“Ngụy
cơ bản” và “ngụy tinh hoa”
Nguyễn Hoàng Văn
09/01/2026
https://baotiengdan.com/2026/01/09/nguy-co-ban-va-nguy-tinh-hoa/
Dẫu
sai với ý đồ “Chọn gene để đào tạo tinh hoa” để gây nên những phản ứng gay gắt,
ông giám đốc sở nọ ở Hà Nội cũng đã nói lên một nhu cầu có thực. Đất nước rất cần
đến sự dẫn dắt của những người con ưu tú nhưng lại đội trên đầu những bè đảng đặc
quyền mà, mẻ ngoài, thì rất ngạo mạn còn, sâu kín bên trong, lại không ngớt dày
vò với những ẩn ức tinh hoa.
Phải
dày vò lắm thì mới sinh ra tình trạng “ngụy tinh hoa” kéo dài trên tầm mức quốc
gia. “Ngụy” với nạn lạm phát tiến sĩ. “Ngụy” với hiện tượng “gồng mình trí thức”
hoàn toàn ngu dốt và đui mù: Nhẹ thì những “minh triết” xanh rờn nhưng ngớ ngẩn,
như mấy thằng hề; nặng thì những cải cách quốc gia mà như thể thời trang của giới
trẻ trên hai cái… ống quần. Hai ống ấy thì, hoặc rộng thùng thình, hoặc vừa, hoặc
bó chặt và địa giới hành chánh quốc gia, trong tay đám đặc quyền này, cũng
xoành xoạch thay đổi, đơn giản, nhẹ nhàng, như là hai cái ống che chân.
Hứng
lên thì sáp nhập. Chán thì chia tách. Chán nữa thì lại nhập. Lẩn quẩn, lòng
vòng, hoàn toàn vô nguyên tắc mà hệ quả là sự rối mù đầy tốn kém, cho hiện tại
và cho cả tương lai. Thậm chí còn tốn kém cả nhân mạng, hàng loạt, như mới đây,
khi bộ máy hành chánh mới toanh nhưng dở dang lúng túng, không biết xoay xở thế
nào trong cơn đại hồng thủy khi những đập thủy điện thi nhau xả lũ trong mùa nước
lớn.
Nhưng
nó, tình trạng “ngụy tinh hoa”, không chỉ là thứ thời trang chính trị của thời
kỳ “tiến ra biển lớn”. Cứ theo nhà văn Ma Văn Kháng, trong hồi ký ‘Năm tháng
nhọc nhằn năm tháng nhớ thương’, thì nó đã manh nha từ tận thời
“công-nông lên ngôi” vào giữa thập niên 1950, ngay tại một vùng biên viễn heo
hút mù sương như Lào Cai khi những thành phần đặc quyền hãy còn vật lộn với
chương trình tiểu học. Tác giả đến vùng đất ấy như một thầy giáo, nổi danh như
một nhà văn thì bị Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Trường Minh “cướp” về làm thư ký riêng
và, nhờ đó, đã chứng kiến những điều mà, ngày nay đọc lại, chúng ta phải sửng sốt,
giật mình.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/01/1-31-292x420.jpg
Hồi
ký “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương” của nhà văn Ma Văn Kháng. Nguồn:
Báo Đại Đoàn Kết
Đầu
tiên là “ngụy cơ bản”, liên quan đến nỗi buồn của Bí thư:
“Dạo
đó, năm 1970, ở Lào Cai có một vụ án nội bộ đặc biệt hiếm có, và có thể là mới
chỉ xảy ra lần này: Kỷ luật và giải thể toàn thể Ban Thường vụ Thị ủy Thị xã
Cam Đường. Tập thể cấp ủy này thoái hóa, vi phạm nguyên tắc sinh hoạt đảng, sa
sút đạo đức phẩm chất cán bộ nghiêm trọng, với hai biểu hiện là bè phái chia rẽ
mất đoàn kết nặng nề, và hầu hết cấc cấp ủy viên đều mắc tội hủ hóa; đến mức có
người gọi trụ sở thị ủy là cái lầu xanh. Tỉnh ủy, trong hai ngày 28 và
29.12.1970, đã họp hội nghị chuyên đề về vụ kỷ luật này ngay tại thị xã Cam Đường.
Vụ án này làm Bí thư Trường Minh rất đau lòng. Nhất là khi xét kỷ luật, đọc kỹ
tiểu sử lý lịch từng đồng chí ủy viên thường vụ, được biết nhiều đồng chí trong
số này có thành phần xuất thân là ăn mày, thậm chí là ăn mày chuyên nghiệp từ
trước Cách mạng”.
Đọc
qua, cứ tưởng là Bí thư buồn vì sự ô nhiễm của thị ủy nhưng không, Bí thư buồn
vì một thị ủy “rất cơ bản” như thế mà lại hủ hóa đến thế:
“Ngồi
trên ô tô, trở về tỉnh, sau buổi họp tuyên bố kỷ luật tập thể thường vụ này, Bí
thư bảo tôi: ‘Ông Kháng này, tôi rất ngạc nhiên đấy. Các đồng chí nhà mình xuất
thân đều thuộc thành phần rất cơ bản mà sao lại hư hỏng tồi tệ đến thế’?” [1]
Nhưng
thế nào là “cơ bản”? Tác giả, trong một chương khác, giải thích:
“Thực
tế là đã có một thời cùng công tác với nhau, nhưng ai sinh ra từ tầng lớp nghèo
khổ, thường gọi thành phần cơ bản, ít được học hành, thậm chí là thất học, là
khù khờ, dốt nát nữa, thì lại càng có được sự tin cậy của đoàn thể, của tổ chức
và cấp trên” [2].
Thì
có nghèo, có thất học mới phải bị gậy quanh năm nhưng, theo Karl Marx, hạng ăn
mày chuyên nghiệp này không phải là thứ vô sản mà người Marxist xem là thành phần
nòng cốt của cách mạng mà chỉ là lumpenproletariat, hạng “vô sản
lưu manh”. Gốc gác đã lưu manh mà nắm được quyền lực trong tay thì
trụ sở đảng có biến thành cái nhà chứa cũng là điều dễ hiểu và Bí thư, xem ra,
đã không hiểu được một luật đời dễ hiểu, càng không hiểu gì về Chủ nghĩa Marx,
dẫu là ở mức độ sơ đẳng nhất. Khoan nói đến những quy luật chính trị – kinh tế
phức tạp, chỉ nói đến cách phân loại quần chúng thôi, Bí thư đã rất lờ mờ khi
xem bọn ăn mày “ngụy cơ bản” kia là “rất cơ bản”.
Hẳn
nhiên, như một nông dân Tày, Bí thư cũng có một xuất thân… cơ bản. Bí thư tham
gia cách mạng năm 1945 như một chiến sĩ du kích và thăng tiến rất nhanh để,
chín năm sau, trở thành Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Lào Cai và, đến cuối thập
niên 1980, đã là Phó Chủ tịch Quốc hội. Bí thư, do đó, phải là một thành phần
“tinh hoa” của chế độ. Mà để có được một hành trình như thế thì phải có một
hành trình “tinh hoa hóa” song song và đó là một hành trình chật vật: phải mất
“mấy năm sau” kể từ lúc thầy giáo Ma Văn Kháng đặt chân đến Lào Cai vào năm
1955, Bí thư mới có thể lọt vào “lớp Năm bổ túc” của thầy [3].
Ít
ai nhận ra năng lực của trò bằng thầy, càng ít ai hiểu những nhà lãnh đạo bằng
thư ký riêng của họ:
“Biết
rõ những khiếm khuyết của mình Bí thư Trường Minh và những đồng chí của mình đã
cố gắng bù đắp bằng việc theo học các lớp bổ túc văn hóa và tự học thêm. Nhưng
những cố gắng như vậy có thấm tháp gì. Nó như một sự vá víu. Mà trong học vấn,
đã lỗ mỗ thì còn hại hơn cả sự không học. Vả lại, làm gì có thì giờ mà học. Giữa
bộn bề công việc, đầu óc đâu mà học. […]
May
mà bí thư Trường Minh còn là người thông minh và chịu khó học hỏi. Chứ còn người
khác… Như Chủ tịch Tỉnh Q. Đ sau này, tôi thấy thật tội nghiệp… Đọc chưa thông,
nên mỗi lần phải đọc diễn văn – mà việc này là thường xuyên với Chủ tịch Tỉnh –
thì thật là một lần ông đánh vật với từng câu chữ, cực cho ông và khổ cho người
nghe. Ông lắp ba lắp bắp, mặt đỏ tía tai, ậm à ậm ờ mãi mới đọc xong được một
câu. Một trang đánh máy người thường đọc trong năm phút, ông kéo dài gấp đôi gấp
ba thời gian. Có lần văn phòng sơ ý kẹp díp hai trang trùng nhau, ông cứ thế đọc
lặp lại”
[4].
Thì
Bí thư là người thông minh. Nếu sinh thời Isaac Newton từng khiêm tốn rằng sở
dĩ ông “có thể nhìn xa hơn” là nhờ biết đứng “trên vai của những người khổng lồ”
thì, ở đây, Bí thư cũng thông minh không kém. Khi thầy giáo – nhà văn Ma Văn
Kháng – vụt nổi lên như một vĩ nhân tỉnh lẻ với một số truyện ngắn trên “báo
trung ương” thì Bí thư, như là nhân vật số một của tỉnh, đã tìm cách “đứng trên
vai” vĩ nhân đang lên này:
“Ban
(Tổ chức tỉnh ủy) đặt ra các tiêu chuẩn: Thư ký giúp việc cho Bí thư Tỉnh ủy phải
là đảng viên (tất nhiên), tốt nhất phải kinh qua cấp ủy, hơn nữa người này phải
thạo việc viết lách. […]
Ngày
4.3.1967, tôi nhận được quyết định số 13 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai, điều
tôi đang là Trưởng phòng cấp II, III của Ty Giáo dục Lào Cai về văn phòng Tỉnh ủy
làm thư ký riêng cho Bí thư Trường Minh.
Việc
này thật bất ngờ với tôi và cũng gây sốc với Ty Giáo dục. Trưởng ty Giáo dục Phạm
Hồng Phúc, một cán bộ đảng giàu năng lực, yêu văn chương, khiếu nại với tỉnh: ‘Anh
Kháng là cán bộ chủ lực của Ty, là cánh tay phải của chúng tôi, là nhà văn
tương lai, để anh ấy làm việc ấy là lãng phí tài năng và công sức tích lũy nghề
nghiệp’. Thì được chính Bí thư Tỉnh ủy trả lời: ‘Chả lẽ ở cương vị Bí thư Tỉnh
ủy, tôi không xứng đáng có một người giúp việc như anh Kháng ư’?” [5].
Thông
minh, Bí thư hiểu rõ “đặc quyền” của mình. Và Bí thư đã sử dụng đặc quyền đó để
dẫm lên trên quyền lợi chung khi cướp ngang một “cán bộ chủ lực” của ngành giáo
dục tỉnh và đây, phải chăng, còn là sự… quen tay. Quen tay khi tham gia “cướp
chính quyền” bằng súng, Bí thư đã “cướp cán bộ” chỉ bằng một “quyết định” với
chữ ký và con dấu đỏ. Ông cần ăn nói, phát biểu và viết lách sao cho ra dáng
“tinh hoa”. Nên ông phải “đứng trên vai” một “thư ký giúp việc” có phong cách
“tinh hoa”, bằng cái giá của ngành giáo dục.
Còn
gì bức thiết hơn thế với những nhà đặc quyền xuất thân “cơ bản”? Hãy nghe một
thành phần “đặc quyền” khác khi dự lễ khai giảng cho trường cấp II đầu tiên của
Lào Cai vào năm 1955, như một “thành tựu lớn lao của cách mạng”:
“Ngày
khai trường là một ngày hội lớn. Cả thị xã tưng bừng nô nức. Một sự kiện lịch sử
chứ đâu có phải bình thường! Đồng chí Khánh Vinh, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy tới
dự, lên phát biểu ý kiến. Đồng chí nói:
“Thưa
các đồng chí! Thời Pháp thuộc cả tỉnh ta chỉ có một trường tiểu học nhưng chưa
hoàn chỉnh. Khi giải phóng, cả huyện Sa Pa chỉ có một người Mèo biết chữ. Dốt
và nghèo đi bên nhau. Cả tỉnh khi đó chỉ có hai chiếc xe đạp. Còn bây giờ tỉnh
ta đã có trường cấp II. Nay mai ta sẽ có trường cấp III, cấp IV, cấp V, cấp
VI!”
Mọi
người vỗ tay nhiệt liệt. Có mấy người biết mà cười. Mà có biết cũng chẳng nỡ cười.
Cuộc cách mạng này là của công nông. Vừa bùng nổ cách mạng đã phải lao vào cuộc
kháng chiến kéo dài chín năm gian khổ, nào ai đã có thì giờ để học hành, để biết
mặt mũi các cấp học nó như thế nào!” [6]
Thì
“chẳng ai nỡ cười” nhưng, chắc chắn, chỉ một thời gian ngắn sau thôi, ông thường
vụ tỉnh ủy này sẽ “vỡ” ra vấn đề, sẽ tự đấm ngực bồm bộp là sao lúc đó tôi ngu
quá và, ắt hẳn, sẽ tự hiểu là, nếu có một “thư ký giúp việc” ra trò, ông có thể
tránh né bao nhiêu điều ngớ ngẩn. Mà, như là ông trùm của ngành tuyên giáo, dân
vận và văn nghệ tỉnh, ông ta còn có thể tránh được sự hối tiếc cuối đời về cái
thời ấu trĩ, khi đã khiến bao nhiêu người lâm cảnh dở khóc dở cười. Như khi báo
Lào Cai in hình khẩu cao xạ sát bìa, ông đã phê phán rằng sắp xếp hình ảnh như
vậy thì súng sẽ bắn vào đâu? [7]
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/01/1-32-1068x877.jpg
Ảnh
minh họa. Sưu tầm trên mạng
Những
lý lẽ ngớ ngẩn và dở hơi này cũng chính là một kiểu “gồng mình trí thức” khi những
thành phần đặc quyền cố chứng tỏ rằng họ đi trước, họ có thể nhìn ra những điều
mà người khác không thấy. Nhưng đừng tưởng rằng chỉ những kẻ đang vật lộn với
chương trình tiểu học giữa giữa một tỉnh lỵ heo hút vùng biên ải ở những năm
1950 – 1960 mới ngớ ngẩn, dở hơi. Cảnh ấy vẫn tiếp tục đến tận ngày nay, ngay
giữa thủ đô, với cả những nhà lãnh đạo tầm cỡ quốc gia.
Như
nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Chẳng hiểu gì cả nhưng khi nghe loáng
thoáng đâu đó ý niệm “hộp đen”, ông ta đã, điếc không sợ súng, xướng lên phong
trào “xử lý hộp đen”, rầm rộ trên báo, trên đài, mãi đến khi hai nhà khoa học
hàng đầu của đất nước, Giáo sư Hoàng Tụy và Giáo sư Phan Đình Diệu, cùng với sự
dũng cảm của nhà văn Nguyên Ngọc, chỉ thẳng cái sai. Hay như nguyên Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết, kẻ ngớ ngẩn đến mức… lù đù khi cho rằng không có chuyện hối
lộ, chỉ có hiện tượng “mượn – quên không trả”, hay cho rằng, chỉ lắp bắp mấy
câu giao tiếp với nguyên Tổng thống Barrack Obama, ông ta đã có thể “phân hóa nội
bộ” nước Mỹ. Và như nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “Cờ Vờ Lờ”, đọc diễn văn
như học trò lớp Một nên, chẳng có gì khó hiểu, lại liên miên dạy đời cho cả nước
về “Cách mạng bốn không”, một diễn dịch rất sai, thậm chí rất ngu, từ ý niệm
“Industry 4.0” [8].
“Ngụy
tinh hoa”, những kẻ lèo lái đất nước vẫn… “rất cơ bản” trên phương diện trí tuệ.
Nhưng trên phương diện chính trị thì, như là hiện thân của một thứ tài phiệt đỏ
mà lại rêu rao lý tưởng của một đảng vô sản, đó lại là một hệ thống “ngụy cơ bản”.
Lịch sử của bộ máy đặc quyền này, do đó, cứ như một sự lặp lại và mở rộng lẩn
quẩn, lòng vòng. Ngày nào là một chính quyền “ngụy cơ bản” ở Cam Đường với những
đảng viên xuất thân là ăn mày chuyên nghiệp. Bây giờ thì là một chính quyền “ngụy
cơ bản” nhưng với những tài phiệt giàu sụ, như một thứ tư bản đỏ. Ngày nào
chúng ta có một thường vụ tỉnh ủy chưa qua tiểu học hiên ngang nói về các trường
học cấp V, cấp VI; bây giờ thì chứng kiến những nhà lãnh đạo quốc gia đầy bằng
cấp nhưng cực kỳ ngây ngô như mới vừa đề cập.
“Ngụy
cơ bản” và “ngụy tinh hoa”, liệu họ có bị giằng co như một thứ “Hồn Trương Ba,
da hàng thịt”? Trong hồi ký, Ma Văn Kháng còn nhắc lại tâm sự của nguyên Bộ trưởng
Giáo dục Phạm Minh Hạc khi hai người gặp nhau để trao đổi về những điều “không
được” mà tiểu thuyết “Đám cưới không giấy giá thú” (1989) nêu
ra với ngành giáo dục:
“Hồi
tôi đi học trường Nguyễn Ái Quốc cũng gặp chuyện tương tự. Trong trường có Quán
hàng Tự giác. Nghĩa là hàng không có người bán. Bánh chưng 2 hào. Chuối 5 xu. Kẹo
lạc một hào. Đại để thế. Ai ăn gì cứ tự giác bỏ tiền vào hòm. Học viên Nguyễn
Ái Quốc chứ có phải dân thường đâu! Thế mà, nhiều hôm, kiểm tra tiền cứ thấy
thiếu. Cuối cùng tổ chức rình và bắt được quả tang một học viên. Đưa anh ta ra
kiểm điểm toàn Chi bộ. Anh ta khóc, tâm sự: Tôi xuất thân trèo me trèo sấu, cầu
bơ cầu bất, ăn cắp vặt đã vào máu thịt rồi, không sửa được. Hừ, anh ta là Tỉnh ủy
viên, cỡ giám đốc sở chứ có xoàng đâu!” [9]
“Ăn
trộm quen tay, ngủ ngày quen mắt”, cả khi đã đứng vào đội ngũ “tinh hoa” của chế
độ như một tỉnh ủy viên, một giám đốc sở, còn được bồi dưỡng về lý tưởng chính
trị tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, anh ta vẫn không thể gột rửa cái
thói ăn cắp đã nhiễm vào huyết quản từ cái thời cầu bơ cầu bất. Nhưng nếu trèo
me trèo sấu trộm quả là ăn trộm thì, trèo lên những nấc thang quyền lực để đục
khoét công sản, cũng là ăn trộm. Hay cướp, như câu chuyện của viên Bí thư đã
nói ở trên, “cướp chính quyền” cũng là cướp, bằng súng; còn cướp đất hay cướp
sông, cướp rừng, cướp sông cũng là cướp, đơn giản bằng những quyết định, nghị
quyết.
Và
cả ăn mày. Nếu giới ăn mày chuyên nghiệp hành nghề bằng cách, hoặc là bám chặt
gây phiền nhiễu như một cách tống tiền bố thí, hoặc là phô bày sự thảm hại của
mình qua việc kể lể hoàn cảnh để đánh động lòng thương xót, cái bộ máy quyền lực
kia cũng vậy. Nó gây phiền nhiễu với nhân dân hay giới đầu tư trong ngoài bằng
những thủ tục hành chánh rườm rà cốt để tống tiền bố thí. Và nó, như một hệ thống
nhất quán, khi đều đặn kể lể hoàn cảnh cùng công lao đánh đuổi thực dân – đế quốc
thì cũng chỉ nhắm đến việc thuyết phục lòng tin để được tiếp tục cái đặc quyền
tiếp tục đóng vai thực dân – đế quốc với chính tổ quốc của mình.
Thì
xem cách nó cướp bóc tài nguyên của tổ quốc, rồi cách nó phân loại nhân dân để
trị v.v., có khác nào cách bóc lột và cai trị của đế quốc, thực dân? Đất nước,
do đó, chẳng có một tiền đồ tươi sáng nào với cái hệ thống cai trị “ngụy cơ bản”
và “ngụy tinh hoa”, nhiễm đủ thói xấu của bọn ăn cướp, ăn trộm và cả ăn mày.
__________
Tham
khảo:
1.
Ma Văn Kháng (2019) Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, Công
ty Cổ phần Văn hóa Truyền thông Sống, trang 115
2.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 137-138
3.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 100
4.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 116-117
5.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 99
6.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 63-64
7.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 111
8.
Chuyện về “xử lý hộp đen” đã được Huy Đức kể lại trong Bên Thắng Cuộc:
Quyền Bính, Chương 13: Đa nguyên. Còn những bằng chứng liên quan đến Nguyễn
Minh Triết và Nguyễn Xuân Phúc thì tràn ngập trên mạng Internet, đặc biệt là
trên YouTube.
9.
Ma Văn Kháng, sđd, trang 307
No comments:
Post a Comment