Trung Ngôn
31/10/2026
LGT
từ Tiếng Dân:
Đề xuất cho người nước ngoài cư trú hợp pháp ở Việt Nam được đăng ký vào danh
sách chờ ghép tạng hiện đang gây tranh cãi. Khi nguồn tạng hiến dành cho các bệnh
nhân trong nước còn khan hiếm, người bệnh Việt Nam vẫn phải chờ đợi, thậm chí
chết trước khi có cơ hội được ghép tạng, thì việc mở rộng danh sách chờ cho người
nước ngoài sẽ được thực hiện như thế nào để bảo đảm công bằng?
Ngoài
ra, một số câu hỏi được đặt ra: Người nước ngoài ở đây là người nước nào? Những
người lao động, chuyên gia, nhà ngoại giao đang sinh sống và làm việc hợp pháp ở
Việt Nam? Hay còn có nhóm người khác mà chúng ta chưa được giải thích đầy đủ?
Và
tại sao, giữa lúc xã hội đang tranh luận gay gắt về nguồn hiến tạng, quyền tự
quyết của người hiến và những nguy cơ thương mại hóa hoạt động ghép tạng, Bộ Y
tế lại muốn mở rộng thêm đối tượng được quyền tiếp cận nguồn tạng vốn đã vô
cùng hạn chế?
***
Theo
thông tin về dự thảo, đối tượng được đề xuất mở rộng là công dân nước ngoài có
giấy tờ chứng minh cư trú hợp pháp ở Việt Nam, có chỉ định y khoa về điều trị
thay thế từ cơ sở y tế đủ điều kiện và phải đăng ký vào hệ thống điều phối của
Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người. Việc phân bổ tạng dự
kiến được thực hiện theo thuật toán của hệ thống này. Đối với tạng từ người hiến
sống, dự thảo vẫn yêu cầu người nhận tạng nước ngoài phải có quan hệ huyết thống
trực hệ hoặc họ hàng trong phạm vi ba đời với người hiến.
Tuy
nhiên, Việt Nam đang thiếu tạng đến mức nào? Theo số liệu Bộ Y tế được
công bố vào tháng 10/2026, từ năm 1992 đến tháng 3/2026, Việt Nam đã thực hiện
11.187 ca ghép tạng. Riêng tại Bệnh viện Nhi Trung ương, mỗi năm có hơn 20 trẻ
cần ghép gan và khoảng 40 trẻ cần ghép thận. Đây mới chỉ là số liệu của một bệnh
viện, chưa nói đến nhu cầu trên toàn quốc.
Đằng
sau những con số ấy là những bệnh nhân phải sống phụ thuộc vào máy móc, những
người chạy thận nhiều năm, những gia đình ngày ngày chờ một cuộc điện thoại báo
có tạng phù hợp. Có những người chờ mãi không được, bởi người hiến không có,
nguồn tạng quá ít, còn thời gian thì không chờ đợi ai.
Trong
hoàn cảnh đó, nguồn tạng hiến không đơn thuần là một nguồn lực y tế có thể mở rộng
tùy ý. Mỗi quả thận, lá gan hay trái tim được hiến tặng đều là một cơ hội sống
vô cùng quý giá. Đằng sau nó là quyết định nhân đạo của một con người và gia
đình họ, chứ không phải một món hàng để phân phối theo nhu cầu thị trường.
Vậy
khi nguồn cung còn thiếu, việc mở rộng đối tượng được quyền đăng ký chờ ghép
cho người nước ngoài có thật sự hợp lý không?
Nếu
người nước ngoài được đưa vào cùng danh sách chờ quốc gia, họ sẽ được xếp thứ tự
như thế nào so với bệnh nhân Việt Nam? Người bệnh nào được ưu tiên khi có hai
trường hợp cùng mức độ khẩn cấp, cùng chỉ số tương thích? Thời gian chờ có được
tính từ lúc đăng ký hay từ lúc được xác nhận đủ điều kiện y khoa? Có cơ chế nào
bảo đảm người Việt Nam không bị đẩy xuống phía sau bởi những bệnh nhân nước
ngoài có điều kiện kinh tế tốt hơn?
Đó
là những câu hỏi cần được trả lời bằng quy định cụ thể, chứ không thể chỉ giải
thích chung chung rằng mọi người đều được phân bổ theo thuật toán.
Một
thuật toán dù hiện đại đến đâu cũng chỉ công bằng khi những tiêu chí đầu vào và
nguyên tắc vận hành của nó công bằng, minh bạch và có thể kiểm tra độc lập.
Còn
câu chuyện người Trung Quốc thì sao? Chúng ta không có đủ bằng chứng để khẳng
định đề xuất này được xây dựng nhằm phục vụ người Trung Quốc, càng không thể kết
luận rằng Việt Nam đang chuẩn bị trở thành một điểm đến cho hoạt động mua bán nội
tạng xuyên biên giới. Nhưng chúng ta hoàn toàn có quyền đặt ra câu hỏi: Người
nước ngoài được nhắm đến là ai?
Trung
Quốc là một trường hợp đặc biệt cần được nhắc đến khi bàn về vấn đề này. Trong
nhiều năm, cộng đồng quốc tế bày tỏ lo ngại sâu sắc về tình trạng cưỡng bức thu
hoạch nội tạng ở Trung Quốc, đặc biệt liên quan đến những người bị giam giữ vì
lý do chính trị và tín ngưỡng. Những cáo buộc này đã được nhiều tổ chức quốc tế
và các chuyên gia độc lập điều tra, thảo luận. Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc
bác bỏ cáo buộc cưỡng bức thu hoạch nội tạng.
Một
trong những vấn đề khiến thị trường ghép tạng quốc tế trở nên nhạy cảm là sự
chênh lệch giữa nhu cầu ghép tạng và nguồn cung hiến tặng tự nguyện. Khi người
bệnh có tiền nhưng không thể tìm được tạng phù hợp trong nước, họ có thể tìm đến
những quốc gia có hệ thống kiểm soát lỏng lẻo hơn. Đó chính là một trong những
nguy cơ của cái gọi là du lịch ghép tạng. Việt Nam không thể xem nhẹ nguy
cơ này.
Điều
đáng chú ý là nguy cơ mua bán tạng và ghép tạng du lịch không phải là chuyện do
người dân tự tưởng tượng ra. Ngay từ năm 2021, tại một hội thảo do Bộ Y tế tổ
chức, các chuyên gia đã cảnh báo về tình trạng mua bán tạng trá hình, làm giả
giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người hiến và người nhận, thậm chí có trường hợp
cơ sở y tế biết nhưng vẫn nhắm mắt thực hiện.
Giáo
sư Trần Ngọc Sinh, khi đó là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Ghép tạng Việt
Nam, đã cảnh báo rằng, việc mua bán tạng có thể đe dọa những thành tựu của
ngành ghép tạng.
Vậy
mà năm 2026, khi chính những nguy cơ ấy vẫn cần được kiểm soát chặt chẽ, dự thảo
luật lại đề xuất mở rộng đối tượng được đăng ký chờ ghép sang người nước ngoài.
Không
phải cứ mở rộng quyền tiếp cận là sai. Một người nước ngoài sinh sống lâu dài,
làm việc, đóng thuế và có cuộc sống gắn bó với Việt Nam cũng là một con người cần
được đối xử nhân đạo. Không ai nên bị tước bỏ cơ hội sống chỉ vì quốc tịch của
mình. Nhưng quyền được chăm sóc y tế không đồng nghĩa với quyền đương nhiên được
tiếp cận một nguồn tài nguyên y tế khan hiếm của một đất nước khác. Đây là
hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Điều
đáng lo hơn nữa là niềm tin của người dân. Muốn người dân tự nguyện hiến tạng,
trước hết Nhà nước phải chứng minh rằng nghĩa cử ấy được bảo vệ tuyệt đối, rằng
không ai có thể biến cái chết của một người thành cơ hội kiếm tiền, rằng không
có chuyện người giàu được ưu tiên sống hơn người nghèo, người nước ngoài được
ưu tiên hơn người trong nước.
Trong
khi đó, ngay tại phiên thảo luận về dự thảo luật ngày 21/10/2026, đại biểu Quốc
hội Trần Thị Nhị Hà đã đề nghị kiểm soát nguy cơ thương mại hóa hoạt động hiến,
ghép tạng; xây dựng cơ chế giám sát độc lập, lưu vết quá trình phân bổ và kiểm
soát hoạt động môi giới xuyên biên giới, đặc biệt là du lịch ghép tạng.
Như
vậy, ngay cả các đại biểu Quốc hội cũng nhìn thấy những lỗ hổng và nguy cơ cần
phải xử lý. Vậy tại sao việc mở rộng đối tượng nhận tạng lại được đưa ra khi những
cơ chế bảo vệ và giám sát vẫn còn là vấn đề phải tiếp tục hoàn thiện?
Đặc
biệt, dự thảo lần này còn đề xuất mở rộng nguồn hiến từ trẻ em, bổ sung việc lấy
tạng từ người chết tuần hoàn và điều chỉnh nhiều vấn đề liên quan đến hiến,
ghép. Mỗi chính sách đều liên quan trực tiếp đến quyền tự quyết đối với cơ thể
con người. Nếu những quy định này không được xây dựng với các hàng rào bảo vệ đủ
mạnh, hậu quả có thể vượt xa những gì người soạn thảo dự liệu.
Cần
lưu ý rằng, hiến tạng là một nghĩa cử nhân đạo, không phải một ngành kinh
doanh. Người dân có quyền được biết tạng hiến được lấy từ đâu, ai được nhận,
căn cứ nào quyết định thứ tự ưu tiên và ai chịu trách nhiệm nếu xảy ra sai phạm.
Cũng
cần công khai quốc tịch, số lượng và nhóm đối tượng người nước ngoài dự kiến được
hưởng chính sách, lý do cần mở rộng, cũng như đánh giá tác động đối với bệnh
nhân Việt Nam. Không thể lấy hai chữ nhân đạo làm câu trả lời cho tất cả những
thắc mắc chính đáng.
Và
nếu mục tiêu là thu hút du lịch y tế, phát triển dịch vụ ghép tạng để kiếm ngoại
tệ thì càng phải nói rõ. Một quốc gia có thể phát triển du lịch chữa bệnh,
nhưng không thể biến nguồn tạng hiến tự nguyện của người dân thành lợi thế cạnh
tranh để thu hút khách hàng quốc tế.
Người
Việt Nam đang chờ được ghép tạng. Những đứa trẻ đang chờ một lá gan, một quả thận
để tiếp tục sống. Những bệnh nhân nghèo đang phải chạy đua với thời gian. Họ cần
được bảo đảm cơ hội sống trước khi Nhà nước tính đến việc mở rộng danh sách chờ
cho những người khác.
Tôi
không phản đối việc cứu người nước ngoài. Tôi chỉ phản đối một chính sách thiếu
minh bạch, thiếu đánh giá tác động và chưa chứng minh được rằng quyền lợi của
người bệnh trong nước sẽ không bị ảnh hưởng.
Còn
người nước ngoài là người nước nào? Có phải những người Trung Quốc đang tìm kiếm
nguồn tạng bên ngoài biên giới của họ hay không? Nếu không, Bộ Y tế hãy công
khai giải thích đối tượng, nhu cầu và cơ sở xây dựng chính sách. Đừng để
người dân phải tự suy diễn trong một vấn đề liên quan đến sinh mạng con người.
Hiến
đất, hiến máu, rồi đến hiến tạng. Còn người dân được bảo đảm điều gì trong tất
cả những nghĩa vụ mang danh nghĩa cao đẹp đó?
Một
chính sách nhân đạo không thể chỉ được đánh giá bằng số người có cơ hội được cứu
sống, mà còn phải được đánh giá bằng việc nó bảo vệ những người yếu thế như thế
nào.
Nếu
chưa giải quyết được bài toán công bằng cho người bệnh Việt Nam, thì việc vội
vàng mở rộng cánh cửa cho người nước ngoài quả thật khiến người ta phải đặt câu
hỏi: Đây là chính sách vì sự sống, hay còn có một lộ trình nào khác mà người
dân chưa được biết?
No comments:
Post a Comment