Sunday, 13 September 2026

THÔNG BÁO CHUYỂN GIAO TALAWAS CHO LUẬT KHOA (Phạm Thị Hoài / Facebook)

 



THÔNG BÁO CHUYỂN GIAO TALAWAS CHO LUẬT KHOA  

Phạm Thị Hoài

12/9/2026  04:03   

https://www.facebook.com/procontra.asia/posts/pfbid036SgmkXx35amYNzkvBwWcFNJwW86upDQEFsAF3CKvG1rvt6uRpq1txhhq6WMEAqHPl

 

Dự định đóng cửa trang talawas may mắn đã không thành hiện thực. Tôi nhanh chóng nhận được từ Trịnh Hữu Long, Giám đốc điều hành tổ chức Legal Initiatives for Vietnam (LIV) và Tổng biên tập Luật Khoa tạp chí, lời đề nghị bảo tồn talawas.

 

Sau nhiều tháng giải quyết các vấn đề kỹ thuật, talawas đã được khôi phục và từ hôm nay, 12 tháng Chín 2026, được hoàn toàn chuyển giao cho LIV và Luật Khoa quản lý, khai thác, lưu trữ, bảo trì và tiếp tục được tự do truy cập, với tên miền không thay đổi (www.talawas.org).

 

Thay mặt nhóm phụ trách, các tác giả, độc giả và bạn bè của talawas, tôi hân hạnh được nói lời cảm ơn và sự tin cậy với LIV và Luật Khoa. Chặng đường ngắn của chúng tôi đã được thế hệ sau nối dài. Chúc các bạn có thêm nhiều nguồn lực, vững bước và đi xa trong sứ mệnh xây dựng một nền báo chí độc lập cho Việt Nam.

 

Berlin, 12 tháng Chín 2026

Phạm Thị Hoài

 

123 BÌNH LUẬN    

 

 

 


NĂM THAY ĐỔI ĐƠN GIẢN ĐỂ TỔ CHỨC SỰ KIỆN KHÔNG RÁC THẢI TRONG MÙA HÈ NÀY (Sue Vang / Crossings TV)

 



 

Năm Thay Đổi Đơn Giản Để Tổ Chức Sự Kiện Không Rác Thải Trong Mùa Hè Này

Sue Vang (chuyên viên khoa học môi trường cấp cao, CalRecycle)

Crossings TV

September 4, 2026

https://www.crossingstv.com/calrecycle-zero-waste-event-vn/

 

HÌNH  : https://www.crossingstv.com/wp-content/uploads/2026/08/5-Simple-Swaps-to-Reduce-Event-Waste-081926-1187x1536.jpg

 

Lớn lên trong một gia đình người Châu Á, tôi đã sớm học được rằng mọi tài nguyên đều cần được trân trọng và không nên lãng phí. Những bữa cơm gia đình luôn tận dụng tối đa nguyên liệu, từ thịt đến rau củ, để hầu như không còn gì bị bỏ đi. Gia đình tôi cũng ưu tiên sử dụng những gì đã có, sửa chữa khi có thể và chia sẻ đồ dùng với nhau. Ngày đó, chúng tôi không gọi đó là “không rác thải”, nhưng đó chính là những giá trị cốt lõi của lối sống bền vững ngày nay.

 

Trong mùa hè này, khi cùng gia đình và bạn bè tham gia các buổi tiệc, lễ hội và những dịp sum họp, tôi mong mọi người sẽ mang những giá trị ấy trở lại bằng cách áp dụng các thói quen không rác thải vào mỗi sự kiện. Chỉ với một vài thay đổi nhỏ, chúng ta có thể tạo nên tác động tích cực lớn đối với môi trường. Dưới đây là năm thay đổi đơn giản để bắt đầu:

 

1.    Thay thiệp mời giấy bằng thiệp mời điện tử. Tiết kiệm giấy, chi phí bưu điện và thời gian bằng cách sử dụng thiệp mời điện tử và biểu mẫu xác nhận tham dự (RSVP) trực tuyến. Đây là cách đơn giản để giảm rác thải ngay từ khi lên kế hoạch cho sự kiện

 

2.    Thay một thùng rác bằng trạm phân loại ba thùng. Hãy giúp khách dễ dàng phân loại rác đúng cách bằng cách đặt ba thùng ủ phân hữu cơ (compost), tái chế (recycle) và rác chôn lấp (landfill) cạnh nhau. Sử dụng bảng hướng dẫn rõ ràng hoặc hình ảnh minh họa để mọi người biết vật liệu nào nên bỏ vào từng thùng. (Lưu ý: Quy định có thể khác nhau tùy từng địa phương.) Nếu có thể, hãy nhờ một tình nguyện viên hướng dẫn khách phân loại rác đúng cách. Việc bố trí thùng ủ phân và tái chế cũng góp phần thực hiện các mục tiêu bắt buộc của California về tái chế và giảm rác hữu cơ. Khi cung cấp các lựa chọn này, bạn đang góp phần thu hồi những vật liệu có giá trị và giảm lượng rác hữu cơ được đưa đến bãi chôn lấp.

 

3.    Thay nước đóng chai bằng trạm nước uống. Thay vì phát từng chai nước riêng lẻ, hãy chuẩn bị bình nước hoặc trạm nước uống để khách tự lấy và khuyến khích mọi người mang theo bình nước cá nhân hoặc sử dụng cốc có thể tái sử dụng. Nếu cần sử dụng đồ uống đóng chai hoặc đóng lon, hãy thu gom các vỏ chai và lon đủ điều kiện nhận Giá Trị Hoàn Trả California (California Redemption Value – CRV), bao gồm cả chai rượu vang và rượu mạnh, để mang đến điểm tái chế và nhận lại tiền hoàn trả.

 

4.    Thay đồ trang trí dùng một lần bằng đồ trang trí có thể tái sử dụng. Đồ trang trí và vật dụng cho sự kiện có thể được sử dụng nhiều lần nếu bạn chọn các sản phẩm bền như khăn trải bàn bằng vải, bộ chén đĩa thật, đèn dây trang trí, đèn lồng, bình hoa hoặc các vật dụng theo mùa có thể cất giữ và dùng lại. Đồ trang trí có thể tái sử dụng thường tạo cảm giác đẹp mắt và chuyên nghiệp hơn, đồng thời có thể chia sẻ hoặc mượn từ người khác, giúp giảm rác thải và tiết kiệm chi phí về lâu dài.

 

5.    Thay lãng phí thực phẩm bằng kế hoạch chuẩn bị hợp lý. Thực phẩm là một trong những nguồn phát sinh rác thải lớn nhất sau các buổi tiệc và sự kiện. Tuy nhiên, chỉ cần lên kế hoạch cẩn thận, bạn có thể giảm đáng kể lượng thực phẩm bị lãng phí.

 

6.    Hãy sử dụng các công cụ như Guestimator để lập thực đơn và ước tính lượng thức ăn phù hợp với số lượng khách mời, từ đó vừa giảm lãng phí vừa tiết kiệm chi phí. Sau sự kiện, hãy khuyến khích khách mang phần thức ăn còn lại về nhà hoặc chủ động phối hợp với các tổ chức thu hồi thực phẩm tại địa phương để quyên góp phần thức ăn dư còn sử dụng được.

 

Những Thay Đổi Nhỏ Tạo Nên Khác Biệt Lớn

Tổ chức một sự kiện không rác thải không có nghĩa là mọi thứ phải hoàn hảo. Điều quan trọng là đưa ra những lựa chọn có ý thức để giảm rác thải và ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và chi phí, đồng thời truyền cảm hứng để nhiều người cùng chung tay bảo vệ môi trường. Mọi sự thay đổi đều có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ và phát triển theo thời gian.

 

Hãy truy cập RecyclingReimaginedCA.com để tải về Bộ Công Cụ Tổ Chức Sự Kiện Không Rác Thải (Zero-Waste Event Toolkit) của CalRecycle. Bộ tài liệu bao gồm danh sách kiểm tra khi lập kế hoạch, biển hướng dẫn phân loại rác có thể in sẵn, các câu hỏi thường gặp và nhiều tài nguyên hữu ích giúp sự kiện tiếp theo của bạn vừa đáng nhớ vừa thân thiện với môi trường.

 

Để tìm hiểu thêm về CalRecycle, vui lòng truy cập CalRecycle.ca.gov.

 

 




DIỆN MẠO CHIẾN TRANH SAU XUNG ĐỘT NGA – UKRAINE (Sergiy Korsunsky – Nikkei Asia)

 



Diện mạo chiến tranh sau xung đột Nga - Ukraine

Sergiy Korsunsky  -  Nikkei Asia

Phạm Ánh Minh, biên dịch

10/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/10/dien-mao-chien-tranh-sau-xung-dot-nga-ukraine/

 

AI, các đàn máy bay không người lái quy mô lớn và các cuộc tấn công mạng đang định hình lại chiến tranh hiện đại, và các nền dân chủ cần phải chuẩn bị ngay từ bây giờ.

 

Những tranh luận về việc cuộc chiến của Nga tại Ukraine sẽ kết thúc như thế nào và những hệ quả mà nó để lại cho thế giới dường như không có hồi kết. Tuy nhiên, ngày càng rõ rằng chúng ta cần đặt ra một câu hỏi khác: không chỉ hòa bình sau cuộc chiến này sẽ mang diện mạo ra sao, mà cả cuộc chiến tiếp theo sau thời kỳ hòa bình ấy sẽ như thế nào.

 

Chiến tranh Nga – Ukraine là một cuộc xung đột chưa từng có tiền lệ trên nhiều phương diện. Đây là cuộc chiến tranh mang tính thực dân đầu tiên do một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sở hữu vũ khí hạt nhân tiến hành. Cuộc xâm lược Georgia của Nga từng là một lời cảnh báo sớm, nhưng không mang cùng bản chất thực dân, bởi những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng khi đó không được chính thức sáp nhập vào Liên bang Nga. Các cuộc chiến của Mỹ tại Trung Đông cũng không phải là những cuộc chiến tranh thực dân theo nghĩa đó. Ngược lại, mục tiêu của Moscow tại Ukraine là phá hủy tư cách quốc gia của Ukraine và sáp nhập lãnh thổ nước này.

 

Đáng chú ý hơn nữa, cuộc chiến đã làm thay đổi căn bản cả công cụ lẫn nguyên tắc tiến hành chiến tranh. Những bài học từ chiến trường Ukraine đang được hấp thụ với tốc độ đáng kinh ngạc, không chỉ vào các nền tảng kỹ thuật số của Palantir mà còn vào các hệ thống quân sự của Trung Quốc, thậm chí cả Triều Tiên. Bản thân Nga cũng liên tục điều chỉnh tên lửa và UAV theo thời gian thực nhằm vượt qua những năng lực phòng thủ mới mà lực lượng vũ trang Ukraine phát triển. Cho đến nay, Ukraine vẫn giữ lợi thế trong cuộc đua công nghệ này, nhưng cuộc cạnh tranh còn lâu mới kết thúc.

 

Các cuộc chiến trong tương lai khó có khả năng mở màn bằng những đoàn xe thiết giáp vượt biên giới, việc triển khai ồ ạt các tàu chiến hạng nặng hay các đợt pháo kích quy mô lớn. Thay vào đó, chúng nhiều khả năng sẽ bắt đầu bằng những cuộc tấn công mạng diện rộng nhằm vào hệ thống chỉ huy và kiểm soát quân sự, mạng lưới thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng năng lượng, hệ thống tài chính và các hạ tầng dân sự thiết yếu khác. Xã hội càng phụ thuộc sâu vào kết nối kỹ thuật số, giai đoạn mở màn này càng có khả năng gây hậu quả tàn khốc.

 

Gần như chắc chắn, thế hệ vũ khí mạng tiếp theo sẽ được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo. Dù hoạt động hoàn toàn tự chủ hay dưới sự giám sát chặt chẽ của con người, những hệ thống này sẽ được huấn luyện trên các bộ dữ liệu có tính đặc thù cao về đối thủ tiềm tàng, từ cơ cấu lực lượng vũ trang, điểm yếu của hạ tầng trọng yếu, các cuộc tập trận quân sự và học thuyết tác chiến cho đến kinh nghiệm chiến trường.

 

Làn sóng tấn công thứ hai nhiều khả năng sẽ gồm hàng nghìn máy bay không người lái tích hợp AI hoạt động đồng thời. Nhiệm vụ của chúng sẽ là làm tê liệt hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa, phá hủy hạ tầng trọng yếu và tấn công những cơ sở dân sự nhạy cảm, kể cả bệnh viện. Đồng thời, mạng lưới hậu cần, các đầu mối giao thông và kho dự trữ nhiên liệu, thuốc men, lương thực cũng sẽ trở thành mục tiêu. Chỉ sau khi những nhiệm vụ này hoàn tất, lực lượng quân sự thông thường mới được tung vào chiến trường — nếu khi đó chúng vẫn còn cần thiết.

 

Ngay cả những mô hình toán học tương đối đơn giản về chiến tranh hiện đại, trong đó con người và các hệ thống tự chủ cùng tham gia, cũng liên tục dẫn tới một kết luận quan trọng: một khi các nền tảng tự chủ đạt hiệu quả tác chiến đủ cao, nhu cầu đưa binh sĩ trực tiếp vào vòng chiến sẽ giảm đáng kể. Các hệ thống không người lái tầm xa và năng lực tác chiến mạng đang dần xóa nhòa chiều sâu chiến lược của đối phương. Địa lý, vốn từng là một trong những lợi thế phòng thủ quan trọng nhất của bất kỳ quốc gia nào, đang nhanh chóng mất đi phần lớn ý nghĩa truyền thống.

 

Khả năng triển khai sức mạnh từ xa mà không cần tiếp xúc vật lý trực tiếp sẽ làm thay đổi căn bản khái niệm chiến trường. Khi drone thường xuyên bay qua không phận của nước thứ ba, còn nguồn gốc của các cuộc tấn công mạng tinh vi không thể được xác định một cách chắc chắn, những khái niệm truyền thống như tiền tuyến, kiểm soát lãnh thổ, thậm chí cả hành vi xâm lược, sẽ ngày càng trở nên mơ hồ.

 

AI với năng lực suy luận tiệm cận con người cuối cùng có thể đủ khả năng lựa chọn không chỉ hành động chiến thuật mà cả mục tiêu chiến lược mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người. Khi đó, ngay cả việc xác định thế nào là chiến thắng cũng sẽ trở thành một vấn đề. Quan trọng hơn, rất khó hình dung một hệ thống AI vận hành theo logic tối ưu hóa riêng sẽ hiểu lợi ích của việc “chiến thắng” theo cách nào.

 

Tuy nhiên, có một điều ngày càng rõ ràng: chủ quyền số sẽ sớm trở nên quan trọng đối với một quốc gia không kém gì chủ quyền lãnh thổ. Các trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán sẽ trở thành những tài sản chiến lược phải được bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời cũng là những mục tiêu hàng đầu của đối phương. Gián điệp kỹ thuật số, thao túng dữ liệu và phá hoại mạng nhằm làm sai lệch thông tin mà các hệ thống AI dựa vào để ra quyết định nhiều khả năng sẽ trở thành những đặc điểm định hình của các cuộc xung đột trong tương lai, đồng thời mở ra những công cụ mới cho chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh phòng ngừa.

 

Các chiến dịch quân sự gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran cũng cho thấy một bài học quan trọng khác. Cơ cấu chỉ huy dựa trên mạng lưới đã chứng tỏ khả năng chống chịu cao hơn đáng kể so với các hệ thống tập trung. Chúng cho phép các cơ quan quân sự và dân sự tiếp tục hoạt động ngay cả khi lãnh đạo chính trị hoặc quân sự cấp cao không thể liên lạc hay ra lệnh. Điều này cho thấy các chính phủ cần xem xét lại một cách căn bản cả hệ thống quản trị dân sự lẫn cơ cấu chỉ huy quân sự, xây dựng những mô hình phi tập trung với thẩm quyền được phân cấp rõ ràng ở từng cấp, đồng thời thường xuyên diễn tập trong các điều kiện sát với thực tế.

 

Những sự chuẩn bị này có thể bị xem là quá sớm. Nhưng thực tế không phải vậy. Chúng cần được bắt đầu ngay từ bây giờ.

 

Hy vọng rằng Nga và các thực thể cấu thành nước này sẽ sớm tự chuyển hóa thành một cộng đồng các quốc gia dân chủ cùng chung sống hòa bình với láng giềng là điều khá viển vông nếu nhìn từ góc độ chiến lược thực tế. Tương tự, cũng khó có cơ sở để kỳ vọng Trung Quốc sẽ thay đổi theo hướng đó.

 

Nhân loại vừa trải qua có lẽ là giai đoạn dài nhất trong lịch sử hiện đại, gần 80 năm không xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trực tiếp giữa các cường quốc. Tuy nhiên, thời kỳ đó nay đã kết thúc cùng với sự trở lại của những tư tưởng mà nhiều người từng tin đã bị lịch sử loại bỏ: chủ nghĩa phát xít, sự thống trị đế quốc, diệt chủng và chinh phục thuộc địa. Điều này xảy ra bất chấp những tiến bộ công nghệ chưa từng có và nhiều thập kỷ xây dựng một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ thay vì sức mạnh.

 

Vì vậy, thách thức trước mắt không chỉ là bảo đảm hòa bình sau cuộc chiến hiện tại. Quan trọng không kém là chuẩn bị cho tính chất của những cuộc chiến có thể diễn ra trong tương lai và bảo đảm rằng các xã hội dân chủ đã sẵn sàng trước khi chúng bắt đầu.

 

----------------------------

Sergiy Korsunsky là cựu Đại sứ Ukraine tại Nhật Bản. Hiện ông là cố vấn cấp cao tại Nihon Cyber Defence và học giả toàn cầu xuất sắc tại cơ sở Nhật Bản của Đại học Temple.

 

Nguồn: Sergiy Korsunsky, “What will war look like after peace?”, Nikkei Asia, 04/09/2026

 





BƯỚC NGOẶT CHIẾN LƯỢC CỦA NHẬT BẢN (Eliot A. Cohen – The Atlantic)

 



Bước ngoặt chiến lược của Nhật Bản

Eliot A. Cohen  -  The Atlantic

Viên Đăng Huy, biên dịch

11/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/11/buoc-ngoat-chien-luoc-cua-nhat-ban/

 

Khi tôi lần đầu đến Nhật Bản cách đây hơn 30 năm, Chiến tranh Lạnh vừa kết thúc, Trung Quốc vẫn chưa trỗi dậy, và Nhật Bản — dù không còn giữ vị thế “Nhật Bản là số một” như tiêu đề cuốn sách bán chạy năm 1979 của Ezra Vogel — vẫn là một cường quốc đáng gờm. GDP của Nhật Bản khi đó không thua kém Mỹ quá xa, lớn hơn tổng GDP của phần lớn các nước châu Á còn lại cộng lại, và gấp khoảng bảy lần Trung Quốc.

 

Trong chuyến thăm gần đây, tôi nhận thấy Nhật Bản đã trở thành một đất nước rất khác. Ngay từ năm 1995, những dấu hiệu đáng lo ngại đã xuất hiện: giá bất động sản sụp đổ và nền kinh tế bước vào nhiều năm trì trệ, rồi kéo dài thành nhiều thập kỷ. Tỷ suất sinh giảm xuống dưới mức thay thế, còn khoảng 1,4 con trên mỗi phụ nữ, và kể từ đó tiếp tục giảm xuống chỉ còn hơn 1,1. Nhưng những thay đổi sâu sắc nhất lại nằm ở môi trường địa chính trị xung quanh Nhật Bản.

 

Ngày nay, GDP của Nhật Bản chỉ còn bằng khoảng một phần năm của Trung Quốc. Dù quy mô lực lượng vũ trang nước này không thay đổi quá nhiều so với trước, Nhật Bản giờ đã bị người láng giềng lục địa vượt xa về sức mạnh quân sự. Năm 1995, Triều Tiên vẫn còn cách cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên khoảng một thập kỷ; hiện nay, Bình Nhưỡng sở hữu hàng chục, thậm chí có thể nhiều hơn, đầu đạn hạt nhân cùng các phương tiện mang phóng. Khi đó, Nga vẫn đang chật vật với quá trình chuyển đổi hậu cộng sản; ngày nay, Moscow đã xích lại gần Bắc Kinh và thường xuyên cung cấp công nghệ quân sự cho cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

 

Không có gì ngạc nhiên khi các nhà lãnh đạo chính trị, quân sự và tình báo, cũng như các học giả Nhật Bản mà tôi trò chuyện gần đây, đều mang tâm trạng khá u ám. Họ vẫn bám chặt vào hiệp ước an ninh với Mỹ, nhưng đồng thời chính phủ Nhật Bản cũng đang làm những điều từng bị xem là không thể tưởng tượng nổi nhằm tăng cường khả năng tự phòng thủ.

 

Trong phần lớn thời kỳ hậu chiến, Nhật Bản dựa vào liên minh quốc phòng với Mỹ và sức mạnh kinh tế của chính mình. Chi tiêu quốc phòng được giữ quanh mức 1% GDP, nhưng vì nền kinh tế Nhật Bản lớn hơn nhiều so với các nước láng giềng, con số đó vẫn tương đương một khoản đầu tư đáng kể cho Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản. Bất chấp niềm say mê với phim samurai và võ thuật, Nhật Bản vẫn duy trì bản sắc của một quốc gia hòa bình: không xuất khẩu vũ khí, tập trung vào nhiệm vụ phòng thủ, đồng thời tuân thủ ba nguyên tắc không sở hữu, không sản xuất và không cho phép đưa vũ khí hạt nhân vào lãnh thổ.

 

Tất cả những điều đó giờ đây đang thay đổi. Theo các kế hoạch được thông qua năm 2022, Nhật Bản đã tăng chi tiêu quốc phòng lên khoảng 1,4% GDP, và Thủ tướng Sanae Takaichi đã phát tín hiệu rằng tỷ lệ này sẽ tăng lên 2%. Chi tiêu quốc phòng thậm chí có thể còn vượt mức đó, với khả năng tiến tới mục tiêu 3,5% GDP hiện ngày càng được chấp nhận rộng rãi ở châu Âu. Nhờ vậy, Nhật Bản không chỉ nâng cấp toàn diện hệ thống vũ khí trong khi quy mô nhân lực tương đối ổn định, mà còn mua sắm nhiều năng lực tác chiến mới. Nước này hiện công khai phát triển và mua sắm cái mà họ gọi là năng lực “phản công”, tức các loại tên lửa tầm xa có thể đánh trúng mục tiêu trên lãnh thổ Trung Quốc. Nhật Bản cũng tăng đầu tư vào tác chiến mạng và không gian, cũng như vào các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa mạnh hơn nhiều. Nước này đang xây dựng các hầm trú ẩn bằng bê tông và hệ thống đường hầm nhằm tăng khả năng sống sót của căn cứ trước các cuộc tấn công của Trung Quốc — điều mà Mỹ vẫn chưa làm được đầy đủ tại cả châu Á lẫn Trung Đông. Nhật Bản cũng ngày càng sẵn sàng duy trì năng lực của ngành công nghiệp quốc phòng thông qua xuất khẩu vũ khí. Năm nay, nước này còn thành lập cơ quan tình báo tập trung đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, mang tên Cục Tình báo Quốc gia.

 

Đáng chú ý hơn cả là sự thay đổi trong thái độ của Nhật Bản đối với vũ khí hạt nhân. Chính sách hạt nhân thời hậu chiến của nước này bắt nguồn từ chấn thương lịch sử khi Nhật Bản trở thành quốc gia duy nhất từng hứng chịu các cuộc tấn công bằng bom nguyên tử. Nhưng trong chuyến đi lần này, tôi hầu như không nghe thấy ai nhắc đến Hiroshima hay Nagasaki; thay vào đó, các cuộc thảo luận tập trung rất nhiều vào vấn đề răn đe.

 

Cụ thể hơn, các quan chức và chuyên gia Nhật Bản dường như ngày càng đồng thuận rằng ít nhất một trong ba nguyên tắc phi hạt nhân của đất nước cần được xem xét lại: nguyên tắc không cho phép vũ khí hạt nhân được đưa vào lãnh thổ Nhật Bản. Họ tỏ ra rất quan tâm đến khả năng xây dựng với Mỹ những thỏa thuận tương tự cơ chế chia sẻ hạt nhân mà Washington duy trì với Đức và một số đồng minh châu Âu, theo đó hai bên cùng tham gia kiểm soát việc sử dụng vũ khí hạt nhân thông qua cơ chế “hai chìa khóa” (dual key). Một loại tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân mà Mỹ đang phát triển dường như được xem là lựa chọn đặc biệt hấp dẫn.

 

Nhật Bản hoàn toàn có khả năng tự phát triển vũ khí hạt nhân. Nước này sở hữu lượng plutonium đáng kể và đội ngũ kỹ sư xuất sắc. Tuy nhiên, Tokyo không muốn lựa chọn con đường đó vì nhiều lý do, trong đó có sự phản đối lâu dài trong nước và nỗi lo bị tấn công phủ đầu. Điều đáng chú ý là những lập luận tôi nghe được nhằm phản đối một lực lượng răn đe hạt nhân hoàn toàn độc lập của Nhật Bản hiện nay chủ yếu dựa trên những tính toán chiến lược thận trọng, chứ không còn dựa nhiều vào cảm xúc hay ký ức lịch sử như trước.

 

Những thay đổi này bắt nguồn từ cảm giác bị đe dọa ngày càng lớn trong xã hội và giới hoạch định chính sách Nhật Bản. Gần như mỗi ngày, tàu hải cảnh Trung Quốc đều tiến vào vùng tiếp giáp lãnh hải, tức khu vực nằm từ 12 đến 24 hải lý quanh quần đảo Senkaku, kéo dài về phía vùng biển gần Đài Loan; chúng cũng thường xuyên đi vào lãnh hải Nhật Bản quanh khu vực này. Cần lưu ý rằng nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc có kích thước tương đương tàu hộ vệ hoặc tàu khu trục của hải quân các nước khác và được trang bị pháo tự động phù hợp với tác chiến hơn là thực thi pháp luật. Giọng điệu quyết liệt của các lực lượng này khi đối đầu với phía Nhật Bản cũng phản ánh khá rõ lập trường cứng rắn của chính phủ Trung Quốc.

 

Các cuộc tuần tra không quân chung giữa Trung Quốc và Nga cũng khiến lực lượng phòng không Nhật Bản ngày càng lo ngại, tương tự như sự gia tăng hoạt động của drone Trung Quốc gần các đảo của Nhật Bản. Yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Senkaku vốn đã tồn tại từ lâu nhưng ngày càng được thể hiện quyết liệt hơn trong những năm gần đây. Đồng thời, Nhật Bản đặc biệt lo lắng trước kho vũ khí hạt nhân đang mở rộng nhanh chóng của Trung Quốc, cũng như kho hạt nhân của Triều Tiên. Cả Bắc Kinh và Bình Nhưỡng lại đang xích lại gần một nước Nga mà lực lượng hải quân và không quân vẫn hoạt động tích cực tại Thái Bình Dương bất chấp những đòi hỏi lớn từ cuộc chiến ở Ukraine.

Nhật Bản vì vậy đang ở trong một tình thế chiến lược đặc biệt khó khăn, và cũng chính vì lý do đó mà thái độ của nước này đối với Mỹ khác hẳn nhiều quốc gia châu Âu. Ở Nhật Bản, người ta hiếm khi nghe những lời phàn nàn về sự suy thoái của nền dân chủ Mỹ hay những cáo buộc Washington phản bội đồng minh. Thay vào đó, Nhật Bản đang cố gắng hết sức để tiếp tục đặt niềm tin vào Mỹ trong bối cảnh nước này hầu như không có lựa chọn thay thế khả dĩ nào.

 

Không tồn tại một phiên bản NATO ở Thái Bình Dương, và ngay cả cơ chế chỉ huy liên hợp giữa quân đội Mỹ và Nhật Bản cũng chưa có mức độ tích hợp tổ chức sâu như liên minh Mỹ – Hàn. Những gì Nhật Bản có chủ yếu là sự hiện diện của lực lượng Mỹ — phần lớn được bố trí với trọng tâm hướng tới bán đảo Triều Tiên và Đài Loan — cùng với cam kết an ninh của Washington, bên cạnh quyết tâm của chính Nhật Bản trong việc chống lại sự lấn tới, hay theo ngôn ngữ trong các tài liệu quốc phòng là “xâm lược”, từ một Trung Quốc ngày càng đối đầu.

 

Nỗi lo của Nhật Bản về Đài Loan đặc biệt sâu sắc. Ngay cả việc Trung Quốc giành quyền kiểm soát hòn đảo bằng biện pháp hòa bình cũng sẽ là một bước lùi chiến lược lớn đối với Tokyo. Điều đó sẽ làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của Nhật Bản và Mỹ tại Đông Á, đồng thời có thể khuyến khích, theo cách nhìn của Nhật Bản, một số nước láng giềng của Trung Quốc nhượng bộ Bắc Kinh hoặc thậm chí đi xa hơn. Trong một phát biểu có vẻ bộc phát vào cuối năm 2025, Thủ tướng Takaichi ám chỉ rằng một cuộc phong tỏa hải quân của Trung Quốc đối với Đài Loan có thể được coi là một “tình huống đe dọa sự tồn vong” của Nhật Bản, qua đó có thể mở đường cho Tokyo sử dụng vũ lực theo quyền phòng vệ tập thể. Bất chấp làn sóng phản ứng dữ dội sau đó, bà vẫn chưa rút lại phát biểu này.

 

Những năm tới có thể sẽ đặc biệt nguy hiểm tại Đông Á nếu Trung Quốc cho rằng một nước Mỹ đang bị phân tâm và thiếu chuẩn bị đã tạo ra cơ hội để hoàn tất mục tiêu thống nhất với một Đài Loan không muốn bị sáp nhập vào đại lục. May mắn là quan hệ Mỹ – Nhật cho đến nay vẫn là một liên minh mà chính quyền Trump chưa vô tình hoặc cố ý phá hoại. Vì lợi ích không chỉ của Tokyo mà của cả hòa bình khu vực, người ta chỉ có thể hy vọng tình trạng đó sẽ tiếp tục được duy trì.

 

------------------------------

Eliot A. Cohen là cây bút cộng tác của The Atlantic. Ông là Giáo sư Danh dự tại Đại học Johns Hopkins và là tác giả cuốn sách sắp xuất bản The Strategist: How to Think About War and Politics.

 

Nguồn: Eliot A. Cohen, “Japan’s Strategic Turn”, The Atlantic, 06/09/2026

 

 

 

 

 


ĐÀI LOAN CÓ THỂ GIÀNH CHIẾN THẮNG NHƯ THẾ NÀO? (Holmes Liao và Dennis Blair – Foreign Affairs)

 



Đài Loan có thể giành chiến thắng như thế nào?

Holmes Liao và Dennis Blair  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế 

11/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/11/dai-loan-co-the-gianh-chien-thang-nhu-the-nao/

 

Một lực lượng hải quân linh hoạt hơn có thể giúp Đài Loan ngăn chặn Trung Quốc.

 

Nằm cách Trung Quốc một eo biển rộng khoảng 160 km, Đài Loan dựa vào hải quân như tuyến phòng thủ đầu tiên trước nguy cơ bị xâm lược. Lực lượng này phải có khả năng ngăn chặn các tàu đổ bộ lớn của quân đội Trung Quốc vượt Eo biển Đài Loan. Từ lâu, Đài Loan vẫn lấy những tàu chiến lớn như tàu khu trục và tàu hộ vệ làm nòng cốt cho hạm đội. Chúng vừa là biểu tượng phô trương sức mạnh quốc gia, vừa là công cụ thể hiện quyết tâm trước sức ép từ đại lục. Kế hoạch đóng tàu hiện nay của Đài Loan cũng tiếp tục đi theo hướng này, với mục tiêu thay thế hạm đội tàu mặt nước già cỗi bằng những chiến hạm mới, lớn hơn và đắt tiền hơn.

 

Vấn đề là các tàu mặt nước cỡ lớn lại đặc biệt dễ bị tổn thương trong vùng biển chật hẹp như Eo biển Đài Loan, nhất là khi những tiến bộ công nghệ đang khiến chúng ngày càng dễ bị phát hiện, theo dõi và tấn công. Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào các hệ thống tình báo, giám sát và trinh sát tiên tiến, gọi chung là ISR, cũng như tác chiến điện tử, máy bay không người lái và tên lửa. Vì vậy, những tàu mặt nước lớn của Đài Loan đang dần trở thành một điểm yếu. Nhưng Đài Loan vẫn có một lợi thế: chính những công nghệ đó cũng khiến các tàu đổ bộ lớn của Trung Quốc dễ bị tấn công hơn trong vùng biển hẹp, trong khi Bắc Kinh không thể thay thế chúng bằng những phương tiện nhỏ hơn và khó bị phát hiện hơn. Đài Bắc có thể khai thác sự bất đối xứng này bằng cách thay thế tàu khu trục và tàu hộ vệ cỡ lớn bằng số lượng lớn tàu chiến mặt nước nhỏ hơn, có khả năng sống sót cao hơn qua đợt tấn công đầu tiên của Trung Quốc nhưng vẫn đủ hỏa lực để đánh vào hạm đội xâm lược.

 

Hải quân Đài Loan hiện dự kiến đầu tư mạnh vào các tàu mặt nước cỡ lớn, bao gồm một chiến hạm mới khoảng 7.000 tấn và tối đa 12 tàu hộ vệ hạng nhẹ khoảng 3.000 tấn. Nhưng chính những con tàu lớn như vậy lại cản trở cuộc chuyển đổi căn bản mà Hải quân Đài Loan cần thực hiện để đối phó với mối đe dọa từ Trung Quốc. Nếu muốn những con tàu đó sống sót trong một cuộc chiến tại Eo biển Đài Loan, Đài Bắc sẽ phải trang bị cho chúng các tính năng tàng hình và hệ thống phòng thủ cực kỳ tốn kém. Nhưng nếu không có những năng lực này, chúng sẽ quá dễ bị tổn thương để thực hiện nhiệm vụ chính trong thời chiến: ngăn chặn lực lượng xâm lược Trung Quốc vượt eo biển. Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy việc chế tạo những tàu chiến có năng lực tương đương vừa khó vừa tốn kém. Chương trình tàu hộ vệ lớp Constellation của Hải quân Mỹ, chẳng hạn, ban đầu được dự toán khoảng 1 tỷ USD mỗi tàu, sau đó chi phí tăng lên khoảng 1,5 tỷ USD trước khi chương trình bị hủy. Ngay cả với mức giá đó, các tàu này vẫn thiếu một số năng lực cần thiết để chiến đấu với đối thủ mạnh hơn trong vùng biển hẹp. Trong khi đó, toàn bộ chương trình đóng tàu của Đài Loan chỉ có ngân sách khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm.

 

Thay vì dồn nguồn lực vào những chiến hạm lớn, Đài Bắc nên chế tạo các tàu hộ tống nhỏ, có khả năng tàng hình, lượng giãn nước khoảng 700–1.000 tấn, được trang bị tên lửa và máy bay không người lái. Những tàu này khó bị phát hiện và nhắm mục tiêu hơn nhưng vẫn có đủ hỏa lực để tấn công các tàu Trung Quốc vượt eo biển. Nếu kết hợp chúng với các kế hoạch hiện nay về bệ phóng tên lửa di động trên bờ, máy bay mang tên lửa chống hạm và tám tàu ngầm, Đài Loan có thể xây dựng một hệ thống phòng thủ phân tán, khó bị phá hủy, đủ sức chịu đựng các đòn tấn công ban đầu và đẩy lùi một chiến dịch đổ bộ.

 

NHỮNG MỤC TIÊU DỄ BỊ TẤN CÔNG

 

Các tàu chiến lớn có thể là biểu tượng đầy uy lực của sức mạnh quốc gia, nhưng chúng cũng là những mục tiêu tương đối dễ bị tấn công và cái giá chính trị của việc mất chúng có thể rất lớn. Trong vùng biển chật hẹp bị bao phủ bởi mạng lưới giám sát dày đặc, việc dễ bị phát hiện nhanh chóng trở thành một điểm yếu chí tử. Một chiến hạm lớn bị đánh chìm không chỉ gây thiệt hại quân sự trước mắt mà còn có thể khiến lãnh đạo chính trị và quân sự trở nên dè dặt hơn trong việc mạo hiểm những tàu chiến còn lại nếu xung đột tiếp diễn.

Trong hơn bốn thập kỷ qua, các cuộc đụng độ hải quân lớn cho thấy bất kỳ lực lượng nào dự định chiến đấu gần bờ biển đối phương đều phải thận trọng trước việc xây dựng cấu trúc lực lượng dựa quá nhiều vào những chiến hạm đắt đỏ và khó thay thế. Chiến tranh Falkland năm 1982 giữa Argentina và Anh là một ví dụ điển hình. Argentina bước vào cuộc chiến với những tàu chiến đáng gờm, bao gồm tàu tuần dương General Belgrano và tàu sân bay Veinticinco de Mayo. Nhưng sau khi một tàu ngầm Anh đánh chìm Belgrano, Argentina giữ phần lớn hạm đội mặt nước còn lại, kể cả Veinticinco de Mayo, ở gần bờ hoặc trong cảng cho đến khi chiến tranh kết thúc.

 

Sáu năm sau, tại Vịnh Ba Tư, khả năng kết hợp trinh sát, máy bay, tàu chiến và vũ khí chính xác của Hải quân Mỹ đã gây thiệt hại nặng cho hải quân Iran trong Chiến dịch Praying Mantis. Chỉ trong một ngày, lực lượng Mỹ đánh chìm hoặc làm hư hại nặng một số tàu mặt nước Iran hoạt động trong vùng Vịnh chật hẹp, bao gồm hai tàu hộ vệ lớn. Nếu Chiến tranh Falkland cho thấy hậu quả chính trị của việc mất một chiến hạm lớn, thì Chiến dịch Praying Mantis làm nổi bật mối nguy khi phải đối đầu với một đối thủ sở hữu “chuỗi tiêu diệt” hiệu quả hơn nhiều, tức một mạng lưới cảm biến và thông tin liên lạc cho phép phát hiện, nhận dạng, theo dõi, nhắm mục tiêu và tấn công lực lượng đối phương. Đối với Đài Loan, bài học rất rõ: sức mạnh chiến đấu của một tàu lớn là vô nghĩa nếu nó không thể sống sót đủ lâu để tham chiến, và một tổn thất sớm có thể tạo hiệu ứng dây chuyền đối với toàn bộ hoạt động tác chiến sau đó của hải quân.

 

Về cả phương diện chính trị lẫn quân sự, mất một tàu chiến nhỏ sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với mất một chiến hạm lớn. Năm 2006, một tên lửa hành trình của Hezbollah đã đánh trúng tàu hộ tống Hanit của Israel ngoài khơi Lebanon. Con tàu hầu như không được cảnh báo trước, chỉ có rất ít thời gian để phát hiện và phản ứng với tên lửa được phóng từ bờ cách chưa đầy 20 km, trong khi một số hệ thống phòng thủ chưa được kích hoạt đầy đủ. Vụ tấn công khiến bốn thủy thủ thiệt mạng và gây hư hại cho con tàu, nhưng thủy thủ đoàn vẫn kiểm soát được tình hình và đưa tàu trở về. Israel cũng không vì vậy mà từ bỏ tàu hộ tống; ngược lại, nước này tiếp tục đóng các tàu hộ tống lớn hơn và được trang bị vũ khí mạnh hơn.

 

Quan trọng nhất đối với Đài Loan, chiến dịch trên Biển Đen của Ukraine sau khi Nga phát động cuộc xâm lược năm 2022 cho thấy một bên yếu hơn vẫn có thể kiềm chế một đối thủ mạnh hơn tại vùng biển tranh chấp mà không cần giành quyền kiểm soát biển hay sở hữu một hạm đội tương đương. Ukraine đã kết hợp tên lửa hành trình chống hạm phóng từ bờ, các đàn tàu mặt nước không người lái, máy bay không người lái và tình báo từ bên ngoài để khiến hoạt động hải quân Nga ở Biển Đen phải trả giá đắt, qua đó đẩy phần lớn hạm đội Nga ra xa bờ biển Ukraine. Việc soái hạm Moskva bị đánh chìm chứng minh rằng ngay cả một chiến hạm có hệ thống phòng không nhiều lớp cũng có thể bị khuất phục nếu đối phương xây dựng được một chuỗi tiêu diệt hiệu quả. Cuộc chiến hiện nay ở Iran cũng củng cố quy luật đó: Mỹ và Israel đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lực lượng tàu mặt nước Iran ngay từ đầu cuộc xung đột, nhưng lại gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiêu diệt các bệ phóng tên lửa phân tán, UAV, tàu tuần tra và tàu rải mìn. Vì vậy, dù mất phần lớn sức mạnh hải quân thông thường, Iran vẫn duy trì được khả năng đe dọa tuyến hàng hải và cản trở việc tiếp cận Eo biển Hormuz.

 

KHI NHỎ BÉ LÀ LỢI THẾ

 

Những ví dụ trên cho thấy một lực lượng hải quân yếu hơn không nhất thiết phải kiểm soát vùng biển ven bờ của mình để ngăn đối thủ mạnh hơn sử dụng khu vực đó. Vì vậy, tại Eo biển Đài Loan, mục tiêu hợp lý hơn là “chống xâm nhập trên biển” (sea denial): ngăn Trung Quốc tự do sử dụng vùng biển này để tiến hành một cuộc xâm lược. Để đạt được điều đó, Đài Loan không cần từ bỏ lực lượng tàu mặt nước. Nhưng họ phải xây dựng hạm đội theo cách khác: dựa trên số lượng lớn các tàu nhỏ có thể hoạt động độc lập nhưng vẫn chia sẻ thông tin và phối hợp tấn công, qua đó giúp toàn bộ lực lượng có khả năng sống sót cao hơn trước đợt tấn công đầu tiên và đủ sức đánh trả lực lượng xâm lược.

 

Phần Lan và Thụy Điển là những hình mẫu đáng tham khảo. Cả hai nước đều phải răn đe và phòng thủ trước một đối thủ lớn hơn và mạnh hơn là Nga, đồng thời đối phó với các thách thức chủ quyền tại vùng biển do mình kiểm soát và chuẩn bị trước nguy cơ bị tấn công đổ bộ. Với lực lượng hải quân xây dựng chủ yếu quanh các tàu cỡ tàu hộ tống, Phần Lan và Thụy Điển đã thành công trong việc đối phó với sức ép từ Nga, xua đuổi tàu ngầm Nga xâm phạm lãnh hải, áp giải các tàu Nga rời khỏi vùng biển của mình và gửi công hàm phản đối tới Moscow. Cả hai nước cũng sở hữu những mạng lưới trinh sát, thông tin liên lạc và hỗ trợ ra quyết định rộng khắp, tinh vi và liên tục được nâng cấp.

 

Việc tái cấu trúc hạm đội mặt nước của Đài Loan hoàn toàn nằm trong khả năng của nước này. Tháng 7 vừa qua, Tổng thống Lại Thanh Đức tham dự lễ biên chế tàu tuần tra tên lửa thứ tám và mới nhất của hải quân, một tàu hộ tống hạng nhẹ nhưng được trang bị hỏa lực mạnh, đóng trong nước theo thiết kế hai thân cải tiến giúp tăng tốc độ và độ ổn định. Dự kiến thêm bốn tàu loại này sẽ được biên chế vào cuối năm. Ngành đóng tàu Đài Loan đã có khả năng sản xuất nhanh các tàu như vậy, và quy mô sản xuất càng lớn thì hiệu quả càng cao. Duy trì dây chuyền sản xuất liên tục cũng giúp giảm chi phí, đồng thời cho phép từng lô tàu mới tích hợp thêm vũ khí, cảm biến và hệ thống không người lái khi các công nghệ này được phát triển. Mỗi tàu hiện có giá dưới 200 triệu USD, trong khi một chiến hạm 7.000 tấn có thể tốn khoảng 2 tỷ USD.

 

Những thay đổi đó cần đi kèm với một chương trình nâng cấp rộng hơn đối với mạng lưới cảm biến, thông tin liên lạc, UAV và tên lửa của lực lượng vũ trang Đài Loan. Hòn đảo này đã bắt đầu đầu tư vào một số lĩnh vực như vậy. Gói ngân sách đặc biệt gần đây cùng kế hoạch phát triển hải quân tiếp theo sẽ củng cố chuỗi tiêu diệt thông qua UAV giám sát trên biển, mạng lưới chỉ huy và kiểm soát được nâng cấp để điều phối lực lượng, cùng các hệ thống hỗ trợ ra quyết định tác chiến có AI trợ giúp. Đây là những nền tảng thiết yếu cho một hệ thống đủ sức ngăn Trung Quốc tự do di chuyển qua Eo biển Đài Loan. Nhưng chính những công nghệ giúp chuỗi tiêu diệt của Đài Bắc hiệu quả hơn cũng khiến các tàu mặt nước lớn của nước này dễ bị tấn công hơn. Chỉ bằng cách tái cấu trúc và hiện đại hóa hạm đội mặt nước, Đài Loan mới có thể chuẩn bị đầy đủ cho nguy cơ bị xâm lược.

 

Một hạm đội mặt nước được tái cấu trúc cũng sẽ bổ trợ cho kế hoạch đóng tám tàu ngầm mới của Đài Loan, chiếc đầu tiên hiện đang trong quá trình thử nghiệm trên biển. Tàu ngầm di chuyển chậm hơn nhưng có khả năng tàng hình vượt trội so với tàu hộ tống. Tên lửa và UAV phóng từ tàu hộ tống có thể vô hiệu hóa tàu đối phương bằng cách đánh vào các mục tiêu phía trên mặt nước, trong khi ngư lôi từ tàu ngầm có thể đánh chìm chúng. Nói cách khác, thay đổi cách tiếp cận đối với hạm đội mặt nước là một phần thiết yếu để giúp các khoản đầu tư hải quân khác của Đài Loan phát huy hiệu quả cao hơn.

 

ĐƯA HẠM ĐỘI ĐI ĐÚNG HƯỚNG

 

Những trở ngại lớn nhất đối với quá trình chuyển đổi Hải quân Đài Loan mang tính thể chế nhiều hơn là kỹ thuật. Vì dễ nhìn thấy và gây ấn tượng, các tàu chiến lớn luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với giới chính trị. Chúng tạo ra hợp đồng cho các xưởng đóng tàu, những lễ biên chế hoành tráng, cảm giác về thành tựu quốc gia và bằng chứng trực quan cho thấy chính phủ nghiêm túc với quốc phòng. Trong khi đó, công chúng không thể nhìn thấy một nhà kho chứa đầy UAV hay một bệ phóng tên lửa di động được giấu trong núi. Đối với giới lãnh đạo hải quân cũng vậy, duy trì hiện trạng luôn dễ hơn thúc đẩy thay đổi căn bản. Các tàu khu trục và tàu hộ vệ hiện nay của Đài Loan, nhiều chiếc dựa trên thiết kế của Mỹ từ khoảng nửa thế kỷ trước, đã được vận hành lâu năm và rất quen thuộc, nên về mặt thể chế luôn là lựa chọn an toàn hơn.

 

Nhưng thay vì tiếp tục nâng cấp những tàu chiến già cỗi, thậm chí lỗi thời, Đài Loan nên từng bước cho chúng ngừng hoạt động và chuyển nguồn lực hạn chế sang các tàu mặt nước nhẹ mà nước này thực sự cần. Từ bỏ những nền tảng vũ khí quen thuộc đòi hỏi lãnh đạo chính trị và quân sự phải chấp nhận rủi ro, đồng thời vượt qua những khó khăn và chỉ trích vốn luôn đi kèm với thay đổi thể chế. Chẳng hạn, chương trình tàu ngầm nội địa đầu tiên của Đài Loan hiện đang chậm tiến độ. Nhưng những khó khăn như vậy là điều khó tránh khỏi khi phát triển các hệ thống phức tạp và không nên trở thành lý do để từ bỏ những khoản đầu tư cần thiết. Lãnh đạo chính phủ và quốc phòng cần tiếp tục ủng hộ các chương trình này và giải thích rõ cho công chúng vì sao chúng quan trọng, ngay cả khi đối mặt với chỉ trích từ phe đối lập.

 

Sau nhiều năm trì trệ và suy giảm, chi tiêu quốc phòng của Đài Loan cuối cùng cũng đang tăng lên. Ngân sách quốc phòng đề xuất cho năm 2027 nhiều khả năng sẽ vượt 3% GDP, trong khi cơ quan lập pháp đã thông qua một gói ngân sách quốc phòng đặc biệt trị giá 25 tỷ USD vào tháng 5, dù thấp hơn đáng kể so với mức 40 tỷ USD mà hành pháp đề xuất ban đầu. Nhưng Đài Loan sẽ không trở nên an toàn hơn nếu nguồn lực mới vẫn được chi theo những tư duy quốc phòng lỗi thời và tiếp tục đổ vào một số ít chiến hạm lớn, đắt đỏ và dễ bị tổn thương. Hòn đảo này cần một cấu trúc lực lượng phân tán, linh hoạt và có sức sát thương cao để đánh bại Trung Quốc tại eo biển. Một lực lượng hải quân như vậy có thể không gây nhiều ấn tượng trong các lễ duyệt binh, nhưng sẽ tạo ra sức răn đe hiệu quả hơn nhiều trước một cuộc tấn công tiềm tàng từ Trung Quốc.

 

----------------------

Holmes Liao là Cố vấn Cấp cao tại Cơ quan Vũ trụ Đài Loan và cựu Chủ tịch Danh dự tại Đại học Chiến tranh thuộc Đại học Quốc phòng Đài Loan.

 

Dennis Blair từng là Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ từ năm 1999 đến năm 2002 và Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ từ năm 2009 đến năm 2010.






KẾ HOẠCH CHI TIÊU MẠNH TAY CỦA BÀ TAKAICHI SANAE GÂY LO NGẠI CHO THỊ TRƯỜNG (The Economist)

 



Kế hoạch chi tiêu mạnh tay của bà Takaichi Sanae gây lo ngại cho thị trường

The Economist  

Phạm Ánh Minh, biên dịch   -  Nghiên Cứu Quốc Tế

12/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/12/ke-hoach-chi-tieu-manh-tay-cua-ba-takaichi-sanae-gay-lo-ngai-cho-thi-truong/

 

Bà Takaichi đang đưa nhà nước trở lại vị trí trung tâm của nền kinh tế Nhật Bản.

 

Năm 1999, một nữ nghị sĩ mới bước sang nhiệm kỳ thứ hai và chưa được nhiều người biết đến đã đóng góp một bài viết đầy tham vọng cho một ấn phẩm bàn về tương lai của Nhật Bản. Takaichi Sanae hình dung rằng đến tháng 10/2010, bà sẽ đắc cử thủ tướng và thực hiện một chương trình truyền hình định kỳ vào sáng Chủ nhật để trực tiếp giao tiếp với công chúng. Dự đoán của bà Takaichi chỉ sai về thời điểm và phương tiện truyền tải: bà trở thành thủ tướng vào tháng 10/2025, và thay vì lên truyền hình, bà truyền tải thông điệp qua nền tảng X. Tuyển tập bài viết năm đó quy tụ các cựu học viên của Viện Quản trị và Chính phủ Matsushita, nơi bà Takaichi từng học hỏi từ nhà sáng lập Panasonic về cách nhìn chính trị như một nghệ thuật “quản trị quốc gia”.

 

Trên cương vị thủ tướng, bà Takaichi đang vận dụng bài học đó một cách rõ rệt. Wakatabe Masazumi, cựu Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản và là một trong những cố vấn kinh tế thân cận nhất của bà, nhận xét: “Bà ấy tư duy như một CEO của Nhật Bản.” Và với tư duy của một CEO, bà tin rằng đã đến lúc cần thực hiện những khoản đầu tư quy mô lớn. Khi bản ngân sách toàn diện đầu tiên dưới thời Takaichi dần thành hình, quy mô kế hoạch vực dậy nền kinh tế của bà cũng trở nên rõ ràng hơn. Chiến lược tăng trưởng dự kiến huy động 370 nghìn tỷ yên, tương đương 2,3 nghìn tỷ USD hay khoảng 55% GDP, vốn đầu tư từ cả khu vực công lẫn tư vào 17 lĩnh vực trong giai đoạn từ năm tới đến đầu năm 2041. Để tạo điều kiện cho kế hoạch này, bà đã thay đổi quy trình lập ngân sách, cho phép các bộ ngành đề xuất chi tiêu theo lộ trình nhiều năm. Các đề xuất sơ bộ cho ngân sách năm tới, công bố ngày 4/9, đạt mức kỷ lục 143 nghìn tỷ yên, tăng mạnh so với 122,5 nghìn tỷ yên trước đó. Thị trường bắt đầu lo ngại: quan ngại về triển vọng tài khóa đã có lúc đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm vượt 3% lần đầu tiên trong ba thập kỷ.

 

Trong nhiều năm, bà Takaichi mô tả chính sách kinh tế của mình như sự tiếp nối “Abenomics”, chương trình thân thiện với thị trường do cố Thủ tướng Shinzo Abe, một trong những người có ảnh hưởng lớn đối với bà, khởi xướng. Trong thời gian làm thủ tướng từ năm 2012 đến 2020, ông Abe triển khai chính sách tiền tệ siêu nới lỏng nhằm chống giảm phát, đồng thời coi cải cách quản trị doanh nghiệp là công cụ quan trọng để chấn chỉnh bộ máy lãnh đạo trì trệ của các doanh nghiệp Nhật Bản. Vào cuối nhiệm kỳ của ông, Morgan Stanley thậm chí còn so sánh di sản Abe với di sản của Margaret Thatcher.

 

Bà Takaichi chia sẻ với ông Abe khát vọng phục hưng đất nước, cũng như phần nào tinh thần quyết đoán của “Bà đầm thép”. Nhưng “Sanaenomics”, tên gọi bà dành cho chương trình kinh tế của mình, lại không thực sự mang tinh thần của “Abenomics”, càng không giống “Thatcherism”. Nhà kinh tế Jesper Koll nhận xét: “Bà Takaichi không có niềm tin cốt lõi rằng thị trường là cơ chế vận hành tối ưu.” Thay vào đó, bà đặt nhiều niềm tin hơn vào vai trò của nhà nước. Nếu đội ngũ cố vấn của ông Abe từng tập trung vào những biện pháp giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, thì các cố vấn của bà Takaichi lại bàn nhiều hơn về việc nên hướng dòng vốn vào những ngành công nghiệp nào.

 

Mục tiêu là sử dụng vốn mồi của chính phủ để kéo theo đầu tư tư nhân vào hàng loạt lĩnh vực được coi là chiến lược. Bà Takaichi đã trao thêm quyền lực cho các quan chức Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, cơ quan từng đóng vai trò định hướng nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn tăng trưởng thần kỳ hậu chiến, đồng thời kiềm chế ảnh hưởng của phe chủ trương kỷ luật tài khóa tại Bộ Tài chính. Rapidus, công ty bán dẫn tiên tiến được chính phủ hậu thuẫn, là hình mẫu tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Tobias Harris thuộc công ty tư vấn Japan Foresight nhận xét: “Họ muốn áp dụng mô hình Rapidus cho mọi lĩnh vực.”

 

Các đồng minh của bà Takaichi cho rằng xu hướng toàn cầu hiện nay tạo cơ sở hợp lý cho cách tiếp cận đó. Một quan chức nhận định: “Thế giới đã thay đổi kể từ thời Abenomics. Bà ấy không chống lại cơ chế thị trường, nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ dựa vào thị trường là chưa đủ.” Dưới thời Tổng thống Joe Biden, Mỹ đã quay lại mạnh mẽ với chính sách công nghiệp, trong khi các doanh nghiệp được nhà nước hậu thuẫn của Trung Quốc ngày càng cạnh tranh quyết liệt hơn ở những phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị.

 

Những người ủng hộ bà Takaichi cũng cho rằng quỹ đạo tài khóa hiện tại của Nhật Bản đang mở ra một khoảng không thuận lợi cho việc chi tiêu mạnh tay hơn. Nhờ lạm phát và nguồn thu thuế tăng, tổng nợ công đã giảm từ mức đỉnh khoảng 230% GDP xuống dưới 210%; nếu tính tới khối tài sản tài chính đáng kể do chính phủ nắm giữ, nợ ròng hiện vào khoảng 130% GDP. Chính quyền lập luận rằng miễn tỷ lệ nợ trên GDP tiếp tục giảm trong dài hạn, việc không đạt thặng dư ngân sách cơ bản trong ngắn hạn, một mục tiêu từng được các chính phủ trước đặc biệt coi trọng, không nhất thiết là vấn đề nghiêm trọng. Các đề xuất ngân sách ban đầu tuy mang tính mở rộng nhưng chưa đến mức quá mạnh tay: tổng mức chi đề xuất chỉ cao hơn khoảng 2.400 tỷ yên so với tổng ngân sách chính thức cộng ngân sách bổ sung của năm trước, trong khi bà Takaichi muốn từng bước loại bỏ chính các gói ngân sách bổ sung này.

 

Tuy vậy, sự hoài nghi vẫn rất lớn. Trong một cuộc khảo sát gần đây với 48 nhà kinh tế học hàng đầu của Nhật Bản, có tới 35 người không tin rằng các kế hoạch đầu tư của chính phủ sẽ tạo ra mức tăng trưởng đủ lớn để duy trì xu hướng giảm của tỷ lệ nợ công trên GDP. Ngân sách mới cũng có nguy cơ phình to nhanh chóng. Dù chính quyền cam kết giảm phụ thuộc vào các ngân sách bổ sung, trên thực tế những gói này thường được sử dụng để ứng phó với các cú sốc bất ngờ. Bản ngân sách còn có một hạng mục đầu tư không đặt trần chi tiêu cho chương trình “Nước Nhật hùng cường và thịnh vượng”, được tài trợ bằng các loại “trái phiếu bắc cầu”, tức những khoản vay không được tính vào tỷ lệ nợ công trên GDP chính thức. Các bộ ngành đã đề xuất tới 12 nghìn tỷ yên chi tiêu qua cơ chế này, chủ yếu cho các dự án AI và không gian. Bộ Quốc phòng vẫn chưa công bố đề xuất cụ thể. Trong khi đó, cam kết cắt giảm thuế tiêu dùng của bà Takaichi sẽ có hiệu lực từ tháng 4 tới, tạo thêm áp lực lên ngân sách.

 

Chi phí trả nợ cũng đang tăng nhanh. Ngân sách năm tới dự kiến dành mức kỷ lục 36,6 nghìn tỷ yên cho nghĩa vụ trả nợ, tăng 17% so với năm trước. Bà Takaichi muốn Ngân hàng Trung ương Nhật Bản duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài hơn; hai nhân sự đầu tiên do bà bổ nhiệm vào hội đồng chính sách của ngân hàng đều là những người ủng hộ mạnh mẽ chính sách tiền tệ nới lỏng. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã nâng lãi suất từ 0,75% lên 1% vào tháng 6, và tình trạng lạm phát dai dẳng cùng đồng yên yếu càng củng cố lý do để tiếp tục thắt chặt. Các quan chức Mỹ cũng tỏ ra không hài lòng trước các chính sách tài khóa mở rộng của bà Takaichi, vốn bị cho là gây bất ổn thị trường trái phiếu, đồng thời chỉ trích Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vì không tăng lãi suất nhanh hơn. Thị trường hiện kỳ vọng một đợt tăng lãi suất nữa tại cuộc họp ngày 17–18/9; trong bối cảnh đó, đồng yên đã tăng lên mức cao nhất so với USD kể từ tháng 2.

 

Ngay cả khi bà Takaichi có thể đẩy dư địa tài khóa của Nhật Bản tới giới hạn, vẫn chưa rõ liệu lượng chi tiêu khổng lồ đó có tạo ra mức tăng trưởng như kỳ vọng hay không. Thành tích của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp trong việc lựa chọn những doanh nghiệp có khả năng trở thành “nhà vô địch” không mấy ấn tượng. Ngay cả Rapidus, dù đã đạt một số tiến bộ, vẫn chưa chứng minh được rằng họ có thể thực hiện đầy đủ những lời hứa ban đầu. Trong khi đó, các cải cách cơ cấu lại bị sao nhãng. Bà Takaichi đang mở rộng các kênh đầu tư của nhà nước nhưng đồng thời thu hẹp con đường dành cho lao động nhập cư vào Nhật Bản, dù nhập cư là một trong những yếu tố cần thiết để hạn chế tác động của tình trạng dân số suy giảm nhanh. Nỗ lực đáng kể nhất của bà trong việc nới lỏng quy định lại tập trung vào việc gỡ bỏ các hạn chế về giờ làm thêm.

 

Dù vậy, người đứng đầu bộ máy điều hành Nhật Bản vẫn không hề nao núng. Sau khi các đề xuất ngân sách ban đầu được công bố, bà Takaichi lên mạng xã hội X để bảo vệ cách tiếp cận của mình. Bà viết: “Các mức trần chi tiêu không nên trở thành rào cản khiến những ý tưởng tốt không nhận được nguồn lực cần thiết. Điều đó không có nghĩa là mọi đề xuất đều sẽ được thông qua. Chúng tôi sẽ đánh giá kỹ xem mỗi chính sách có thực sự mang lại hiệu quả hay không.” Xét cho cùng, phần lớn thành bại của chiến lược này sẽ phụ thuộc vào khả năng phán đoán của vị “CEO” đang điều hành đất nước.

 

----------------------

 

Nguồn: “Takaichi Sanae’s big-spending plans are unnerving markets”, The Economist, 09/09/2026







CÔNG GIÁO MIỀN NAM VIỆT NAM CÓ PHẢI LÀ CÔNG CỤ CỦA ĐẾ QUỐC? (Nguyen-Marshall, V. / 2009 – Journal of the Canadian Historical Association)

 



 

Công Giáo Miền Nam Việt Nam có phải là công cụ của đế quốc?

Nguyen-Marshall, V. (2009)  -   Journal of the Canadian Historical Association  

Lê Văn Luận, biên dịch

Lê Hồng Hiệp, biên tập

03/05/2020

https://nghiencuuquocte.org/2020/05/03/cong-giao-mien-nam-viet-nam-co-phai-la-cong-cu-cua-de-quoc/

 

 

Nguồn: Nguyen-Marshall, V. (2009). “Tools of Empire? Vietnamese Catholics in South Vietnam”, Journal of the Canadian Historical Association, 20 (2), 138–159.

 

 





THỊ THỰC KHỞI NGHIỆP và CUỘC CẠNH TRANH MÀ VIỆT NAM CHƯA CÓ (Lê Hồng Hiệp – Nghiên Cứu Quốc Tế)

 



Thị thực khởi nghiệp và cuộc cạnh tranh nhân tài mà Việt Nam chưa có

Lê Hồng Hiệp   -   Nghiên Cứu Quốc Tế   

14/09/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/09/14/thi-thuc-khoi-nghiep-va-cuoc-canh-tranh-nhan-tai-ma-viet-nam-chua-co/

 

Xem thêm: Các chương khác trong bản thảo “Vượt ra ngoài gia công” 

 

Tóm tắt

·         

·        Tech Visa của Pháp, Thị thực Nhân tài Toàn cầu (Global Talent Visa) của Anh và Tech.Pass của Singapore đều xem chính sách nhập cư là một công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là công cụ điều tiết thị trường lao động. Các chương trình này chủ động cạnh tranh để thu hút các nhà sáng lập nước ngoài, các nhà điều hành công nghệ cấp cao và nhà đầu tư, thay vì xử lý họ theo cùng cơ chế áp dụng cho lao động có kỹ năng thông thường.

·        Tuy cùng hướng tới một mục tiêu, ba mô hình được thiết kế theo những cách rất khác nhau. Pháp gắn thị thực với một hệ sinh thái khởi nghiệp hữu hình do nhà nước xây dựng; Anh trao quyền đánh giá chuyên môn cho một cơ quan xác nhận độc lập hoạt động theo cơ chế bình duyệt đồng cấp; còn Singapore từ bỏ hoàn toàn việc đánh giá mang tính chủ quan để áp dụng các ngưỡng tài chính cứng. Mỗi mô hình đều có những điểm yếu riêng, từ ma sát hành chính, cuộc khủng hoảng gần như làm tê liệt cơ quan xác nhận của Anh năm 2023, đến quy mô tiếp nhận rất nhỏ và chỉ dành cho nhóm tinh hoa của Singapore.

·        Hiện tại, Việt Nam mới thực hiện bước đi thực chất đầu tiên theo hướng này. Từ ngày 01/07/2026, thị thực UĐ1 và UĐ2 được triển khai trên phạm vi toàn quốc, cho phép nhập cảnh nhiều lần trong thời hạn tối đa năm năm và cam kết xử lý hồ sơ trong ba ngày làm việc. Đây là công cụ nhập cư đầu tiên của Việt Nam được thiết kế nhằm phục vụ chính sách đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, điều kiện xét duyệt của thị thực UĐ1 được xác định theo ngành nghề thay vì theo địa bàn, thông qua khái niệm pháp lý “nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao”. Bên cạnh đó, Việt Nam còn dành một cơ chế ưu đãi riêng, hào phóng hơn, cho các nhà đầu tư, chuyên gia và nhà quản lý cấp cao làm việc tại Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, bao gồm thẻ tạm trú có thời hạn đến mười năm, làn ưu tiên nhập cảnh và lộ trình xét thường trú nhanh.

·        Ngoài phạm vi của UĐ1 trong lĩnh vực công nghệ số và cơ chế ưu đãi dành cho IFC, hệ thống nhập cư của Việt Nam nhìn chung vẫn thuộc nhóm chặt chẽ trong ASEAN. Thị thực đầu tư yêu cầu mức vốn góp rất lớn, chế độ thường trú chỉ áp dụng cho một số ít đối tượng theo quy định pháp luật, và toàn bộ hệ thống do Bộ Công an quản lý – một cơ quan có xu hướng ưu tiên kiểm soát và giám sát người nước ngoài hơn là mở rộng tiếp cận.

·        Chương này tiếp cận vấn đề trên cơ sở đánh giá tính khả thi thay vì kỳ vọng. Khác với các cải cách về tài chính và quy định được phân tích ở những chương trước, việc mở rộng quyền cư trú liên quan trực tiếp đến một thiết chế mà chức năng cốt lõi là bảo đảm an ninh và kiểm soát, chứ không phải tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế. Vì vậy, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục mở rộng khuôn khổ thị thực UĐ1 theo từng ngành và từng khu vực một cách dần dần, thay vì sớm ban hành một loại thị thực dành cho nhà sáng lập áp dụng chung cho mọi lĩnh vực như mô hình của Pháp.

·        Thị thực dành cho nhà sáng lập chỉ là một trong nhiều yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh nhân tài của một quốc gia, bên cạnh vốn đầu tư mạo hiểm, sự ổn định của môi trường pháp lý, chất lượng đại học và điều kiện sống. Bản thân công cụ này cũng không hoàn toàn không có rủi ro. Pháp, Canada và Anh đều phải xây dựng các cơ chế xác minh nhằm ngăn chặn việc lợi dụng công ty vỏ bọc hoặc hồ sơ giả mạo để xin thị thực. Với chức năng bảo đảm an ninh, Bộ Công an có lợi thế trong việc dự liệu và xây dựng năng lực kiểm soát những rủi ro này ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý sau khi chính sách đã được triển khai.

·        Chương này xem các nhà sáng lập và nhà điều hành nước ngoài là một nhóm đối tượng chính sách khác với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được phân tích trong Chương 11, bởi hai nhóm có vị thế pháp lý hoàn toàn khác nhau. Một nhà khoa học người Việt trở về thường đã có, hoặc có thể dễ dàng khôi phục, các quyền gắn với quốc tịch Việt Nam; trong khi một nhà sáng lập nước ngoài không có bất kỳ quyền lợi pháp lý sẵn có nào đối với Việt Nam. Tuy nhiên, hai chương này bổ sung cho nhau như hai hợp phần của cùng một chiến lược cạnh tranh nhân tài. Một quốc gia chỉ xây dựng công cụ dành cho một trong hai nhóm thì mới chỉ hoàn thiện được một nửa chiến lược của mình.

 

Giới thiệu

 

Việc xem chính sách nhập cư như một công cụ của chính sách đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ là một công cụ quản lý thị trường lao động, là một tư duy tương đối mới và đến nay vẫn chưa được áp dụng đồng đều trong kinh tế học di cư và nghiên cứu chính sách công so sánh. Theo cách tiếp cận truyền thống, chính sách di cư lao động có kỹ năng tập trung trả lời một câu hỏi của thị trường lao động: quốc gia có thiếu lao động sở hữu một kỹ năng nhất định hay không, và nếu có thì cần cấp bao nhiêu giấy phép lao động để bù đắp khoảng trống đó. Trong khi đó, thị thực khởi nghiệp hay thị thực dành cho nhà sáng lập lại đặt ra một câu hỏi hoàn toàn khác, gần với chính sách công nghiệp hơn là quản lý thị trường lao động: chính phủ nên chủ động cạnh tranh để thu hút những cá nhân nào – những người có giá trị không phải vì lấp đầy một vị trí việc làm hiện có, mà vì họ có thể tạo ra doanh nghiệp mới, mang theo nguồn vốn và năng lực kỹ thuật – ngay cả khi họ không có nhà tuyển dụng trong nước bảo lãnh và cũng không có vị trí việc làm nào đang chờ họ. Tech Visa của Pháp, ra mắt năm 2017; lộ trình công nghệ số của Thị thực Nhân tài Toàn cầu (Global Talent Visa) của Vương quốc Anh, vận hành từ năm 2014; và Tech.Pass của Singapore, ra mắt năm 2021, là ba trong số những ví dụ tiêu biểu nhất về việc các chính phủ xây dựng một hạng mục nhập cư dựa trên logic thứ hai này thay vì logic thứ nhất. Mục tiêu trọng tâm của chương này là chỉ ra rằng, mặc dù cùng hướng đến một mục tiêu, ba quốc gia đã xây dựng những công cụ có cấu trúc rất khác nhau để theo đuổi mục tiêu đó.

 

Phần so sánh của chương được đặt trong một khái niệm rộng hơn đang ngày càng được sử dụng trong kinh tế học di cư và nghiên cứu chính sách so sánh: năng lực cạnh tranh nhân tài (talent competitiveness). Theo cách tiếp cận này, khả năng thu hút người nước ngoài có trình độ và năng suất cao tự thân đã là một lợi thế cạnh tranh quốc gia, tương tự như thị trường vốn hay cơ sở hạ tầng, và là điều mà chính phủ có thể chủ động vun đắp thay vì chỉ coi là hệ quả của chính sách nhập cư nói chung. William Kerr, trong công trình tổng hợp về tính di động của nhân tài toàn cầu, đã chỉ ra động lực cốt lõi của hiện tượng này: lao động có kỹ năng cao tập trung phần lớn vào một số ít nền kinh tế trung tâm, và các công cụ mà chính phủ sử dụng để cạnh tranh thu hút nhóm nhân lực này – từ thị thực, chế độ thuế, tài trợ nghiên cứu đến chất lượng sống – vận hành như một hệ thống thống nhất chứ không phải những đòn bẩy riêng lẻ.[1]

 

Bộ Chỉ số Sức hút Nhân tài của OECD, được công bố lần đầu năm 2019 và liên tục cập nhật kể từ đó, đã lượng hóa khái niệm này bằng cách xếp hạng các quốc gia thành viên OECD theo bốn nhóm đối tượng khác nhau: lao động trình độ cao, doanh nhân, sinh viên đại học và nhà sáng lập khởi nghiệp. Cách tiếp cận này phản ánh thực tế rằng một thiết kế chính sách có thể rất hiệu quả với một nhóm – chẳng hạn ngưỡng thu nhập rất cao mà Singapore áp dụng đối với các nhà điều hành đã thành danh – nhưng lại kém hấp dẫn đối với một nhóm khác, chẳng hạn các nhà sáng lập giai đoạn đầu mới chỉ có ý tưởng đầy triển vọng nhưng chưa có thành tích đáng kể.[2]

 

Báo cáo Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu thường niên của Startup Genome, theo dõi hoạt động khởi nghiệp, dòng vốn và dòng chảy nhân tài tại hơn 350 hệ sinh thái trên thế giới, cũng củng cố nhận định này từ góc độ dữ liệu khu vực tư nhân. Báo cáo cho thấy sức mạnh của hệ sinh thái khởi nghiệp tập trung rất mạnh vào một số ít thành phố trung tâm, và bản thân thị thực dành cho nhà sáng lập chỉ là một trong nhiều yếu tố – cùng với khả năng tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm, thị trường khách hàng, mạng lưới nghiên cứu đại học và chất lượng sống – quyết định liệu một thành phố có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới khởi nghiệp toàn cầu hay vẫn chỉ ở vị trí ngoại vi.[3]

 

Các nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của người nhập cư cũng củng cố cách nhìn này ở cấp độ hệ thống khi cho thấy các nhà sáng lập nhập cư có trình độ cao tạo ra những hiệu ứng lan tỏa có thể đo lường được – thông qua hoạt động cố vấn, tuyển dụng lao động địa phương và chuyển giao tri thức – đối với toàn bộ hệ sinh thái khởi nghiệp trong nước, vượt ra ngoài phạm vi các doanh nghiệp do chính họ sáng lập. Chương sẽ quay trở lại phát hiện này khi đánh giá liệu mô hình thí điểm IFC giới hạn theo khu vực của Việt Nam có thể tạo ra hiệu ứng tương tự hay không.[4]

 

Vì vậy, chương xem công cụ mà Việt Nam đang xây dựng không phải như một chính sách hoàn chỉnh tự thân, mà là một thành tố của hệ thống năng lực cạnh tranh nhân tài rộng lớn hơn. Cách tiếp cận này cũng thống nhất với Chương 11 của cuốn sách, vốn xem việc gắn kết với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nửa còn lại của cùng một chiến lược: nếu Chương 11 đặt câu hỏi Việt Nam cạnh tranh như thế nào để thu hút nhân tài hải ngoại của chính mình, thì chương này đặt câu hỏi Việt Nam cạnh tranh như thế nào để thu hút nhân tài của các quốc gia khác. Một quốc gia thực sự nghiêm túc về năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu cần có câu trả lời thuyết phục cho cả hai câu hỏi, chứ không chỉ một.

 

Phần so sánh của chương cũng được làm rõ hơn nhờ việc phân biệt các khái niệm mà các mô hình quốc tế đề cập dưới đây xử lý chưa thật sự nhất quán: nhà sáng lập, nhà điều hành cấp cao và nhà đầu tư là ba nhóm đối tượng có liên quan nhưng khác biệt về mặt phân tích, và một công cụ chính sách phù hợp với nhóm này chưa chắc đã phù hợp với nhóm khác. Nhà sáng lập phải gánh chịu rủi ro thực thi rất lớn cũng như kỳ vọng lợi nhuận từ vốn chủ sở hữu gắn với một dự án duy nhất, thường chưa được kiểm chứng. Nhà điều hành cấp cao – chẳng hạn giám đốc công nghệ hoặc trưởng bộ phận kỹ thuật của một doanh nghiệp đã có vốn – chịu rủi ro tài chính cá nhân thấp hơn đáng kể, đồng thời phản ứng nhiều hơn với mức lương, quyền chọn cổ phần và uy tín nghề nghiệp thay vì những phép tính đầy bất định mà một nhà sáng lập thực sự phải đối mặt. Trong khi đó, nhà đầu tư đánh giá một khu vực pháp lý chủ yếu dựa trên khả năng tạo lập giao dịch, mức độ chắc chắn khi thoái vốn và khả năng hỗ trợ doanh nghiệp trong danh mục đầu tư, hơn là sự thuận tiện của thủ tục nhập cư cá nhân. Tech Visa của Pháp và EntrePass của Singapore chủ yếu được thiết kế cho các nhà sáng lập; Thị thực Nhân tài Toàn cầu của Anh và Tech.Pass của Singapore hướng nhiều hơn đến các nhà điều hành cấp cao; còn không mô hình nào trong ba mô hình được phân tích ở đây được xây dựng chủ yếu dành cho nhà đầu tư, vốn thường di chuyển theo các cơ chế nhập cư riêng gắn với dòng vốn. Trong toàn bộ chương, thuật ngữ “nhà sáng lập và nhà điều hành cấp cao” được sử dụng như một cách gọi rút gọn, song sự phân biệt này có ý nghĩa trực tiếp đối với các lựa chọn thiết kế chính sách của Việt Nam sẽ được phân tích trong phần Khuyến nghị chính sách.

 

Sự phù hợp của câu hỏi này đối với Việt Nam đã thay đổi đáng kể, và theo một cách khá đặc biệt, ngay trong quá trình cuốn sách này được biên soạn. Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, được ban hành vào tháng 12/2024, cam kết xây dựng một “cơ chế đặc biệt” nhằm thu hút cả người Việt Nam ở nước ngoài lẫn người nước ngoài có trình độ cao. Chương 11 đã phân tích chi tiết các công cụ mà Việt Nam xây dựng dành cho nhóm đối tượng thứ nhất; còn chương này tập trung vào nhóm thứ hai. Điểm xuất phát cần được nhìn nhận một cách khách quan là, cho đến giữa năm 2026, Việt Nam gần như chưa có công cụ tương đương dành cho nhóm này. Hệ thống khi đó chỉ bao gồm thị thực đầu tư với yêu cầu vốn lớn, giấy phép lao động thông thường và không có bất kỳ hạng mục pháp lý riêng nào thừa nhận nhà sáng lập hay nhà điều hành công nghệ cấp cao là một nhóm đối tượng đáng để cạnh tranh thu hút. Điều này đã thay đổi từ ngày 01/07/2026, khi thị thực UĐ1 và UĐ2 chính thức có hiệu lực theo Luật số 118/2025/QH15.[5] Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, trong đó có Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Đây là công cụ nhập cư đầu tiên của Việt Nam thực sự được thiết kế nhằm phục vụ chính sách đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, công cụ này vẫn được thiết kế theo ngành chứ không phải địa bàn, bởi đối tượng thụ hưởng được xác định thông qua khái niệm pháp lý “nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao”, thay vì mở rộng cho các nhà sáng lập và nhà điều hành thuộc toàn bộ nền kinh tế. Song song với đó là một cơ chế ưu đãi riêng, giới hạn theo địa bàn, dành cho nhân lực đăng ký làm việc tại Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) mới của Việt Nam.[6]

 

Chế độ cư trú của Việt Nam do Bộ Công an quản lý – một cơ quan có chức năng pháp định bao trùm cả quản lý nhập cư lẫn bảo đảm an ninh quốc gia – và trong những năm gần đây, các tuyên bố công khai của Bộ nhìn chung đều theo hướng tăng cường quản lý hơn là nới lỏng. Ngay cả khi công bố số lượng người nước ngoài nhập cảnh đạt mức kỷ lục, Bộ vẫn yêu cầu lực lượng công an trên cả nước tăng cường dự báo, phối hợp và kiểm soát người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, phản ánh cách tiếp cận thiên về quản lý rủi ro hơn là tạo thuận lợi kinh tế.[7] Đây là một dạng cải cách hoàn toàn khác với các cải cách về ưu đãi thuế, mua sắm công hay cơ chế miễn trừ trách nhiệm mà các chương trước của cuốn sách đã phân tích. Những cải cách đó chủ yếu điều chỉnh cách phân bổ nguồn lực và rủi ro trong các thiết chế vốn hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế; trong khi việc mở rộng quyền cư trú đòi hỏi một cơ quan vốn có chức năng cốt lõi là bảo đảm an ninh phải chấp nhận một cách tính toán rủi ro khác với cách tiếp cận truyền thống của mình. Vì vậy, chương xem thị thực UĐ1 mới của Việt Nam – bao gồm cả lộ trình toàn quốc theo ngành và cơ chế ưu đãi riêng cho IFC – không phải là một giải pháp nửa vời đáng thất vọng, mà là một bước đi đầu tiên phù hợp với những ràng buộc thể chế hiện nay. Trên cơ sở đó, chương đặt câu hỏi bước đi tiếp theo nào là khả thi nhất, dựa trên đặc điểm của hệ thống thể chế Việt Nam chứ không chỉ dựa trên kinh nghiệm quốc tế.

 

Cuối cùng, phạm vi của chương này được xác định khác với Chương 11, và sự khác biệt đó không đơn thuần mang tính tổ chức. Một nhà khoa học người Việt Nam trở về nước vốn đã có, hoặc có thể dễ dàng khôi phục, quyền sử dụng đất, khả năng có quốc tịch và các mối quan hệ gia đình, văn hóa mà Chương 11 đã phân tích. Ngược lại, một nhà sáng lập nước ngoài đang cân nhắc giữa Thành phố Hồ Chí Minh, Singapore và Kuala Lumpur không có bất kỳ lợi thế nào trong số đó; quyết định của họ chủ yếu dựa trên những yếu tố mang tính thực dụng như sự ổn định của chế độ thị thực, mức thuế, khả năng tiếp cận thị trường và tốc độ xử lý thủ tục. Một quốc gia hoàn toàn có thể rất cởi mở với một nhóm đối tượng nhưng vẫn khá khép kín với nhóm còn lại. Vì vậy, chương này xem vị thế hiện nay của Việt Nam – đã có những cải thiện đáng kể đối với một mặt trận nhưng vẫn còn khá hạn chế ở mặt trận kia – là một kết quả hợp lý và có thể giải thích được về mặt thể chế, chứ không phải là một sự mâu thuẫn.

 

 

Kinh nghiệm quốc tế

 

Pháp: Xây dựng thị thực xoay quanh một hệ sinh thái khởi nghiệp

Cách tiếp cận của Pháp trong việc cạnh tranh thu hút các nhà sáng lập nước ngoài không thể tách rời nỗ lực rộng lớn hơn của nhà nước nhằm xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp hữu hình. Vì vậy, để hiểu Tech Visa của Pháp, trước hết cần hiểu hệ sinh thái mà chương trình này được thiết kế để phục vụ.

 

Năm 2013, Chính phủ Pháp thành lập La Mission French Tech trực thuộc Bộ Kinh tế với nhiệm vụ xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước và nâng cao sức hấp dẫn của Pháp đối với các nhà sáng lập, nhà đầu tư và nhân tài công nghệ quốc tế. Hiện nay, French Tech hoạt động tại Station F ở Paris – được quảng bá là khuôn viên khởi nghiệp lớn nhất thế giới. Đối với Pháp, Station F đóng vai trò tương tự như Công viên Khoa học Tân Trúc của Đài Loan được phân tích trong Chương 11: không chỉ là một địa điểm làm việc, mà còn là một “bệ đáp” hữu hình do nhà nước xây dựng để hỗ trợ những người đến khởi nghiệp, thay vì chỉ cung cấp một loại thị thực mang tính pháp lý thuần túy.[8]

 

Ra mắt năm 2017, French Tech Visa được thiết kế cho ba nhóm đối tượng riêng biệt: nhân viên công nghệ, nhà sáng lập và nhà đầu tư. Đối với nhóm nhà sáng lập, điều kiện quan trọng nhất là phải chứng minh đang triển khai một “dự án kinh tế đổi mới sáng tạo” được hệ sinh thái French Tech công nhận. Việc công nhận này có thể đến từ một vườn ươm hoặc chương trình tăng tốc khởi nghiệp thuộc mạng lưới French Tech, hoặc thông qua thư giới thiệu của ít nhất hai thành viên đủ điều kiện trong hệ sinh thái. Ngoài ra, ứng viên còn phải chứng minh có mức thu nhập tối thiểu tương đương mức lương tối thiểu của Pháp.[9] Những người được chấp thuận sẽ được cấp giấy phép cư trú có thời hạn bốn năm và có thể gia hạn nhiều lần nếu vẫn đáp ứng các điều kiện ban đầu. Đáng chú ý, cơ chế ưu đãi này không chỉ áp dụng cho nhà sáng lập mà còn mở rộng sang nhân viên và nhà đầu tư nước ngoài của doanh nghiệp khởi nghiệp – một điểm khác biệt quan trọng so với nhiều mô hình khác chỉ tập trung vào cá nhân nhà sáng lập.[10]

 

Xét về quy mô, kết quả của chương trình là đáng ghi nhận nhưng vẫn tương đối khiêm tốn nếu so với toàn bộ nền kinh tế Pháp. Kể từ khi triển khai năm 2017, French Tech Visa đã giúp hơn 1.200 doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực quốc tế. Đây là mức sử dụng ổn định trong gần một thập kỷ, nhưng vẫn khá nhỏ nếu đặt cạnh hệ sinh thái khoảng 25.000 doanh nghiệp khởi nghiệp của Pháp, vốn được chính phủ ước tính tạo ra khoảng 1,1 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp.[11]

 

Điểm mạnh lớn nhất của mô hình Pháp nằm ở sự gắn kết chặt chẽ giữa chính sách nhập cư và hệ sinh thái khởi nghiệp. Thay vì để cơ quan nhà nước trực tiếp đánh giá tính khả thi về kỹ thuật hay thương mại của từng dự án, Pháp dựa vào mạng lưới các vườn ươm, chương trình tăng tốc, quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà sáng lập giàu kinh nghiệm để thực hiện bước sàng lọc ban đầu. Điều đó có nghĩa là, trước khi hồ sơ đến tay cơ quan nhập cư, chất lượng của dự án đã được chính những “người gác cổng” của hệ sinh thái đánh giá và xác nhận. Cách tiếp cận này vừa giảm gánh nặng hành chính cho nhà nước, vừa tận dụng được chuyên môn của khu vực tư nhân.

 

Tuy nhiên, chính ưu điểm này cũng tạo nên hạn chế của mô hình. Một nhà sáng lập có ý tưởng rất triển vọng nhưng chưa có mối liên hệ với hệ sinh thái French Tech sẽ gặp khó khăn đáng kể trong việc tiếp cận chương trình. Nói cách khác, ngoài các điều kiện chính thức, còn tồn tại một “rào cản gia nhập phi chính thức” dưới dạng mạng lưới quan hệ mà những mô hình dựa hoàn toàn trên các tiêu chí khách quan, như Tech.Pass của Singapore, không đặt ra. Bên cạnh đó, ngay cả khi French Tech Visa vận hành tương đối hiệu quả, môi trường hành chính nói chung của Pháp vẫn thường bị cộng đồng khởi nghiệp quốc tế đánh giá là khá phức tạp và nhiều thủ tục. Điều này khiến lợi thế của làn ưu tiên French Tech Visa phần nào bị giảm bớt khi doanh nghiệp phải tương tác với các cơ quan hành chính khác ngoài chương trình thị thực.[12]

 

 

Vương quốc Anh: Trao quyền đánh giá cho cộng đồng chuyên môn

Nếu Pháp xây dựng thị thực dành cho nhà sáng lập dựa trên một hệ sinh thái khởi nghiệp do nhà nước điều phối, thì Vương quốc Anh lựa chọn một hướng tiếp cận khác: chính phủ không trực tiếp quyết định ai là người có tài năng, mà trao quyền đánh giá đó cho các tổ chức chuyên môn. Triết lý này phản ánh truyền thống lâu đời của Anh trong việc dựa vào cơ chế bình duyệt đồng cấp (peer review) để phân bổ nguồn lực trong khoa học và đổi mới sáng tạo. Thay vì yêu cầu công chức đánh giá tiềm năng của một doanh nhân hay một nhà khoa học, chính phủ để những người đang hoạt động trong cùng lĩnh vực đưa ra nhận định về năng lực của ứng viên.

 

Nền tảng của mô hình hiện nay là Thị thực nhân tài toàn cầu (Global Talent Visa), được triển khai từ năm 2020 để thay thế chương trình Tier 1 (Nhân tài Đặc biệt). Đối với lĩnh vực công nghệ số, Chính phủ Anh giao Tech Nation – một tổ chức phi lợi nhuận chuyên hỗ trợ hệ sinh thái công nghệ – làm cơ quan xác nhận. Ứng viên không cần có lời mời làm việc trước khi nộp hồ sơ mà chỉ cần chứng minh mình thuộc một trong hai nhóm: Exceptional Talent (Nhân tài Đặc biệt), dành cho những cá nhân đã được công nhận rộng rãi là lãnh đạo trong lĩnh vực của mình, hoặc Exceptional Promise (Tiềm năng Đặc biệt), dành cho những người tuy còn ở giai đoạn đầu sự nghiệp nhưng được đánh giá có tiềm năng trở thành lãnh đạo trong tương lai. Hồ sơ thường bao gồm thư giới thiệu của các chuyên gia trong ngành cùng bằng chứng về thành tích đổi mới sáng tạo, hoạt động khởi nghiệp, đóng góp kỹ thuật hoặc ảnh hưởng đối với cộng đồng công nghệ. Sau khi được cơ quan chuyên môn xác nhận, ứng viên mới tiếp tục thực hiện thủ tục xin thị thực với Bộ Nội vụ.[13]

 

Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là tính linh hoạt. Khác với các chương trình dựa trên ngưỡng thu nhập hoặc quy mô vốn đầu tư, cơ chế xác nhận chuyên môn cho phép xem xét nhiều dạng thành tích khác nhau, kể cả những trường hợp chưa tạo ra doanh thu lớn nhưng đã chứng minh được năng lực đổi mới sáng tạo hoặc tiềm năng phát triển. Điều này đặc biệt phù hợp với các nhà sáng lập công nghệ giai đoạn đầu, những người thường chưa đạt được các chỉ tiêu tài chính nhưng lại có triển vọng tạo ra giá trị rất lớn trong tương lai. Việc đánh giá cũng có thể thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ mà không cần liên tục sửa đổi quy định pháp luật.

 

Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ những điểm yếu đáng kể. Do phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một cơ quan xác nhận bên ngoài, hiệu quả của toàn bộ chương trình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ năng lực và sự ổn định của tổ chức đó. Điều này được thể hiện rõ vào năm 2023, khi Tech Nation rơi vào khủng hoảng tài chính sau khi mất nguồn tài trợ của chính phủ và đứng trước nguy cơ chấm dứt hoạt động. Cuộc khủng hoảng khiến quá trình xét duyệt hồ sơ bị gián đoạn và buộc Chính phủ Anh phải nhanh chóng chuyển vai trò cơ quan xác nhận sang Barclays Eagle Labs để bảo đảm chương trình tiếp tục vận hành. Sự kiện này cho thấy một rủi ro mang tính cấu trúc của mô hình Anh: khi một chức năng cốt lõi của chính sách công được giao cho một tổ chức bên ngoài, tính bền vững của chính sách cũng phụ thuộc vào sự ổn định của chính tổ chức đó.

 

Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá dựa trên chuyên môn cũng khó tránh khỏi yếu tố chủ quan. Những khái niệm như “lãnh đạo”, “tiềm năng đặc biệt” hay “đóng góp nổi bật” không thể được lượng hóa hoàn toàn bằng các tiêu chí khách quan. Vì vậy, kết quả xét duyệt phần nào phụ thuộc vào nhận định của hội đồng đánh giá cũng như chất lượng của các thư giới thiệu mà ứng viên cung cấp. Đây chính là điểm khác biệt căn bản so với mô hình Singapore, nơi các điều kiện chủ yếu được xác định bằng những ngưỡng tài chính rõ ràng và có thể kiểm chứng.

 

 

Singapore: Loại bỏ đánh giá chủ quan, thay bằng các ngưỡng định lượng

Tech.Pass của Singapore, được Cơ quan Phát triển Kinh tế Singapore (EDB) triển khai từ tháng 01/2021 với hạn ngạch ban đầu 500 suất, áp dụng theo nguyên tắc đăng ký trước, xét trước, thể hiện cách tiếp cận thứ ba và cũng là đơn giản nhất về mặt cấu trúc. Thay vì gắn điều kiện với một hệ sinh thái vật lý như Pháp, hay trao quyền đánh giá cho một hội đồng chuyên gia như Anh, Singapore yêu cầu ứng viên đáp ứng các tiêu chí định lượng, khách quan và có thể kiểm chứng.

 

Để đủ điều kiện, ứng viên phải đáp ứng ít nhất hai trong ba tiêu chí sau: có mức lương cố định hàng tháng tối thiểu 22.500 đô la Singapore, hoặc doanh thu doanh nghiệp hằng năm trên 240.000 đô la Singapore; có ít nhất năm năm giữ vị trí lãnh đạo tại một công ty công nghệ được định giá trên 500 triệu USD hoặc đã huy động được ít nhất 30 triệu USD vốn đầu tư; hoặc có ít nhất năm năm đảm nhiệm vai trò kỹ thuật cấp cao tại một doanh nghiệp có trên 100.000 người dùng hoạt động hoặc doanh thu hằng năm tối thiểu 100 triệu USD.[14]

Sau khi được cấp Tech.Pass, người sở hữu được hưởng mức độ linh hoạt rất cao so với các loại giấy phép lao động khác của Singapore: họ có thể đồng thời hoạt động với tư cách nhà sáng lập, nhà đầu tư, người lao động, tư vấn hoặc học giả. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với EntrePass, chương trình do Bộ Nhân lực Singapore quản lý dành riêng cho các doanh nhân thành lập doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có sự hậu thuẫn của vốn đầu tư mạo hiểm. EntrePass tập trung đánh giá ý tưởng kinh doanh, trong khi Tech.Pass đánh giá thành tích nghề nghiệp và năng lực của chính ứng viên. Vì vậy, Singapore thực chất vận hành hai công cụ song song nhưng được thiết kế khác nhau, phục vụ hai phân khúc khác nhau trong cùng một nhóm đối tượng rộng hơn là các nhà sáng lập và lãnh đạo công nghệ.[15]

 

Cách tiếp cận của Singapore cho thấy cả ưu điểm lẫn giới hạn có chủ đích của một mô hình dựa hoàn toàn trên các ngưỡng định lượng. Do điều kiện đủ tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan và có thể kiểm chứng, Tech.Pass không cần bất kỳ sự đánh giá chuyên môn mang tính chủ quan nào như cơ chế bình duyệt của Anh, đồng thời cũng tránh được những rủi ro thể chế mà mô hình đó từng bộc lộ. Ứng viên hoặc đáp ứng các ngưỡng quy định, hoặc không; vì vậy, dù vẫn phải chuẩn bị hồ sơ rất kỹ lưỡng, quy trình xét duyệt có tính dự đoán cao hơn đáng kể so với mô hình dựa vào các vườn ươm của Pháp hay cơ chế bình duyệt của Anh.[16]

 

Tuy nhiên, cái giá của sự chắc chắn đó là quy mô rất hạn chế. Singapore không công bố tổng số Tech.Pass đã cấp, nhưng hạn ngạch ban đầu chỉ 500 suất, cùng với các tiêu chí đầu vào luôn được duy trì ở mức rất cao, cho thấy chương trình chưa bao giờ được thiết kế để xử lý số lượng lớn hồ sơ. Ngay từ đầu, Tech.Pass đã hướng đến một nhóm rất nhỏ gồm những nhà điều hành công nghệ đã thành danh ở cấp độ quốc tế, chứ không phải các nhà sáng lập đang ở giai đoạn đầu phát triển doanh nghiệp.[17]

 

Những thay đổi gần đây của Singapore càng củng cố nhận định này thay vì làm thay đổi nó. Chính phủ nước này đã thông báo Tech.Pass sẽ ngừng tiếp nhận hồ sơ mới sau ngày 31/12/2026 và từ 01/01/2027 sẽ được thay thế bằng chương trình ONE Pass (AI and Tech). Chương trình mới tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn tuyển chọn, yêu cầu mức lương cố định hàng tháng tối thiểu 30.000 đô la Singapore, hoặc theo một lộ trình thay thế, mức lương gần nhất tối thiểu 22.500 đô la Singapore kết hợp với cổ phần hoặc quyền chọn cổ phiếu đã được xác lập để đưa tổng mức thù lao lên ngưỡng tương đương. Đồng thời, ứng viên phải đang hoặc gần đây nhất làm việc tại một công ty công nghệ, bộ phận công nghệ của một doanh nghiệp lớn hoặc một quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên về công nghệ. Đổi lại, thời hạn thị thực được kéo dài lên năm năm, với khả năng gia hạn thêm từng chu kỳ năm năm.[18] Những điều chỉnh này không mở rộng phạm vi chương trình mà ngược lại còn nâng ngưỡng và siết chặt điều kiện, cho thấy lựa chọn chiến lược nhất quán của Singapore là cạnh tranh để thu hút một nhóm ngày càng nhỏ nhưng ngày càng tinh hoa gồm các nhà lãnh đạo công nghệ toàn cầu, thay vì mở rộng sang các nhà sáng lập ở giai đoạn sớm.

 

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nếu cho rằng Tech.Pass là nguyên nhân chính tạo nên sức hấp dẫn của Singapore đối với nhân tài quốc tế. Thực tế, Tech.Pass và chương trình kế nhiệm ONE Pass chỉ là một cấu phần trong một hệ sinh thái vốn đã có sức cạnh tranh rất cao. Singapore sở hữu hệ thống pháp luật theo thông luật với danh tiếng vững chắc về nhà nước pháp quyền và thực thi hợp đồng; tiếng Anh là ngôn ngữ kinh doanh mặc định; đây cũng là nơi tập trung dày đặc trụ sở khu vực của các tập đoàn đa quốc gia và các quỹ đầu tư mạo hiểm; các trường đại học như Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) luôn nằm trong nhóm hàng đầu châu Á; đồng thời chế độ thuế doanh nghiệp được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá là có tính cạnh tranh cao. Một loại thị thực hẹp với tiêu chuẩn rất cao có thể thu hút tầng lớp tinh hoa chính vì phần lớn những quyết định khác của nhà sáng lập – mở tài khoản ngân hàng ở đâu, tuyển dụng ở đâu, gọi vốn Series A ở đâu hay cho con học ở đâu – thực chất đã nghiêng về Singapore trước cả khi câu chuyện thị thực được đặt ra. Nếu áp dụng chính công cụ này tại một quốc gia không có những nền tảng đó, kết quả rất có thể sẽ là một lượng hồ sơ ít hơn nhiều và chất lượng cũng thấp hơn. Đây là bài học có ý nghĩa trực tiếp khi đánh giá triển vọng của Việt Nam ở phần sau của chương.

 

 

So sánh ba mô hình

 

Ba mô hình trên đều theo đuổi cùng một mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh nhân tài quốc gia, nhưng lại phản ánh ba cách tiếp cận rất khác nhau về vai trò của nhà nước trong việc lựa chọn người được hưởng chính sách. Pháp đặt niềm tin vào hệ sinh thái khởi nghiệp; Anh dựa vào đánh giá của cộng đồng chuyên môn; còn Singapore lựa chọn các tiêu chí định lượng khách quan. Nói cách khác, Pháp để thị trường và mạng lưới đổi mới sáng tạo thực hiện khâu sàng lọc ban đầu; Anh trao quyền đó cho các tổ chức chuyên môn; trong khi Singapore cố gắng loại bỏ tối đa yếu tố đánh giá chủ quan bằng những ngưỡng tài chính và thành tích có thể kiểm chứng.

 

Sự khác biệt này phản ánh những cách hiểu khác nhau về bản chất của hoạt động khởi nghiệp. Mô hình Pháp ngầm giả định rằng chất lượng của một nhà sáng lập được phản ánh tốt nhất qua việc họ đã được hệ sinh thái khởi nghiệp chấp nhận. Mô hình Anh cho rằng năng lực đó cần được đánh giá bởi những người có chuyên môn trong cùng lĩnh vực. Trong khi đó, Singapore xuất phát từ giả định rằng thành tích trong quá khứ – thể hiện qua mức thu nhập, quy mô doanh nghiệp hoặc kinh nghiệm lãnh đạo – là chỉ báo đáng tin cậy nhất về khả năng tạo ra giá trị trong tương lai.

 

Mỗi cách tiếp cận đều phải đánh đổi giữa tính linh hoạt và tính chắc chắn. Pháp và Anh có thể tiếp nhận những nhà sáng lập rất trẻ hoặc những cá nhân sở hữu ý tưởng đột phá nhưng chưa đạt được thành tựu tài chính nổi bật. Tuy nhiên, đổi lại, hai mô hình này đều phải chấp nhận mức độ đánh giá chủ quan nhất định, đồng thời đòi hỏi phải duy trì một mạng lưới các tổ chức trung gian có đủ năng lực và uy tín. Ngược lại, mô hình Singapore đem lại sự minh bạch và khả năng dự đoán cao hơn nhiều, nhưng lại loại bỏ phần lớn các nhà sáng lập giai đoạn đầu – những người thường chưa đáp ứng được các tiêu chí tài chính dù có thể sở hữu tiềm năng rất lớn.

 

Một điểm khác biệt quan trọng khác nằm ở đối tượng chính sách. Trên thực tế, không có chương trình nào cố gắng thu hút đồng thời tất cả các nhóm nhân tài. French Tech Visa chủ yếu hướng tới việc bổ sung các nhà sáng lập và nhân lực cho hệ sinh thái khởi nghiệp của Pháp. Global Talent Visa của Anh tập trung vào những cá nhân được đánh giá có năng lực vượt trội trong lĩnh vực chuyên môn. Trong khi đó, Tech.Pass của Singapore gần như được thiết kế riêng cho nhóm lãnh đạo công nghệ toàn cầu đã đạt thành công đáng kể. Sự khác biệt này cho thấy khái niệm “thị thực nhân tài” thực chất bao gồm nhiều công cụ khác nhau, phục vụ những mục tiêu chính sách khác nhau, chứ không phải một mô hình thống nhất có thể sao chép nguyên trạng giữa các quốc gia.

 

Quan trọng hơn, cả ba trường hợp đều cho thấy thị thực chỉ là một mắt xích trong toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Pháp đầu tư mạnh vào French Tech và Station F trước khi triển khai Tech Visa. Anh đã sở hữu một hệ sinh thái khoa học, tài chính và giáo dục hàng đầu thế giới từ nhiều thập niên trước khi cải cách hệ thống thị thực. Singapore cũng chỉ có thể duy trì các tiêu chuẩn rất cao vì nước này đã là một trung tâm tài chính và công nghệ quốc tế với môi trường kinh doanh, pháp lý và chất lượng sống thuộc nhóm cạnh tranh nhất thế giới. Nói cách khác, chính sức hấp dẫn tổng thể của hệ sinh thái mới tạo ra nhu cầu đối với thị thực, chứ không phải bản thân thị thực tạo ra hệ sinh thái.

 

Nhận xét cuối cùng này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Nếu xem thị thực dành cho nhà sáng lập như một công cụ có thể tự mình thu hút nhân tài quốc tế, các nhà hoạch định chính sách rất dễ kỳ vọng quá mức vào tác động của nó. Kinh nghiệm của Pháp, Anh và Singapore cho thấy điều ngược lại: thị thực chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã đủ hấp dẫn về vốn đầu tư, chất lượng thể chế, cơ hội kinh doanh và điều kiện sống. Vì vậy, câu hỏi quan trọng đối với Việt Nam không chỉ là nên thiết kế loại thị thực nào, mà còn là liệu các điều kiện nền tảng khác đã đủ để những người được cấp thị thực thực sự lựa chọn Việt Nam thay vì các trung tâm cạnh tranh trong khu vực hay chưa.

 

 

Bối cảnh Việt Nam

 

Từ chính sách lao động sang chính sách cạnh tranh nhân tài

Cho đến rất gần đây, hệ thống nhập cư của Việt Nam hầu như chưa có công cụ nào được thiết kế riêng để thu hút các nhà sáng lập hay nhà điều hành công nghệ nước ngoài. Các quy định hiện hành chủ yếu được xây dựng nhằm quản lý lao động nước ngoài hoặc nhà đầu tư, thay vì coi những cá nhân có năng lực đổi mới sáng tạo là một nhóm đối tượng chính sách riêng cần cạnh tranh để thu hút. Điều này khiến Việt Nam khác biệt đáng kể so với Pháp, Anh và Singapore, nơi chính sách nhập cư đã trở thành một cấu phần của chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia từ nhiều năm trước.

 

Trước năm 2026, người nước ngoài muốn làm việc tại Việt Nam chủ yếu phải sử dụng một trong hai con đường. Thứ nhất là giấy phép lao động, áp dụng đối với chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật được doanh nghiệp trong nước tuyển dụng. Thứ hai là thị thực đầu tư, với các quyền lợi được phân chia theo quy mô vốn góp.[19] Cả hai cơ chế này đều được thiết kế dựa trên mối quan hệ giữa người nước ngoài với một doanh nghiệp hoặc một khoản đầu tư cụ thể, chứ không nhằm thu hút những cá nhân có tiềm năng tạo ra doanh nghiệp mới trong tương lai. Một nhà sáng lập nước ngoài chưa thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, chưa có nhà tuyển dụng bảo lãnh và cũng chưa đầu tư một lượng vốn đáng kể gần như không có con đường pháp lý phù hợp để cư trú và phát triển dự án của mình.

 

Bước ngoặt đầu tiên xuất hiện với Luật số 118/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Luật này sửa đổi bổ sung hai loại thị thực mới là UĐ1 và UĐ2, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam xây dựng một công cụ nhập cư gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo quy định mới, người thuộc diện đủ điều kiện được cấp thị thực có thể nhập cảnh nhiều lần với thời hạn lên tới năm năm, đồng thời hồ sơ được cam kết xử lý trong ba ngày làm việc. So với hệ thống trước đây, đây là một bước tiến đáng kể cả về thời hạn cư trú lẫn mức độ thuận lợi của thủ tục hành chính.[20]

 

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là UĐ1 không phải là một “thị thực khởi nghiệp” theo nghĩa mà Pháp hay Singapore đang áp dụng. Tiêu chí xác định đối tượng được hưởng chính sách không dựa trên việc người đó là nhà sáng lập hay doanh nhân đổi mới sáng tạo, mà dựa trên việc họ có thuộc nhóm “nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao” theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không. Nói cách khác, đây là một chính sách theo ngành, chứ chưa phải một chính sách theo chức năng kinh tế. Một nhà sáng lập trong lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu hay năng lượng sạch, nếu không thuộc phạm vi công nghiệp công nghệ số, sẽ không đương nhiên thuộc diện hưởng cơ chế này.

 

Song song với UĐ1, Việt Nam cũng xây dựng một cơ chế ưu đãi riêng cho Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Theo các quy định đã được ban hành, các nhà đầu tư, chuyên gia và nhà quản lý cấp cao làm việc tại IFC có thể được cấp thẻ tạm trú với thời hạn lên đến mười năm, được sử dụng làn ưu tiên khi làm thủ tục xuất nhập cảnh, đồng thời có lộ trình xét thường trú nhanh hơn so với cơ chế thông thường. Khác với UĐ1, đây là một chính sách theo địa bàn, chỉ áp dụng đối với những người làm việc trong một khu vực thể chế đặc biệt.[21]

 

Việc đồng thời triển khai UĐ1 theo ngành và IFC theo địa bàn phản ánh cách tiếp cận mang tính từng bước của Việt Nam. Thay vì ban hành ngay một loại thị thực dành cho nhà sáng lập áp dụng trên phạm vi toàn quốc, nhà nước lựa chọn thử nghiệm các cơ chế ưu đãi trong những lĩnh vực và không gian được coi là có ý nghĩa chiến lược trước khi cân nhắc khả năng mở rộng. Chính đặc điểm này tạo nên điểm khác biệt lớn nhất giữa Việt Nam và ba trường hợp quốc tế được phân tích ở trên. Trong khi Pháp, Anh và Singapore đều xây dựng các chương trình hướng tới mọi nhà sáng lập hoặc nhân tài đáp ứng điều kiện, Việt Nam hiện vẫn ưu tiên cách tiếp cận có mục tiêu và phạm vi hẹp, phản ánh sự cân bằng giữa yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo và yêu cầu bảo đảm quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập cư.

 

Mặc dù vậy, sẽ là một sai lầm nếu chỉ nhìn vào những cải cách mới này mà kết luận rằng Việt Nam đã hình thành một hệ thống cạnh tranh nhân tài tương đương các quốc gia được phân tích ở trên. Xét trên tổng thể, khuôn khổ nhập cư của Việt Nam vẫn thuộc nhóm thận trọng trong ASEAN. Thị thực đầu tư vẫn gắn với các ngưỡng vốn tương đối cao; chế độ thường trú chỉ áp dụng cho một số rất ít trường hợp được pháp luật quy định; còn quyền cư trú lâu dài vẫn chủ yếu được xem như một ngoại lệ hơn là một công cụ chính sách nhằm thu hút nhân tài. So với Singapore, nơi một số chương trình được thiết kế để thu hút các nhà điều hành công nghệ hàng đầu thế giới, hay Pháp, nơi thị thực được tích hợp chặt chẽ với hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, các cải cách của Việt Nam vẫn mới ở giai đoạn khởi đầu.

 

Nguyên nhân không chỉ nằm ở thiết kế của từng loại thị thực mà còn ở cấu trúc thể chế của hệ thống quản lý nhập cư. Tại Việt Nam, việc cấp thị thực, quản lý cư trú và kiểm soát người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Bộ Công an. Với chức năng cốt lõi là bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội và quản lý xuất nhập cảnh, Bộ có xu hướng đánh giá các đề xuất cải cách dưới góc độ quản trị rủi ro nhiều hơn là dưới góc độ cạnh tranh kinh tế. Điều này không có nghĩa Việt Nam không coi trọng việc thu hút nhân tài quốc tế, mà cho thấy mọi bước mở rộng quyền cư trú đều phải dung hòa giữa hai mục tiêu chính sách vốn không phải lúc nào cũng hoàn toàn thống nhất: tăng sức hấp dẫn đối với nhân tài và duy trì khả năng kiểm soát hiệu quả đối với người nước ngoài.

 

Đây cũng là lý do khiến việc so sánh trực tiếp Việt Nam với Pháp, Anh hay Singapore cần được thực hiện một cách thận trọng. Cả ba quốc gia này đều đã trải qua nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên, xây dựng các thiết chế phục vụ đổi mới sáng tạo và có truyền thống lâu dài trong việc sử dụng chính sách nhập cư như một công cụ phát triển kinh tế. Ngược lại, tại Việt Nam, việc gắn chính sách nhập cư với chiến lược đổi mới sáng tạo mới chỉ thực sự xuất hiện sau khi Nghị quyết số 57 xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược của đất nước. Vì vậy, điều đáng chú ý không phải là Việt Nam chưa có một chương trình tương đương Tech Visa hay Global Talent Visa, mà là việc Việt Nam đã bắt đầu chuyển từ tư duy quản lý lao động nước ngoài sang tư duy cạnh tranh thu hút nhân tài quốc tế.

 

Chính trong bối cảnh đó, việc lựa chọn UĐ1 theo ngành và IFC theo địa bàn có thể được hiểu như một chiến lược giảm thiểu rủi ro. Thay vì mở rộng ngay một chương trình áp dụng cho mọi nhà sáng lập và nhà điều hành nước ngoài, Việt Nam ưu tiên thử nghiệm ở những lĩnh vực và không gian được coi là có giá trị chiến lược và có thể kiểm soát tốt hơn. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm chung của quá trình cải cách thể chế tại Việt Nam, vốn thường bắt đầu bằng các mô hình thí điểm trước khi được nhân rộng nếu chứng minh được hiệu quả.

 

Từ góc độ này, câu hỏi quan trọng đối với Việt Nam không còn là có nên ban hành một loại thị thực dành cho nhà sáng lập hay không, mà là nên mở rộng các cơ chế hiện có theo lộ trình nào. Đây cũng là trọng tâm của phần tiếp theo. Thay vì đề xuất sao chép nguyên trạng mô hình của Pháp, Anh hay Singapore, chương sẽ đánh giá những yếu tố nào trong ba mô hình đó phù hợp với bối cảnh thể chế của Việt Nam, những yếu tố nào khó có khả năng được chấp nhận trong ngắn hạn, và Việt Nam nên ưu tiên những bước cải cách nào để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh nhân tài quốc tế mà vẫn bảo đảm các yêu cầu về quản lý nhà nước và an ninh quốc gia.

 

Khuyến nghị chính sách

 

Kinh nghiệm của Pháp, Anh và Singapore cho thấy không tồn tại một mô hình thị thực dành cho nhà sáng lập phù hợp với mọi quốc gia. Mỗi chương trình đều phản ánh những đặc điểm thể chế, năng lực hành chính và mục tiêu phát triển riêng. Vì vậy, mục tiêu của Việt Nam không nên là sao chép nguyên trạng bất kỳ mô hình nào, mà là lựa chọn những yếu tố phù hợp nhất với điều kiện trong nước. Trên cơ sở đó, chương này đề xuất các khuyến nghị sau.

 

Ngắn hạn

·         

·        Ưu tiên hoàn thiện và mở rộng các công cụ đã được ban hành, thay vì thiết kế ngay một loại thị thực khởi nghiệp hoàn toàn mới. Trước hết, cần mở rộng phạm vi của thị thực UĐ1 từ lĩnh vực công nghiệp công nghệ số sang các ngành công nghệ chiến lược khác đã được xác định trong Nghị quyết số 57, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới và năng lượng sạch. Cách tiếp cận theo từng ngành sẽ phù hợp hơn với quán tính cải cách thể chế của Việt Nam so với việc ngay lập tức mở một chương trình áp dụng cho mọi lĩnh vực;

 

·        Theo dõi chặt chẽ kết quả triển khai cơ chế ưu đãi của Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC). Nếu mô hình này chứng minh được khả năng thu hút chuyên gia và nhà đầu tư quốc tế mà không tạo ra các vấn đề đáng kể về quản lý nhập cư, đây sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để mở rộng các cơ chế tương tự sang những khu đổi mới sáng tạo hoặc trung tâm công nghệ khác trong tương lai.

 

 

·        Đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với những người đã đủ điều kiện theo UĐ1. Kinh nghiệm của Pháp cho thấy ngay cả một chương trình thị thực được thiết kế tốt cũng có thể mất sức hấp dẫn nếu người sử dụng vẫn phải đối mặt với nhiều thủ tục hành chính phức tạp sau khi nhập cảnh. Vì vậy, cùng với việc cấp thị thực, Việt Nam cần từng bước tích hợp các thủ tục liên quan đến cư trú, đăng ký doanh nghiệp, mã số thuế và giấy phép lao động trên nền tảng số nhằm giảm chi phí giao dịch cho các chuyên gia và nhà sáng lập nước ngoài.

 

Trung hạn

·         

·        Khi số lượng hồ sơ tăng lên và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước trưởng thành hơn, Việt Nam nên từng bước tách việc đánh giá chuyên môn khỏi cơ quan quản lý nhập cư. Thay vì để cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đánh giá trực tiếp giá trị công nghệ hoặc tiềm năng thương mại của từng dự án, Việt Nam có thể thành lập một hội đồng xác nhận chuyên môn gồm đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư mạo hiểm, doanh nghiệp công nghệ và các chuyên gia độc lập. Mô hình này có điểm tương đồng với cơ chế xác nhận của Anh nhưng cần được thiết kế phù hợp với điều kiện thể chế trong nước. Tuy nhiên, bài học từ cuộc khủng hoảng của Tech Nation năm 2023 cũng cho thấy Việt Nam không nên phụ thuộc hoàn toàn vào một tổ chức duy nhất. Thay vào đó, nên xây dựng một mạng lưới gồm nhiều tổ chức đủ điều kiện tham gia xác nhận hoặc duy trì một cơ chế dự phòng để bảo đảm việc xét duyệt không bị gián đoạn nếu một tổ chức gặp khó khăn về tài chính hoặc tổ chức.

 

·        Cân nhắc xây dựng một hạng mục thị thực riêng dành cho nhà sáng lập, thay vì tiếp tục lồng ghép họ trong các chương trình dành cho nhân lực công nghệ nói chung. Tuy nhiên, điều này chỉ nên được thực hiện sau khi đã tích lũy đủ kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình triển khai UĐ1.

 

Dài hạn

·         

·        Thị thực không nên được coi là công cụ cạnh tranh chủ đạo, mà chỉ là một thành tố trong chiến lược phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Kinh nghiệm của cả Pháp, Anh và Singapore đều cho thấy các nhà sáng lập quốc tế không lựa chọn điểm đến chỉ vì điều kiện nhập cư thuận lợi. Quyết định của họ còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm, chất lượng đại học và viện nghiên cứu, khả năng tuyển dụng nhân lực, mức độ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quy mô thị trường, chất lượng dịch vụ công cũng như môi trường sống cho bản thân và gia đình.

 

·        Khi các điều kiện nền tảng này được cải thiện, Việt Nam có thể cân nhắc tiến tới một loại thị thực dành cho nhà sáng lập áp dụng trên phạm vi toàn quốc, với phạm vi bao phủ rộng hơn UĐ1 hiện nay và không còn giới hạn trong một số ngành hoặc địa bàn cụ thể. Tuy nhiên, bước đi này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi Việt Nam đã trở thành một điểm đến đủ hấp dẫn đối với các doanh nhân công nghệ quốc tế. Nếu những điều kiện nền tảng đó chưa được cải thiện, việc mở rộng chính sách thị thực đơn thuần nhiều khả năng sẽ không tạo ra tác động đáng kể đối với khả năng cạnh tranh nhân tài của quốc gia.

 

Kết luận

 

Pháp, Anh và Singapore đã đưa ra ba lời giải khác nhau cho cùng một bài toán: chính phủ nên xác định và chủ động cạnh tranh để thu hút các nhà sáng lập và nhà điều hành công nghệ cấp cao nước ngoài – những đối tượng mà các loại thị thực lao động truyền thống vốn không được thiết kế để phục vụ – theo cách nào. Pháp đặt việc đánh giá trong một hệ sinh thái khởi nghiệp hữu hình; Anh trao quyền bình duyệt cho một cơ quan độc lập, nhưng phải đánh đổi bằng sự mong manh về thể chế mà cuộc khủng hoảng tài trợ năm 2023 đã bộc lộ; còn Singapore loại bỏ gần như hoàn toàn yếu tố đánh giá chủ quan để áp dụng các ngưỡng tài chính ngày càng cao, hướng tới một nhóm tinh hoa có chủ đích rất hẹp.

 

Việt Nam vừa triển khai công cụ đầu tiên theo hướng đó – thị thực UĐ1 và UĐ2, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Thiết kế của chương trình tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế khi kết hợp cơ chế xử lý nhập cư nhanh và các ưu đãi đáng kể trong một khuôn khổ thể chế chuyên biệt, gần với logic xây dựng hệ sinh thái của Pháp hơn là mô hình bình duyệt của Anh hay mô hình ngưỡng tài chính áp dụng trên toàn quốc của Singapore. Tuy nhiên, điều Việt Nam chưa có, và nhiều khả năng cũng khó có thể sớm triển khai do những ràng buộc về thể chế và an ninh, là một loại thị thực áp dụng trên phạm vi cả nước dành cho các nhà sáng lập hoặc nhà điều hành cấp cao, bất kể doanh nghiệp của họ hoạt động ở đâu.

 

Khoảng trống này có ý nghĩa thực tế: Việt Nam đang cạnh tranh cùng một nguồn nhân tài công nghệ toàn cầu mà Singapore, và ngày càng nhiều là Malaysia và Thái Lan, đang tích cực thu hút; trong khi đó, cơ chế thị thực hiện nay chỉ tiếp cận được một bộ phận nhỏ của nhóm đối tượng này. Vì vậy, chương không đề xuất một cuộc cải cách toàn diện và tức thời, cũng không hài lòng với hiện trạng, mà kiến nghị mở rộng từng bước trên cơ sở bằng chứng từ quá trình triển khai mô hình hiện có – theo từng khu vực, từng trung tâm đổi mới sáng tạo và từng lần sửa đổi pháp luật – phù hợp với tốc độ cải cách mà cơ quan giữ vai trò quyết định là Bộ Công an có thể chấp nhận.

 

Khi đặt cạnh Chương 11, lập luận của chương này dẫn tới một kết luận rộng hơn về chiến lược cạnh tranh nhân tài quốc tế của Việt Nam. Nếu Chương 11 đặt câu hỏi Việt Nam làm thế nào để thu hút cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài – một nhóm vốn đã có những mối liên hệ pháp lý, văn hóa và gia đình với đất nước – thì chương này xem xét cách Việt Nam cạnh tranh để thu hút nhân tài đến từ các quốc gia khác, những người không có sẵn các lợi thế đó và vì thế đưa ra quyết định chủ yếu trên cơ sở những cân nhắc mang tính thực dụng. Hai bài toán này không thể thay thế cho nhau. Một quốc gia chỉ giải quyết được một trong hai sẽ mới hoàn thiện một nửa chiến lược cạnh tranh nhân tài của mình. Những công cụ dành cho kiều bào được phân tích trong Chương 11 và cơ chế thị thực gắn với Trung tâm Tài chính Quốc tế được phân tích trong chương này mới chỉ là những mảnh ghép ban đầu, còn rời rạc, của cùng một dự án lớn hơn: xây dựng năng lực pháp lý, thể chế và hành chính để Việt Nam có thể chủ động cạnh tranh trên thị trường nhân tài toàn cầu, bất kể người đó mang hộ chiếu Việt Nam hay nước ngoài.

 

Cuối cùng, việc Việt Nam có thể thu hẹp khoảng cách với các quốc gia đi trước hay không sẽ phụ thuộc không chỉ vào việc ban hành thêm một loại thị thực mới, mà quan trọng hơn là liệu các thiết chế – trước hết là Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) – có được trao điều kiện để coi việc gắn kết với kiều bào và thu hút nhân tài quốc tế là hai hợp phần của một chiến lược thống nhất, thay vì hai lĩnh vực chính sách tách biệt, hay không.

 

 

Bài viết trích từ bản thảo “Vượt ra ngoài gia công: Kinh nghiệm quốc tế về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho Việt Nam”. Rất mong nhận được ý kiến phản biện, góp ý của quý độc giả. Mọi liên hệ, góp ý xin gửi về: nghiencuuquocte@gmail.com. Trân trọng cảm ơn! 

—————-

[1] William R. Kerr, The Gift of Global Talent: How Migration Shapes Business, Economy and Society (Stanford University Press, 2018), https://www.sup.org/books/economics-and-finance/gift-global-talent.

 

[2] OECD, “Talent Attractiveness,” https://www.oecd.org/en/data/tools/talent-attractiveness-2023.html; OECD, “Migration Policy Debates No. 30: What is the best country for global talents in the OECD?” March 2023, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2023/03/what-is-the-best-country-for-global-talents-in-the-oecd_3496c15f/5186ab2d-en.pdf.

 

[3] Startup Genome, “The Global Startup Ecosystem Report 2026,” https://startupgenome.com/report/the-global-startup-ecosystem-report-2026/introduction.

 

[4] Sari Pekkala Kerr and William R. Kerr, “Immigrant Entrepreneurship,” Harvard Business School Working Paper, https://www.hbs.edu/ris/Publication%20Files/17-011_da2c1cf4-a999-4159-ab95-457c783e3fff.pdf; IZA World of Labor, “Immigrants and entrepreneurship,” https://wol.iza.org/articles/immigrants-and-entrepreneurship/long.

 

[5] Luật số 118/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự. Toàn văn có tại: https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/01/luatso118.2025.pdf.

 

[6] Thư Viện Pháp Luật, “Từ 1/7/2026 Visa UĐ1 cấp cho ai? Visa UĐ1 có thời hạn mấy năm?” https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/tu-172026-visa-ud1-cap-cho-ai-visa-ud1-co-thoi-han-may-nam-138075465.html; Thư Viện Pháp Luật, “Từ 1/7/2026 Visa UĐ2 cấp cho ai? Visa UĐ2 có thời hạn bao lâu?” https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/tu-172026-visa-ud2-cap-cho-ai-visa-ud2-co-thoi-han-bao-lau-138075466.html; Asia Unmasked, “Vietnam’s New Talent Visas: What They Mean – and Who They Actually Apply To,” https://asiaunmasked.com/opinion/vietnams-new-talent-visas-what-they-mean-and-who-they-actually-apply-to/.

 

[7] VnExpress International, “Vietnam to tighten oversight of foreigners as arrivals hit record highs,” https://e.vnexpress.net/news/news/vietnam-to-tighten-oversight-of-foreigners-as-arrivals-hit-record-highs-5074747.html.

 

[8] La Mission French Tech, “French Tech Visa,” https://lafrenchtech.gouv.fr/en/come-work-in-france/french-tech-visa/; TechInformed, “Vive la Tech! How France bolstered its startup ecosystem,” https://techinformed.com/vive-la-tech-how-france-bolstered-its-startup-ecosystem/.

 

[9] Welcome to France, “French Tech Visa for Founders,” https://www.welcometofrance.com/en/fiche/french-tech-visa-for-founders; Business France, “French Tech Visa for Founders,” https://welcome.businessfrance.fr/en/setting-up-a-business/recruiting-international-talent/visas-and-residence-permits/status-of-foreign-company-directors/french-tech-visa-for-founders/.

 

[10] Citizen Remote, “French Tech Visa 2025: Eligibility, Application & Benefits for Tech Talent,” https://citizenremote.com/visas/france-tech-visa/.

 

[11] La Mission French Tech, “French Tech Visa,” sđd.; France Diplomatie, “Promouvoir et soutenir l’innovation française,” https://www.diplomatie.gouv.fr/fr/le-ministere-en-action/promouvoir-les-entreprises-francaises-et-l-attractivite-de-la-france/promouvoir-et-soutenir-l-innovation-francaise.

 

[12] Jobbatical, “French Tech Visa 2026: Complete Employer Certification Process for Innovative Companies,” https://www.jobbatical.com/blog/french-tech-visa-employer-certification.

 

[13] GOV.UK, “Work in the UK as a leader in digital technology (Global Talent visa): Overview,” https://www.gov.uk/global-talent-digital-technology; Davidson Morris, “Global Talent Visa UK 2026,” https://www.davidsonmorris.com/global-talent-visa/.

 

[14] Piloto Asia, “Singapore EntrePass vs Tech.Pass vs EP: Which One Fits Your Startup in 2025?” https://www.pilotoasia.com/guide/entrepass-techpass-ep-comparison-2025; Singapore EDB, “Tech.Pass,” https://www.edb.gov.sg/en/how-we-help/incentives-and-facilitation/tech-pass.

 

[15] Piloto Asia, “Singapore EntrePass vs Tech.Pass vs EP,” sđd.; Ministry of Manpower, “Eligibility for EntrePass,” https://www.mom.gov.sg/passes-and-permits/entrepass/eligibility.

 

[16] One Visa, “Tech.Pass Singapore Guide 2026,” https://www.one-visa.com/singapore-visa-resources/tech-pass-singapore/.

 

[17] Ministry of Trade and Industry, “Written reply to PQ on Tech.Pass,” https://www.mti.gov.sg/newsroom/written-reply-to-pq-on-tech-pass/.

 

[18] RSM Stone Forest, “Singapore’s ONE Pass (AI & Tech): The New Work Pass Replacing Tech.Pass,” https://rsmstoneforest.sg/expert-insights/one-pass-ai-tech-singapore; Fragomen, “Singapore: New ONE Pass (AI and Tech Track) to be Available in January 2027,” https://www.fragomen.com/insights/singapore-new-one-pass-ai-and-tech-track-to-be-available-in-january-2027.html.

 

[19] Emerhub, “Investor (DT) Visa in Vietnam,” https://emerhub.com/vietnam/visas/dt-investor-visa/; Maison Office, “Vietnam Investor Visa: How to apply, Requirements 2026,” https://maisonoffice.vn/en/legal/vietnam-investment-visa/.

 

[20] KPMG Vietnam, “Policies to attract high-quality personnel to work at IFC,” https://kpmg.com/vn/en/home/insights/2026/01/policies-attract-high-quality-personnel-to-work-at-ifc.html; DB Legal, “10-Year Visa & Permanent Residence Policy at Vietnam IFC (2026 Regulations),” https://dblegal.vn/news/setting-up-a-company-in-vietnam/visa-temporary-and-permanent-residence-incentives-for-foreigners-at-the-international-financial-centre-updated-2026-1354.html.

 

[21] Acclime Vietnam, “Vietnam’s bold financial advancement – Resolution 222 on International Financial Centers,” https://vietnam.acclime.com/news-insights/vietnams-bold-financial-advancement-resolution-222-on-international-financial-centers/; Vietnam Briefing, “Vietnam International Financial Center Part 1: Regulatory Framework,” https://www.vietnam-briefing.com/news/exploring-the-vietnam-international-financial-center-part-1-scope-administration-and-regulatory-framework.html/.

FacebookLinkedInEmailMessengerWhatsApp

 

 




View My Stats