Học thuyết chiến thắng của Iran
Narges Bajoghli và Vali Nasr - Foreign Affairs
Viên Đăng Huy, biên dịch - Nghiên
Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/10/15/hoc-thuyet-chien-thang-cua-iran/
Khi
nói đến Iran, chính quyền Trump có một thành tích hết sức đáng thất vọng. Sau
nhiều tháng không kích dữ dội, Mỹ vẫn không thể làm Iran suy kiệt. Washington
cũng không thể buộc Tehran khuất phục trên bàn đàm phán. Thế nhưng, bất chấp những
thất bại liên tiếp trong suốt bảy tháng, các quan chức Mỹ tin rằng tình hình đã
bước sang một giai đoạn mới. Họ áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt, đồng thời
duy trì lệnh phong tỏa hiện có đối với vùng duyên hải phía nam Iran, bóp nghẹt
khả năng giao thương của nước này với thế giới bên ngoài. Từ đó, Washington kết
luận rằng Iran sẽ sớm phải nhượng bộ hoặc sụp đổ. “Chúng ta sẽ bóp nghẹt chế độ
này về mặt kinh tế”, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent tuyên bố hôm 1/9.
Không
thể phủ nhận Washington đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho Iran. Tuy
nhiên, Iran không cho rằng mình đang trên đà sụp đổ. Trái lại, Tehran tin rằng
họ sẽ đánh bại Mỹ, và niềm tin ấy không phải hoàn toàn không có cơ sở. Chính
quyền Iran không chỉ trụ vững trước các đợt oanh kích của Mỹ và Israel mà còn
đáp trả quyết liệt, gây thiệt hại cho các căn cứ quân sự Mỹ và cản trở hoạt động
hàng hải qua eo biển Hormuz. Người dân Iran đang phải trả giá đắt về kinh tế do
sự tàn phá của chiến tranh và các biện pháp phong tỏa của Washington. Tuy
nhiên, phần lớn người dân đã đoàn kết vì đất nước và dường như chấp nhận rằng
những khó khăn ấy là cái giá cần thiết để bảo vệ Iran. Điều này càng khiến
Tehran thêm cứng rắn và tự tin. Các quan chức Iran có thể bất đồng về những chiến
thuật cụ thể, nhưng họ cùng theo đuổi các mục tiêu chung: đẩy lực lượng Mỹ ra
khỏi Vịnh Ba Tư, buộc Washington dỡ bỏ toàn bộ lệnh trừng phạt và khiến Mỹ phải
thừa nhận Iran là một cường quốc.
Những
tham vọng ấy có vẻ quá lớn nếu xét đến thực tế Iran đã suy yếu đáng kể về tiềm
lực vật chất. Tuy nhiên, Tehran tin rằng những mục tiêu đó hoàn toàn nằm trong
tầm tay. Iran cho rằng quân đội nước này có thể buộc lực lượng Mỹ rời khỏi Vịnh
Ba Tư bằng cách tiếp tục tấn công trực tiếp các căn cứ Mỹ, đồng thời thúc đẩy
các quốc gia Ả Rập gây sức ép yêu cầu Washington rút quân. Tehran cũng tin rằng
việc gây ra những biến động nghiêm trọng trên thị trường năng lượng có thể buộc
Mỹ phải dỡ bỏ các biện pháp hạn chế kinh tế. Nói cách khác, học thuyết chiến thắng
của Tehran là kiên trì cầm cự và khiến Mỹ phải chịu tổn thất đủ lớn để cuối
cùng từ bỏ chính sách kiềm chế Iran.
SIẾT
CHẶT HÀNG NGŨ
Không
ai phủ nhận Iran đã chịu những tổn thất nặng nề vì chiến tranh. Nhiều tháng
oanh kích của Mỹ và Israel đã tàn phá các ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng của
nước này, khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt và đẩy thêm nhiều người Iran vào cảnh
nghèo đói. Các lệnh trừng phạt và phong tỏa đường biển của Washington cũng khiến
lạm phát leo thang mất kiểm soát. Quân đội Mỹ và Israel đã đạt được nhiều thành
công về mặt chiến thuật, trong đó có vụ ám sát cựu Lãnh tụ Tối cao Iran Ali
Khamenei.
Tuy
nhiên, xét về phương diện chiến lược, cuộc xung đột lại trở thành một thảm họa.
Các quan chức Mỹ từng tin rằng những đợt không kích dữ dội cùng các nỗ lực toàn
diện nhằm làm suy yếu nền kinh tế Iran sẽ buộc chế độ Cộng hòa Hồi giáo phải
khuất phục. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Washington cũng kỳ vọng việc ám sát
Khamenei sẽ châm ngòi cho một cuộc nổi dậy quy mô lớn chống chính phủ. Kế hoạch
ấy cũng thất bại. Thay vào đó, cái chết của Khamenei lại khiến những người
trung thành nhiệt thành với chế độ Cộng hòa Hồi giáo xuống đường. Họ tuần hành
hằng đêm tại các thành phố lớn, rồi dần có thêm sự tham gia của những người
Iran thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, cùng tập hợp để thể hiện
tinh thần bảo vệ Tổ quốc. Khi chiến tranh bùng nổ, Thổ Nhĩ Kỳ đã lên kế hoạch
tiếp nhận 70.000 người Iran tị nạn. Tuy nhiên, rất ít người thực sự rời khỏi đất
nước. Trên thực tế, khi cuộc chiến kéo dài, nhiều người Iran định cư ở nước
ngoài đã trở về quê hương, trong đó có cả những nhân vật văn hóa, nhà báo và
chính trị gia sống lưu vong nhiều năm, chẳng hạn hai ca sĩ Mohsen Namjoo và
Bijan Mortazavi.
Làn
sóng chủ nghĩa dân tộc dâng cao này không đồng nghĩa với việc người dân ủng hộ
chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Nhiều người Iran vẫn hết sức bất mãn với giới
lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, sự phẫn nộ đối với chính quyền trong nước đã bị lấn
át bởi cơn giận dữ hướng về Washington. Trước đây, phần lớn người Iran hoài
nghi tuyên bố của chế độ Cộng hòa Hồi giáo rằng Mỹ quyết tâm hủy diệt đất nước
họ. Thậm chí, nhiều người còn hy vọng Tehran sẽ tìm cách cải thiện quan hệ với
Washington. Nhưng những cuộc oanh kích nhằm vào các thành phố Iran, cùng những
lời đe dọa liên tiếp của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc xóa sổ nền văn minh
của nước này, chẳng hạn tuyên bố rằng ông có thể “cho nổ tung cả đất nước” và đẩy
Iran “xuống địa ngục, không còn cơ hội sống sót”, đã làm thay đổi nhận thức của
người dân. Giờ đây, những người Iran thuộc nhiều khuynh hướng chính trị đều thực
sự tin rằng Mỹ muốn hủy diệt đất nước họ, hoặc ít nhất buộc Iran phải khuất phục
trước mọi yêu sách của Washington.
Nhận
định này được thể hiện rõ qua những cuộc phỏng vấn chuyên sâu mà chúng tôi thực
hiện với người Iran thuộc nhiều hệ tư tưởng khác nhau, bắt đầu từ khi
Washington lần đầu không kích Iran vào tháng 6/2025 và kéo dài cho đến nay, nhằm
theo dõi sự thay đổi trong quan điểm chính trị của họ trong suốt giai đoạn đó.
Đại đa số những người được phỏng vấn đều bày tỏ nỗi đau buồn sâu sắc và sự phẫn
nộ đối với chính quyền sau những vụ thảm sát xảy ra trong quá trình trấn áp các
cuộc biểu tình quy mô lớn hồi tháng Một. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy quan điểm
chính trị của họ đã thay đổi mạnh mẽ khi chiến tranh kéo dài và ông Trump ngày
càng gia tăng những lời lẽ đe dọa hủy diệt Iran. “Chúng tôi từng đặt rất nhiều
niềm tin vào những lời hứa của nước Mỹ”, Ali, một nhà bất đồng chính kiến 45 tuổi
từng phải ngồi tù nhiều năm vì hoạt động xã hội và chính trị, nói với chúng
tôi. “Nhưng cuộc chiến này, cùng tất cả những gì Trump và chính quyền của ông
ta đã nói và làm, cho thấy rõ người Mỹ đã lừa dối chúng tôi bằng những lời hứa
hão huyền. Điều duy nhất họ muốn là Iran phải hoàn toàn khuất phục, và đó là điều
chúng tôi không thể chấp nhận”. Mahsa, một nhà văn kiêm nghệ sĩ ngoài 30 tuổi,
cũng bày tỏ quan điểm tương tự. “Tự do, sự tôn trọng và dân chủ, tất cả những
giá trị mà chúng tôi từng tin nước Mỹ đại diện, giờ đây tôi đều thấy chỉ là dối
trá”, cô nói. “Dù suốt nhiều năm qua tôi có phẫn nộ với chính quyền nước mình đến
đâu, thì đây vẫn là Tổ quốc của chúng tôi. Không một quốc gia bên ngoài nào có
quyền sát hại các nhà lãnh đạo của chúng tôi, ném bom xuống đầu trẻ em và tìm
cách hủy diệt đất nước chúng tôi”.
Vì
vậy, không có gì ngạc nhiên khi đám tang của Khamenei vào tháng Bảy thu hút
hàng triệu người đến tiễn đưa, dù đất nước vẫn đang chìm trong chiến tranh. Tại
buổi lễ, người dân chuyền tay nhau những lá cờ đỏ, biểu tượng cho khát vọng báo
thù bằng máu. Không lâu sau đó, Iran tấn công các tàu thương mại đi qua eo biển
Hormuz, khiến thỏa thuận ngừng bắn mong manh mà nước này đạt được với Mỹ ba
tháng trước đó đổ vỡ.
Nhiều
quan chức Mỹ dường như tin rằng sức ép kinh tế khắc nghiệt cuối cùng sẽ khiến
dư luận Iran thay đổi — rằng khi phải chịu đựng đủ đau khổ, người dân sẽ tìm
cách lật đổ chính phủ, hoặc chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran, vì lo sợ cho sự tồn
vong của mình, sẽ chấp nhận các yêu sách của Washington. Tuy nhiên, đó chỉ là
suy nghĩ viển vông. Trong 15 năm qua, Iran đã xây dựng một nền kinh tế được thiết
kế đặc biệt để chống chịu chiến tranh kinh tế của Mỹ. Chẳng hạn, các quan chức
Iran đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với các thương nhân tại những quốc gia láng
giềng, đồng thời đưa đất nước tiến gần tới khả năng tự chủ hoàn toàn về lương
thực. Nhờ vậy, dù nền kinh tế đang chịu nhiều tổn thất và lạm phát ở mức cao,
các thành phố và thị trấn Iran cho đến nay vẫn không thiếu những hàng hóa hay dịch
vụ thiết yếu. “Thật khó tin khi mọi hoạt động trong nước vẫn được tổ chức và vận
hành tốt đến như vậy”, Hamid Reza, một kỹ sư thường xuyên đi lại giữa Isfahan
và Tehran vì công việc, cho biết. “Giá cả đắt đỏ, nhưng hoàn toàn không xảy ra
tình trạng thiếu hụt hàng hóa ở bất cứ đâu trên cả nước. Mọi thứ đều được quản
lý trong nước một cách hết sức cẩn trọng”.
Điều
đó không có nghĩa là người Iran lạc quan về tương lai đất nước. Họ vẫn lo lắng
trước những gì đang chờ đợi phía trước và mong mỏi cuộc sống sớm trở lại bình
yên, đồng thời những khó khăn kinh tế được tháo gỡ. Tuy nhiên, họ không coi cuộc
chiến do Mỹ và Israel tiến hành là một hành động giải phóng. Trái lại, họ nhìn
nhận đó là một hành vi xâm lược vô cớ. Tinh thần dân tộc trỗi dậy từ cuộc chiến
đã làm mờ ranh giới giữa các phe phái chính trị và khiến khả năng bùng nổ một
cuộc nổi dậy chính trị mới trở nên thấp hơn. Vì thế, chiến tranh rốt cuộc lại củng
cố sức mạnh cho chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran.
TỔN
THẤT VÀ LỢI ÍCH
Cũng
giống như người dân, chính quyền Iran đã có cái nhìn thù địch hơn đối với
Washington kể từ khi xung đột bùng nổ. Tân Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei đã
đưa các cộng sự thân tín vào những vị trí then chốt, dù bản thân ông vẫn tránh
xuất hiện trước công chúng. Phần lớn những người được bổ nhiệm đều là các nhân
vật cứng rắn có quan hệ mật thiết với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran
(IRGC). Trong số đó có Mohsen Rezaei, cố vấn an ninh quốc gia, và Hossein Taeb,
chỉ huy lực lượng bán quân sự chủ chốt hoạt động trong nước của Iran. Những
nhân vật này cho rằng để ngăn chặn các cuộc tấn công tiếp theo, Tehran phải đáp
trả mọi hành động khiêu khích một cách quyết liệt và mạnh mẽ. Họ hoài nghi thiện
chí ngoại giao của Washington, viện dẫn việc Mỹ đã hai lần tấn công Iran ngay
trong lúc đàm phán, sau đó lại từ bỏ bản ghi nhớ mà hai nước ký kết hồi tháng
Sáu. Vì vậy, họ cho rằng không thể đặt niềm tin vào Mỹ. Thậm chí, họ còn tin rằng
nếu Washington tỏ ý muốn đàm phán, đó có thể là dấu hiệu Mỹ đang chuẩn bị cho
những cuộc tấn công mới, giống như những gì đã xảy ra vào tháng 6/2025 và tháng
2/2026.
Những
nhân vật có lập trường tương đối ôn hòa tại Iran lại nhìn nhận vấn đề theo một
hướng khác. Nhóm tinh hoa chính trị này, gồm Tổng thống Masoud Pezeshkian, Chủ
tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf, cựu Tổng thống Hasan Rouhani và cựu Ngoại
trưởng Mohammad Javad Zarif, vẫn chủ trương Tehran cần tiếp tục tìm kiếm giải
pháp ngoại giao cho cuộc xung đột. Ông Pezeshkian và ông Ghalibaf nhiều lần nhấn
mạnh những khó khăn kinh tế mà người dân đang phải gánh chịu. Tuy nhiên, khoảng
cách giữa họ và phe lãnh đạo cứng rắn trên thực tế không lớn như vẻ bề ngoài.
Như một nhà phân tích am hiểu những nhân vật này nói với chúng tôi: “Không ai
cho rằng Iran nên đầu hàng”. Dù coi việc tháo gỡ khó khăn kinh tế là ưu tiên
hàng đầu, họ vẫn cho rằng giải pháp là buộc Mỹ thực hiện bản ghi nhớ đã ký hồi
tháng Sáu. Theo cách hiểu của Iran, thỏa thuận đó yêu cầu Washington giải tỏa
toàn bộ tài sản bị phong tỏa của Tehran, dỡ bỏ tất cả các lệnh trừng phạt, cam
kết không bao giờ tấn công Iran nữa và bồi thường thiệt hại chiến tranh. Đổi lại,
Iran chỉ cần chấp nhận ngừng bắn và khôi phục hoạt động thương mại qua eo biển
Hormuz, nơi Tehran vẫn có thể thu phí đối với tàu thuyền qua lại. Kể từ cuối
mùa hè, cả Rezaei và Ghalibaf đều tuyên bố rằng mọi nỗ lực ngoại giao phải bắt
đầu bằng việc Mỹ quay lại thực hiện bản ghi nhớ này. Sau các cuộc họp gần đây của
Liên Hợp Quốc tại New York, nhà phân tích nói trên cho biết những nhân vật này
đều nhận định “Trump chưa sẵn sàng” cho các cuộc đàm phán thực chất. Thay vào
đó, họ tin rằng Trump chỉ quay lại thỏa thuận khi chấp nhận thực tế Iran đã
giành chiến thắng, đồng nghĩa với việc Tehran phải tiếp tục khiến Mỹ trả giá đắt
hơn cho cuộc chiến.
Vì
vậy, các hành động của Iran trong thời gian tới sẽ không còn bị giới hạn bởi sự
kiềm chế hay nguyên tắc đáp trả tương xứng. Nếu chiến tranh tái diễn, Tehran sẽ
mở rộng các cuộc tấn công ra toàn khu vực, thay vì chỉ tập trung vào những địa
bàn sát lãnh thổ mình. Quan điểm đang chiếm ưu thế tại Tehran là sự thận trọng
và cách hành xử có thể dự đoán trước chỉ khiến Mỹ gia tăng sức ép, trong khi
không giúp Iran tiến gần hơn tới các mục tiêu quân sự cốt lõi: buộc Washington
rút toàn bộ lực lượng khỏi Vịnh Ba Tư và thừa nhận vị thế vượt trội của Iran.
Những cuộc tấn công liên tiếp của Tehran nhằm vào các căn cứ và cơ sở quân sự Mỹ
tại Jordan, Syria và khắp vùng Vịnh Ba Tư đều hướng tới mục tiêu này. Ở một mức
độ nhất định, các đòn tấn công đã phát huy hiệu quả. Chúng gây thiệt hại nghiêm
trọng cho nhiều khí tài và cơ sở quân sự Mỹ, buộc Washington phải chuyển nhiều
hoạt động và nguồn lực quân sự sang Israel và Jordan, đồng thời dựa vào một căn
cứ tại khu vực trung tâm Ấn Độ Dương để bảo đảm hậu cần. Nguy cơ bị Iran tấn
công thậm chí còn khiến Washington phải rút toàn bộ máy bay ném bom B-1 khỏi một
căn cứ tại Anh.
Song
song với đó, Tehran đang tìm cách gây sức ép để các đối tác vùng Vịnh của
Washington đóng cửa những căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ của họ. Để đạt mục
tiêu này, Iran công khai tuyên bố rằng hòa bình và an ninh tại vùng Vịnh chỉ có
thể được bảo đảm khi quân đội Mỹ bị đẩy ra khỏi khu vực. Tehran cũng liên tục
oanh kích các quốc gia vùng Vịnh mà họ nghi ngờ đang hỗ trợ chiến dịch quân sự
của Washington. Xét cho cùng, Iran khó có khả năng chấm dứt hoàn toàn sự hiện
diện quân sự của Mỹ tại vùng Vịnh. Tuy nhiên, Tehran đã làm đủ để khiến các quốc
gia Ả Rập phải cân nhắc lại việc tiếp tục dựa vào chiếc ô an ninh của Mỹ. Điều
này có thể khiến Washington phải thu hẹp quy mô hiện diện quân sự trong khu vực.
Dĩ
nhiên, Iran có thể buộc quân đội Mỹ rời khỏi khu vực lân cận mà không nhất thiết
đạt được các nhượng bộ về kinh tế. Trên thực tế, một phần lý do khiến chính quyền
Trump tuyên bố phát động chiến dịch “D-Day kinh tế” là vì quân đội Mỹ đã kiệt sức,
trong khi các cuộc tấn công của Iran nhằm vào Hải quân Mỹ buộc các chiến hạm của
Washington phải lùi xa bờ biển Iran. Tuy nhiên, Tehran tin rằng họ có thể buộc
đối phương chấp nhận một thỏa thuận kinh tế nào đó bằng cách gây ra những thiệt
hại tài chính đủ nghiêm trọng. Vì mục tiêu này, Iran đã tìm cách đẩy giá dầu
thô, khí đốt, dầu diesel, nhiên liệu hàng không và các sản phẩm dầu mỏ khác lên
cao thông qua những cuộc tấn công nhằm vào nhiều cơ sở năng lượng tại vùng Vịnh.
Trong số các mục tiêu có mỏ khí Ras Laffan của Qatar, bị tấn công để trả đũa việc
Israel đánh vào mỏ khí South Pars của Iran, cùng các cơ sở dầu khí tại cảng
Fujairah thuộc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Iran cũng tấn công
các tàu chở dầu và khí tự nhiên, đồng thời tìm cách củng cố quyền kiểm soát đối
với eo biển Hormuz, khu vực mà Tehran coi là thuộc chủ quyền Iran. Washington
đã đáp trả mạnh mẽ những động thái này và gần đây đạt được một số thành công
trong việc hỗ trợ các tàu chở dầu đi qua tuyến hàng hải huyết mạch đó. Tuy
nhiên, những chiến dịch hộ tống và bảo đảm an toàn hàng hải đòi hỏi nguồn lực hải
quân khổng lồ, điều mà Mỹ không thể duy trì mãi mãi.
Các
đồng minh và lực lượng đối tác của Iran trong khu vực cũng đang góp sức vào chiến
lược này. Những lực lượng Iraq được Tehran hậu thuẫn đã tấn công một đường ống
dẫn dầu trọng yếu, có nhiệm vụ vận chuyển dầu của Ả Rập Saudi đến các cơ sở bên
bờ Biển Đỏ. Vụ tấn công sẽ khiến nguồn cung dầu toàn cầu sụt giảm đáng kể trong
nhiều tháng. Lực lượng Houthi, đồng minh của Iran tại Yemen, cũng liên tục tấn
công các cơ sở dầu khí của Ả Rập Saudi. Thậm chí, Houthi còn kiểm soát thêm những
vùng lãnh thổ rộng lớn và tiến tới eo biển Bab el-Mandeb, qua đó gia tăng khả
năng đe dọa tuyến hàng hải Biển Đỏ, nơi có 12% thương mại thế giới đi qua. Những
cuộc tấn công này đồng thời cho thấy dù mạng lưới lực lượng đồng minh của Iran
đã chịu nhiều tổn thất tại Lebanon và Syria, xét trên tổng thể, mạng lưới đó vẫn
duy trì được năng lực hoạt động đáng kể.
KIÊN
ĐỊNH VỚI CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN
Mỹ
có thể cho rằng họ đã dồn Iran vào chân tường, nhưng Tehran lại không nghĩ như
vậy. Iran không coi mình đang thất thế hay đã cạn kiệt lựa chọn. Trái lại, nước
này tin rằng mình đã giành được vị thế của một cường quốc. Tehran tự hào về những
gì quân đội đã thể hiện trong cuộc chiến và cảm thấy Iran đang nhận được sự tôn
trọng mới từ cộng đồng quốc tế. Các quan chức Iran vui mừng trước những hình ảnh
cho thấy phái đoàn nước này được các quốc gia thành viên đón tiếp nồng nhiệt tại
những cuộc họp tháng Chín của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và nhóm BRICS,
những diễn đàn quy tụ nhiều quốc gia ngoài phương Tây.
Iran
vẫn đang đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn và chưa tìm ra cách chuyển
hóa những thành quả giành được trong chiến tranh thành lợi ích bền vững trong
thời bình. Tuy nhiên, Tehran sẵn sàng tiếp tục chiến đấu nếu hoàn cảnh đòi hỏi.
Theo lời một nhà phân tích cấp cao Iran có quan hệ gần gũi với giới hoạch định
chính sách nước này, chính quyền tin rằng người dân Iran “sẵn sàng chịu đựng những
tổn thất kinh tế và đau khổ, miễn là điều đó giúp [họ] giành chiến thắng”.
Trong khi đó, giới tinh hoa cầm quyền đã thống nhất được một chiến lược chung.
Nói cách khác, Tehran tin chắc rằng họ có thể giành phần thắng chỉ bằng cách
kiên trì đi theo con đường đã chọn. Không cần phải có bất kỳ sự thỏa hiệp nào.
-------------------------------------
NARGES
BAJOGHLI
là nhà nhân học, Phó Giáo sư ngành Nghiên cứu Trung Đông tại Trường Nghiên cứu
Quốc tế Cao cấp thuộc Đại học Johns Hopkins. Bà là tác giả cuốn sách Iran
Reframed: Anxieties of Power in the Islamic Republic.
VALI
NASR
là Giáo sư Quan hệ Quốc tế và Nghiên cứu Trung Đông, giữ chức danh Giáo sư
Majid Khadduri tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp thuộc Đại học Johns
Hopkins. Ông là tác giả cuốn sách Iran’s Grand Strategy: A Political History.
Nguồn:
Narges
Bajoghli và Vali Nasr, “Iran’s Theory of
Victory”,
Foreign Affairs, 09/10/2026
No comments:
Post a Comment