm tê liệt, mất đi sức kháng thể – tinh thần trước trùng vây của đại dịch.

20-6-2021

 

================================

.

.

Hà Nội gian trá, lươn lẹo với dân

Đỗ Ngà

June 20, 2021

https://saigonnhonews.com/article-can-promote/ha-noi-gian-tra-luon-leo-voi-dan/

 

Ngày 26-5, báo VnExpress cho biết, chính phủ lập ra quỹ gọi là “Quỹ vaccine”, mục đích là dùng quỹ này để mua vaccine chích ngừa cho dân.

 

Ngày 5-6, báo Pháp Luật dẫn lời ông Phạm Minh Chính cho biết, chính phủ sẽ tiêm vaccine miễn phí cho dân.

 

Ngày 6-6 trên báo Lao Động có bài viết cho biết có cụ già phải dành lương hưu, có em bé phải dành tiền ăn sáng ủng hộ Quỹ vaccine COVID-19. Con nít và người già là thành phần cần được nhà nước chăm sóc miễn phí, ấy vậy mà nhà nước cộng sản (CS) lại móc túi họ.

 

Ngày 17-6 báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh có bài viết cho biết cụ già 99 tuổi vét tiền góp giỗ để ủng hộ Quỹ vaccine. Ngày 18-6 báo Việt Nam+ cho biết cụ ông 100 tuổi cũng vét tiền mừng thọ ủng hộ quỹ.

 

Ngày 17-6 trên báo CafeBiz có cho biết 288.000 liều do Công ty Cổ phần vaccine Việt Nam đã nhận từ Công ty AstraZeneca do đã đặt mua từ khi còn đang thử nghiệm, tuy nhiên lô vaccine này bị Bộ Y tế cho giam kho 20 ngày trong khi Tp. HCM đang oằn mình chống dịch bằng biện pháp giãn cách xã hội.

 

Hình : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2021/06/1ea2db80b23873e9887fef9cf9121e41-750x430.jpg

 

Ngày 16-6 trên báo Tổ Quốc có bài viết tiền ủng hộ Quỹ Vaccine tạm thời “nhàn rỗi” sẽ được gửi ngân hàng để lấy lãi. Tuy nhiên hành động gom tiền của trẻ em và người già để mang đi gởi ngân hàng kiếm lãi đã làm cộng đồng mạng phản ứng dữ dội, do đó tờ báo Tổ Quốc đã sửa lại nội dung bài viết. Hiện giờ nội dung ban đầu của bài viết vẫn được lưu lại trên bộ nhớ cache của Google.

 

Ngày 18-6 trên báo An Ninh Thủ Đô có cho biết khi tiêm xong vaccine Covid-19 cho các đối tượng ưu tiên, Bộ Y tế sẽ khởi động tiêm dịch vụ. Tiêm dịch vụ tức là không phải tiêm miễn phí mà là tiêm lấy tiền.

 

Lập quỹ vaccine và hứa chích miễn phí cho dân, mục đích là để vét tiền của con nít lẫn người già. Tuy nhiên khi vét tiền xong, họ không mua vaccine mà gởi ngân hàng kiếm lời và bắt dân đợi “nhà nước kiếm lời xong” mới mua vaccine. Mà dù có mua vaccine thì nhà nước cũng không muốn chích miễn phí. Khốn nạn hơn nữa là bằng thủ tục rườm rà, Bộ Y tế đã giam 288.000 liều vaccine trong kho trong khi đó Sài Gòn phải oằn mình chống dịch.

 

Có thể nói, nhà nước này tráo trở nói rồi nuốt lời không khác gì phường lưu manh. Ấy vậy mà nhà nước này nó lại vỗ ngực rằng: “Tao là nhà nước của dân, do dân và vì dân đây!” Vâng! Đảng CSVN đã xây dựng một thứ nhà nước “vì dân” như thế!

 

 

 


THƯ GIÃN VỚI BÀI “NHỮNG TỪ DÙNG SAI TRONG TIẾNG VIỆT"  (Hoàng Tuấn Công)

 



THƯ GIÃN VỚI BÀI “NHỮNG TỪ DÙNG SAI TRONG TIẾNG VIỆT"    

Hoàng Tuấn Công

16/06/2021  lúc 12:36  

https://www.facebook.com/TuancongThuphong/posts/3030645967166102

 

Bài viết “Những từ dùng sai trong tiếng Việt” lan truyền trên mạng chẳng khác nào một phương thuốc được gã lang băm vô danh nào đó giới thiệu là “thập toàn đại bổ”, nhưng thực chất lại chứa đựng quá nhiều vị độc. Kẻ biết thì im lặng, không dùng; người không biết thì tha hồ chuốc cái hại vào thân.

 

Sau đây xin mời bà con thư giãn với mục từ “ĐỘC LẬP” thuộc phần “2. SAI VÌ CỐ Ý SỬA NGHĨA GỐC HÁN - VIỆT”(!) cũng là một cách bài trừ "mê tín dị đoan" - những thực hành quái gở mạo danh khoa học:

Bài “Những từ dùng sai trong tiếng Việt” viết:

 

“* ĐỘC LẬP: “Độc” () là “riêng một mình”, “lập” () là “đứng”. Vậy theo nghĩa gốc Hán - Việt, “độc lập” là “đứng riêng rẽ một mình, không đứng chung với ai cả”. Rõ ràng từ này là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Tôi thấy cụ Trần Trọng Kim, cụ Dương Quảng Hàm dùng từ “tự chủ” để thay thế từ “độc lập”. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ “độc lập” là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn ngữ của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ”. (HẾT TRÍCH).

 

NHẬN XÉT:

 

Chỉ trong một đoạn ngắn, nhưng tác giả bài viết phạm tới 3 lỗi nặng:

 

- LỖI 1:

Không có nguyên tắc nào quy định nghĩa của mọi từ ngữ phải luôn bám sát vào nghĩa gốc của từ. Đây là điều sơ đẳng mà bất cứ ai quan tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ đều biết và phải biết.

 

Để chứng minh thì có tới cả trăm cả ngàn dẫn chứng, nhưng sau đây chỉ xin đưa ra một ví dụ liên quan đến lĩnh vực khuyến nông:

 

Từ “thâm canh” 深耕, nghĩa ban đầu của nó chỉ là “cày sâu”.

 

“Hán ngữ đại từ điển” giảng:

 

-“thâm canh: cày ruộng đạt tới độ sâu sáu, bảy tấc trở lên. Cày sâu có thể cải tạo đất, làm thay đổi kết cấu thổ nhưỡng, tăng độ phì trong đất, tăng năng suất cây trồng”. [深耕: 耕地深度達六,七寸以上.適當的深耕可以改良土壤結構,提高土壤肥力,增加收成].

 

Nghĩa của từ “thâm canh” phản ánh trình độ canh tác thuở xa xưa. Khi mà trồng trọt không có phân tro, không có tiến bộ về giống má,… thì sự khác biệt duy nhất chỉ có thể là “cày sâu, cuốc bẫm”, để tạo tầng canh tác tốt (“Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa” – tục ngữ).

 

Về sau, khoa học nông nghiệp phát triển, trình độ canh tác được nâng cao, thì “thâm canh” không còn được hiểu đơn giản là “cày sâu” nữa. Phương thức canh tác này được hiểu là sự đầu tư phân bón, giống mới, áp dụng kỹ thuật trên một đơn vị diện tích nhất định (không mở rộng), nhằm đạt được năng suất cao nhất.

 

Thế rồi không chỉ đối với cây trồng nông nghiệp mới được gọi là “thâm canh”. Những khái niệm “trồng rừng thâm canh”, “nuôi cua thâm canh”, “nuôi tôm thâm canh”…lần lượt xuất hiện. Rồi từ “quảng canh” 廣耕 cũng ra đời, không phải với nghĩa “cày rộng”, hay “cày nông”, mà chỉ phương thức canh tác mở rộng diện tích, không đầu tư chiều sâu, năng suất thấp (đối với “thâm canh"). Ví dụ: “trồng rừng quảng canh”, “nuôi tôm quảng canh”, “trồng lúa quảng canh”…

 

Như vậy, có căn cứ vào nghĩa gốc “thâm canh” = cày sâu, để kết luận từ này “SAI VÌ CỐ Ý SỬA NGHĨA GỐC HÁN - VIỆT” được không?

 

- LỖI 2:

Mỗi một từ thường có nhiều nghĩa, có nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, được sử dụng tuỳ theo ngữ cảnh. Từ “độc lập” 獨立 cũng vậy. Chẳng có lý do gì để buộc nó chỉ mang một nghĩa duy nhất là “đứng riêng rẽ một mình, không đứng chung với ai cả”.

 

“Hán ngữ đại từ điển” ghi cho “độc lập” tới 6 nghĩa:

 

1.) Đứng đơn độc một mình (單獨站立).

 

2.) Cô lập, không dựa dẫm (孤立無所依傍)

 

3.) Siêu phàm, thoát tục, khác hẳn số đông (超凡拔俗,與眾不同)

 

4.) Tồn tại mà không dựa dẫm vào gì khác; Tự lập, không dựa dẫm vào người khác (不依靠其他事物而存在;不依靠他人而自立).

 

5.) Quốc gia, dân tộc hoặc chính quyền không chịu sự thống trị, chi phối của ngoại bang mà hoàn toàn tự chủ. ( 謂國家、民族或政權不受外界統治支配而能完全自主地存在).

 

6.) Chim một chân trong truyền thuyết thời cổ đại (古代傳說中的一足之鳥).

 

“Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê – Vietlex) cũng ghi nhận tới 3 nghĩa:

 

-độc lập • 獨立 I:

 

+ t. 1 tự mình tồn tại, hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác. sống độc lập từ bé ~ suy nghĩ độc lập;

 

+2 [nước hoặc dân tộc] có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác. một đất nước độc lập, tự do.

 

-độc lập • 獨立 II: d. trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác. nền độc lập dân tộc.”.

 

Như vậy, không có chuyện từ “độc lập” chỉ được hiểu một nghĩa duy nhất là “đứng riêng rẽ một mình, không đứng chung với ai cả”.

 

- LỖI 3:

 

Tác giả bài viết cho rằng: "Tôi thấy cụ Trần Trọng Kim, cụ Dương Quảng Hàm dùng từ “tự chủ” để thay thế từ “độc lập”. Như thế là rất hay".

 

Thực ra từ “tự chủ” không thể thay thế cho từ “độc lập”:

 

Có “độc lập” 獨立 thì mới có tự do, có quyền lập quốc; trong khi “tự chủ” 自主 thường bị trói buộc bởi quy chế. Giả sử các cụ “Trần Trọng Kim, cụ Dương Quảng Hàm có dùng từ “tự chủ” để thay thế từ “độc lập”, cũng dễ hiểu, bởi trong hoàn cảnh nước đã mất, thì làm sao có thể dễ dàng đem chuyện “độc lập” ra để điều đình với người Pháp?

 

Cũng như Hồng Kông có thể được Trung Quốc cho hưởng “quy chế tự chủ”, chứ “độc lập” thì đâu dễ? Và tuy được hưởng quy chế tự chủ, nhưng Hồng Kông vẫn thuộc chủ quyền của Trung Hoa đại lục, và có thể bị hạn chế hay tước bỏ quyền tự chủ ấy bất cứ lúc nào. Ngay như Đài Loan đã giành được quyền tự chủ, tự quyết từ lâu, nhưng để có được hai tiếng "độc lập" thực sự, vấn đề không hề đơn giản.

 

Có “tự chủ” không có nghĩa là có “độc lập”, mà có “độc lập” nhưng nước nhược tiểu thì có thể vẫn bị ngoại bang khống chế, chi phối. Thế nên mới có thêm khái niệm “độc lập tự chủ” 獨立自主 là vậy.

 

Như vậy, tác giả bài “Những từ dùng sai trong tiếng Việt” xúi quốc dân đem “độc lập” đổi lấy “tự chủ”, cho rằng “thế là rất hay”, khác nào xúi người ta dâng nước cho láng giềng, tự nguyện tước bỏ “độc lập tự do” để hưởng chút quy chế “tự chủ”, một kiểu “tự do trong khuôn khổ”?

 

https://www.facebook.com/photo/?fbid=3030645887166110&set=a.1558808777683169

SAI VÌ CỐ Ý SỬA NGHĨA GỐC HÁN – VIỆT

 

37 BÌNH LUẬN  

 

 

 

TRẦM BAY NHẠT KHÓI (Nguyễn Trương Quý)

 



 

Trầm bay nhạt khói    

Nguyễn Trương Quý 

08:39 | Thứ bảy, 19/06/2021

https://nguoidothi.net.vn/nguyen-truong-quy-tram-bay-nhat-khoi-28765.html

 

Thắp hương hay đốt trầm có lẽ là hành vi tín ngưỡng quen thuộc nhất với người Việt. Đến lượt vật thể để cắm những que hương hay đựng những mảnh trầm được đốt cũng thành thứ gắn bó với đời sống: bát hương, đỉnh đồng, lư hương…

 

·         Nguyễn Trương Quý: Sự bối rối của lạc thú

·         Mộng thiên đường

·         Nguyễn Trương Quý: Ngồi xõa tóc thề

·         Nguyễn Trương Quý: Sắc tình loanh quanh

 

Mùa thu năm 1940, chàng trai trẻ Lưu Hữu Phước từ miền quê Cần Thơ ra Hà Nội học Trường Y khoa Đông Dương. Vốn liếng của chàng trai là đôi bài hát viết cho học sinh Trường Petrus Ký mang nỗi hoài vọng quá khứ: “Có những đêm kể cho nhau nghe những thành tích đuổi giặc cứu nước ngày xưa, chúng tôi gục đầu lên vai nhau khóc tủi hờn vì nhục nước ngày nay”. 

 

Ra đến Hà Nội, như được “về thăm quê cũ” khi tìm tới những di tích lịch sử của các thời đại tự chủ, “mỗi di tích như một quyển sử dân tộc”, các chàng trai Nam bộ nhịn bớt ăn, dạy học tư để lấy tiền, chung nhau thuê một gác nhỏ ở góc phố Bùi Thị Xuân và Tô Hiến Thành hiện nay. “Chúng tôi mua một lư hương con, các tối Chủ nhật, anh em tắt đèn, đốt hương trầm lên, và nhắc lại những cảm xúc trong ngày. Nhiều bạn khác dần dần kéo đến chơi với chúng tôi, có các bạn miền Trung, miền Bắc đến trò chuyện, chan hòa trong một niềm thông cảm rạo rực tình yêu đất nước” (hồi ức của Lưu Hữu Phước). Họ tổ chức những chuyến đạp xe về thăm những đền Lý Bát Đế, Cổ Loa, Phù Đổng. Từ đây, những bài hát yêu nước như Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng… ra đời, trở thành tiếng nói của thế hệ sinh viên học sinh thập niên 1940.

 

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/52f48947-8740-4f99-a13a-6f9dc0de6ac0.jpg

Lưu Hữu Phước và các bạn học Đại học Đông Dương đạp xe về nguồn. Ảnh nhỏ, từ trái: Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Lưu Hữu Phước. Ảnh do Mai Xuân Lộc (con trai nhà ngoại giao Mai Văn Bộ) cung cấp

 

Cùng khoảng thời gian ấy, cũng ở Hà Nội, Nguyễn Tuân đăng báo dài kỳ truyện vừa Chiếc lư đồng mắt cua. Đây là một tác phẩm đặc trưng cho chủ đề xê dịch của tác giả này. Câu chuyện mượn đề tài đời sống các nhà hát cô đầu làm phông cảnh một chặng dừng chân trong chuyến đi vào Nam của nhân vật Nguyễn (thực ra chính là tác giả), rồi cứ mãi quẩn quanh những tỉnh lẻ buồn bã bên hào nước thành Vinh hay Thanh Hóa. 

 

Ngược chiều với sự hăm hở đạp xe về dấu tích xưa của Lưu Hữu Phước, nhân vật Nguyễn Tuân uể oải đến chán chường cả những chốn lạc thú như kỹ viện. Ở những chốn mà việc hát chỉ là một phần bên cạnh hút thuốc phiện hay trăng gió tình tự với các cô đầu, Nguyễn thành bạn tâm giao với ông Thông Phu, chủ nhà hát. Ông ta tặng cho Nguyễn một chiếc lư đồng.

 

Đồng mắt cua. Nhỏ thôi. Đường kính rộng nhất nơi thân lư cũng chỉ bằng cái đường kính chiếc mặt tẩu Vân Nam da đá. Trông xinh lắm. Đến chơi gần bàn viết của tôi, thấy chiếc lư đựng kim găm và dùng luôn làm vật chặn giấy cho gió khỏi lật ngửa những trang chữ ướt, nhiều ông bạn nghiện đã nằn nì đòi lấy đem về bày vào khay đèn nhà.

 

Vẫn hay lư đỉnh nào mà chẳng dùng vào việc đốt trầm. Lư đỉnh nào mà chẳng được đặt trên những bệ các nơi cao nghiêm tôn thờ. Sân nhà Thế Miếu. Đình chùa. Bàn thờ gia tiên.

Nhưng chiếc lư của tôi suốt hai đời chủ, chỉ được đặt những nơi không đáng gọi là tôn thờ chút nào. Nó đã tuôn nhả những vòng khói thơm giữa những nơi hôi hám ẩm sũng. Nó đã phải đốt nóng trong hoàn cảnh xóm hát ả đào. Cái rất thanh cao ấy đã phải ở giữa một cái rất tục bạo”.

 

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/5c4dfae6-6473-4a1d-ba5a-0d65cad0599f.jpg

Nguyễn Tuân năm 1937. Ảnh: TL

 

Kết truyện vẫn là Nguyễn sống một cuộc đời buồn như cái lư chẳng được đốt lên nữa. Người đọc hiện đại có thể rất ngạc nhiên khi chứng kiến cùng một thứ đồ vật, đôi bên đã xử sự khác nhau. Nhà văn cảm thấy sự tồn tại mòn mỏi ẩn chứa nhiều độc tố quanh cái lư đồng đặt nhầm chỗ. Nhạc sĩ ái quốc tìm thấy sự khơi gợi tự tôn dân tộc qua làn hương trầm, phục hồi lại cảm xúc những chuyến về nguồn. Cùng một thời đại, những chiếc lư hương giúp người ta đọc gì ở những cảm xúc đối ngược ấy? Chúng tựa như có chung mục đích giúp người ta suy tưởng về một lối thoát tinh thần.

 

Ta hãy thử nghĩ về phương diện công năng quen thuộc của cái lư hương, hoặc thứ gần gũi hơn là bát hương.

 

Thắp hương hay đốt trầm có lẽ là hành vi tín ngưỡng quen thuộc nhất với  người Việt. Đến lượt vật thể để cắm những que hương hay đựng những mảnh trầm được đốt cũng thành thứ gắn bó với đời sống: bát hương, đỉnh đồng, lư hương… Tất nhiên những dụng cụ này còn dùng cho mục đích khác, song cơ bản vị trí của chúng thuộc về những nơi mang tính biểu tượng tinh thần nhất trong ngôi nhà, chẳng hạn bàn thờ. Trong chốn đó, thắp một nén hương, người ta kỳ vọng kết nối với thế giới tâm linh, gồm các thánh thần cho đến những người đã khuất, thậm chí cả những vong hồn xa lạ.

 

Để hoàn thiện cảm giác tôn quý, lư hay bát hương cũng được tạo tác trang trọng hơn mức một vật thể có chức năng làm khuôn đựng hay nơi cắm vào. Gia cảnh nghèo khó thì cái bát hay cốc đựng gạo cũng có thể làm chỗ cắm chân hương.

 

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/17382c9d-a564-41d4-99f3-6f06282f5fed.jpg

Hình lư hương trên áp phích Hội chợ Hà Nội năm 1932. Ảnh: TL

 

Lưu Hữu Phước hay Nguyễn Tuân còn có lư hương, trong khi cùng thời, hai cô gái điếm trong truyện ngắn Tối ba mươi của Thạch Lam trọ trong một nhà săm trong đêm ba mươi Tết dĩ nhiên không có cả bát hương chứ đừng nói đến lư đồng. Các cô mua gạo về định đổ vào một cái cốc, rồi chợt nhận ra “cái cốc bẩn ở góc tường, mà cả đến những khách làng chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định dùng làm bát hương cúng tổ tiên!”.

 

Họ đành cắm tạm lên tường trong đêm giao thừa. “Khói hương lên thẳng rồi tỏa ra mùi thơm ngát đem lại cho hai nàng kỷ niệm những ngày cúng giỗ ở nhà, khi hai chị em còn là những cô gái trong sạch và ngây thơ”. Mùi hương trầm là một liệu pháp của ký ức, thanh tẩy thực tại. Nó giúp các cô gái của Thạch Lam bớt ê chề. Nó giúp Lưu Hữu Phước và bạn đồng tâm thoát ly thực tại để hướng đến thế giới lý tưởng của chủ nghĩa dân tộc. Chiếc lư đồng cũng giúp nhân vật Nguyễn Tuân lưu giữ ký ức phóng dật giữa cảnh đời mòn.

 

Khi nói đến những bộ đồ thờ bao gồm những lư hương hay đỉnh đồng, người ta nghĩ tới sự hoa mỹ cầu kỳ mang tính trang trí ban đầu nhằm tôn vinh thần linh và thế giới siêu nhiên. Nhưng dưới cái nhìn duy lý mà thế giới hiện đại đem lại, vẻ đẹp của các sản phẩm này có thể đo đếm. Chiếc lư đồng thành món cổ ngoạn, hô ứng với những quan niệm mà người Pháp đem vào thông qua những hoạt động bảo tàng của Trường Viễn Đông Bác Cổ. Chùa chiền dưới mắt họ không chỉ là chức năng tôn giáo mà còn là di sản kiến trúc. Ở góc độ nào đó, tư duy này đã tạo ra một truyền thống thẩm mỹ mới và giảm đi lớp sương khói của tín ngưỡng.

 

Nguyễn Tuân thuộc lớp người đã thừa kế cái nhìn hiện đại hóa đó. Thay vì quan tâm đến vầng nhang khói hư ảo và mục tiêu thần thánh trú ngụ trên lư hương, đỉnh đồng hay bát nhang, ông săm soi cái lư đồng một cách kỹ lưỡng với cái nhìn lý tính và trực quan hơn. Trong khi đó, người có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa về sau Mác-xít hóa như Lưu Hữu Phước lại viện dẫn đến quyền năng của hương khói cùng những thư tịch mang tính giáo khoa thư về các dấu tích cội rễ: “Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng” (Tiếng gọi thanh niên, 1941). Trên bìa tờ nhạc bản tiếng Pháp của bài ca này, Marche des Etudiants (“Hành khúc sinh viên”, bài ca của Tổng hội Sinh viên Đại học Đông Dương, xuất bản 1943) in một chiếc lư hương nghi ngút khói.

 

                                                           *

Nhưng đỉnh, lư, hay lò hương, trong vốn văn chương kinh điển Á Đông, lại là thứ tiêu dao gắn với đời sống phù hoa hoặc cõi ẩn lánh trốn đời của kẻ sĩ. Truyện Kiều, danh tác trung đại Việt Nam quen thuộc nhất, đầy ắp những khói hương phi tín ngưỡng. Có thể nói, việc thắp hương hay đốt trầm là một hành vi thường nhật trong đời Kiều, nhiều đến mức có thể trở thành một biểu tượng thẩm mỹ của việc xây dựng nhân vật của Nguyễn Du.

 

Trong hơn ba ngàn câu thơ, nếu có 13 lần thắp hương thờ cúng với các đồ dùng như “nồi tâm hương”, “hương đèn” hoặc “dầu hương”, thì việc đốt hương trầm gắn với tình tự trai gái nhiều hơn hẳn, 22 lần. Nhiều cụm từ đã thành nhãn tự của tác phẩm này, có thể từ đó luận ra những mốc thăng trầm trong cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của nhân vật chính: hương nguyền, hương thề, hương sớm trà trưa, hoa thải hương thừa, phấn thừa hương cũ, hương lửa đương nồng, hương lửa ba sinh, trầm bay lạt khói, hương bay dặm phần, đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa, vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa, khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa… Những câu như “đốt lò hương ấy so tơ phím này” hay “phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” thành một thứ điển cố, tạo ra một truyền thống trích dẫn suốt hai trăm năm sau.

 

Lò hương nguyền tỏa khói cùng với những yên hoa, yên ba (khói sóng), phong sương, vân yên, mây khói… chồng lấn nhau về trường ý, tạo ra một màn sương huyền ảo của khung cảnh vẫn còn đủ sức phủ lên ngôn từ dòng văn nghệ lãng mạn thế kỷ XX, thậm chí đến tận thi ca đầu thập niên 1970 ở Sài Gòn. Tập hồi ức văn chương của Đinh Hùng xuất bản sau khi ông mất mang cái tên xuất phát từ biểu tượng này: Đốt lò hương cũ (1971).

 

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/8cedd0f8-2a43-46c0-bd35-dcc1bc21f1ab.jpg

Hình lư hương trên những bản nhạc của Lưu Hữu Phước. Ảnh: TL

 

Khung cảnh hương khói của Truyện Kiều cũng tạo ra những điển mẫu về mô tả. Đầu thế kỷ XIX, lầu xanh của Tú Bà: “Giữa thì hương nến hẳn hoi/ Trên treo một tượng trắng đôi lông mày”, thì hơn một thế kỷ sau, cảnh nhà hát cô đầu ở phố Khâm Thiên được đặc tả nhiều ngụ ý gợi nhớ chốn thanh lâu: “Trên tủ, đỉnh đồng, hoa giấy, lư hương. Hai bên phòng, tràng kỷ, mắc áo tủ gương; lại vẩn vơ vài chiếc đàn lủng lẳng giữa tường vôi xanh lợt. Kể ra bày biện rất sơ sài, nhưng trông sạch mắt, phong lưu lắm. Chị Đốc thực là người lịch duyệt!” (TchyA, Cõi nát bàn của dân bẹp, Hà thành ngọ báo 23.8.1932).

 

Ở đây, có đến mấy làn hương: hương trầm, hương thơm son phấn và hương khói thuốc phiện. Một người từng là “dân bẹp” cũ, Vũ Bằng, đã gọi những khung cảnh các xóm hát cô đầu này là “cái nôi văn nghệ của Hà Nội ba chục năm về trước”. Sự hoài niệm này cung cấp bằng chứng về sự có mặt ở chốn ca kỹ phấn hương của rất nhiều văn nghệ sĩ làm nên chân dung nghệ thuật Việt Nam thời 1940, nó thấp thoáng ánh xạ của những ca lâu tửu điếm Paris quen mặt các văn nghệ sĩ tìm thú “hội hè miên man” (Hemingway) hay những xóm Bình Khang, nơi lui tới của các tân khoa tấn sĩ thành Trường An.

 

Sự chuyển hóa câu chuyện hương khói thờ phượng sang hương khói tình tự được kế thừa bằng tính cổ điển tựa như một truyền thống của giới trí thức Tây học kế thừa các nhà nho tài tử, có từ những truyện tài tử giai nhân như Tú Uyên gặp Giáng Kiều ở chốn thiền môn. Người đọc gặp lại môtip này trong bài thơ Chùa Hương (1934) của Nguyễn Nhược Pháp, dưới dạng “thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”. Cô gái tuổi mười lăm đi hội xuân chùa Hương cũng như nàng Kiều tuổi cập kê đi lễ Thanh minh hội ngộ chàng Kim. Mùi hương cầu khấn Trời Phật hay khóc người bạc mệnh Đạm Tiên đều thoắt hóa hương tình. Cùng một tâm thế với phút gặp gỡ “trăm năm có biết duyên gì hay không” của Kiều, sau cuộc hội ngộ với chàng văn nhân, cô thiếu nữ đã động tâm lãng mạn hóa một mùi hương tôn giáo: “Đêm hôm ấy em mừng! Mùi trầm hương bay lừng… Em mơ, em yêu đời!”. Mùi hương đã nhuộm cho ái tình sắc thái hư ảo.

 

                                                           *

Lịch sử đã làm công việc biến thiên của nó khi bối cảnh đất nước đầu thập niên 1940 sôi sục những bài ca ái quốc của Lưu Hữu Phước đẫm hương khói viếng Hồn tử sĩ: “Khói bốc nghi ngút bay quyện lá cờ… Cùng nhau khấn non nước thiêng liêng” hay cầu nguyện Người xưa đâu tá: “Hồn con hương ngát kính cẩn dâng lên Hai Bà”. Trên bìa những tờ nhạc này thời kỳ đầu, hình ảnh minh họa tiếp tục là một lư hương. Những buổi biểu diễn những bài ca ái quốc của nhóm Hoàng Mai Lưu gồm ban đồng ca 10 người, “mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề đứng sau một bộ lư đồng tỏa hương nghi ngút đặt trên bục cao” (Huỳnh Văn Tiểng). Với lời kêu gọi Lên đàng hay Xếp bút nghiên, Lưu Hữu Phước thành người dấn thân vào cuộc cách mạng tự giác trước khi gặp cuộc cách mạng của xã hội.

 

Ngược lại, chiếc lư đồng tương tự không nhả một làn khói tương tự với Nguyễn Tuân. Ông kể lại, "Nhật đảo chính Pháp, không khí khắp nơi sục sôi chuẩn bị khởi nghĩa, tôi vẫn không hề hay biết gì. Chiều ngày 9.3.1945, tôi còn nằm bẹp tại nhà một cô đầu ở Khâm Thiên. Đêm, Nhật nổ súng đảo chính Pháp, tôi vẫn nằm ở nhà hát bà Chu. Sáng ra, sau khi ngớt tiếng súng, tôi mới khăn đóng áo the ra đường, về nhà ở phố Cầu Mới. Thấy tôi về, cả nhà rất mừng, muốn giữ tôi ở nhà lâu lâu, chờ cho tình hình yên ổn. Nhưng chỉ được mấy hôm, tôi lại lặng lẽ xuống phố, lại vào nhà cô đầu...". (Ngọc Trai, Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tuân). Dường như Nguyễn Tuân vẫn là Nguyễn của Chiếc lư đồng mắt cua. Dù chào mừng cách mạng, ông vẫn là người “tư tưởng không vững vàng” như chính ông tự kiểm điểm vì đã viết trong một bài báo năm 1946: “Bây giờ, hễ thấy chỗ nào có treo cờ, bất kể là cờ gì, tôi đều sợ”. Tất nhiên, Nguyễn Tuân rốt cục cũng “chung một bóng cờ” với Lưu Hữu Phước, cho dù là trên một con đường “gập ghềnh xa”.

 

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/957cbdba-dca4-4d3f-b175-3e49d04d6dec.jpg

Bìa cuốn Tục lụy (Khái Hưng, 1937) và phiên bản chỉnh sửa sau này có tên Trần duyên của Thế Lữ và Lưu Hữu Phước. Ảnh: TL

 

Ngay cả với một người ôm mộng làm tráng sĩ như Lưu Hữu Phước, con đường sáng tạo của nghệ sĩ không một chiều. Nó còn có những ngã rẽ lãng mạn. Đón Tết Quý Mùi 1943, các nữ sinh Trường Đồng Khánh Hà Nội muốn dựng kịch thơ Tục lụy của Khái Hưng do nhà thơ Thế Lữ chuyển thể. Trần Văn Khê kể lại: “Theo đề nghị của Thế Lữ, ngại rằng nếu ngâm thơ suốt cả giờ đồng hồ sẽ khiến khán giả nhàm chán, đoàn kịch phái cô Minh Nguyệt đại diện đến tìm Lưu Hữu Phước để nhờ phổ nhạc các bài thơ trong vở kịch”.

 

Đầu tiên Lưu Hữu Phước từ chối vì chỉ sáng tác nhạc chứ chưa bao giờ phổ thơ, song người đẹp tươi cười khẩn khoản: “Xin ông cố một tí giúp chị em tôi ông nhé!”. Lưu Hữu Phước xiêu lòng và thức ba đêm trắng để phổ nhạc “Khúc Nghê Thường” với những nhân vật Nhã Tiên, Thi Tiên và Diễm Tiên cho kịp biểu diễn ngày 23.1.1943. Ở đây, Thế Lữ và Khái Hưng là những tác giả của nhóm Tự lực Văn đoàn, dường như đối nghịch thẩm mỹ nghệ thuật với Lưu Hữu Phước, song sự kết hợp đã tạo ra thành tựu khai mở cho thể loại ca kịch Việt Nam.

 

Lưu Hữu Phước còn có một bài hát “tặng cô J. Thu Hương” trên bối cảnh dòng sông Hương: “Làn hương ơi! Làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều trong mơ” (Hương Giang dạ khúc, 1943). Trên bản nhạc do nhóm Hoàng Mai Lưu của chính Lưu Hữu Phước chủ trì xuất bản năm 1946, ghi “nhạc sĩ vô danh” và bài hát cũng không có mặt trong các tuyển tập nhạc khi tác giả còn sống. Sau này ông trở thành tác giả nổi bật của dòng nhạc cách mạng, thậm chí còn là chính khách. Liệu có phải ông đã chối từ những “mảnh hương nguyền” của mình? Phải chăng cảm hứng từ nàng thơ trường Đồng Khánh chỉ đủ tạo ra một góc diễm ảo nhỏ trong đời ông? Những bài hành khúc dường như đã lùi vào đền đài kỷ niệm của các cuộc chiến tranh. Nhưng dù hương khói đã tan, bất kể lý do gì, chiếc lư trầm chàng trai 19 tuổi Lưu Hữu Phước thắp lên ở một gác trọ Hà Nội đã thực sự làm nên một biểu tượng lãng mạn của thời đại ấy.

 

Nguyễn Trương Quý

 

·         Trèo lên trái núi Thiên Thai

·         Vân trình của đời người

·         Nguyễn Trương Quý: Tháng Bảy và một suy tư về nhân sinh

·         Nguyễn Trương Quý: Hình dung một chiếc thắt lưng xanh...

 

 

 

 

View My Stats