Cần bao nhiêu Chỉ thị
07 mới dẹp được “kiêu binh”?
Trần Đông A
24/07/2026
https://baotiengdan.com/2026/07/24/can-bao-nhieu-chi-thi-07-moi-dep-duoc-kieu-binh/
Lịch
sử hiện đại Việt Nam cho thấy việc ban hành các chỉ thị chưa bao giờ là điều
khó (1). Nan đề thách thức hơn nhiều là xây dựng một trật tự trong đó người dân
được quyền khác biệt mà không bị quy kết, trí thức được phản biện mà không phải
tự kiểm duyệt, cán bộ không cần đoán ý cấp trên để chứng minh lòng trung thành.
Khi ấy, “kiêu binh” sẽ tự mất đất sống.
1.
“Kiêu binh” không phải tự nhiên sinh ra
Trong chiến
tranh, việc huy động xã hội thường bắt đầu bằng sự phân định tương đối rõ ràng
giữa ta và địch. Khi chủ quyền quốc gia bị đe dọa, kẻ thù có thể được nhận diện
từ bên ngoài: Đó là lực lượng xâm lược, là bộ máy chiến tranh ngoại bang, là mối
nguy đang hiện hữu đối với sự tồn vong của đất nước. Trong hoàn cảnh ấy, sự tập
trung quyền lực, kỷ luật nghiêm ngặt và ngôn ngữ chiến đấu có thể được giải
thích bằng những đòi hỏi đặc biệt của thời chiến.
Nhưng chiến
tranh kết thúc không có nghĩa tư duy thời chiến cũng tự động kết thúc. Một hệ
thống đã tồn tại lâu dài bằng động viên chính trị, phân tuyến lực lượng và xác
định “đối tượng đấu tranh” có thể gặp khó khăn khi phải chuyển sang quản trị một
xã hội thời bình ngày càng đa dạng. Khi kẻ thù bên ngoài không còn là trung tâm
thường trực của đời sống chính trị, nhu cầu duy trì trạng thái huy động rất dễ
dẫn đến việc tìm kiếm những “kẻ thù” mới ngay trong lòng xã hội, thậm chí ngay
trong nội bộ của chính hệ thống.
Đây là một
trong những nghịch lý lớn của lịch sử Việt Nam hậu chiến. Những tiếng nói bị
nghi ngờ, quy kết hoặc trừng phạt nhiều khi không đến từ các lực lượng muốn chống
lại đất nước, mà từ những người cầm bút, những trí thức, nhà báo và văn nghệ sĩ
vốn vẫn sống và làm việc trong cùng một trật tự chính trị. Chính vì tư duy độc
lập là điều kiện nghề nghiệp của họ, họ cũng thường là lớp người sớm nhận ra
khoảng cách giữa giáo điều và thực tế, giữa diễn ngôn chính thức và những biến
đổi thực sự của xã hội.
Từ Nhân
văn–Giai phẩm đến các vụ án văn nghệ liên quan tới Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng
Cầm, Phùng Quán, Trần Dần, Việt Phương hay Hoàng Cát, có thể nhận thấy một mô
thức lặp lại (2). Một tác phẩm trước hết bị quy kết là lệch lạc về tư tưởng; tiếp
đó, tranh luận văn chương được nâng thành vấn đề lập trường chính trị; rồi từ
phê bình tác phẩm chuyển sang xét đoán phẩm chất, động cơ và lòng trung thành của
tác giả. Văn học, thay vì được xem là không gian khám phá con người, trở thành
nơi tiến hành những cuộc sát hạch về ý thức hệ.
Điều đáng
sợ nhất trong cơ chế ấy không phải lúc nào cũng là một mệnh lệnh được ký và
đóng dấu. Như FB Nguyễn Thông nhắc lại khi viết về những vụ án văn nghệ trước
đây, trong một bộ máy dựa nhiều vào tín hiệu chính trị, “lệnh miệng” đôi khi
còn đáng sợ hơn văn bản. Cấp dưới không cần được yêu cầu phải đi tới đâu; họ tự
đoán giới hạn, tự nâng mức độ quyết liệt và tìm cách chứng minh rằng mình trung
thành hơn, cảnh giác hơn, kiên định hơn người khác.
Đó chính
là mảnh đất sinh ra “kiêu binh”: Một thứ kiêu ngạo của những người tin rằng họ
đang đứng ở phía duy nhất đúng của lịch sử, được quyền phán xét người khác nhân
danh quá khứ, biểu tượng và lòng trung thành. Họ không chỉ bảo vệ một quan điểm.
Họ tự đặt mình vào vị trí người canh giữ chân lý, từ đó coi mọi cách đọc khác,
mọi ký ức khác và mọi cố gắng nhìn lại lịch sử đều có thể là biểu hiện của suy
thoái, phản bội hoặc “lật sử”.
Vụ Chuyện
với Thanh cho thấy mô thức ấy chưa hề biến mất (3). Cuốn sách ban đầu
được giới thiệu rộng rãi, được nhiều cơ quan báo chí và một số nhân vật văn hóa
đánh giá tích cực. Nguyễn Quang Thiều từng công khai khuyến nghị người trẻ đọc
tác phẩm. Nhưng sau khi làn sóng lên án xuất hiện, nhiều bài báo đã bị gỡ bỏ;
Nhà xuất bản Hội Nhà văn bị xử phạt, đình chỉ hoạt động và buộc tiêu hủy sách;
rồi cuộc tranh luận nhanh chóng chuyển thành một chiến dịch truy tìm trách nhiệm
của những người từng giới thiệu, biên tập hoặc bày tỏ thiện cảm với cuốn sách.
Đáng chú ý
hơn, làn sóng ấy không dừng lại ở Nguyễn Thành Nam. Trong những ngày gần đây, một
số tài khoản và kênh mạng xã hội đã lôi lại tiểu thuyết Đức Thánh Trần của
nhà văn Trần Thanh Cảnh, đặt nó bên cạnh Chuyện với Thanh và Nỗi
buồn chiến tranh, rồi sử dụng những trích đoạn gây tranh cãi để quy kết một
xu hướng “xuyên tạc lịch sử” trong văn học. Từ phê phán một cuốn sách, họ mở rộng
sang xét lại nhiều tác phẩm đã xuất bản từ trước; từ công kích tác giả, họ chuyển
sang đòi xử lý Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, vì vai trò của
ông trong đời sống xuất bản và vì những nhận xét tích cực trước đây đối với Chuyện
với Thanh.
Chưa có đủ
bằng chứng công khai để khẳng định toàn bộ các hoạt động ấy được tổ chức từ một
trung tâm hay theo một mệnh lệnh thống nhất. Nhưng khuynh hướng của nó đã khá
rõ: Vụ án một cuốn sách đang được dùng làm bàn đạp để mở rộng phạm vi thanh lọc,
gây sức ép lên Hội Nhà văn và tiến tới hạ bệ một nhân vật đang giữ vị trí quan
trọng trong đời sống văn chương chính thống. Nguyễn Quang Thiều trở thành mục
tiêu không hẳn vì ông là người viết Chuyện với Thanh hay Đức
Thánh Trần, mà vì ông tượng trưng cho một không gian văn học còn cố gắng mở
cửa cho những cách thể hiện khác nhau về lịch sử và con người.
Bởi vậy, gọi
đây chỉ là sự quá khích tự phát của một nhóm “bò đỏ” có lẽ vẫn chưa đủ. Đằng
sau nó là một cơ chế chính trị và tâm lý đã tồn tại dai dẳng: khi quyền xác định
chân lý tập trung vào một phía, mỗi người đều có động cơ chứng minh rằng mình bảo
vệ chân lý ấy quyết liệt hơn người khác. Càng thiếu những giới hạn pháp lý rõ
ràng, phong trào càng dễ vượt khỏi phạm vi ban đầu. Càng thiếu tự do tư tưởng
và các thiết chế tranh luận độc lập, phê bình càng dễ biến thành đấu tố, còn bảo
vệ lịch sử càng dễ biến thành săn lùng những người có cách nhìn khác.
Vì thế,
“kiêu binh” không tự nhiên sinh ra từ mạng xã hội. Mạng xã hội chỉ cung cấp cho
nó một tốc độ mới và một quy mô mới. Cội nguồn sâu xa hơn nằm trong một truyền
thống quản trị vẫn thường xuyên dùng tư duy chiến tuyến để giải quyết những
khác biệt của thời bình. Khi mọi bất đồng đều có thể bị chuyển hóa thành câu hỏi
“ai đứng về phía nào”, xã hội sẽ không bao giờ thực sự bước ra khỏi chiến
tranh, cho dù tiếng súng đã im từ nhiều thập niên trước.
2.
Muốn dẹp “kiêu bình”, phải từ bỏ tham vọng độc quyền chân lý
Nhìn lại
toàn bộ diễn biến từ Chuyện với Thanh đến những cuộc công kích
đang lan sang Đức Thánh Trần, Nỗi buồn chiến tranh và
cả Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, có thể thấy đây không còn
là câu chuyện của một cuốn sách hay một vài tác giả. Điều đang được thử thách
chính là khả năng của một xã hội chấp nhận sự khác biệt trong cách nhìn về lịch
sử và con người.
Chỉ thị 07
có thể góp phần chấn chỉnh kỷ luật trong hệ thống. Nhưng sẽ rất khó kỳ vọng bất
kỳ chỉ thị nào có thể chấm dứt một hiện tượng được nuôi dưỡng bởi chính cơ chế
vận hành của đời sống tư tưởng (4). Khi việc bảo vệ một biểu tượng được đồng nhất
với việc triệt tiêu mọi cách diễn giải khác, khi phản biện dễ bị quy thành chống
đối, còn lòng trung thành được đo bằng mức độ quyết liệt trong việc lên án người
khác, thì “kiêu binh” sẽ còn tự tái sinh dưới những hình thức mới.
Đó là lý
do câu hỏi đặt ra không phải Chỉ thị 07 có đủ nghiêm hay không, mà là vì sao
sau rất nhiều nghị quyết, quy định và chỉ thị về xây dựng Đảng, những hiện tượng
như vậy vẫn liên tục lặp lại. Nếu nguyên nhân chỉ nằm ở một vài cá nhân quá
khích thì xử lý cá nhân là đủ. Nhưng nếu nguyên nhân nằm ở một cơ chế luôn khuyến
khích người ta chứng minh lòng trung thành bằng cách đoán ý cấp trên và giành lấy
quyền phán xét người khác, thì mọi giải pháp thuần túy hành chính sẽ chỉ xử lý
được phần ngọn.
Một nhà nước
hiện đại không mạnh vì độc quyền chân lý. Sức mạnh của nhà nước nằm ở khả năng
tạo lập những thiết chế để các quan điểm khác nhau được kiểm nghiệm bằng tranh
luận công khai, bằng pháp luật và bằng trách nhiệm giải trình (5). Chính tự do
tư tưởng tạo điều kiện cho chân lý được phát hiện. Chính nhà nước pháp quyền tạo
ra giới hạn mà không ai được phép vượt qua, dù nhân danh bất kỳ lý tưởng nào.
Và chính xã hội dân sự giúp hấp thụ những khác biệt trước khi chúng biến thành
đối đầu chính trị.
Lịch sử
cho thấy, những xã hội phát triển bền vững không phải là những xã hội không có
tranh luận, mà là những xã hội biết quản trị tranh luận bằng luật pháp thay vì
bằng các chiến dịch. Muốn chấm dứt tình trạng “kiêu binh”, trước hết phải chấm
dứt tư duy độc quyền chân lý. Chừng nào chân lý vẫn được mặc nhiên trao cho một
nhóm người hoặc một hệ tư tưởng duy nhất, chừng đó sẽ còn những “cuộc săn lùng
phù thủy”, những “vụ án văn chương” mới và những Chỉ thị 07 mới.
Bởi vậy,
câu hỏi của bài viết này có lẽ sẽ còn ở lại rất lâu sau khi những tranh cãi hiện
nay lắng xuống: Một quốc gia cần bao nhiêu Chỉ thị 07 nữa để giải quyết
một vấn đề mà gốc rễ của nó không nằm ở sự thiếu kỷ luật, mà nằm ở việc thiếu
những nền tảng thể chế cho phép xã hội chung sống với sự khác biệt?
_________
Chú
thích:
(2) https://baotiengdan.com/2026/07/22/an-van-ky-6-nhac-si-le-lan-va-ca-khuc-khoc-lanh-tu/
·
Án văn – Kỳ 6: Nhạc sĩ Lê Lan và ca khúc khóc lãnh tụ 22/07/2026
·
Án văn – Kỳ 5: Vòng trắng và Sẹo đất 22/07/2026
·
Án văn – Kỳ 4: Hai trận tuyến, Phá vây, Nhãn đầu mùa 22/07/2026
·
Án văn – Kỳ 3: Việt Phương và Hoàng Cát 22/07/2026
·
Án văn – Kỳ 2: Chuyện cũ như mới 22/07/2026
·
Án văn – Kỳ 1: Xưa và nay đều bi thảm 22/07/2026
(5) https://plato.stanford.edu/entries/habermas/
No comments:
Post a Comment