Công lao của vua Bảo
Đại và Hoàng hậu Nam Phương
Trương Nhân Tuấn
23/07/2026
https://baotiengdan.com/2026/07/23/cong-lao-cua-vua-bao-dai-va-hoang-hau-nam-phuong/
Khi nói về
“công lao” của một vị vua, chúa ngày xưa hay một nhân vật chính trị thời nay,
người ta thường đánh giá theo tiêu chuẩn: Vị vua, tổng thống, chủ tịch, hoàng hậu
hay công chúa ấy đã làm được điều gì có ích cho đất nước và dân tộc?
Lịch sử Việt
Nam từ trước đến nay phần lớn được viết trên nền tảng ấy. Theo đó, công lao lớn
nhứt của một người thường được xem là bảo vệ biên cương lãnh thổ, hoặc mở rộng
bờ cõi của quốc gia. Sau đó mới đến công lao của các vị võ tướng, những người
có công chống giặc ngoại xâm.
Tiếp theo
là các bậc văn nhân, những người đóng góp cho kho tàng văn hóa dân tộc. Những vị
quan trung liệt, thà chết chứ không đầu hàng giặc, cũng được sử sách ghi danh.
Trong khi đó, những vị quan thương dân, hết lòng bảo vệ dân chúng lại ít khi được
sử sách nhắc đến. Nếu họ còn được hậu thế nhớ tên thì phần nhiều là nhờ lòng biết
ơn của nhân dân, được dân lập đền miếu để thờ phụng. Sau cùng mới nói đến tài
năng “kinh bang tế thế”.
Tình hình
là vụ “đấu tố” vua Bảo Đại nay đã “vượt biên giới mạng” và đã lên báo lớn
“trang nhứt cột một”.
Cá nhân
tôi đã nhiều lần viết bài phê phán di sản chính trị của Bảo Đại. Tôi cũng từng
viết về những đóng góp của ông đối với đất nước Việt Nam. Đặc biệt, tôi cho rằng
Bảo Đại có công rất lớn đối với Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo
quan điểm của tôi, nếu Bảo Đại có ý chí chính trị như Quốc vương Sihanouk của
Campuchia thì không bao giờ ông Hồ “cướp” được chánh quyền thành công và sẽ
không bao giờ có ngày “Độc lập 2-9-1945”.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/07/1-69.jpg
Vua Bảo
Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Ảnh chụp màn hình từ Mạnh Hải Flickr
Trong bài
viết này, tôi muốn đề cập thêm vai trò của Bảo Đại đối với vấn đề lãnh thổ.
Theo tôi, công lao lớn nhứt của ông là góp phần đưa Nam Kỳ trở lại lãnh thổ Việt
Nam sau khi vùng đất này đã bị nhượng cho Pháp theo Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862
và sau đó địa vị thuộc địa tiếp tục được củng cố trong Hiệp ước [Patenôtre] năm
1884. Công lao khác của Bảo Đại là việc sáp nhập Hoàng triều cương thổ vào lãnh
thổ Quốc gia Việt Nam.
Công cuộc
vận động đưa Nam Kỳ trở lại Việt Nam kéo dài từ năm 1945 đến năm 1949. Nam Kỳ
(Cochinchine) là thuộc địa của Pháp sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) và Giáp Thân
(1884). Trong khi Bắc Kỳ và Trung Kỳ là các xứ bảo hộ, Nam Kỳ chịu chế độ thuộc
địa trực tiếp. Vì vậy, việc thống nhứt Nam Kỳ với phần còn lại của Việt Nam là
một bài toán ngoại giao vô cùng gian nan. (Gian nan kiểu Đức phải bó tay nhượng
vĩnh viễn cho Pháp vùng Alsace-Lorraine).
Sau cuộc đảo
chính Pháp của Nhật ngày 9-3-1945, Bảo Đại ban hành Tuyên ngôn Độc lập ngày
11-3-1945, tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ với Pháp. Sau đó, ông bổ nhiệm
Chính phủ Trần Trọng Kim và liên tục yêu cầu phía Nhật trao trả Nam Kỳ cùng ba
thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng vốn nằm dưới chế độ nhượng địa của Pháp.
Đến ngày
14-8-1945, chỉ một ngày trước khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Nhật đồng
ý trao trả Nam Kỳ cho Chính phủ Đế quốc Việt Nam. Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn
Xuân được cử vào Sài Gòn để tiếp nhận việc chuyển giao. Về mặt danh nghĩa, đây
là lần đầu tiên sau hơn 80 năm, Nam Kỳ được đặt trở lại dưới chính quyền Việt
Nam.
Một đóng
góp khác của Bảo Đại đối với Hồ Chí Minh là việc ông thoái vị ngày 30-8-1945,
trao ấn kiếm cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chấp nhận trở thành “một
công dân của một nước độc lập”. Tuy nhiên, tình hình nhanh chóng thay đổi khi
quân Đồng minh giải giáp quân Nhật và Pháp từng bước quay trở lại Đông Dương.
Để xây dựng
một chính quyền có tính chính danh đối trọng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Pháp ký Thỏa ước Hạ Long năm 1948 và mời Bảo Đại đứng đầu Quốc gia Việt
Nam với cương vị Quốc trưởng. Trong vai trò này, Bảo Đại kiên trì yêu cầu Pháp
công nhận nền độc lập của Việt Nam và trao trả Nam Kỳ.
Ngày
8-3-1949, Hiệp định Élysée được ký kết. Tiếp đó, Quốc hội Pháp thông qua đạo luật
chấm dứt quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, tạo cơ sở pháp lý để sáp nhập vùng đất
này vào Quốc gia Việt Nam.
Ngày 4-6-1949, Pháp chính thức chuyển giao Nam Kỳ
cho Quốc gia Việt Nam.
Đây là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành một quốc gia Việt
Nam thống nhất về mặt pháp lý dưới chính thể Quốc gia Việt Nam.
Năm 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu đại diện Quốc gia
Việt Nam tham dự Hội nghị Hòa bình San Francisco với tư cách một quốc gia tham
chiến chống Nhật. Tại hội
nghị, ông tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Tuyên bố này không gặp sự phản đối trực tiếp nào từ các đoàn đại biểu tham
dự hội nghị.
Tóm lại,
trong bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp sau Thế chiến II, việc vận động để chấm
dứt quy chế thuộc địa của Nam Kỳ và thống nhất lãnh thổ Việt Nam là một tiến
trình ngoại giao đầy khó khăn. Theo quan điểm của tôi, đây là một trong những
đóng góp quan trọng của Bảo Đại. Nếu không có tiến trình ấy, Nam Kỳ hoàn toàn
có thể tiếp tục tồn tại như một thuộc địa của Pháp hoặc phát triển thành một thực
thể chính trị riêng biệt dưới ảnh hưởng của Pháp.
(Xem tiếp
bài sau về đất Hoàng triều Cương thổ và công lao của hoàng hậu Nam phương)
_______
Ghi
chú: Bài
viết trên đã được BTV Tiếng Dân kiểm chứng (fact check) một số chi tiết và biên
tập lại cho rõ nghĩa hơn.
No comments:
Post a Comment