Thursday, 3 September 2026

TRUNG QUỐC PHẪN NỘ VÌ ĐÀI LOAN ĐƯỢC MỜI THAM DỰ DIỄN ĐÀN CÁC ĐẢO QUỐC THÁI BÌNH DƯƠNG (Thanh Hà / RFI)

 



Trung Quốc phẫn nộ vì Đài Loan được mời tham dự Diễn Đàn các Đảo Quốc Thái Bình Dương

Thanh Hà  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 12:55  -  Sửa đổi ngày: 03/09/2026 - 15:56

https://www.rfi.fr/vi/ch%C3%A2u-%C3%A1/20260903-trung-qu%E1%BB%91c-ph%E1%BA%ABn-n%E1%BB%99-v%C3%AC-%C4%91%C3%A0i-loan-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-m%E1%BB%9Di-tham-d%E1%BB%B1-di%E1%BB%85n-%C4%91%C3%A0n-c%C3%A1c-%C4%91%E1%BA%A3o-qu%E1%BB%91c-th%C3%A1i-b%C3%ACnh-d%C6%B0%C6%A1ng

 

Diễn đàn các đảo quốc Thái Bình Dương (PIF) 2026 tổ chức tại Palau sắp kết thúc vào ngày 04/09/2026. Đài Loan và Trung Quốc là hai đối tác của Diễn đàn và được mời đến tham dự sự kiện. Sự hiện diện của Đài Loan đã khiến Bắc Kinh phẫn nộ. Đầu tuần này, đại diện Trung Quốc về khu vực Thái Bình Dương, ông Tiền Bác (Qian Bo) tuyên bố, việc mời ngoại trưởng Đài Loan đến Palau dự lễ khai mạc diễn đàn lần thứ 55 sẽ dẫn tới nhiều « hậu quả ».

 

Vấn đề Đài Loan gây chia rẽ 18 thành viên của Diễn Đàn.

 

Thông tín viên RFI từ Bắc Kinh Cléa Broadhurst nói đến áp lực của Trung Quốc đối với các nước ở Nam Thái Bình Dương.

 

« Nhìn từ Bắc Kinh, sự hiện diện của Đài Loan là một hành động khiêu khích. Hòn đảo này không phải là thành viên Diễn Đàn các Đảo Quốc Thái Bình Dương mà chỉ là một đối tác phát triển từ nhiều thập niên qua. Ngoại trưởng Đài Loan được mời đến dự các sự kiện tổ chức bên lề hội nghị và dự lễ khai mạc diễn đàn. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đã là quá đáng đối với Trung Quốc. Đặc sứ Trung Quốc về khu vực Thái Bình Dương, Tiền Bác (Qian Bo) không đi sâu vào chi tiết nhưng đã cảnh báo trước những hậu quả từ việc mời Đài Loan dự diễn đàn lần này. Dường như Bắc Kinh cũng đã yêu cầu các phái đoàn quốc tế không tham dự những cuộc họp mà có sự hiện diện của Đài Loan.

 

Những động thái này cho thấy cả một chiến dịch ngoại giao của Trung Quốc đang diễn ra tại Thái Bình Dương. Bắc Kinh đã thuyết phục các đảo Salomon, Kiribati và Nauru cắt đứt bang giao với Đài Bắc. Hiện chỉ còn ba thành viên Diễn Đàn vẫn công nhận Đài Loan. Đó là Palau, quần đảo Marshall và Tuvalu. Tuy nhiên, áp lực của Trung Quốc lần này đã vấp phải một phản ứng tập thể : Úc và New Zealand nhấn mạnh Diễn Đàn tự quyết định thành phần các khách mời. Palau thì bảo vệ đồng minh Đài Loan. Ngoài ra việc 5 (trong số 18) lãnh đạo các thành viên vắng mặt và chỉ cử các bộ trưởng đến tham gia làm dấy lên nhiều nghi vấn về khả năng Trung Quốc đã can thiệp. Song, chưa có bằng chứng cụ thể nào cho phép khẳng định về sự can thiệp từ phía Bắc Kinh ». 

 

Lo ngại Trung Quốc thử tên lửa đạn đạo

Tổng thống Palau kêu gọi các đảo quốc trong vùng Thái Bình Dương có chung một tiếng nói phản đối Trung Quốc thử nghiệm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa hồi tháng 7/2026.

 

AFP nhắc lại Bắc Kinh đã thông báo với các đảo quốc trong khu vực « chỉ ít ngày trước đó ». Tổng thống Palau coi đây là một màn nhằm phô trương sức mạnh quân sự tại một khu vực mà Trung Quốc liên tục tìm cách mở rộng ảnh hưởng.

 

Họp báo sáng nay 03/09/2026, ông Surangel Whipps tuyên bố « Thái Bình Dương chắc chắn phải có một tiếng nói chung » và « trong ngày hôm nay, các bên phải thảo luận về việc Trung Quốc thử nghiệm tên lửa xuyên lục địa ». Bắc Kinh luôn khẳng định vụ thử tên lửa là một « hoạt động bình thường » hàng năm, và đã thông báo với các quốc gia liên quan.

 

Trái lại theo lời tổng thống Palau, Trung Quốc « chưa bao giờ thông báo » về việc thử nghiệm và khả năng những mảnh vỡ tên lửa có thể rời xuống vùng biển này. Theo các cơ quan quan sát các vụ thử nghiệm tên lửa, những mảnh vỡ trong đợt Trung Quốc thử nghiệm hồi tháng 07/2026 có khả năng đã rơi xuống một vùng biển giữa quần

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

Trung Quốc phản đối Đài Loan tham gia Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương

DIỄN ĐÀN CÁC ĐẢO THÁI BÌNH DƯƠNG

.

Trung Quốc huy động số lượng tàu kỷ lục quanh Đài Loan trong tháng Bảy

TRUNG QUỐC - ĐÀI LOAN

.

Biển Philippines : Mặt trận chính của tầu sân bay Trung Quốc trong chiến tranh Đài Loan ?

THEO DÒNG THỜI SỰ

 

 


CHỦ TỊCH TQ TẬP CẬN BÌNH KÊU GỌI CHỐNG BÊN NGOÀI “CAN THIỆP” VÀO TRUNG ĐÔNG, MỞ RỘNG ĐẦU TƯ TẠI AI CẬP (Minh Anh / RFI)

 



 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi chống bên ngoài « can thiệp » vào Trung Đông, mở rộng đầu tư tại Ai Cập

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 03/09/2026 - 12:34

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20260903-ch%E1%BB%A7-t%E1%BB%8Bch-trung-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%ADp-c%E1%BA%ADn-b%C3%ACnh-k%C3%AAu-g%E1%BB%8Di-ch%E1%BB%91ng-b%C3%AAn-ngo%C3%A0i-can-thi%E1%BB%87p-v%C3%A0o-trung-%C4%91%C3%B4ng-m%E1%BB%9F-r%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%E1%BA%A1i-ai-c%E1%BA%ADp

 

Ngày 02/09/2026, kết thúc hai ngày công du Ai Cập, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng với tổng thống Ai Cập Abdel Fattah Al Sissi nhất trí mở rộng hợp tác đầu tư của Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế của Ai Cập. Đồng thời, nguyên thủ Trung Quốc kêu gọi chống « các hành động can thiệp từ bên ngoài » vào Trung Đông.

 

https://s.rfi.fr/media/display/46853920-a777-11f1-9ba5-005056bf30b7/w:1024/p:16x9/AP25106435109116.webp

(Ảnh minh họa) Tàu XIN YU của Trung Quốc đi qua Kênh đào Suez ở Ismailia, Ai Cập, vào ngày 16 tháng 4 năm 2025. AP - Amr Nabil

 

Theo AFP, hai nước hôm qua 02/09 đã ký kết một thỏa thuận khởi động giai đoạn ba của khu công nghiệp Ai Cập – Trung Quốc, hiện đã đón tiếp hơn 200 doanh nghiệp Trung Quốc. Theo Cairo, dự án này lên tới khoảng 4 tỷ đô la đầu tư.

 

Nếu như chi tiết về nguồn tài chính không được công bố, kế hoạch đầu tư này sẽ giúp Bắc Kinh tăng cường hơn nữa sự hiện diện tại khu vực kênh đào Suez, vào lúc cuộc chiến Hoa Kỳ - Iran đang đe dọa giao thương hàng hải quốc tế. Một loạt các thỏa thuận bổ sung khác cũng đã được ký kết trong lĩnh vực công nghiệp, giao thông và công nghệ, và nhất là cả hai nước thông báo mở rộng hợp tác trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu.

 

Bên cạnh vấn đề kinh tế, xung đột ở Trung Đông còn là tâm điểm thảo luận giữa

hai nguyên thủ tại cung điện Al - Ittihadiya ngày hôm qua. Ông Tập cùng người đồng cấp kêu gọi « các giải pháp ngoại giao » nhằm chấm dứt lâu dài các cuộc đối đầu bùng phát sau khi Mỹ và Israel phát động cuộc tấn công nhắm vào Iran hồi cuối tháng Hai năm nay.

 

Trong phát biểu được Tân Hoa Xã trích dẫn, nguyên thủ Trung Quốc cho rằng thế giới phải « giữ vững nguyên tắc theo đó người dân Trung Đông làm chủ các vấn đề của họ », đồng thời « phản đối mọi sự can thiệp từ bên ngoài ».

 

Lãnh đạo Trung Quốc cho biết Bắc Kinh sẵn sàng hợp tác với các nước trong khu vực để bảo đảm an ninh lưu thông hàng hải, đang bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công thường xuyên nhắm vào tầu thương mại tại eo biển Hormuz, tuyến đường hàng hải chiến lược cho hoạt động giao thương dầu khí thế giới.

 

Chuyến công du Ai Cập của lãnh đạo Trung Quốc diễn ra vào thời điểm Washington tăng cường trừng phạt Iran và các đối tác thương mại của Iran, và nhất là trước thềm một cuộc gặp thượng đỉnh lần hai Trump – Tập, dự kiến diễn ra vào cuối tháng Chín.

 

Bắc Kinh được cho là đang nỗ lực củng cố các mối quan hệ chiến lược với các nước trong vùng gần gũi với Washington. Bởi vì, Ai Cập là nằm trong số các nước được hưởng sự hỗ trợ quân sự lớn nhất của Mỹ và còn là một bên trung gian truyền thống chủ chốt ở Trung Đông.

 

Về phần mình, Ai Cập coi chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là một cơ hội để thể hiện sự tự chủ về chiến lược, duy trì các mối quan hệ chặt chẽ và có lợi với cả Mỹ

 

------------------------------

Các nội dung liên quan

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Ai Cập, cạnh tranh ảnh hưởng với Hoa Kỳ

TRUNG QUỐC - AI CẬP - CÔNG DU

.

Trung Quốc : Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu chuyến công du Kyrgyzstan trước khi đến Ai Cập

TRUNG QUỐC - NGOẠI GIAO

 

 

 

 


DI SẢN CỦA MỘT TỔNG THỐNG KHÔNG PHẢI LÀ TÊN MÌNH ĐƯỢC GẮN Ở BAO NHIÊU NƠI (Dương Ngọc Hoài Linh)

 



Di sản của một tổng thống không phải là tên mình được gắn ở bao nhiêu nơi

Dương Ngọc Hoài Linh

03/09/2026

https://baotiengdan.com/2026/09/03/di-san-cua-mot-tong-thong-khong-phai-la-ten-minh-duoc-gan-o-bao-nhieu-noi/

 

Có một sự nhầm lẫn khá căn bản khi nói rằng “di sản của Trump đa số đã cố định và bền vững”.

 

Trước hết phải phân biệt di sản chính trị với công trình tưởng niệm hay việc quảng bá tên tuổi. Một tổng thống có thể cho treo chân dung, đặt tên một chương trình, xuất hiện trên đồng tiền kỷ niệm hoặc được những người cùng đảng đề nghị lấy tên đặt cho sân bay. Những thứ ấy có thể tồn tại một thời gian rất lâu, nhưng tự thân chúng chưa làm nên “di sản tổng thống”.

 

Trong khoa học chính trị và lịch sử, di sản của một tổng thống là những thay đổi mà nhiệm kỳ của ông để lại đối với thể chế, luật pháp, kinh tế, xã hội, quan hệ quốc tế và văn hóa chính trị sau khi ông đã rời quyền lực. Di sản càng khó đảo ngược khi nó càng vượt khỏi quyền lực cá nhân của tổng thống và được “khóa” vào hệ thống bằng Hiến pháp, luật của Quốc hội, thiết chế lâu dài, án lệ, hiệp ước hoặc sự đồng thuận xã hội rộng lớn.

 

George Washington chẳng cần lấy tên mình đặt lên đồng tiền lúc đang làm tổng thống để trở nên vĩ đại. Một trong những di sản lớn nhất của ông chính là tự nguyện rời quyền lực sau hai nhiệm kỳ, tạo ra chuẩn mực rằng tổng thống không phải vua. Chuẩn mực ấy tồn tại hơn một thế kỷ trước khi giới hạn hai nhiệm kỳ, cuối cùng được ghi thành Tu chính án 22 năm 1951.

 

Abraham Lincoln để lại Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, thắng lợi của Liên bang trong Nội chiến và động lực chính trị dẫn tới Tu chính án 13, xóa bỏ chế độ nô lệ. Franklin D. Roosevelt để lại New Deal và đặc biệt là hệ thống Social Security – những thiết chế đã sống qua hàng chục đời Quốc hội và tổng thống thuộc cả hai đảng.

 

Dwight Eisenhower gắn với hệ thống xa lộ liên tiểu bang khổng lồ, một phần cơ sở hạ tầng đã thay đổi địa lý kinh tế của Hoa Kỳ. Lyndon Johnson để lại Civil Rights Act 1964, Voting Rights Act 1965, Medicare và Medicaid; riêng Đạo luật Dân quyền 1964 đã biến nguyên tắc chống phân biệt chủng tộc thành luật liên bang.

 

Đó mới là ý nghĩa của chữ “bền vững”: Người kế nhiệm không thể chỉ bước vào Nhà Trắng, cầm bút ký một sắc lệnh rồi xóa sạch nó.

 

Ngược lại, sắc lệnh hành pháp là loại di sản kém cố định hơn. Tổng thống sau có thể hủy hoặc sửa nhiều sắc lệnh của tổng thống trước. Quy định hành chính có thể được sửa theo thủ tục luật định và bị tòa án xem xét. Chính sách ngân sách còn phụ thuộc Quốc hội.

 

Một đạo luật khó xóa hơn vì thường phải có một đạo luật mới. Còn sửa Hiến pháp khó hơn rất nhiều vì phải vượt qua Điều V của Hiến pháp. Vì vậy độ bền của một di sản có thể hình dung như một chiếc tháp: Ý muốn cá nhân sắc lệnh quy định đạo luật thiết chế được xã hội chấp nhận rộng rãi Hiến pháp. Càng lên cao, một tổng thống càng khó tự mình đảo ngược.

 

Vậy những thứ mang tên Trump thì sao?

 

Đây là điểm cần công bằng về sự kiện. Không nên nói rằng tất cả những thứ mang tên Trump hiện nay đều “không hợp pháp” và chắc chắn tổng thống sau sẽ tháo xuống. Cái gì được Quốc hội thông qua thành luật hoặc được thiết lập hợp pháp theo thẩm quyền của tiểu bang thì người kế nhiệm cũng phải tuân theo pháp luật nếu muốn thay đổi.

 

Chẳng hạn, đề nghị đổi tên Palm Beach International Airport thành “Donald J. Trump International Airport” đã được đưa ra tại Quốc hội liên bang qua H.R.8054, nhưng hồ sơ chính thức cho thấy dự luật liên bang đó mới được giới thiệu và chuyển tới ủy ban ngày 24/3/2026, chứ việc giới thiệu dự luật không đồng nghĩa Quốc hội đã ban hành luật.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-10-746x420.jpg

Nỗ lực gắn tên mình vào Kennedy Center bất thành. Công nhân đang gỡ bỏ tên Donald Trump ra khỏi Kennedy Center ở Washington DC hồi tháng 6/2026, theo lệnh của tòa. Nguồn: AP

 

Trong khi đó, luật Florida năm 2026 lại quy định đổi tên sân bay thành “President Donald J. Trump International Airport”, nhưng còn đặt ra các điều kiện, gồm sự chấp thuận của FAA và thỏa thuận về quyền sử dụng tên. Vì vậy trường hợp này phải phân tích theo thẩm quyền và quy trình pháp lý cụ thể, không thể đơn giản nói tổng thống kế nhiệm muốn tháo là tháo.

 

Đồng $1 mang hình Trump cũng là một ví dụ đáng chú ý. U.S. Mint đã chính thức công bố thiết kế đồng $1 kỷ niệm 250 năm Hoa Kỳ mang chân dung Trump vào tháng 8/2026. Thông tin chính thức của U.S. Mint về đồng $1 Trump. Vì thế có thể tranh luận gay gắt về tính thích hợp của việc một tổng thống đương nhiệm xuất hiện trên tiền kỷ niệm, nhưng không nên gọi nó là bất hợp pháp chỉ vì chúng ta phản đối Trump.

 

Tương tự, thư viện tổng thống (Presidential Library) không phải đền thờ một cá nhân. Theo National Archives, Presidential Library về bản chất là kho lưu trữ hồ sơ của một chính quyền để lịch sử, giới nghiên cứu và công chúng có thể tiếp cận; hồ sơ tổng thống hiện đại thuộc quyền sở hữu của chính phủ liên bang theo Presidential Records Act.

 

Nixon có thư viện tổng thống dù Watergate buộc ông từ chức. Có thư viện mang tên một tổng thống vì vậy không chứng minh tổng thống ấy vĩ đại.

 

Điều quan trọng nhất nằm ở đây: Tượng đài là ký ức về một con người; di sản là hậu quả mà con người ấy để lại cho đất nước.

 

Một tổng thống có thể gắn tên mình lên mười tòa nhà nhưng người kế nhiệm có thể đổi tên nếu pháp luật cho phép. Một đồng tiền có thể ngừng đúc. Một tấm bảng có thể được thay. Một chương trình mang tên tổng thống có thể bị đổi tên.

 

Với các công trình tưởng niệm trên đất liên bang ở Washington, ngay cả việc xây dựng cũng chịu một hệ thống luật và thủ tục; luật liên bang quy định các công trình tưởng niệm thuộc phạm vi điều chỉnh phải được Quốc hội cho phép cụ thể.

 

Nhưng thử “tháo” hệ thống xa lộ Eisenhower ra khỏi nước Mỹ, xóa Social Security của Roosevelt bằng một tấm biển mới, hay xóa Civil Rights Act khỏi lịch sử bằng cách đổi tên một sân bay xem. Không thể. Đó là sự khác biệt giữa di sản thể chế và sự phô trương biểu tượng.

 

Bởi vậy, muốn biết “di sản Trump” có thật sự bền vững hay không, đừng đếm xem hiện nay có bao nhiêu đồng tiền, tấm bảng, sân bay hay công trình mang tên Donald Trump.

 

Hãy chờ sau 20, 30 hay 50 năm và hỏi những câu quan trọng hơn: Ông đã để lại đạo luật nào trở thành nền móng của nước Mỹ? Thiết chế nào do ông tạo ra được cả hai đảng tiếp tục bảo vệ? Nguyên tắc hiến định nào được củng cố? Chính sách nào vẫn tồn tại qua nhiều đời tổng thống vì xã hội Mỹ không muốn từ bỏ nó?

 

Nếu những thứ ấy tồn tại, đó là di sản bền vững của Trump, dù tốt hay xấu. Nếu một thứ chỉ tồn tại nhờ quyền lực chính trị của một cá nhân và biến mất khi cá nhân ấy mất quyền lực, thì chính sự biến mất đó chứng minh rằng nó chưa bao giờ là một di sản “cố định”.

 

Lịch sử cuối cùng không hỏi một tổng thống “Ông đã khắc tên mình lên bao nhiêu thứ?” Lịch sử hỏi: “Sau khi ông không còn quyền lực nữa, nước Mỹ còn giữ lại điều gì của ông – và tại sao?”





  VVVVVVVVBV                  

NGÀY 2-9-1945 LÀ NGÀY “GIÀNH ĐỘC LẬP” HAY LÀ NGÀY MỘT CHÍNH QUYỀN BỊ THAY THẾ? (Dương Lệ Chi)

 



Ngày 2-9-1945 là ngày “giành độc lập” hay là ngày một chính quyền bị thay thế?

Dương Lệ Chi

03/09/2026

https://baotiengdan.com/2026/09/03/ngay-2-9-1945-la-ngay-gianh-doc-lap-hay-la-ngay-mot-chinh-quyen-bi-thay-the/

 

Mỗi năm đến ngày 2-9, người Việt Nam lại được nghe một câu chuyện lịch sử quen thuộc: Ngày 2-9-1945 là ngày Việt Nam giành được độc lập từ tay ngoại bang, chấm dứt ách thống trị của thực dân và khai sinh một nước Việt Nam độc lập.

 

Nhưng lịch sử, nếu nhìn kỹ hơn vào những gì đã xảy ra trong năm 1945, phức tạp hơn rất nhiều. Và chính những tài liệu của phía cộng sản cũng cho thấy điều đó.

 

Trước hết, cần trở lại tháng 3-1945. Ngày 9-3-1945, quân đội Nhật tiến hành cuộc đảo chính, lật đổ bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương. Sau khi Pháp bị loại khỏi quyền lực, Nhật giữ vua Bảo Đại trên ngai vàng và thúc đẩy việc thành lập một chính quyền Việt Nam mới. Ngày 11-3-1945, Bảo Đại ban hành tuyên cáo, tuyên bố Việt Nam độc lập và chấm dứt các hiệp ước bảo hộ với Pháp.

 

Đây là một sự kiện lịch sử có thật và không thể bị xóa khỏi câu chuyện về năm 1945.

 

Tuy nhiên, gọi đó là việc Bảo Đại “giành độc lập từ tay Nhật” thì cũng không chính xác. Việt Nam lúc đó vẫn nằm trong quỹ đạo quyền lực của Nhật, và chính phủ Trần Trọng Kim không có đầy đủ chủ quyền theo nghĩa của một quốc gia độc lập hoàn toàn. Các nguồn sử học cũng ghi nhận chính phủ này có “ít thực chất” về quyền lực nhà nước.

 

Nhưng điều đáng chú ý nằm ở chỗ khác. Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Khoảng trống quyền lực xuất hiện. Việt Minh nhanh chóng tổ chức tổng khởi nghĩa, giành quyền kiểm soát tại nhiều địa phương và tiến vào Hà Nội. Ngày 19-8, Việt Minh giành chính quyền ở Hà Nội. Sau đó, phong trào tiếp tục lan rộng.

 

Ngày 25-8, Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Ngày 30-8, ông chính thức làm lễ trao quyền, chấm dứt vương triều Nguyễn. Hai ngày sau, ngày 2-9, tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

Như vậy, nếu tách các sự kiện khỏi cách diễn giải chính trị về sau, chúng ta thấy rõ một điều: Ngày 2/9 không phải là một ngày duy nhất trong tiến trình Việt Nam thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang mà ngày này là ngày một chính quyền mới tuyên bố sự ra đời của mình sau khi Việt Minh, sau này là CSVN “cướp chính quyền” và vua Bảo Đại thoái vị.

 

Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9, Hồ Chí Minh cũng không mô tả sự kiện đơn giản là “đánh đuổi ngoại bang” rồi giành chính quyền.

 

Tuyên ngôn viết: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Và sau đó còn nói rõ hơn: Nhân dân Việt Nam không chỉ phá bỏ “những xiềng xích thực dân gần 100 năm”, mà còn “đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”.

 

Nói cách khác, chính văn kiện khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xác nhận hai cuộc thay đổi quyền lực diễn ra gần như đồng thời: Thoát khỏi hệ thống thuộc địa và lật đổ chế độ quân chủ.

 

Đây chính là điểm cần được phân biệt.

 

Nếu gọi ngày 2-9 đơn thuần là “ngày Việt Nam giành độc lập từ tay ngoại bang”, người ta dễ bỏ qua một sự thật lịch sử quan trọng: Chính quyền mà Việt Minh thay thế trong tháng 8-1945 không phải là chính quyền thuộc địa Pháp, mà là chính quyền Đế quốc Việt Nam của vua Bảo Đại và nội các Trần Trọng Kim.

 

Một nền độc lập đã được Bảo Đại tuyên bố rõ ràng từ tháng 3-1945, dù bị giới hạn bởi sự hiện diện và quyền lực của Nhật. Một chính quyền quốc gia đã được thành lập dưới quyền Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đến tháng 8, Việt Minh đã tận dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để giành chính quyền trên phạm vi rộng, buộc triều đình Bảo Đại phải chuyển giao quyền lực. Đến ngày 2-9, Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới sự ra đời của một nhà nước mới.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-2.webp

Nội các chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại hơn bốn tháng. Nguồn ảnh: Nghiên cứu Lịch sử

 

Vì vậy, tranh luận lịch sử không nên chỉ xoay quanh câu hỏi “ai giành độc lập?”. Câu hỏi quan trọng hơn là: Ai đã giành chính quyền, từ ai, vào thời điểm nào, và sự kiện nào thật sự diễn ra trong ngày 2-9?

 

Câu trả lời không khó. Ngày 2-9-1945 là ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nói rằng, ngày 2-9 là ngày duy nhất Việt Nam “giành độc lập từ ngoại bang” là một cách kể lại lịch sử mang tính chính trị hóa, bởi tiến trình giành lại chủ quyền năm 1945 đã diễn ra qua nhiều bước: Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại tuyên bố độc lập, Nhật đầu hàng, Việt Minh tổng khởi nghĩa, Bảo Đại thoái vị và cuối cùng là Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập một nhà nước cộng hòa.

 

Lịch sử không cần được bảo vệ bằng những khẩu hiệu, lại càng không cần được kể lại theo một kịch bản duy nhất. Mà điều cần thiết là nhìn thẳng vào từng sự kiện, đặt chúng đúng vào bối cảnh và trả lại cho mỗi nhân vật, mỗi chính quyền, mỗi phong trào … đúng vai trò của mình.

 

Bởi nếu ngày 2-9 được gọi là ngày độc lập, thì trước hết phải trả lời một câu hỏi tưởng đơn giản nhưng rất quan trọng: Độc lập đã được tuyên bố từ khi nào, và ngày 2-9 thật sự đánh dấu sự kiện gì?

 

Câu trả lời cho câu hỏi ấy sẽ khiến câu chuyện về năm 1945 trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với một khẩu hiệu tưởng như đã được chính quyền CSVN đóng khung từ lâu.

 





“MỌI NGƯỜI SINH RA ĐỀU BÌNH ĐẲNG” – LỜI HỨA VÀ GIỚI HẠN CỦA HAI BẢN TUYÊN NGÔN (Trần Quốc Sỉ / Báo Tiếng Dân)

 



 

 

“Mọi người sinh ra đều bình đẳng” – Lời hứa và giới hạn của hai bản tuyên ngôn

Trần Quốc Sĩ 

02/09/2026

https://baotiengdan.com/2026/09/02/moi-nguoi-sinh-ra-deu-binh-dang-loi-hua-va-gioi-han-cua-hai-ban-tuyen-ngon/

 

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh mở đầu bằng một câu nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776:

 

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-8-1068x1345.jpg  

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

 

Hồ Chí Minh đã không che giấu hành động “đạo văn” đó. Ông đã gọi câu này là một “tuyên bố bất hủ” của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, rồi ông nói tiếp:

 

“Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”

 

Hồ Chí Minh đã “lèo lái” và sử dụng chính ngôn ngữ về tự do và quyền con người của Hoa Kỳ để khẳng định quyền độc lập của một dân tộc bị làm thuộc địa.

 

Ngày nay, đã có nhiều tài liệu ghi rõ rằng công cuộc giành độc lập cho Việt Nam không phải là công lao riêng của Đảng Cộng sản.

 

Nó là kết quả của nhiều thế hệ người Việt thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, từ các phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân đến Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tổ chức, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước đã đấu tranh, hy sinh chống Pháp.

 

Đến năm 1945, Nhật đảo chính Pháp rồi đầu hàng Đồng minh, tạo ra một khoảng trống quyền lực. Việt Minh, nhờ có tổ chức, nhờ được chỉ đạo từ cộng sản quốc tế, và lực lượng chính trị mạnh hơn các phe khác, đã nhanh chóng phát động cuộc “cướp chính quyền” (ba chữ này là do chính cộng sản sử dụng) để trở thành lực lượng tuyên bố độc lập.

 

Nhưng hãy để đề tài trên cho một bài viết sau.

 

Trong bài này, tôi muốn nói đến một nghịch lý khác là cả hai bản Tuyên ngôn đều nói về bình đẳng trong lúc xã hội mà chúng đại diện vẫn đầy bất bình đẳng.

 

Vì thật sự, khi những lời ấy được viết và tuyên bố, cả nước Mỹ lẫn Việt Nam đều chưa thật sự bình đẳng. Và đến hôm nay, lời hứa ấy vẫn chưa được thực hiện trọn vẹn.

 

Một chân lý được tuyên bố giữa một xã hội bất bình đẳng

 

Năm 1776, Thomas Jefferson viết rằng “all men are created equal” (mọi người sinh ra đều bình đẳng). Nhưng nước Mỹ lúc đó vẫn còn chế độ nô lệ. Hàng trăm ngàn người da đen bị xem như tài sản để mua bán. Phụ nữ không có quyền tự chủ. Người da đỏ bị đặt ngoài lề xã hội mà những người sáng lập nước Mỹ muốn dựng lên.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/09/1-1-1158x1536.webp

Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776:

 

Ngay cả quyền bỏ phiếu cũng hầu như chỉ nằm trong tay những người đàn ông da trắng có tài sản.

 

Bản thân Jefferson cũng là một ông chủ nô lệ.

 

Vì vậy, ngay từ khi ra đời, câu văn đẹp nhất trong bản Tuyên ngôn đã chứa đựng một mâu thuẫn sâu sắc. Những người sáng lập ra Hoa Kỳ tuyên bố một nguyên tắc phổ quát, nhưng họ chưa sẵn sàng áp dụng nguyên tắc ấy cho tất cả mọi người.

 

Câu “mọi người sinh ra đều bình đẳng” rõ ràng không mô tả đúng nước Mỹ năm 1776. Nhưng có lẽ sức mạnh của nó nằm ở chỗ khác. Nó đặt ra một tiêu chuẩn mà những thế hệ sau này có thể dùng để chất vấn chính nước Mỹ.

 

Về sau, chính những người từng bị gạt ra ngoài chữ “mọi người” đã viện dẫn câu ấy để đòi xóa bỏ chế độ nô lệ, mở rộng quyền bầu cử và bảo đảm quyền công dân.

 

Vì nếu mọi người thật sự sinh ra bình đẳng, tại sao quyền tự do chỉ dành cho một số người?

 

Từ quyền của con người đến quyền của dân tộc

 

Khi Hồ Chí Minh nói “suy rộng ra,” ông đã “lái” chân lý ấy từ quyền của từng con người sang quyền của cả một dân tộc.

 

Trong khi Jefferson nói về quyền của con người trước quyền lực nhà nước: con người có những quyền ấy từ khi sinh ra; chính quyền không ban phát chúng mà chỉ được giao nhiệm vụ bảo vệ chúng.

 

Chính quyền được lập ra để bảo vệ những quyền ấy, và chỉ có chính quyền được người dân dựng lên mới là chính đáng.

 

Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, lập luận đó được “cut and paste” vào bối cảnh thuộc địa. Ý của ông Hồ là nếu mọi người sinh ra đều bình đẳng, thì các dân tộc cũng phải bình đẳng. Không một dân tộc nào có quyền cai trị, bóc lột hay tước đoạt tự do của một dân tộc khác.

 

Nhưng chính việc “cắt và dán” ấy đã để lại một câu hỏi mà chính quyền Việt Nam đến ngày hôm nay vẫn né tránh. Đó là:

Một dân tộc giành được độc lập có đương nhiên làm cho những con người sống trong dân tộc ấy được tự do và bình đẳng hay không?

 

Vì câu trả lời mà ai cũng biết là không!

 

Độc lập dân tộc và tự do cá nhân có liên hệ với nhau, nhưng chúng không phải là một.

 

Đánh đuổi được ngoại bang không có nghĩa là người dân từ đó đương nhiên có tự do. Việt Nam có thể giành lại chủ quyền từ các nước khác, nhưng nếu người dân không được lựa chọn và thay thế người cầm quyền thì sự bình đẳng ấy mới chỉ tồn tại giữa các quốc gia, chưa tồn tại giữa công dân với nhà nước.

 

Ở đây chúng ta thấy sự giới hạn quan trọng trong hai chữ “suy rộng” của Hồ Chí Minh.

 

Ông đã cố tình mở rộng quyền cá nhân thành quyền dân tộc, nhưng sự lèo lái đó cũng đã cố tình đè bẹp quyền của từng cá nhân dưới thân thể mập mạp của Đảng nhân danh dân tộc.

 

Và một khi Đảng và Nhà nước tự nhận mình là hiện thân duy nhất của dân tộc, thì quyền của con người cũng bị đặt dưới cái mà Nhà nước gọi là quyền lợi quốc gia.

 

Độc lập không đồng nghĩa với bình đẳng

 

Tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 đánh dấu sự chấm dứt về nguyên tắc của chế độ thuộc địa và quân chủ, đồng thời khẳng định rằng người Việt Nam có quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Đó là một bước tiến lịch sử rất lớn về bình đẳng giữa các dân tộc.

 

Nhưng bình đẳng giữa các dân tộc chưa phải là bình đẳng giữa những con người trong cùng một dân tộc.

 

Bình đẳng còn có nghĩa là người dân và người cầm quyền phải cùng chịu sự kiểm soát của một nền pháp luật. Nó đòi hỏi công dân có quyền lên tiếng, lập hội, tham gia chính trị, lựa chọn chính quyền và thay thế chính quyền thông qua một hệ thống bầu cử công bằng. Nó đòi hỏi rằng một người bất đồng chính kiến với nhà nước vẫn được pháp luật bảo vệ như một người ủng hộ nhà nước.

 

Bản Tuyên ngôn năm 1945 hùng hồn tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, nhưng nó không tự tạo ra những định chế cần thiết để bảo vệ quyền của từng người Việt Nam.

 

Nó trả lời rất rõ câu hỏi “nước Việt Nam có quyền độc lập hay không”, nhưng lại trốn tránh trả lời câu hỏi khó hơn: “người dân Việt Nam có những quyền gì đối với nhà nước Việt Nam?”

 

Vì vậy, cuộc cách mạng chống Pháp quả có giành được độc lập cho nước Việt, nhưng việc trao quyền thật sự cho từng người Việt vẫn là một lời hứa chưa làm được.

 

Bình đẳng trên giấy và bình đẳng trước quyền lực

 

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tuyên bố tại Điều 16 rằng “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa hay xã hội.

 

Nhưng việc viết quyền vào Hiến pháp mới chỉ là bước đầu. Câu hỏi quyết định là ai có quyền giải thích những quyền ấy và người dân có thể làm gì khi nhà nước vi phạm chúng.

 

Điều 15 quy định rằng việc thực hiện quyền con người và quyền công dân không được xâm phạm “lợi ích quốc gia, dân tộc.”

 

Điều 4 đồng thời xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Vấn đề là khi không có sự cạnh tranh chính trị thực chất nào, cũng không có một nền tư pháp độc lập và những cơ chế hữu hiệu nào để kiểm soát quyền lực, thì lời cam kết về bình đẳng ấy sẽ bị giới hạn bởi chính cơ quan đang nắm quyền giải thích nó.

 

Vì vậy, vấn đề không chỉ là trong Hiến pháp có chữ “bình đẳng” hay không. Mà vấn đề là:

 

·        Đảng viên và “dân đen” có tiếng nói chính trị ngang nhau không?

 

·        Người chỉ trích chính quyền có được pháp luật bảo vệ như người ủng hộ chính quyền không?

 

·        Một công dân có thể kiện một cơ quan nhà nước và được xét xử bởi một tòa án thật sự độc lập hay không?

 

·        Luật pháp có đứng trên quyền lực hay không? Và quyền lực quyết định áp dụng luật pháp phải như thế nào?

 

Năm 2025, Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã nhận xét rằng Việt Nam vẫn thiếu một đạo luật toàn diện nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc chống phân biệt đối xử. Các tổ chức nhân quyền cũng tiếp tục nêu quan ngại về việc sử dụng những điều khoản hình sự mang tính “chung chung” để trừng phạt người bất đồng chính kiến và hạn chế quyền tự do biểu đạt.

 

Bởi vậy, khi nói Việt Nam đã thực hiện được lời hứa “mọi người sinh ra đều bình đẳng” là không đúng. Cái chênh lệch lớn nhất vẫn nằm ở sự bình đẳng trong lĩnh vực chính trị và trong quan hệ giữa công dân với bộ máy cầm quyền.

 

Một bản tuyên ngôn chỉ thật sự có giá trị khi người dân có quyền áp dụng nó

 

“Mọi người sinh ra đều bình đẳng” chưa bao giờ là một lời mô tả trung thực về nước Mỹ năm 1776 hay Việt Nam năm 1945.

 

Với nước Mỹ, nó là một lời hứa, một chuẩn mực để trong tương lai người ta có thể dùng nó để kiểm nghiệm hiện tại.

 

Sự cao đẹp của lời hứa ấy không xóa được chế độ nô lệ ở Mỹ, nhưng nó là một thước đo đạo đức mà chính quyền Mỹ KHÔNG có thể viện dẫn rồi lại tìm cách tránh né.

 

Với Việt Nam, giá trị của một bản tuyên ngôn không nằm ở những chữ được người ta học thuộc lòng để đọc trong những ngày lễ. Mà nó nằm ở việc người dân có được quyền dùng những chữ ấy để chất vấn nhà nước hay không.

 

Người Mỹ đã nhiều lần dùng lời hứa của năm 1776 để buộc đất nước mình phải mở rộng ý nghĩa của chữ “mọi người.”

 

Việt Nam cũng chỉ có thể hoàn thành lời hứa của năm 1945 khi mỗi người dân được quyền đòi hỏi tự do và bình đẳng mà không bị coi là phản động, là chống lại đất nước, dân tộc.

 

Một dân tộc chỉ thật sự tự do khi những con người tạo nên dân tộc ấy được tự do. Và mọi người chỉ thật sự bình đẳng khi ngay cả nhà nước cũng không được đứng trên pháp luật.

________________

Tài liệu tham khảo

 

·        U.S. National Archives, Declaration of Independence: A Transcription.

·        Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đặc biệt là các Điều 4, 15 và 16.

·        United Nations Human Rights Office, Dialogue with Viet Nam before the Human Rights Committee, 2025.

·        Amnesty International, Human rights in Viet Nam.

 




NGƯỜI VIỆT ONLINE – NGÀY 3/9/2026

 



Người Việt

NGÀY 3/9/2026 

https://www.nguoi-viet.com/

.
Tòa chặn sắc lệnh mới nhất của Trump hạn chế quyền quốc tịch theo nơi sinh

.

DOJ truy tố đặc vụ ICE vì nói dối về vụ bắn người Venezuela nhập cư  

Trung Quốc: Việt Nam ‘không có quyền can thiệp’ việc Bắc Kinh xây căn cứ ở Hoàng Sa

Ted Cruz ‘nhìn ngó’ đến khả năng tranh cử tổng thống năm 2028

Khẳng định ‘chưa có người Mỹ nào chết’ trong cuộc chiến Iran, bộ trưởng Thương mại xin lỗi  

Đại án ma túy: Chi Dân lãnh 7 năm tù, An ‘Tây’ 8 năm tù và nhiều án tử hình  

Đà Lạt: Cưỡng bức chó chụp hình với du khách, một ông lên đồn

Iran tấn công căn cứ Mỹ bất chấp Trump cảnh cáo

Đồng Nai: Hung thủ ‘lộn nhà,’ giết oan 3 mẹ con

Nguyễn Thanh Nghị, con Nguyễn Tấn Dũng, lại ‘nổ’ về năm 2045.

.

Không cần ‘hy sinh, con của các bố vẫn được củng cố

.

Carlos Alcaraz trở lại sau 139 ngày, US Open 2026 nóng trên đỉnh bảng xếp hạng  

.

Vu Lan chùa Khánh Hỷ với thông điệp ‘Công pưn cha mẹ thiêng liên  nhất đời’

.

Một số qui định về kính xe hơi cần biết để tránh bị phạt

‘Bà tiên đỡ đầu’ của những đứa trẻ trong trại giam ICE

Thăm dò: Gần 90% người Mỹ tin tham nhũng đang lan rộng trong chính quyền

.

Hội Y Sĩ Việt Mỹ Miền Nam California tổ chức thực tập phỏng vấn sinh viên ngành y

.

Người mua nhà Mỹ ngày càng hướng đến các thị trường xa hơn

‘Bình xăng không đáy’ của Trump

Tài tử Mỹ gốc Việt Johnny Trí Nguyễn đeo khăn quàng đỏ, đứng nghiêm trước Lăng Hồ Chí Minh

Little Saigon: Mang gần $110,000 “tiền đóng phim” vào Phước Lộc Thọ đổi tiền ảo

Bắc Kinh truy tố Hoàng Chi Phong lần 2, đối diện án chung thân

Tiger Woods bị tước bằng lái 5 năm nhưng miễn đi tù trong vụ DUI ở Florida

‘Soái ca’ Bovino từng bị điều tra, nói chính quyền ‘muốn tôi bị giết’

Xả súng ở Minneapolis, 1 người chết, 6 bị thương, gồm 2 cảnh sát viên

Ngân Hàng Hòa Lan mang 86 tấn vàng ra khỏi Mỹ vì sợ Trump bất ổn.

 

 





NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt / NGÀY 3/9/2026

 



NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

NGÀY 3/9/2026

NHK WORLD-JAPAN Tiếng Việt

..

Tin tức

Xem thêm tin tức

 

Iran: Vụ Mỹ tấn công đám cưới là “tội ác chiến tranh”

Cập nhật 9 giờ trước

1phút 25giây

 

·       

 

Cục Hoàng gia xem xét thu hẹp nghi thức tang lễ khi Thái Thượng hoàng Akihito qua đời

Cập nhật 8 giờ trước

 

·       

 

Hơn 1.200 người thiệt mạng tại Nepal và Trung Quốc sau lũ quét

Cập nhật 9 giờ trước

1phút 40giây

 

·       

 

Congo: Số ca tử vong do Ebola vượt 3.000

Cập nhật 9 giờ trước

 

·       

 

Bộ nông nghiệp Nhật Bản giải thích về khả năng nhập khẩu khoai tây Mỹ

Cập nhật 9 giờ trước

 

·       

 

Bosai (336) Tội phạm lợi dụng thiên tai Phòng ngừa trộm cắp

Cập nhật 9 giờ trước

 

·       

 

Hội nghị LHQ hướng tới lập quỹ cho nạn nhân vũ khí hạt nhân

Cập nhật 9 giờ trước

 

·       

 

Nhật Bản công bố drone dùng cho mục đích tấn công

Cập nhật 9 giờ trước

 

.

Phát trực tiếp & Nghe lại

Phát trực tiếp & Nghe lại

 

 




View My Stats