Nguyễn Thọ / Báo Tiếng Dân
14/04/2026
https://baotiengdan.com/2026/04/14/tai-sao-hungary-va-ba-lan/
Anh
bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên
khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh
chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành viên Ủy ban giám sát Quốc tế
hiệp định Geneve ICS [2]. Từ tháng 3/1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham
gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà
nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.
Ai
có thể tưởng tượng rằng trước tháng 4/1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không
MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air
America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary
mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ)
đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ
thành Varsovie xa lạ.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/04/2-7-1055x1536.jpg
Cô
Malgorzata Pajak-Stormka (sau này về hưu với chức vụ trung tá Quân đội Nhân dân
Ba Lan) lúc đó là thư ký phái đoàn Ba Lan đang ăn phở tại Sài Gòn 1966. Nguồn:
Poland’s Footprint in Vietnam
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/04/1-53.jpg
Một
sĩ quan Hungary tại miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975. Nguồn: Internet via
Thọ Nguyễn
Cả
hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy
ban giám sát phải cùng được các nước chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản
được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Độ là nước trung lập
thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt
Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba
Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.
Năm
1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia,
Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó
chính quyền của vua Palevi (Pahlavi) là đệ tử ruột của Mỹ.
Sự
hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng
như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất
lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.
Vậy
tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt
Nam?
Đó
chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai
nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN
khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông
nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là
đất sống cho giáo hội Thiên Chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ
Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức
mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.
Ở
Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông
nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp
Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương Tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn
định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.
Ở
Ba Lan 100% giáo dân theo đạo Thiên Chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở
Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự
khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử
án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.
Cuộc
nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungary dưới sự lãnh đạo của
thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng
bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“
và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964, Vatican và
Budapest đã nói chuyện với nhau.
Hè
1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh
Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng
kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang
đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương Tây có mặt trong
nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh
trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm
nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi.
Đó
có lẽ sự tác động của dòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước
ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã
gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng
tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng
hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.
Hồ
Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như
Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra
bên hồ này.
Những
khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai
phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm
quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như
vậy, nếu không muốn đổ bể.
Và
chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó
đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu
nhiên mà từ năm 1973 Ba Lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat
Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương
Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước
đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu.
Cả
người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải
cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị
bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ
đêm 9.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.
Một
yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này
đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà
tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan
tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ,
hai ông đã giãi bày với nhau.
Chủ
nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực
đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà
Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn
công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong
quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát
quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.
Vấn
đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng
tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành
công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ
ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.
Việc
Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội, thể hiện ý chí của người dân, phải bằng
mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người
Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.
Tất
nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền
dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực
đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le
Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.
Chẳng
có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.
Nhưng
tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại
có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.
_____
[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io
[2]
Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of
Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan
[3]
Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of
Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia.
Sau này Iran thay Canada.
No comments:
Post a Comment