Saturday 30 April 2022

HÀN GẮN VẾT THƯƠNG HUYNH ĐỆ TƯƠNG TÀN VẪN CÒN RỈ MÁU! (Nguyễn Đình Bin)

 



Hàn gắn vết thương huynh đệ tương tàn vẫn còn rỉ máu!

Nguyễn Đình Bin

30/04/2022

https://baotiengdan.com/2022/04/30/han-gan-vet-thuong-huynh-de-tuong-tan-van-con-ri-mau/

 

LGT: Chúng tôi nhận được bài viết của ông Nguyễn Đình Bin từ một thân hữu gửi tới, bàn về “hòa giải hòa hợp” nhân dịp 30-4. Ông Nguyễn Đình Bin từng giữ chức thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Ngoài ra, ông từng là Đại sứ Việt Nam tại Nicaragua kiêm nhiệm Ecuador và Đại sứ Việt Nam tại Pháp kiêm nhiệm Bồ Đào Nha. Bài viết sau đây thể hiện quan điểm của ông Đình Bin, cựu Ủy viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản.

 

                                                                 *

 

Hàn gắn vết thương huynh đệ tương tàn vẫn còn rỉ máu! Thực hiện hòa giải, hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc!

 

Hôm nay, 30 tháng 4, một ngày kỷ niệm cho đến nay mỗi lần đến thì “CÓ HÀNG TRIỆU NGƯỜI VUI MÀ CŨNG CÓ HÀNG TRIỆU NGƯỜI BUỒN ”, như cố Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói. Vì sao lại như vậy?

 

Là con dân Việt, chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật lịch sử, cùng nhau suy ngẫm, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

 

Tôi cho rằng: cần phấn đấu đạt được nhận thức đồng thuận và thực hiện những việc cơ bản sau đây:

 

1) Đánh giá bản chất 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ (1946-1975)

 

Chính sử và công luận đều đã nhất trí là CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC VĨ ĐẠI! Song, tôi nghĩ đồng thời cũng là CUỘC CHIẾN HUYNH ĐỆ TƯƠNG TÀN! Tại sao lại như vậy?

 

Có hai nguyên nhân đã làm cho dân tộc ta rơi vào cuộc nội chiến này.

 

Nguyên nhân thứ nhất là do đại họa ngoại xâm. Cũng giống như đối với nhiều dân tộc khác, ngoại bang đến thống trị, rồi xâm lược liên tiếp nước ta, suốt hơn một thế kỷ liền, đã làm cho dân tộc ta bị đẩy vào thảm cảnh đó, theo cả nghĩa đen đối với rất nhiều gia đình. Bởi vì, chiến lược cổ điển của các thế lực thực dân, đế quốc, bành trướng đi xâm lược và thống trị nước khác luôn là “chia để trị”, “dùng người bản địa đánh người bản địa”, mà Mỹ còn nói toạc móng heo là “Việt Nam hóa chiến tranh”, tức rút quân Mỹ về nước, chỉ dùng người Việt đánh người Việt, với vũ khí, viện trợ và cố vấn Mỹ, giống như “chiến tranh đặc biệt” trong giai đoạn đầu. Cho nên, lồng vào cuộc chiến tranh ái quốc của dân tộc ta chống ngoại xâm là cuộc nội chiến.

 

Nguyên nhân thứ hai là thật bất hạnh, đất nước ta đồng thời lại đã trở thành chiến trường ác liệt của cuộc đối đầu trực tiếp, quyết liệt giữa hai hệ tư tưởng trên thế giới – cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa – trong giai đoạn lịch sử ấy. Tức là người Việt chúng ta đã bị chia thành hai bên trực tiếp đánh nhau, một bên vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, bên kia chống lại chủ nghĩa cộng sản.

 

Hai nguyên nhân này hòa quyện vào nhau đã làm cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn càng thêm khốc liệt.

 

Thực tiễn lịch sử đau thương này đã diễn ra như thế nào, mấy thế hệ người Việt đã phải trực tiếp nếm trải! Và, thật đau buồn, dù gần nửa thế kỷ đã trôi qua rồi mà các di chứng để lại vẫn còn nhức nhối!

 

2) Đánh giá ý nghĩa lịch sử của ngày 30-4-1975

 

Gần nửa thế kỷ trôi qua là thời gian quá đủ để nhìn nhận đúng ý nghĩa trọng đại của ngày lịch sử này:

 

Đó là một thắng lợi vĩ đại, một mốc son chói lọi trong lịch sử, không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả thế giới hiện đại; là niềm tự hào của cả dân tộc ta. Lần đầu tiên, và cho đến nay vẫn là lần duy nhất trên thế giới, siêu cường quốc hùng mạnh, giàu có nhất hành tinh đã thất bại thảm hại trong một cuộc chiến tranh quy mô chưa từng thấy khi can thiệp, xâm lược một nước nghèo, nhỏ bé hơn! Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa! Độc lập, Chủ quyền, Quyền dân tộc tự quyết đã thắng ngoại bang can thiệp, áp đặt, xâm lược trắng trợn, bạo tàn!

 

Đó là ngày chấm dứt vĩnh viễn trên một thế kỷ đau thương, đất nước và dân tộc ta là nạn nhân của ách thống trị và chiến tranh xâm lược của ngoại bang. Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập. Nguyên nhân thứ nhất tạo ra cuộc chiến nồi da nấu thịt đã bị xóa bỏ!

 

Đó là ngày thống nhất Tổ quốc, sau hơn hai thập kỷ bị chia ly xé lòng!

 

Đó cũng là ngày kết thúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn!

 

Trong cuộc xung đột lịch sử kép này, chỉ có bên thắng cuộc duy nhất là dân tộc Việt Nam; là đại nghĩa “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”; là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam; là hòa bình.

Bên thua cuộc duy nhất là các thế lực thực dân, đế quốc xâm lược nói trên; là phi nghĩa; là chiến tranh!

 

Còn, giữa con cháu các Vua Hùng với nhau, không có bên thắng, bên thua, mà với tư cách người Việt tất cả đều thắng!

 

Vậy, lẽ nào, là người Việt Nam lại không vui mừng và tự hào về ngày lịch sử vẻ vang ấy của cả dân tộc, dù mỗi người, mỗi gia đình đều có những nỗi đau, mất mát riêng?

 

3) Phải khép lại quá khứ đau thương để cùng nhau xây dựng tương lai tươi sáng!

 

Bởi vì: Những gì đã qua đều là quá khứ, không thể thay đổi, không thể làm lại, phải tôn trọng! Nhân vô thập toàn! Con người suy nghĩ, hành động khác nhau, đúng, sai là lẽ thường tình.

 

Gần nửa thế kỷ chúng ta đã để mất. Quyết không thể để mất mát thêm. Không thể để cho vết thương dân tộc này tiếp tục rỉ máu nữa! Không có con đường nào khác là phải xuất phát từ thực tế hiện tại!

 

Tổ quốc và dân tộc đang khẩn thiết đòi hỏi:

 

a- Về phía Đảng CSVN, những người đang gánh vác trọng trách lãnh đạo đất nước:

 

Sau khi chiến tranh chấm dứt, nguyên nhân thứ nhất gây ra cuộc nội chiến đã được loại bỏ. Với truyền thống khoan dung, hòa hiếu và thực hiện đổi mới về đối ngoại, nước ta đã bình thường hóa quan hệ và kết bạn, trở thành đối tác chiến lược, đối tác hợp tác toàn diện với tất cả các nước đã đến thống trị và xâm lược nước ta.

 

Còn nguyên nhân thứ hai thì sao? Với sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, cục diện thế giới đã sang trang. Mâu thuẫn chủ yếu, nổi trội nhất đang chi phối mạnh nhất quan hệ quốc tế ngày nay và tác động trực tiếp đến nước ta đâu còn là cuộc đối đầu giữa hai hệ tư tưởng Đông – Tây, cộng sản chủ nghĩa – tư bản chủ nghĩa nữa, mà là mâu thuẫn giữa Mỹ, siêu cường số 1, tuy đã suy yếu tương đối, nhưng vẫn là, và trong một tương lai có thể nhìn thấy, sẽ vẫn là số 1 thế giới và nhất định không từ bỏ vị thế này. Với Trung Quốc, siêu cường đã đạt được ngôi vị thứ 2, đang ra sức tiến lên chiếm vị trí thống soái toàn cầu, mà siêu cường này thực chất đã và đang chỉ dùng chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội như một chiêu bài, một bình phong và một công cụ để che đậy và thực hiện tham vọng bành trướng, bá quyền thâm căn cố đế của họ mà thôi.

 

Mặt khác, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu cũng như cải cách mở cửa của Trung Quốc từ năm 1978 và đổi mới về kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986 đã chứng minh hùng hồn là mô hình kinh tế XHCN theo quan điểm Mác – Lênin đã thực sự lỗi thời, đã bị lịch sử đào thải. Trong khi đó, tất cả các quốc gia phát triển nhất, giàu có nhất, văn minh nhất trên thế giới mà nước ta đang ra sức phát triển quan hệ hợp tác, tranh thủ vốn đầu tư, khoa học, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý, chẳng có một nước nào theo con đường Mác – Lênin và CNXH cả. (Còn sự phát triển kỳ diệu về kinh tế của Trung Quốc, từ khi cải cách, mở cửa, thì đâu có phải là thành quả của chủ nghĩa Mác – Lênin và CNXH, mà là của kinh tế thị trường TBCN Trung Quốc đã học tập và vận dụng; và, lợi dụng quy chế được ưu đãi dành cho nước đang phát triển, Trung Quốc đã tranh thủ được tối đa các lợi ích của toàn cầu hóa, cũng như các thành tựu của thế giới TBCN về vốn, khoa học, công nghệ và kinh nghiệm quản lý).

 

Hơn nữa, từ hơn ba thập kỷ nay, ngoài đổi mới cơ bản về kinh tế, Đảng CSVN cũng đã đổi mới cơ bản về đối ngoại. Nước ta đã thực hiện đa dạng, đa phương hóa quan hệ, làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt lập trường tư tưởng, chế độ chính trị; bình thường hóa và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác toàn diện với tất cả các nước đã từng đô hộ, xâm lược nước ta, như đã nói trên. Tức là, trên thực tế, Đảng đã từ bỏ các quan điểm Mác- Lênin, XHCN trên hai lĩnh vực kinh tế và đối ngoại rồi. Cũng chính nhờ vậy mà đất nước mới thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và thu được những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa lịch sử về đối nội và đối ngoại như hiện nay.

Như vậy, cơ sở tạo ra nguyên nhân thứ hai đã không còn tồn tại!

 

Thế mà, dù đã có nghị quyết về đổi mới toàn diện và đồng bộ, Đảng CSVN vẫn chưa thực hiện đổi mới thật sự về chính trị, vẫn kiên trì níu giữ mô hình quản lý đất nước cũ – hệ thống chính trị hiện hành – theo quan điểm Mác – Lênin, XHCN, thực chất là Đảng trị, độc quyền, không dân chủ, đã quá lẻ loi, lạc lõng, lỗi thời trên thế giới.

 

Đây chính là điều đã và đang ngăn cản dân tộc ta hàn gắn vết thương nội chiến, thực hiện hòa giải, hòa hợp, đại đoàn kết. Đồng thời, đây cũng chính là cội nguồn đẻ ra đặc quyền, đặc lợi, các nhóm lợi ích vị kỷ, nạn tham nhũng và các quốc nạn khác đã và đang hoành hành, phá hoại Đảng và đất nước; là nguyên nhân làm cho kinh tế thị trường ở nước ta bị méo mó, không phát huy được đầy đủ các mặt ưu việt, ngược lại tạo điều kiện cho các mặt tiêu cực tác oai, tác quái.

 

Mặt khác, đây cũng chính là hàng rào đang ngăn cản đất nước ta thực sự độc lập, tự chủ, hòa nhịp bước với tuyệt đại đa số các quốc gia đang phấn đấu xây dựng một thế giới thực sự hòa bình, tự do, dân chủ, phồn vinh, văn minh, bền vững.

 

Vậy thì, Đảng CSVN phải loại bỏ cội nguồn đã và đang tạo ra ba hậu họa nói trên. Tức là Đảng phải thực hiện đổi mới chính trị thật sự và triệt để. Cụ thể là, cũng như năm 1986, Đảng đã chiến thắng chính mình, dũng cảm từ bỏ quan điểm xây dựng kinh tế XHCN theo quan điểm Mác – Lênin đã lỗi thời, để chấp chấp nhận và vận dụng vào nước ta thành tựu chung của nhân loại cho đến nay về phát triển kinh tế là kinh tế thị trường, mà trước đó Đảng kiên quyết chống lại. Giờ đây, Đảng cũng phải dũng cảm từ bỏ mô hình quản trị quốc gia – hệ thống chính trị – hiện hành theo quan điểm Mác – Lênin đang cản trở sự phát triển của đất nước, để vận dụng mô hình phổ cập mà tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đang áp dụng.

 

Đây là thành tựu của loài người trên phạm trù này, phải sau mấy thế kỷ đấu tranh quyết liệt, với biết bao máu, mồ hôi và nước mắt, mới đạt được, vẫn không ngừng được đổi mới, hoàn thiện theo quy luật phát triển khách quan, và đã mang lại những thành quả tốt đẹp về các mặt, điển hình là tại các nước Bắc Âu, các thành quả mà chính nước ta đã và đang phải tranh thủ, nghiên cứu và học tập.

 

Mô hình này mới là nhà nước pháp quyền thực sự, một bộ máy quản trị quốc gia bảo đảm thực hiện và phát huy được dân chủ thực sự trong toàn xã hội, tức là quyền và trách nhiệm thực sự làm chủ đất nước của nhân dân, là thực hiện đúng tư tưởng Hồ Chí Minh “lấy dân làm gốc”, để bảo đảm khơi dậy và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết tổng hợp của toàn thể dân tộc, như một bài học chính Đảng đã đúc kết. Mô hình này cũng chính là cái lồng kiểm soát quyền lực tốt nhất cho đến nay đã được chứng minh trên thế giới.

 

Để thực hiện cuộc đổi mới chính trị thật sự và triệt để này, trước mắt, cần triển khai mấy việc chủ yếu sau đây:

 

– Trung ương Đảng ban hành sớm nhất có thể Nghị quyết đặc biệt về đổi mới chính trị toàn diện và triệt để theo tinh thần nói trên.

 

– Đồng thời, Trung ương Đảng và Quốc hội ra Tuyên bố đặc biệt về hòa giải và hòa hợp dân tộc theo tinh thần khép lại quá khứ đau thương, tất cả vì tương lai tươi sáng của đất nước, của dân tộc.

 

Để thể hiện rõ quyết sách mới này của Đảng về “đổi mới chính trị toàn diện và triệt để” và “hòa giải, hòa hợp dân tộc” thật sự, lấy lại niềm tin của đồng bào trong và ngoài nước, tạo đà và khí thế mới hàn gắn vết thương nội chiến, thực hiện hòa giải, hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc, cũng như các nhiệm vụ đổi mới trọng đại khác đang đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, tranh thủ tốt nhất sự đồng tình, ủng hộ của thế giới, cần làm ngay 5 việc cụ thể sau đây:

 

– Một là: Khẩn trương chuẩn bị và tổ chức các “Hội nghị Diên Hồng” rộng mở, tập hợp tất cả chuyên gia, trí thức tâm huyết và tài năng ở trong và ngoài nước, chỉ để bàn và đề xuất những sáng kiến, những giải pháp, những việc cần và có thể làm, nhằm khơi dậy, tập hợp và phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tâm, trí, tài, lực của hơn 100 triệu đồng bào ở trong và ngoài nước, nắm bắt được các cơ hội trong bối cảnh tình hình thế giới mới, để đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bứt phá vươn lên, vượt qua các khó khăn, thách thức, nguy cơ hiện nay, bước vào một kỷ nguyên mới phát triển nhanh chóng, toàn diện, hùng cường, bền vững, sớm đuổi kịp các nước tiên tiến. Tuyệt đối không tranh cãi về quá khứ, không phê phán, công kích bất cứ ai, bất cứ điều gì.

 

Bởi vì: Những sự thật lịch sử lớn nhất trong sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, như thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, với chiến thắng “Điện Biên Phủ chấn động địa cầu”, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống thuộc địa trên toàn cầu, rồi chiến thắng oanh liệt chống xâm lược Mỹ, siêu cường giầu mạnh nhất thế giới, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nước, Việt Nam trở thành biểu tượng của ý chí độc lập, tự do, của chủ nghĩa anh hùng, lương tri của nhân loại v.v… là niềm tự hào của toàn thể dân tộc ta, đã được công luận ngợi ca và ghi nhận trong lịch sử thế giới hiện đại, thì nhất định không ai có thể bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận được.

 

Những gì còn bất đồng (cũng là lẽ tự nhiên) … thì để lại cho các thế hệ tương lai, không dính dáng gì với quá khứ, vào thời điểm thích hợp, phán xét thật khoa học, khách quan, chỉ nhằm rút ra những bài học cần thiết cho dân tộc.

 

Mặt khác, các ý kiến phản biện đúng đắn chỉ giúp cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách. Còn đường lối, chính sách mà đúng đắn thì lo sợ gì. Những ý kiến phản biện sai trái chỉ càng làm sáng tỏ hơn tính đúng đắn đó, giống như hòn ngọc chỉ càng thêm ngời sáng giữa những cục đá, viên sỏi.

 

– Hai là: Trả lại tự do cho những người đang bị giam giữ chỉ vì bất đồng chính kiến, phê phán các chủ trương, chính sách cũng như lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; thực sự tôn trọng tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí như đã được quy định tại hiến pháp và khẳng định rõ ràng trong các văn kiện chính thức, trong các phát biểu lâu nay của lãnh đạo Đảng và Nhà nước; khuyến khích phản biện xây dựng, đóng góp ý kiến theo tinh thần đã nói trên.

 

– Ba là: Truy phong Liệt sĩ và khen thưởng xứng đáng các sĩ quan, binh lính, viên chức của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đã hy sinh để bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trong trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa, tháng 1 năm 1974. Đó là những người con đích thực của dân tộc Việt Nam. Thực hiện đầy đủ chính sách người có công hiện hành đối với họ và thân nhân, cũng như tất cả sĩ quan, binh lính, viên chức khác của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đồng bào miền Nam đã có công tham gia phục vụ cuộc chiến đấu lịch sử này. Xây dựng Tượng đài xứng đáng về sự kiện lịch sử này.

 

Làm việc này còn để khẳng định dứt khoát chủ quyền không thể tranh cãi của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa, rất cần thiết trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay.

 

– Bốn là: Chấm dứt chính sách phân biệt đối xử, thực hiện chính sách xã hội hiện hành đối với cả các thương, phế binh, viên chức cũ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và thân nhân.

 

– Năm là: Xây dựng một Tượng đài xứng đáng, đặt tại Thủ đô Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, để tưởng niệm tất cả con dân Việt đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh đã diễn ra trên đất nước ta hơn một thế kỷ qua. Lòng Mẹ Việt mênh mông hơn biển cả, lồng lộng hơn trời cao, tràn ngập yêu thương, bao dung, độ lượng, vị tha, luôn hy sinh tất cả cho các con, vì các con… Con dù có hư quấy hay lầm đường, lạc lối vẫn là con của Mẹ. Con nào mất đi lòng Mẹ cũng đau như cắt, vì đều do Mẹ rứt ruột đẻ ra; đều là máu, là thịt của Mẹ. Ngày giỗ con nào Mẹ cũng thắp nén nhang cầu cho con được an nghỉ vĩnh hằng! Và, như tôi đã bầy tỏ ở phần trên, tất cả các con Lạc cháu Hồng đã ngã xuống trong các cuộc chiến này, dù ở bên này hay bên kia, cũng như cả dân tộc ta, đều là nạn nhân của những thế lực ngoại bang đã đến thống trị và xâm lược nước ta và của cuộc xung đột trực tiếp giữa hai hệ tư tưởng Đông – Tây.

 

Các việc làm nói trên sẽ lay động mọi trái tim Việt, khơi dậy và thổi bùng nhiệt huyết yêu nước, tình nghĩa đồng bào, kết nối mọi con cháu các Vua Hùng, ở trong cũng như ngoài nước thành một khối, đồng lòng sát cánh cùng nhau chung sức đạp bằng mọi chông gai, trở ngại, đưa non sông gấm vóc bật dậy, đuổi kịp và sánh vai tiến bước cùng các quốc gia giàu mạnh, tiên tiến trên thế giới, bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc, đã và đang bị Trung Quốc vi phạm, xâm lấn nghiêm trọng.

 

b- Về phía tất cả con Lạc cháu Hồng:

 

Nếu thực sự có lòng yêu nước, thương nòi, thì chúng ta phải cùng nhau vứt bỏ mọi hận thù, thành kiến, định kiến, cố chấp, cực đoan, mặc cảm, nghi kỵ, ngộ nhận, hiểu lầm …! Phải dẹp bỏ mọi bất đồng, chấm dứt đả kích, lên án, bài xích, đay nghiến, trách móc, đổ lỗi cho nhau, đang hàng ngày, hàng giờ ngoáy vào vết thương chung, sau gần nửa thế kỷ, vẫn còn tiếp tục rỉ máu, hủy hoại sức mạnh của dân tộc ta!

 

Phải cảm thông, bỏ qua, tha thứ cho nhau tất cả! Phải tôn trọng, thương yêu nhau… Cùng nhau khép lại quá khứ đau thương, hàn gắn lại tình nghĩa máu mủ, đồng bào, để sát cánh bên nhau dưới mẫu số chung: Bảo vệ và phát huy thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nay đã hòa bình, thống nhất, tổ ấm chung của tất cả mọi người, thật sự độc lập, tự chủ, giàu mạnh, tự do, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các quốc gia tiên tiến trên thế giới, nói gọn là tương lai tươi sáng, rực rỡ cho Tổ Quốc – Dân tộc Việt Nam ta, cho các thế hệ mai sau, trong đó có chính mình, gia đình mình, con cháu mình, trước các nguy cơ hiện hữu, cục diện thế giới đang biến đổi khôn lường. Mỹ – Trung cạnh tranh nhau rất quyết liệt, tác động trực tiếp đến nước ta; đặc biệt là thực trạng đất nước vẫn đang tụt hậu; đạo đức xã hội chưa bao giờ lại băng hoại như hiện nay; tài nguyên, môi trường thiên nhiên của đất nước bị xâu xé, khai thác bừa bãi, cạn kiệt, hủy hoại ngày càng nghiêm trọng; lãnh thổ và chủ quyền quốc gia đã và đang bị Trung Quốc xâm hại ngày càng nghiêm trọng ở Biển Đông; không gian sinh tồn chính đáng của dân tộc đang bị thách thức; độc lập, tự chủ, an ninh của đất nước cũng đang bị đe dọa về nhiều mặt.

 

Đồng bào ở trong nước, nhất là các bậc lão thành cách mạng, các thương, bệnh binh, cựu chiến binh, gia đình liệt sỹ…, những người lâu nay coi là thuộc “bên thắng cuộc” phải chủ động đi bước trước, phải mở lòng, dang rộng hai tay chào đón, ôm hôn những người anh em của mình ở hải ngoại.

 

Còn đồng bào ở hải ngoại, những ai vẫn còn hận thù, nuối tiếc, cố chấp, mặc cảm, nghi kỵ…thì phải rũ bỏ đi tất cả, để đón nhận vòng tay của những người anh em trong nước!

 

Các thế hệ tiền bối của chúng ta đã bao lần hành xử như vậy trong bối cảnh tương tự, và để lại cho các thế hệ hậu sinh những lời răn vô giá:

 

 “Nhiễu điều phủ lấy giá gương;

 Người trong một nước phải thương nhau cùng!”

 

 “Bầu ơi thương lấy bí cùng;

 Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn.”

 

 “Khôn ngoan đối đáp người ngoài;

 Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!”

 

 “Một cây làm chẳng nên non;

 Ba cây chụm lại nên hòn núi cao!”

 

Hồ Chí Minh cũng đã dạy:

“Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết!

Thành công, Thành công, Đại thành công!”

 

Đương nhiên, cuộc đổi mới chính trị thật sự và triệt để này đòi hỏi phải được tiếp tục triển khai đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; trong đó, then chốt nhất, quyết định nhất là phải xây dựng lại Đảng Cộng sản Việt Nam thành một Đảng thực sự của dân, do dân, vì dân; thực sự trong sạch, vững mạnh; thực sự xứng đáng là Đảng tiên phong lãnh đạo toàn dân tộc trong thời đại mới.

 

Song, tôi tin tưởng rằng, chỉ cần thực hiện được các việc cơ bản nói trên thì mỗi dịp kỷ niệm ngày 30 tháng 4, cũng như các ngày lịch sử vẻ vang khác của đất nước, chắc chắn tất cả mọi con dân Việt sẽ đều vui, chẳng còn một ai buồn nữa.

 

--------------

1 COMMENT

 

Nghiem Vietanh

Bài viết thể hiện quan điểm, nhận thức, lẫn trình độ của đ/c Nguyễn Đình Bin.
Nếu so với bản thân,có thể nói đ/c Bin đã có nhiều thay đổi tích cực trong nhận thức,nhưng những điều ấy cũng bình thường,so với mặt bằng xã hội.
Song dù thế nào,nó vẫn chưa thoát ra khỏi khuôn mẫu,của một cán bộ,đảng viên trong hệ thống,được tu dưỡng,trưởng thành từ đội ngũ 'cháu ngoan Bác Hồ'.
Ngoài những điều có vẻ tích cực như trên,thì nhận thức của tác giả bài viết,còn mang nặng tính 'tuyên giáo' và không chính xác

.

=============================

 

XEM THÊM ĐỂ SO SÁNH

 

Vài cảm nghĩ nhân ngày 30 tháng Tư

Phạm Phú Khải

.

Nhân 30 tháng Tư: Góp ý với lãnh đạo Việt Nam

Phạm Phú Khải

.

Vài vấn đề sử nhân ngày 30 tháng Tư

Phạm Phú Khải





No comments:

Post a Comment

View My Stats