Chiến tranh hỗn hợp của
Nga đã bước sang giai đoạn mới đầy nguy hiểm
Julianne Smith - Foreign Affairs
Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
Và
phương Tây vẫn hành động quá ít để răn đe họ.
Trong
những năm đầu của cuộc chiến tại Ukraine, các đòn tấn công bằng chiến tranh hỗn
hợp của Nga ở châu Âu vẫn nằm dưới ngưỡng có thể kích hoạt một đòn đáp trả tập
thể. Trên cương vị là Đại diện Thường trực của Mỹ tại NATO từ năm 2021 đến
2024, tôi đã tận mắt chứng kiến chiến dịch này dần mở rộng: các tuyến cáp quang
ngầm dưới biển bị cắt đứt, các thiết bị gây cháy giấu trong các kiện hàng hóa,
cùng những vụ phóng hỏa nhắm vào các nhà máy vũ khí và kho đạn dược trên khắp
châu Âu. Để ứng phó với hiểm họa này, các đồng minh đã gia cố hạ tầng trọng yếu,
tăng cường tuần tra trên Biển Baltic, và đẩy mạnh chia sẻ thông tin tình báo.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của NATO phần lớn vẫn mang tính phòng thủ thụ động: những
vụ tấn công này diễn ra rải rác, quy mô nhỏ, và vừa đủ mức độ mập mờ để Moscow
có thể phủi tay chối bỏ trách nhiệm.
Giờ
đây, thực tế đó không còn đúng nữa. Hồi cuối tháng 7, một tên lửa hành trình của
Nga rơi xuống lãnh thổ Ba Lan. Chỉ vài ngày sau, người ta phát hiện ba máy bay
không người lái mang theo chất nổ ngay tại một sân bay và khu vực lân cận ở
Leipzig, Đức. Hai tuần sau nữa, các tiêm kích F-16 của Romania phải khẩn cấp xuất
kích để chặn ba máy bay không người lái của Nga trên không phận nước này, trong
khi một máy bay phản lực của Tây Ban Nha bắn hạ chiếc thứ tư gần biên giới
Moldova. Nếu hai năm trước, có ai đó từng mô tả tình cảnh hiện tại của NATO –
máy bay không người lái lượn lờ trên không phận đồng minh, tên lửa hành trình của
Nga rơi xuống đất Ba Lan, thuốc nổ xuất hiện tại một sân bay Đức – mà liên minh
này lại không đưa ra được bất kỳ đòn đáp trả tập thể thực chất nào, thì đó hẳn
là chuyện khó tin.
Ý
đồ của Tổng thống Nga Vladimir Putin gần như đã rõ ràng. Những cuộc tấn công
này được tính toán nhằm làm rạn nứt tình đoàn kết trong liên minh, thử thách mức
độ kiên định của các nước thành viên đối với Điều 5 – nguyên tắc xem đòn tấn
công vào một thành viên là đòn tấn công vào tất cả – đồng thời đẩy chi phí viện
trợ cho Ukraine lên cao hơn. Tuy nhiên, điều ít ai lường trước được chính là tốc
độ mà chiến dịch ngấm ngầm chối bỏ trách nhiệm này chuyển biến thành những hành
động công khai, không thể chối cãi.
NATO
không hề nhắm mắt làm ngơ. Liên minh vẫn theo dõi, điều tra, và đôi khi đánh chặn
các cuộc tấn công. Nhưng chỉ phản ứng theo từng vụ việc thì không thể gọi là
răn đe, và Putin hiểu rất rõ sự khác biệt này. Chừng nào mỗi hành động khiêu
khích chỉ khiến Moscow thiệt hại không quá một chiếc máy bay không người lái,
thì Putin vẫn có đủ lý do để tiếp tục leo thang. Và mỗi nấc thang căng thẳng lại
làm tăng nguy cơ một trong những sự cố này sẽ dẫn đến tổn thất thảm khốc về
nhân mạng. Huy động hành động tập thể để buộc Nga phải trả giá là cơ hội tốt nhất
để liên minh ngăn chặn một kịch bản như vậy.
GỠ
BỎ MẶT NẠ
Đối
với Nga, các thủ đoạn chiến tranh hỗn hợp hoàn toàn không phải điều gì mới lạ.
Ngay từ những năm 1920 và xuyên suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô đã dựa
vào chiến lược mà họ gọi là “các biện pháp chủ động”: sử dụng các lực lượng ủy
nhiệm tại chỗ, các tổ chức bình phong, và các nhóm không chính quy để đạt được
mục tiêu chính trị. Ngày nay, Putin về cơ bản vẫn áp dụng mô hình đó: tìm cách
làm xói mòn niềm tin của các đồng minh vào Điều 5 của NATO bằng việc tận dụng
các đòn đánh nằm dưới ngưỡng của một cuộc chiến tranh quy ước, khiến các quốc
gia thành viên không bị ảnh hưởng trực tiếp do dự không muốn đáp trả. Khả năng
chối bỏ trách nhiệm một cách hợp lý luôn là phần cốt lõi trong những chiến dịch
này. Dù bằng phương thức nào – cắt cáp quang ngầm ở Biển Baltic, phát động tấn
công mạng phối hợp, hay kích nổ một nhà máy sản xuất đạn pháo cho Ukraine ở
Đông Âu – Nga cũng nhanh chóng gạt bỏ mọi sự liên can trực tiếp. Thậm chí, họ
còn thường xuyên đổi trắng thay đen, cáo buộc các thành viên NATO mắc chứng “bài
Nga” và đổ lỗi sang cho Ukraine hoặc các nhóm bất hảo.
Các
thành viên NATO từ lâu đã quen thuộc với chiêu bài này của Nga. Hầu hết các nước
châu Âu trong khối đều từng nếm trải nhiều vụ tấn công hỗn hợp suốt hai thập kỷ
qua. Nhưng kể từ khi phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine vào năm 2022, Nga
đã thay đổi chiến lược theo hai hướng rõ rệt. Thứ nhất, họ tăng mạnh tần suất tấn
công; theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), trong năm đầu
tiên của cuộc chiến, số vụ xâm nhập của Nga vào châu Âu đã tăng gấp bốn lần. Thứ
hai, họ đa dạng hóa các thủ đoạn. Bên cạnh các chiến dịch tung tin giả, vi phạm
không phận, và tấn công mạng vốn đã quen thuộc, các tác nhân có liên hệ với
Moscow còn phá hoại đường sắt, gài các bưu kiện gây cháy lên máy bay chở hàng,
và chi tiền thuê các mạng lưới tội phạm ngay tại châu Âu để phóng hỏa các kho
vũ khí.
Đến
đầu năm 2023, trước những diễn biến đáng lo ngại này, NATO đã nâng tầm tính chất
nghiêm trọng và cấp bách trong các cuộc thảo luận về các hoạt động hỗn hợp của
Nga. Tuyên bố chung tại Hội nghị Thượng đỉnh NATO năm 2023 – văn kiện vạch ra
các lập trường và ưu tiên chung của liên minh – khẳng định Nga đang “gia tăng
cường độ” các cuộc tấn công nhắm vào các đồng minh, đồng thời lần đầu tiên nhắc
tới việc Nga sử dụng các lực lượng ủy nhiệm. Liên minh cũng tung ra hàng loạt
sáng kiến mới để chống lại hoạt động hỗn hợp: các nguyên thủ quốc gia đã thông
qua những mục tiêu mới nhằm bảo vệ cơ sở hạ tầng trọng yếu và chuỗi cung ứng
trước các cú sốc chiến lược trên toàn lãnh thổ liên minh. Họ cũng đồng thuận
thành lập Trung tâm Hàng hải NATO về An ninh Hạ tầng Ngầm Trọng yếu và Năng lực
Hỗ trợ Sự cố Không gian Mạng Ảo – một nền tảng điều phối giúp các thành viên ứng
phó với các cuộc tấn công mạng. Điều còn thiếu duy nhất là những biện pháp cụ
thể để buộc Nga phải trả giá. Dù lên án chiến tranh hỗn hợp của Moscow, NATO vẫn
chưa sẵn sàng thảo luận thẳng thắn về những hậu quả thích đáng, chẳng hạn như
các lệnh trừng phạt có mục tiêu, biện pháp trấn áp “hạm đội bóng đêm” của Nga
(những con tàu ngụy tạo danh tính mà Nga dùng để lách lệnh trừng phạt), hay các
chiến dịch tấn công mạng và chiến dịch thông tin.
Một
phần của vấn đề nằm ở cấu trúc của liên minh. NATO được thành lập vào năm 1949
với mục tiêu cốt lõi là phòng thủ tập thể trước các cuộc tấn công vũ trang có
nguồn gốc rõ ràng. Liên minh vốn không được thiết kế để trừng phạt các hành vi
khó xác định trách nhiệm. Với tư cách là một liên minh quân sự thuần túy phòng
thủ, NATO không có thẩm quyền ban hành các lệnh trừng phạt hay trục xuất các điệp
viên Nga khỏi các quốc gia thành viên. Thẩm quyền đó thuộc về từng quốc gia
riêng lẻ và Liên minh châu Âu (EU). Kể từ hội nghị thượng đỉnh năm 2014, NATO
luôn giữ quan điểm rằng một cuộc tấn công mạng hoặc tấn công hỗn hợp có thể
kích hoạt Điều 5 trên cơ sở “từng trường hợp cụ thể,” nhưng liên minh chưa bao
giờ vạch ra một ngưỡng hành động rõ ràng. Ngay cả trong những trường hợp liên
minh có thể hành động tập thể – như mở các chiến dịch tấn công mạng – thì việc
này cũng đòi hỏi sự đồng thuận tuyệt đối của 32 quốc gia với lịch sử, nền chính
trị nội bộ, và mức độ chấp nhận rủi ro rất khác nhau.
Trong
năm tiếp theo sau hội nghị thượng đỉnh NATO 2023, Nga tiếp tục gia tăng sức ép,
nâng số vụ tấn công hỗn hợp ở châu Âu lên gấp ba lần, và thử nghiệm những cách
thức mới nhằm vào lãnh thổ NATO, chẳng hạn như can thiệp vào hệ thống đường sắt
của châu lục. Trước tình hình đó, liên minh đã nâng cao năng lực phát hiện, điều
tra dấu vết, và các phương án ứng phó. Các thành viên NATO chia sẻ kinh nghiệm
thực tiễn, tham gia các cuộc diễn tập mô phỏng trên bàn giấy nhằm kiểm tra các
phương án, và xây dựng chiến lược mới để chống lại nạn tin giả. Nhiều quốc gia
như Estonia, Đức, Ba Lan và Anh còn chủ động mở các cuộc điều tra độc lập, truy
tố, và trục xuất các nhà ngoại giao cùng những sĩ quan tình báo Nga bị tình
nghi. Những bước đi này rất quan trọng, nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ để răn đe
được Nga.
Bước
sang năm 2025, hy vọng về những hành động quyết liệt hơn của NATO đã rơi vào
đình trệ. Khi Tổng thống Donald Trump trở lại Nhà Trắng, ông tập trung cao độ
vào việc buộc các thành viên NATO phải tăng chi tiêu quốc phòng, đến mức gần
như mọi cuộc tiếp xúc với các đồng minh đều chỉ xoay quanh vấn đề duy nhất này.
Sự ưu tiên có phần cứng rắn đó đã mang lại một số kết quả đáng ghi nhận. Tại Hội
nghị Thượng đỉnh NATO năm 2025 ở La Hay, tất cả các đồng minh đều cam kết nâng
mức chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP vào năm 2035. Nhưng thay vì tận dụng thắng lợi
đó để chuyển hướng sự chú ý của liên minh trở lại với cuộc chiến hỗn hợp của
Nga, chính quyền Trump lại tiếp tục thúc ép các đồng minh phải chi nhiều hơn và
nhanh hơn nữa. Khi tôi đến thăm trụ sở NATO vào tháng 11/2025 và hỏi các đồng
nghiệp cũ rằng họ đang dành thời gian cho việc gì, đại diện thường trực của một
quốc gia đã thẳng thắn đáp: “Phần lớn thời gian của chúng tôi là để đối phó với
các vị.” Giữa những xáo trộn này, đà chuẩn bị ứng phó với chiến tranh hỗn hợp của
liên minh dần chậm lại như rùa bò. Dù các đồng minh đã thống nhất vào năm 2024
về việc đưa ra một chiến lược mới đối với Nga tại thượng đỉnh La Hay năm 2025,
văn kiện này rốt cuộc lại không thành hiện thực. Tuyên bố thượng đỉnh thậm chí
còn chẳng buồn nhắc tới chiến tranh hỗn hợp của Nga.
ẾCH
TRONG NỒI NƯỚC SÔI
Mùa
hè năm 2025 có lẽ đã đánh dấu đỉnh cao tự tin của Putin. Ngoài việc NATO lơ là
các hoạt động hỗn hợp, chiến dịch tấn công mùa hè của Nga tại Ukraine cũng gặt
hái được những thành quả nhất định. Trong lúc các đồng minh NATO mải tranh cãi
về thuế quan và tranh luận xem liệu châu Âu có đang đối mặt với cái mà Phó Tổng
thống J.D. Vance gọi là “sự tự sát về mặt văn minh” hay không, thì bản thân
Putin lại được Trump săn đón – một động thái thể hiện rõ nét qua cuộc gặp thượng
đỉnh Mỹ-Nga tại Alaska vào tháng 8.
Đến
tháng 9 cùng năm, Putin dường như chẳng còn bận tâm đến việc chối bỏ trách nhiệm,
và chiến dịch chiến tranh hỗn hợp của Nga ngày càng trở nên trắng trợn. Trong
tháng đó, khoảng 20 máy bay không người lái của Nga đã bay vào không phận Ba
Lan, trong khi ba tiêm kích Nga xâm nhập không phận Estonia trước khi lần lượt
bị lực lượng NATO bắn hạ và xua đuổi. Sau mỗi vụ việc, NATO đều triệu tập các
cuộc tham vấn theo Điều 4 – điều khoản được kích hoạt khi “sự toàn vẹn lãnh thổ,
độc lập chính trị, hoặc an ninh của bất kỳ bên nào bị đe dọa.” Liên minh còn
phát động sáng kiến mang tên “Lính gác phía Đông” (Eastern Sentry) nhằm tăng cường
cảnh giác ở sườn phía đông của mình mà không ấn định ngày kết thúc. Sáng kiến
này đặt thêm các phương tiện phòng không và chống máy bay không người lái của đồng
minh dưới quyền chỉ huy của NATO để củng cố hệ thống phòng không và phòng thủ
tên lửa tích hợp dọc biên giới đó. Dù đây là sự bổ sung rất cần thiết cho các nỗ
lực chống chiến tranh hỗn hợp của NATO, bước đi này vẫn không ngăn cản được các
cuộc tấn công của Nga.
Đến
cuối năm 2025, khi đà tiến công trên chiến trường của Nga bắt đầu chững lại và
Ukraine đẩy mạnh các cuộc tập kích bằng máy bay không người lái và tên lửa vào
cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Nga, Putin đã nhấn ga đẩy cuộc chiến hỗn hợp lên mức
cao nhất. Vào tháng 12, khi nhiệt độ giảm sâu, các tin tặc được Nga hậu thuẫn
đã lan truyền phần mềm độc hại “wiper” – loại mã độc chuyên xóa sạch dữ liệu và
vô hiệu hóa hệ điều hành – nhắm vào 30 cơ sở năng lượng ở Ba Lan. Mùa xuân vừa
qua, các tàu ngầm của Nga bị phát hiện gần Quần đảo Svalbard của Na Uy khi đang
thử nghiệm một loại vũ khí mới có khả năng vô hiệu hóa cáp ngầm mà không để lại
dấu vết. Sang tháng 5, một máy bay không người lái của Nga lao trúng một tòa
chung cư ở Romania, đánh dấu lần đầu tiên một vụ tấn công kiểu này khiến thường
dân bị thương.
Nhịp
độ của các đợt xâm nhập này càng dồn dập hơn trong những tháng mùa hè. Vào
tháng 8, các nhóm gần như chắc chắn có liên hệ với Nga đã gây ra hàng loạt vụ
phóng hỏa ở Bulgaria, Estonia, Italy, và Ba Lan, tất cả nhiều khả năng đều nhằm
mục đích làm chậm dòng viện trợ cho Ukraine. Một trong những vụ việc liều lĩnh
nhất là vụ tấn công nhắm vào sân bay Leipzig hồi đầu tháng 8: một máy bay không
người lái mang theo chất nổ được tìm thấy gần máy bay vận tải của Ukraine. Sang
tháng 9, một tàu hộ vệ của Nga ngoài khơi bờ biển Đan Mạch đã bắn hai quả pháo
sáng về phía trực thăng quân sự Đan Mạch, trong đó một quả suýt chút nữa đã bắn
trúng chiếc trực thăng.
Người
ta từng kỳ vọng chuỗi sự kiện này sẽ thúc đẩy một đòn đáp trả tập thể đầy khẩn
trương từ NATO. Nhưng việc Nga tăng dần mức độ của các cuộc tấn công đã giúp nước
này thực hiện trót lọt những hành vi ngày càng nguy hiểm mà hầu như không phải
trả bất kỳ giá nào. Các đồng minh xem xét những vụ việc này, tranh luận, và phản
ứng theo cách này hay cách khác, nhưng họ vẫn tiếp tục bám vào cách tiếp cận xử
lý theo từng trường hợp được đề ra từ năm 2014. Dù điều khoản đó ban đầu nhằm
duy trì sự linh hoạt cho liên minh, nhưng sau cùng, nó lại khiến các thành viên
NATO không thể nhìn nhận các cuộc tấn công này dưới góc độ tổng thể để tạo tiền
đề cho một hành động tập thể chung.
TẬP
HỢP CÁC ĐỒNG MINH
Rõ
ràng là NATO cần phải đưa ra một đòn đáp trả mạnh mẽ hơn trước sự leo thang của
Moscow. Tuy nhiên, bất kỳ chiến lược mới nào cũng phải bắt đầu từ thành viên
quyền lực nhất của liên minh: Mỹ. Nhưng chính quyền Trump lại đang phát đi những
tín hiệu đầy mâu thuẫn về các cuộc tấn công này – lúc thì phớt lờ, khi lại chấp
nhận những lời biện hộ công khai từ phía Nga, và thỉnh thoảng mới ủng hộ các biện
pháp đáp trả bằng vũ lực. Sau vụ máy bay không người lái xâm nhập Ba Lan vào
tháng 09/2025, Trump nói rằng đó “có thể chỉ là một sự cố nhầm lẫn” – nhận định
mà chính phủ Ba Lan kịch liệt bác bỏ. Vài ngày sau, trong cuộc họp báo với Tổng
thống Ukraine Volodymyr Zelensky, Tổng thống Mỹ lại cho rằng các đồng minh nên
bắn hạ máy bay Nga nếu chúng xâm phạm không phận. Nhưng khi được hỏi về vụ phát
hiện máy bay không người lái ở Leipzig, Trump lại tuyên bố rằng “Putin không hề
có ý định tấn công lãnh thổ NATO.” Những thông điệp trái ngược như vậy đang làm
xói mòn năng lực răn đe Nga của liên minh. Muốn thuyết phục Putin dừng cuộc chiến
hỗn hợp này, thành viên hùng mạnh nhất của NATO phải phát đi một tín hiệu dứt
khoát rằng mọi hành vi tấn công trong tương lai đều sẽ phải trả giá đắt.
Mỹ
cần phải xử lý cuộc chiến hỗn hợp của Nga một cách quyết liệt, tương tự như
cách họ từng đáp trả lời đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật của Nga vào
mùa thu năm 2022. Khi đó, Washington đã đưa ra cảnh báo trực diện và công khai
tới Moscow về “những hậu quả thảm khốc” nếu làm vậy. Theo một số báo cáo, chuyến
đi của Giám đốc CIA John Ratcliffe tới Moscow vào tháng 08/2026 chính là nhằm gửi
đi một thông điệp răn đe tương tự đối với các cuộc tấn công hỗn hợp, nhưng Nhà
Trắng lại giảm nhẹ ý nghĩa của chuyến đi này khi gọi đó chỉ là “hoạt động gần
như thường lệ.” Ngay cả khi Ratcliffe thực sự đã đưa ra tối hậu thư, Putin nhiều
khả năng cũng chỉ xem trọng lời đe dọa đó nếu nó được thốt ra từ chính miệng
Trump.
Thể
hiện quyết tâm mới chỉ là một nửa vấn đề. Các đồng minh còn phải khiến cái giá
của sự gây hấn kéo dài trở nên hữu hình. Việc Na Uy bắt giữ một tàu của Nga tại
Svalbard vào tháng 9 – như một biện pháp trừng phạt vì Moscow từ chối bồi thường
thiệt hại cho một công ty năng lượng Ukraine mà họ đã tịch thu ở Crimea – là một
hình mẫu tiêu biểu. Việc Pháp liên tục chặn và khám xét các tàu chở dầu Nga chịu
lệnh trừng phạt là một ví dụ khác. Các đồng minh NATO cần nhân rộng những bước
đi như vậy. Chẳng hạn, Mỹ có thể tuyên bố nối lại kế hoạch mở các chiến dịch
thông tin và tấn công mạng nhắm vào Nga – kế hoạch mà Bộ trưởng Quốc phòng Pete
Hegseth đã tạm đình chỉ vào tháng 03/2025. NATO cũng có thể tích hợp hoạt động
giám sát của các đồng minh đối với hạm đội bóng đêm của Nga để xây dựng một cơ
sở dữ liệu chung về những con tàu treo cờ giả, không có bảo hiểm, hoặc dính líu
đến các vụ cắt cáp ngầm. Sau đó, dữ liệu này có thể được chia sẻ với thủ đô các
nước thành viên và EU để họ thực thi các biện pháp trừng phạt hiệu quả hơn.
Các
đồng minh NATO của Washington nên tiếp tục củng cố năng lực phòng thủ và vạch
trần các đòn tấn công của Moscow. Tuy nhiên, họ phải chấm dứt việc xem xét từng
vụ tấn công hỗn hợp một cách riêng lẻ, mà thay vào đó phải chỉ ra được quy luật
gây hấn có hệ thống của Nga – yếu tố sẽ kích hoạt đòn đáp trả từ phía NATO. Họ
cũng nên mở rộng thẩm quyền được trao sẵn cho Tổng tư lệnh Đồng minh Tối cao tại
châu Âu, người đứng đầu các chiến dịch quân sự của NATO. Trách nhiệm của vị tư
lệnh này gần đây đã được mở rộng sang cả nhiệm vụ kiểm soát không phận các nước
Baltic, nhưng phạm vi đó cần bao quát thêm cả hải phận – nơi Nga đang đẩy mạnh
leo thang. Moscow hiện duy trì một đội tàu vũ trang thường trực tuần tra ở Vịnh
Phần Lan để hộ tống các tàu chở dầu thuộc hạm đội bóng đêm, biến mọi nỗ lực
ngăn chặn một con tàu khả nghi của đồng minh thành nguy cơ đụng độ trực tiếp với
hải quân Nga.
Sau
cùng, mỗi cuộc tấn công hỗn hợp của Nga cần trở thành động lực thúc đẩy các đồng
minh tăng cường hỗ trợ cho Ukraine. Kể từ năm 2022, Putin đã dùng mọi thủ đoạn
có thể tưởng tượng để chặn đứng dòng viện trợ đổ về Kyiv. Dòng chảy hỗ trợ quân
sự và kinh tế ổn định tuy vẫn tiếp diễn nhưng đã suy giảm đáng kể so với những
tháng đầu của cuộc chiến. Quay trở lại với nỗ lực chung này sẽ chứng minh cho
Putin thấy rằng việc phóng hỏa các kho bãi và nhà máy sản xuất máy bay không
người lái sẽ không thể bẻ gãy ý chí của NATO. Cho đến nay, liên minh vẫn gặp
may khi chưa có cuộc tấn công hỗn hợp nào của Nga gây ra thảm kịch thương vong
lớn về người. Nhưng với mức độ chấp nhận rủi ro của Putin ngày càng cao, không
khó để hình dung rằng vận may đó rồi cũng sẽ đến lúc cạn kiệt.
-----------------------
Julianne
Smith
là nghiên cứu viên cấp cao về Quốc phòng và An ninh tại Hội đồng Các vấn đề
Toàn cầu Chicago. Bà từng là Đại diện Thường trực của Mỹ tại NATO từ năm 2021 đến
2024 và là Phó Cố vấn An ninh Quốc gia cho Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden từ năm
2012 đến 2013.
Nguồn: Julianne Smith, “Russia’s Hybrid War
Has Entered a Dangerous New Phase,” Foreign Affairs, 07/10/2026
No comments:
Post a Comment