Khi “bốn bước chuyển
chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc
Hoàng Trường
23/07/2026
Việt
Nam không thể chỉ lựa chọn những thành quả vật chất của văn minh hiện đại nhưng
từ chối các điều kiện tinh thần và thể chế đã sản sinh ra những thành quả ấy.
Không cần
chờ Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV kết thúc, chỉ riêng diễn văn khai mạc của Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã cung cấp đủ chất liệu để nhận diện một nghịch
lý ngày càng lớn trong đời sống chính trị Việt Nam (1).
Một mặt,
người đứng đầu Đảng nói đến quản trị hiện đại, kinh tế tri thức, công nghệ, con
người, sức chống chịu quốc gia và niềm tin xã hội. Mặt khác, chính xã hội ấy lại
đang chìm trong một “cơn sóng thần” đấu tố, nơi những câu hỏi về lịch sử, văn
hóa và tư tưởng có thể nhanh chóng bị biến thành hồ sơ chính trị, còn tranh luận
học thuật bị đẩy sang địa hạt an ninh.
Từ “Chuyện
với Thanh” của Nguyễn Thành Nam (2), làn sóng ấy đang lan sang những tranh cãi
chung quanh hình tượng “Đức Thánh Trần” (3). Đối tượng thay đổi nhưng phương thức
gần như không đổi: Cắt lấy một vài câu chữ, tách chúng khỏi văn cảnh, gán cho
tác giả một động cơ chính trị, huy động báo chí và mạng xã hội lên án, rồi buộc
các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan phải tuyên bố phân cách, phủ nhận hoặc
tự kiểm điểm.
Những “loa
phường” ngày trước, nay được số hóa thành hàng nghìn tài khoản mạng xã hội;
nhưng âm điệu kết án, tinh thần quy chụp và tâm lý đám đông thì vẫn mang dấu vết
của một thời tưởng đã lùi xa.
1.-
Từ “Chuyện Với Thanh” đến một “cuộc cách mạng văn hóa kỹ thuật số”
Vụ “Chuyện
với Thanh” cho thấy mức độ lan rộng đáng báo động của cơ chế ấy. Nguyễn Thành
Nam bị khởi tố; những người liên quan đến xuất bản bị xử lý; 23 cơ quan báo chí
từng đăng bài về cuốn sách bị xem xét xử phạt, trong đó có một cơ quan bị thu hồi
giấy phép. Trường Đại học FPT cũng nhanh chóng ra tuyên bố không liên quan đến
quá trình biên soạn, xuất bản và “phản đối quan điểm” của tác giả.
Một cuốn
sách, dù đúng hay sai đến đâu, đã không còn được đối xử trước hết như một sản
phẩm trí tuệ cần được phản biện bằng sử liệu, lý lẽ và trách nhiệm học thuật.
Nó trở thành tâm điểm của một chiến dịch chính trị – truyền thông có sức lan tỏa
vượt xa bản thân tác phẩm.
Điều đáng
lo không chỉ là số phận một tác giả. Nguy hiểm hơn là tiền lệ được hình thành:
Bất kỳ cách diễn giải nào khác với lịch sử chính thống cũng có thể bị xem là đe
dọa chế độ; bất kỳ ai từng giới thiệu, đánh giá hoặc đơn giản là tạo diễn đàn
cho tác phẩm ấy cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm. Trong bầu không khí đó, sự
sợ hãi sẽ đi trước mọi suy nghĩ. Nhà xuất bản không dám xuất bản, báo chí không
dám thảo luận, trường đại học không dám bảo vệ quyền tự do nghiên cứu, còn giới
trí thức học được cách an toàn nhất là im lặng.
Không thể
không nhận thấy ở đây bóng dáng của mô thức Cách mạng Văn hóa Trung Quốc trong
những năm 1960–1970. Dĩ nhiên, Việt Nam hôm nay chưa phải Trung Quốc dưới thời
Mao: Chưa có Hồng vệ binh tràn vào nhà dân, chưa có những cuộc hành hạ công
khai hàng loạt hay những “đại hội đấu tố” theo đúng hình thức cũ. Nhưng Cách mạng
Văn hóa trước hết không phải là một bộ trang phục lịch sử; nó là một phương thức
vận hành quyền lực. Phương thức ấy biến khác biệt tư tưởng thành tội lỗi chính
trị, kích hoạt đám đông để trừng phạt cá nhân, đồng nhất lòng trung thành với
việc lặp lại tín điều và đặt biểu tượng quyền lực ra ngoài mọi khả năng khảo cứu.
Nếu hiểu
theo nghĩa đó, điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ
thuật số”. Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường
không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư
luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được
huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch
sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải
nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.
2.-
Việt Nam năm 2026 không phải Trung Quốc năm 1966
Nhưng Việt
Nam năm 2026 không phải Trung Quốc năm 1966. Đây là khác biệt mà bất cứ nhà
lãnh đạo nào cũng không thể xem nhẹ. Trung Quốc thời Mao là một xã hội tương đối
khép kín, người dân ít có khả năng tiếp cận nguồn thông tin bên ngoài, còn nền
kinh tế hầu như chưa gắn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam hiện nay sống bằng
xuất khẩu, đầu tư, công nghệ, hợp tác giáo dục, thị trường tài chính và lòng
tin của đối tác quốc tế. Mọi biểu hiện đàn áp tư tưởng đều lập tức vượt qua
biên giới, trở thành dữ liệu để doanh nghiệp, trường đại học, chính phủ và các
tổ chức quốc tế đánh giá mức độ cởi mở và khả năng dự đoán của thể chế.
Bởi vậy,
“loa phường” và đấu tố thời đại số có thể tạo ra sự im lặng nhất thời, nhưng
cái giá dài hạn là sự cạn kiệt lòng tin. Người dân không còn tin rằng pháp luật
bảo vệ quyền tranh luận. Trí thức không còn tin rằng thiện chí của họ được tôn
trọng. Doanh nghiệp không còn chắc chắn ranh giới giữa hoạt động chuyên môn và
rủi ro chính trị nằm ở đâu. Đối tác quốc tế cũng phải tự hỏi liệu một đất nước
muốn trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo có thực sự dung chứa được những con
người độc lập, hay chỉ cần một cơn giận dữ ý thức hệ là mọi cam kết về cởi mở lại
bị đảo ngược.
Đặt trong
bối cảnh ấy, “bốn bước chuyển chiến lược” mà Tô Lâm nêu tại Hội nghị Trung ương
3 càng bộc lộ một khoảng cách lớn giữa ngôn từ và thực tế. Ông yêu cầu nâng cao
năng lực lãnh đạo và chất lượng vận hành của bộ máy; quản trị thống nhất không
gian phát triển; xác lập mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, công
nghệ và con người; đồng thời nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo
vệ đất nước. Đó đều là những mục tiêu hợp lý. Nhưng không một mục tiêu nào có
thể đạt được trong một xã hội bị quản trị bằng sự sợ hãi.
HÌNH :
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/07/1-68-323x420.jpg
Ảnh
minh họa. Nguồn: Tuổi Trẻ/ TTXVN
Kinh tế
tri thức không sinh ra từ sự phục tùng. Công nghệ không thể phát triển bền vững
nếu con người chỉ được khuyến khích tìm ra câu trả lời mà cấp trên muốn nghe.
Năng suất không chỉ là số giờ lao động hay lượng máy móc được đầu tư; nó còn là
khả năng phản biện, thử nghiệm và sửa sai. Còn sức chống chịu quốc gia không thể
được xây dựng bằng cách loại bỏ mọi tiếng nói khác biệt, bởi một hệ thống không
nhận được thông tin trái chiều sẽ ngày càng mất khả năng nhận diện sai lầm của
chính mình.
Đáng chú ý
hơn, Tô Lâm đòi hỏi các Ủy viên Trung ương phải “rõ chính kiến, rõ lập luận, rõ
kiến nghị, rõ phương án lựa chọn”. Nhưng vì sao quyền nói rõ chính kiến ấy chỉ
được dành cho những người ngồi trong hội trường Trung ương? Một xã hội 100 triệu
dân, với hàng triệu trí thức, doanh nhân, nhà giáo, nhà khoa học và người Việt ở
nước ngoài, cũng cần được quyền trình bày chính kiến, lập luận và phương án lựa
chọn của mình. Nếu trong nội bộ Đảng, tranh luận được coi là điều kiện để hoàn
thiện quyết sách, thì ngoài xã hội, tranh luận càng càng phải được xem là nguồn
lực giúp quốc gia tránh sai lầm.
Chính Tô
Lâm còn yêu cầu mọi lựa chọn phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân lên trên hết; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ
củng cố niềm tin xã hội. Nhưng niềm tin không thể được tạo ra bằng chỉ thị,
càng không thể được xây dựng bằng trừng phạt. Niềm tin chỉ xuất hiện khi người
dân thấy quyền lực hành xử nhất quán, luật pháp có thể dự đoán và các quyền hợp
pháp của họ không bị thu hẹp tùy theo những biến động chính trị. Một nhà nước vừa
kêu gọi trí thức cống hiến vừa khiến họ sợ hãi khi viết sách thì đang tự phá hủy
chính nguồn lực mà mình muốn huy động.
3.-
Không thể hội nhập với thế giới bằng một xã hội khép kín
Nghịch lý
này càng rõ khi đối chiếu với những thông điệp mà Tô Lâm từng phát ra trong các
cuộc tiếp xúc quốc tế. Trên đất Mỹ, ông đã nói đến yêu cầu phát triển không thể
tách rời dòng chảy chung của nhân loại. Gần đây, ông còn tập tễnh bước đến khái
niệm “giáo dục khai phóng”, nhấn mạnh việc khơi dậy năng lực con người thay vì
áp đặt và nhồi sọ. Dù cách diễn đạt còn dè dặt, đó vẫn là dấu hiệu cho thấy người
đứng đầu hiểu rằng Việt Nam không thể bước vào kỷ nguyên tri thức bằng một nền
giáo dục chỉ đào tạo sự vâng lời.
Nhưng những
mầm mống khai mở ấy dường như luôn gặp phải một bức tường vô hình. Một số nội
dung được nói với thế giới bên ngoài lại mờ đi hoặc biến mất khi truyền thông
chính thống trong nước đăng tải. “Giáo dục khai phóng” được nhắc đến rồi nhanh
chóng bị đặt dưới sự cảnh giác, một phần vì khái niệm liberal education từng
gắn với truyền thống giáo dục miền Nam trước năm 1975. Một tư tưởng đáng ra phải
được đánh giá bằng giá trị hiện tại lại bị xét hỏi về “lý lịch” lịch sử. Bóng
ma ý thức hệ tiếp tục ngăn đất nước tiếp nhận ngay cả những điều mà chính giới
lãnh đạo biết là cần thiết.
Không có
quốc gia nào ngày nay có thể phát triển tách rời dòng chảy của nhân loại. Dòng
chảy ấy không chỉ gồm vốn, thị trường, kỹ thuật hay dây chuyền sản xuất. Nó còn
bao gồm tự do học thuật, quyền đặt câu hỏi, sự độc lập tương đối của đại học,
tính chuyên nghiệp của báo chí, pháp quyền và khả năng tồn tại của xã hội dân sự.
Việt Nam không thể chỉ lựa chọn những thành quả vật chất của văn minh hiện đại
nhưng từ chối các điều kiện tinh thần và thể chế đã sản sinh ra những thành quả
ấy.
Mong muốn
có một chuyến thăm cấp nhà nước tới Washington không có gì sai. Mở rộng quan hệ
với Hoa Kỳ và phương Tây cũng phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam.
Nhưng quan hệ đối tác thế kỷ XXI không chỉ được xây dựng bằng nghi lễ ngoại
giao hay những hợp đồng nhiều tỷ đôla. Một Việt Nam có sức hấp dẫn phải là Việt
Nam mà đối tác có thể tin cậy, người dân có thể thở, trí thức có thể nói và
doanh nghiệp không phải dò tìm giới hạn chính trị sau mỗi quyết định chuyên
môn.
4.-
“Nói một đằng, làm một nẻo” – Căn bệnh của hệ thống
Tô Lâm kết
thúc diễn văn bằng yêu cầu khắc phục tình trạng “chủ trương đúng nhưng thể chế
hóa chậm, tổ chức thực hiện không nghiêm”. Có lẽ ông cần bổ sung một căn bệnh
còn nghiêm trọng hơn: Chủ trương nói theo hướng khai mở, nhưng quyền lực
lại vận hành theo quán tính khép kín. Khi ấy, vấn đề không còn là khoảng
cách giữa nghị quyết và thực thi, mà là xung đột ngay trong chính hệ thống: Một
bên muốn phát triển bằng tri thức và hội nhập; bên kia tiếp tục bảo vệ quyền lực
bằng kiểm soát và sợ hãi.
Đất nước
và dân tộc Việt Nam còn phải trầm luân đến bao giờ trong nghịch lý ấy?
Bao giờ
người đứng đầu mới nhận ra rằng không thể vừa mời gọi thế giới đến hợp tác, vừa
bóp nghẹt không gian tinh thần ở trong nước; không thể vừa nói về khai phóng, vừa
để xã hội ngập trong đấu tố; không thể vừa kêu gọi củng cố niềm tin, vừa khiến
người dân chứng kiến cảnh quyền lực nói một đằng, làm một nẻo?
Bốn bước
chuyển chiến lược rồi sẽ chỉ còn là bốn công thức diễn văn, nếu không có bước
chuyển quan trọng nhất: Từ cai trị bằng nỗi sợ sang kiến tạo bằng tự
do, pháp quyền và lòng tin.
__________
Tham khảo:
(2) https://baotiengdan.com/2026/07/11/xa-hoi-se-tu-te-kieu-gi-khi-hoan-luu-nhung-cuoc-dau-to-tro-lai/
(3) https://baotiengdan.com/2026/07/20/phan-trung-can-lai-khoe-dot/
No comments:
Post a Comment