“Hồi
chuông tắt lửa” và cái nhìn hiện tượng luận
Huỳnh
Như Phương
CẬP NHẬT NGÀY: 21 THÁNG MỘT, 2022 LÚC 18:18
https://vanvn.vn/hoi-chuong-tat-lua-va-cai-nhin-hien-tuong-luan-2/
Vanvn- Hồi chuông tắt lửa là một
cuốn truyện vừa của nhà văn Thế Nguyên(1) hoàn thành tháng 8
năm 1963 và được công bố lần đầu ở Sài Gòn năm 1964. Theo chúng tôi, đây là một
trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975,
nhưng chưa được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm thích đáng. Tác giả là một trí
thức Công giáo khuynh tả chịu ảnh hưởng của tư tưởng thần học giải phóng và một
số quan niệm mỹ học phương Tây, trong đó có chủ nghĩa hiện sinh và hiện tượng
luận, vốn được giới thiệu ở miền Nam vào những năm 60 thế kỷ trước như một lý
thuyết mỹ học và một kỹ thuật
miêu tả trong sáng tạo văn học.
https://vanvn.vn/wp-content/uploads/2022/01/The-Nguyen-ky-hoa-Nguyen-Dong-vanvn-.jpg
Nhà văn Thế Nguyên
(1942-1989). Ký họa của Nguyễn Đồng
Bài viết này bước đầu soi chiếu vào thế giới
nghệ thuật của tác phẩm Hồi chuông tắt lửa từ quan điểm hiện
tượng luận của Husserl và Merleau-Ponty để phân tích cái nhìn và kỹ thuật miêu
tả của nhà văn về vấn đề số phận con người với kinh nghiệm ở đời giữa những biến
thiên của lịch sử dân tộc và tôn giáo. Vận dụng hiện tượng luận, trong trường hợp
này, chúng tôi cũng muốn đào sâu ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm từ sự phân tích của
người đọc, theo tinh thần tác phẩm là đối tượng thẩm mỹ cho một ý thức tiếp nhận.
*
Chuyên đề Văn học
miền Nam trước năm 1975:
>>
Nguyễn Vỹ và vai trò cách tân thơ Việt hiện đại
>> Một lần với nhà
thơ Du Tử Lê
>> Nguyễn Văn
Xuân đời văn đời người
>> Đông
Trình – Người đi “giữa thực và mơ”
>> Nguyễn
Văn Trung và thái độ trí thức
>>
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với nỗi buồn sương khói của mùa thu
>>
Chối bỏ hệ giá trị và tính ý hướng… “Mù khơi” của Thanh Tâm Tuyền
>>
Có một nhà văn của tuổi trẻ và bản ngã đam mê
>> Hoàng Ngọc
Biên – quê hương, người về
*
MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC
TẠO DỰNG
Câu chuyện của Hồi chuông tắt lửa khởi
đầu bằng việc nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” nhận lời mời của một vị linh
mục tham gia giảng dạy cho một trường trung học mới mở trong một xứ đạo ở một
vùng quê thời kháng chiến chống Pháp. Từ đây bắt đầu những kinh nghiệm tại thế
với những quan hệ chính trị, tôn giáo, tình yêu và tính dục mà nhân vật đó trải
qua trong tương giao với những con người ở xứ đạo.
Chính trong những ngày ấy, nhân vật xưng “tôi”
đã lần lượt rơi vào những tình huống tưởng chừng như mê cung không lối thoát. Ở
đó, anh ta đã trải qua hai cuộc tình thoáng qua với một cô gái quê và một cô
giáo đồng nghiệp cùng trường. Cô giáo này là bạn thân của người em gái vị linh
mục, cả hai đều từng ở trong một dòng tu và chứng kiến cái chết bí ẩn của một
người nữ tu khác. Người em gái này về sau mang thai với M., một tu sĩ rời bỏ chủng
viện để hoạt động chính trị bí mật, và đã từ trần vì sinh non.
Cuộc sống ở xứ đạo với nhà thờ và ngôi trường
được sắp xếp ổn định dưới bàn tay của cha T. Các tu sĩ và tín đồ ngoan đạo làm
tròn bổn phận của mình. Thầy giáo, cô giáo chu toàn nhiệm vụ dạy học. Học trò,
trong đó có đứa con đỡ đầu của cha T. là thằng Ánh, học hành tiến bộ, cả về kiến
thức lẫn đạo đức, vì “việc học là cần thiết, nhưng giáo dục không phải chỉ
nguyên rèn luyện đầu óc cho thông thái”(2).
Có thể nói, trong ý định chủ quan của mình,
cha T. có ý hướng tạo dựng một xứ đạo lành thánh, ở đó những thế hệ tín đồ kế
thừa và tiếp nối truyền thống trong một cuộc sống hoà hợp. Điều mâu thuẫn là để
đạt được mục đích ấy, cha T. đã phải che giấu những điều khuất tất, xoá vết những
tội lỗi để khoả lấp những nghi ngờ của các giáo dân.
Thế giới tưởng chừng phẳng lặng đó ẩn chứa những
cơn sóng ngầm chỉ chờ cơ hội là bùng nổ. Mối tình tay ba của những người đồng
nghiệp dẫn đến xung đột giữa nhân vật “tôi” và K., ngay lúc anh này vừa đính
hôn với cô giáo. Bầu không khí trở nên căng thẳng hơn nữa khi K. nghi ngờ rằng
Ánh là kết quả mối quan hệ bí mật giữa cô giáo và cha T.
Đỉnh điểm của xung đột là khi có sự xuất hiện
của M., người từng gây ra những vụ mưu sát tàn bạo trước đôi mắt kinh hoàng của
các nạn nhân. M. gặp cha T. trong toan tính nhờ sự giúp đỡ của ông để trốn
thoát khỏi vùng đất do những người kháng chiến kiểm soát. Theo kế hoạch được sắp
xếp, ông Bô Khương, một tín đồ mất trí, bị đưa ra xét xử chỉ vì tội ăn cắp vặt,
nhằm thu hút sự chú ý của mọi người tại phiên toà, để M. dễ bề tẩu thoát.
Nhưng M. không chịu ra đi một mình. Ông ta tìm
cách tra vấn bí mật mà chỉ cha T. và cô giáo nắm rõ, để biết sự thật rằng thằng
Ánh là đứa con của ông với cô giáo. M. cướp thằng Ánh trong tay cô giáo để xuống
một con đò đang đợi sẵn ở bến sông. Bị người du kích phát hiện, M. chứng kiến
viên đạn kết liễu cuộc đời của Ánh thay cho chính ông ta.
Toàn bộ câu chuyện được gói trọn chỉ trong 100
trang sách ngắn, in chữ cỡ lớn, từ từ mở ra một thế giới khép kín trong lòng một
đất nước tao loạn. Đó là thế giới được tái hiện với những bí ẩn của nó, đồng thời
cũng là một thế giới được tạo dựng dưới kỹ thuật miêu tả của nhà văn.
Theo hiện tượng luận, thế giới đã hình thành
và ý thức của con người về thế giới cũng hình thành cùng một lúc với kinh nghiệm
của ta, trong hiện hữu tại thế của ta(3). Merleau-Ponty viết: “Thế
giới gắn liền với chủ thể mà chủ thể không gì khác hơn là dự phóng của thế giới,
và chủ thể cũng không tách rời với thế giới do chính chủ thể dự phóng nên. Chủ
thể là hữu thể tại thế còn thế giới luôn mang tính chủ thể”(4). Thế
giới Hồi chuông tắt lửa đã được tạo dựng cùng lúc với ý thức của
nhân vật xưng “tôi” hình thành trong kinh nghiệm mà anh ta thu thập được và tìm
cách bày tỏ kinh nghiệm đó với tha nhân.
Cũng theo nhãn quan hiện tượng luận, sự phân
tích và giải thích không quan trọng bằng sự miêu tả. Trong Hồi chuông tắt
lửa, Thế Nguyên không sa vào phân tích tâm lý như tiểu thuyết có cốt
truyện tình cảm, cũng không lý giải và định hướng cho người đọc như tiểu thuyết
có cốt truyện giáo dục. Ông miêu tả hiện tượng như người ta bóc những lớp vỏ của
một củ hành để từng bước chạm vào cái hạt nhân bí ẩn bị che giấu. Nhưng nhà tiểu
thuyết cũng không có tham vọng của một nhà văn hiện thực chủ nghĩa, tin rằng
cái tôi nghệ sĩ có khả năng khám phá bản chất và quy luật của đời sống như nó vốn
có.
Hồi chuông tắt lửa thuộc khuynh hướng tiểu thuyết đề cao cái sống thực. Trong tác phẩm, yếu
tính của sự vật không phải là cái gì tự nó mà chỉ bộc lộ ra trong quan hệ hỗ
tương với ý thức. Ở đây có một nghịch lý thú vị này: một mặt, Hồi
chuông tắt lửa không nhằm tái hiện một thực tại có sẵn mà là triển
khai việc khám phá một sự thực; mặt khác cuốn tiểu thuyết giả định rằng cả tác
giả lẫn người đọc, nói theo ngôn ngữ của Husserl, chỉ đạt tới và nắm bắt những
hiện tượng trong thế giới của kinh nghiệm sống, chứ không thể nào vươn tới bản
chất của nó. Thoạt nhìn, dường như đó là một bước lùi so với chủ nghĩa hiện thực,
nhất là tác phẩm hiện thực qua tiêu điểm zéro, trong đó người trần thuật có điểm
nhìn bên trên như điểm nhìn của Thượng đế đối với các nhân vật của mình, nhờ đó
mà hiểu biết thông suốt tất cả mọi sự, khiến nhân vật không thể che giấu được
điều gì, ngay cả những động cơ thầm kín của nó.
Thật không dễ chấp nhận với một số người khi
nhận xét rằng một “chủ nghĩa hiện thực” nào đó có thể là biến tướng của thế giới
quan duy tâm, khi mà thực tại được tái hiện chẳng khác nào một mô hình được cấu
tạo theo chính tâm trí của con người. Càng không dễ chấp nhận khi nhận xét rằng
hiện thực khả tín nhất không phải là “hiện thực mãn nguyện” mà là hiện thực chứa
đựng những yếu tố hoài nghi. Về một khía cạnh nào đó, hiện tượng luận tỏ ra tôn
trọng “hiện thực”, vì nó xoá bỏ định kiến cho rằng cái tôi là trung tâm của
chân lý nội tại thay vì chỉ là một chủ thể gắn liền với thế giới.
Vậy thế giới đã được tạo dựng trong Hồi
chuông tắt lửa như thế nào?
Đó là thế giới của những bí ẩn chồng lên bí ẩn.
Bí ẩn trong gia đình của cha T., nơi có một người con gái mang hoang thai đã
chôn vùi tuổi thanh xuân của mình trong tình yêu mù quáng. Bí ẩn trong cuộc đời
chị Agnès, người nữ tu hoá điên khi đối mặt với cái bóng đen ngoài vườn tu viện.
Bí ẩn trong mối quan hệ tay ba của cô giáo, nhân vật “tôi” và K. Bí ẩn trong
lai lịch và hành tung của M., đảng viên Quốc dân đảng đang bị chính quyền kháng
chiến truy lùng. Bí ẩn trong nguồn gốc và tính cách của thằng Ánh. Bí ẩn trong
hành động và động cơ của cha T. Bí ẩn trong cuộc đời và số phận của Bô Khương.
Bí ẩn về con vạc mồi của bõ Khản…
Nhưng bí ẩn không phải là bí ẩn tự nó. Bí ẩn
bao giờ cũng nằm trong tương quan với một cá thể. Bí ẩn với người này có thể là
điều dễ hiểu đối với người kia. Đồng thời, bí ẩn luôn có thể gây ra hoài nghi
và ngộ nhận. Cốt truyện của Hồi chuông tắt lửa là cốt truyện của
những hoài nghi và ngộ nhận được xâu chuỗi. Tác giả, thông qua điểm nhìn của
người kể chuyện, lần lượt vén màn những bí ẩn đó và giải toả những ngộ nhận.
Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, với sự “giúp đỡ” của nhân vật K., đã dần dần
chiếu những tia sáng mong manh vào thế giới mờ đục của câu chuyện Hồi
chuông tắt lửa.
Hiện tượng luận quan niệm thế giới cũng như
sinh hoạt tại thế của ta có tính chất mờ đục, không thể thấu hiểu. Thế giới mờ
đục trước hết là vì thế giới bị che giấu: cả chị Agnès, cả người em gái của cha
T. và cô giáo đều che giấu mối tình bi đát của mình trong câm lặng. Cha T. che
giấu tấn thảm kịch của những người phụ nữ, đồng thời che giấu kẻ gây ra nguồn
cơn của tấn thảm kịch đó, để tự mình nhận lấy sự kết án của K.
Thế giới là mờ đục, theo hiện tượng luận, còn
vì con người chỉ có thể nhìn thấy một mặt nào đó của nó. Nói khác đi, thế giới
không phải là một toàn thể mà là một trắc diện qua cái nhìn của mỗi người,
trong từng tình huống cụ thể. Cho nên mờ đục gắn liền với đặc tính của thế giới.
Nhưng bằng lối miêu tả hiện tượng luận cộng với thủ pháp “do thám” của tiểu
thuyết điều tra hình sự, Thế Nguyên đã từng bước phơi bầy sự thật về thế giới
và con người sau những tấm mặt nạ. Có thể nói Hồi chuông tắt lửa biểu
hiện sự giằng co giữa quan niệm tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực và nhãn
quan hiện tượng luận nơi Thế Nguyên.
Trong nhãn quan hiện tượng luận, tiểu thuyết
là một phương thức “trở về với chính thế giới”, như lời kêu gọi của Husserl, và
do đó tự đặt cho nó nhiệm vụ miêu tả sự vật và hiện tượng đã xuất hiện trong
kinh nghiệm sống thực của chủ thể như thế nào. Muốn vậy, chủ thể phải xoá bỏ những
thiên kiến, gạt bỏ những ảo tưởng. Thuật ngữ Reduktion của
Husserl trong tiếng Đức, Réduction trong tiếng Pháp được Trần
Thái Đỉnh dịch là “Giảm trừ”(5), Lê Tôn Nghiêm dịch là “Giản lược”(6),
còn Phạm Công Thiện thì dịch là “Quy hồi”(7). Đằng sau sự khác biệt
này, có thể tìm thấy một điểm kết nối: muốn “quy hồi” để thế-giới-tự-nó trở
thành thế-giới-cho-ta, thì phải giảm trừ hay giản lược những định kiến về thế
giới, “cho nó vào trong ngoặc đơn”.
Lịch sử văn học đã ghi nhận những hình mẫu có
tính lý tưởng về “người tình nhân chung thuỷ”, “người cách mạng hy sinh”, “người
tu sĩ đạo đức”; đồng thời cũng ghi nhận những nỗ lực “phá chấp” để có được cái
nhìn trẻ thơ về thế giới khi nó xuất hiện lần đầu tiên trong kinh nghiệm sống của
chủ thể. Trong Hiện tượng luận về tri giác, Merleau-Ponty nhìn
nhận: “Không có gì khó bằng biết thực đúng cái ta nhìn”(8). Đây càng
là một nỗ lực khó khăn trong bối cảnh của những đố kỵ và định kiến. Boccaccio,
Rabelais… tầm cỡ như vậy mà đã không yên trong bối cảnh văn hoá Phục hưng nhiều
cởi mở huống hồ Thế-Nguyên-tuổi-hai-mươi trong xã hội miền Nam đầy thù hận và cố
chấp giữa những năm 60 thế kỷ trước…
Hiện tượng luận không chấp nhận kinh nghiệm do
tri giác đem lại một cách đương nhiên mà không tìm hiểu, khám phá, sáng tạo.
Kinh nghiệm và tri giác chính là kinh nghiệm và tri giác của tôi, do tôi và cho
tôi. Và ngay khi tôi có kinh nghiệm về thế giới thì cùng một lúc tôi bừng tỉnh
và phản tỉnh về thế giới. Đó là ý nghĩa của luận đề ý thức là ý thức về một đối
tượng và đối tượng là đối tượng cho một ý thức. Kinh nghiệm về thế giới thay đổi
phụ thuộc vào sự thay đổi của chính các hiện tượng, đồng thời với sự thay đổi của
ý thức tôi về hiện tượng đó.
Nếu cha T., ông M. và những người kháng chiến
có thể giữ một trạng thái tinh thần không suy suyển trước mọi sự thật vì họ là
những người “cứng lòng tin”, thì những người như cô giáo, anh K. và nhân vật xưng
“tôi” chắc chắn phải ít nhiều phản tỉnh trước tấn thảm kịch. Có điều Thế Nguyên
không nhằm miêu tả sự phản tỉnh và chuyển biến về tâm lý đó, vì ông không đi
theo cung cách miêu tả của tiểu thuyết truyền thống. Mặc dù không hẳn là chuyện-kể-hành-vi-luận,
trong đó câu chuyện được kể lại bởi một người trần thuật biết ít hơn các nhân vật
của mình, Hồi chuông tắt lửa đã giản lược sự phân tích tư tưởng
và tình cảm của nhân vật. Tác giả kể một câu chuyện về đời người và người đời
mà không truy tìm và cắt nghĩa động cơ của họ. Nhà văn miêu tả mà không lý giải
khiến cho tác phẩm dường như treo lửng mọi phán đoán.
Thế nhưng, về phía những người đọc, chúng ta lại
có nhu cầu cắt nghĩa thế giới và phán đoán những con người trong đó với những động
cơ của họ. Hiện tượng luận không chủ trương giải thích thế giới nhưng lại mở
cánh cửa cho những sự giải thích khác nhau về thế giới và gợi mở cho người đọc
lấp đầy những khoảng trống của văn bản bằng sự tiếp nhận của mình.
Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa là
một thế giới tưởng chừng đạo đức, bình an, lành thánh ở một xứ đạo; đồng thời
cũng là một thế giới che giấu những mưu mô, thủ đoạn, giả dối nên chỉ chờ cơ hội
để bùng nổ. Vì vậy, đó là một thế giới mờ đục, không thể thấu hiểu, con người
chỉ có thể nhìn thấy một trắc diện của nó, nên dễ gây ra ngộ nhận. Tác giả miêu
tả những hành vi ở bề mặt của nhân vật mà không đi sâu phân tích động cơ, tâm
lý, cũng không lý giải và định hướng mà để người đọc tự mình phán xét.
MỘT THẾ GIỚI BỊ SỤP
ĐỔ
Âm mưu của ông M., có sự giúp sức, vô tình hay
hữu ý, của cha T., nhằm cướp đi đứa con với cô giáo – chính là thằng Ánh – trên
đường trốn thoát, đã bất thành khi bị những người kháng chiến phát hiện. Viên đạn
oan nghiệt đã cắm vào ngực thằng bé. Thế Nguyên viết trong đoạn cuối cuốn tiểu
thuyết, khi xác Ánh được đưa từ con đò dưới bến sông về nhà thờ:
“Khi chúng tôi về tới cửa nhà nguyện, cuộc phụng
vụ vừa xong. Cha T. còn quỳ lại sau hồi chuông tắt lửa. Bóng bõ Khản lênh khênh
chụp cái bù đài lên từng ngọn nến. Ánh sáng leo lét nhỏ dần, chặt đôi gương mặt
bõ. Mọi người lục tục rời hàng ghế. Khi thấy chúng tôi, họ dừng cả lại như bất
động. Ngay lúc ấy một làn chớp loé lên. Bóng ông Bô Khương vụt hiện ra rất
nhanh ngoài sân cỏ, mang hình ảnh cứu chuộc thê thảm trên đỉnh đồi Golgotha, đồng
thời với một tiếng sét kinh hoàng. Tôi run rẩy bấu chặt tay vào bờ tường nhìn
xác thằng Ánh xám ngắt loạng choạng trên tay ông M. Đầu cô giáo gục xuống,
gương mặt hoàn toàn nằm trong bóng tối. Dư âm tiếng sét còn lại vang rền. Tôi
nghe chừng cả một khoảng trời cao vừa sụp đổ…”(9).
Trong tác phẩm này, hồi chuông tắt lửa là hồi
chuông cuối ngày thứ sáu tuần thánh, báo hiệu tất cả đèn nến trong giáo đường tắt
dần để tưởng niệm ngày Chúa chịu nạn. Ngẫu nhiên, hồi chuông tắt lửa cũng trùng
hợp với hồi chuông báo tử, cầu nguyện cho linh hồn bé nhỏ của Ánh.
Một thế giới được tạo dựng, với những sự thật
được phát hiện của nó, đã nhanh chóng sụp đổ. Nhưng đây không phải là lần sụp đổ
đầu tiên và duy nhất. Thế giới trong Hồi chuông tắt lửa đã sụp
đổ từng mảng khi mà những hiện tượng được con người tri giác đã dẫn đến sự vỡ mộng;
còn những tương giao đã biến con người thành những công cụ.
Thuộc vào dạng thứ nhất là trường hợp mối quan
hệ của Bô Khương đối với người cha thiêng liêng: một lần chứng kiến hành vi bất
nhẫn của vị cha cố đỡ đầu, ông đã rời bỏ nhà dòng, rơi vào khủng hoảng và mắc bệnh
tâm thần, trở thành kẻ “ném đá” vào thế gian theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Đó cũng là trường hợp ông M. hiện ra vừa như thủ lãnh một nhóm hoạt động bí mật,
vừa như một Don Juan thời hiện đại. Con người có hành tung bí ẩn nhưng cũng có
sức hấp dẫn của một người đàn ông táo bạo đó là nguồn cơn tấn thảm kịch của cả
ba người phụ nữ: Agnès, em gái cha T. và cô giáo. Ba người phụ nữ này, nói cho
cùng, cũng chỉ là phương tiện của M.
Việc Agnès đem vá chằng chịt những mụn vải nhỏ
lên bộ áo dòng khi còn lành lặn không phải là một trò chơi vô nghĩa. Khi chia sẻ
trọn vẹn cái bí mật của hai người bạn tu, cô giáo đã phát hiện ra bộ mặt thật của
một con người và cũng là của một thế giới:
“Đôi khi tôi đã nghĩ rằng không được làm
“thánh” thực đáng buồn. Nhưng rồi bản thân va chạm với thánh thần, chia sẻ cái
gia tài giả dối, lường đảo, phụ bạc trắng trợn của chính bậc tu hành, tôi mới
sáng mắt ra mà nhận thấy rằng chỉ làm “thánh” thôi, chỉ làm “thánh” dưới mắt kẻ
chung quanh thôi mới thực là đáng nản”(10).
Thuộc vào dạng thứ hai là quan hệ giữa K. và
nhân vật xưng “tôi” với Hạnh, một người con gái quê thật thà, dễ bị lợi dụng. Đứng
về phương diện luân lý, việc cha T. triệu tập đám đông tín hữu trong buổi lễ để
làm bình phong cho M. trốn thoát, vô hình trung cũng xem họ như là công cụ.
Thật ra, những nhân vật của Hồi chuông
tắt lửa không phải không có ý hướng và nỗ lực đi tìm và xây dựng những
mối tương giao nhân bản. Thoạt đầu, giữa nhân vật xưng “tôi” và cô giáo đã tìm
thấy một sự đồng cảm trong tình cảnh của những người ở dưới vực sâu:
“Người ta có thể xuống tới nhiều chặng thất vọng
khác nhau. Riêng tôi, đứng ở nấc thang chót bắc xuống vực tuyệt vọng, thấy ông
quơ tay tìm tòi dưới đáy vực, ngại gì một víu tay đối với ông. Chúng ta đã tới
đáy: sự thực không có gì lạ ngoài cô đơn và lạnh lẽo!”(11).
Không phải ngẫu nhiên mà người đàn bà này có
thể viết cho người-tình-một-đêm của mình lá thư để trút hết uẩn khúc của lòng mình:
“Chia sẻ trọn vẹn sự bí mật đời tôi đối với
ông, tôi không cảm thấy mất mát điều gì. Trái lại nỗi cô đơn của lòng tôi như một
vết dầu. Đã từ lâu, vết dầu đó cứ lần lần thấm sâu vào từng ngõ ngách trong cơ
thể tôi. Đã từ lâu tôi đi trong đêm tối như một người tù ánh sáng. Đã từ lâu
tôi không còn thấy hoả ngục nơi người khác: Tôi đã gặp nó ngay trong nỗi cô đơn
của hồn tôi. Ông cũng vậy, phải không ông?
“Vậy thì, câu chuyện kể trong đêm giữa hai người
tù ánh sáng vẫn còn mang nguyên vẹn sự bí mật tuyệt vọng của nó…”(12).
Hai chủ đề “Con người bị kết án phải cô đơn”
và “Hoả ngục chính là kẻ khác” trong tác phẩm Jean-Paul Sartre đã được kết hợp
trong một cảnh ngộ, qua một lời tự bạch. Tại sao gọi đây là “sự bí mật tuyệt vọng”?
Phải chăng bởi vì đây là bí mật không thể hoá giải, và nếu bí mật được hoá giải
có nghĩa là một thế giới sẽ sụp đổ.
Lần đầu tiên hình ảnh về màu lửa cháy báo hiệu
cho sự hủy diệt đã xuất hiện ngay từ cuối chương hai của cuốn tiểu thuyết:
“Lúc tôi đọc xong lá thư của cô giáo, mặt trời
đã đổ dưới rặng tre và buổi chiều là cả một đám cháy. Đám cháy ấy đang chuyển
màu trước mắt tôi: từ đỏ thẫm, xám, lẩn màu cứt sắt. Thế rồi cái đám tàn tro
kia bay mịt mù lên không gian, phủ kín bầu trời quang đãng. Đột nhiên trong một
phút, toàn thân tôi chết cứng, tay chân không thể nào co ruỗi được như thể có một
thứ băng giá nào đã làm tê liệt các động mạch”(13).
Cô giáo không phải là người muốn tạo ra đám
cháy. Cô vẫn muốn nuôi giữ bí mật, có thể vì đó là kỷ niệm thiêng liêng của cô,
cũng có thể vì cô không muốn nó cản trở con đường trở về cuộc sống bình thường
trong quan hệ với K. Cô tin vào sự dàn xếp của cha T. sẽ giúp cô thoát khỏi
tình trạng hiểm nghèo hiện tại.
Nhưng cái giá mà cô giáo, cha T. và cả M. phải
trả cho những toan tính của mình thật quá đắt. Chính họ đã đẩy thằng Ánh vào
tâm điểm của xung đột. Ánh vừa là đầu mối kết nối hai cực của một thế giới, vừa
là tiêu điểm tranh chấp của hai cực đó: một cực là mưu mô, thủ đoạn; một cực là
cả tin, ngờ nghệch. Khi điểm kết nối này bị phá hủy, và thế giới không còn đặt
nền tảng trên những tương giao nhân bản mà là nguồn cơn của “kinh sợ và bàng
hoàng”, thì thế giới ấy phải sụp đổ.
Tóm lại, thế giới Hồi chuông tắt lửa đã
sụp đổ vì đặt trên nền tảng của sự giả tạo và giả dối, vì những thiên kiến và
ngộ nhận không thể hoá giải. Thế giới bị sụp đổ còn vì thiếu những tương giao
nhân bản, con người không phải là mục đích cao nhất mà là phương tiện của nhau.
Cuối cùng, thế giới phải sụp đổ vì những mặt nạ lần lượt bị bóc trần và bi đát
thay, vì cái ác, sự sa đọa không bị trừng phạt mà sự ngây thơ, vô tội bị huỷ diệt
thay cho cái ác.
MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC
CỨU CHUỘC
Trong một bài viết về Hồi chuông tắt lửa ngay
sau khi tác phẩm ra đời và nhận được sự hồi đáp không thuận lợi của một bộ phận
độc giả, Nguyễn Văn Trung rất nhạy cảm khi nói đến chủ đề cứu chuộc của tác phẩm:
“Tôi có cảm tưởng là tác giả muốn thể hiện một ý tưởng thần học về sự “cứu chuộc”
qua hai nhân vật: Bô Khương và đặc biệt là linh mục T.”(14). Sự hy
sinh của Bô Khương được nhìn nhận như “một sự “cứu chuộc” vô ý thức vì nạn nhân
không biết được ý nghĩa việc làm của mình. Bô Khương gợi lên hình ảnh con chiên
trong sạch bị hy sinh để đền tội cho mọi người trong Cựu ước”(15).
Không phải ngẫu nhiên mà Thế Nguyên đưa vào
văn bản thiên truyện đoạn sách Thánh, qua giọng đọc của thầy già xứ, nói về việc
dân chúng Israel mỗi nhà hiến một con chiên hay một con dê để ăn thịt trong
ngày Chúa vượt qua. Cũng chính tác giả ghi chú thích ở cuối trang thay cho nhà
xuất bản:
“Theo Cựu ước, lễ ăn thịt chiên là để kỷ niệm
ngày giải phóng dân Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Đằng khác, việc hiến dâng
còn mang ý nghĩa như một sự Cứu chuộc, một bí tích: mọi tội ác của người ta sẽ
đổ lên đầu con chiên đực trong sạch kia và khi con vật được thiêu huỷ đi, nó
mang luôn theo tất cả những vết tích nhơ bẩn đó”(16).
Ý tứ ở đây gắn liền với sự hy sinh của hình tượng
Bô Khương, bị mấy đứa học trò thủ vai quân Du-dêu lùng bắt ngoài chợ, vậy là đã
rõ.
Theo Nguyễn Văn Trung, trái với sự hy sinh mà
không biết mình hy sinh của Bô Khương là thái độ hy sinh có ý thức và có chủ
tâm của cha T. Nhà phê bình viết:
“Thằng Ánh là kết quả của những oan trái, tội
lỗi và cái chết vô tội của nó càng nói lên sự oan trái, tình cảnh tội lỗi của
những con người. Nhưng sự có mặt của nó cũng như những hành động của cô giáo là
yếu tố đưa đến ngộ nhận mà cha T. sẽ phải chịu đựng, một sự chịu đựng có
ý thức biết trước, cố ý, vì muốn đảm nhiệm một thái độ
linh mục đích thực giống thái độ của Chúa Kitô trên thánh giá: gánh lấy những tội
lỗi, oan trái của cuộc đời […].
“Chỉ mình cha T. nắm những bí mật của một cuộc
đời đó dù biết có thể bị hiểu nhầm và sẽ phải chịu đựng những đau khổ vì sự hiểu
nhầm đó, một hiểu nhầm đụng tới chính điều làm cho chức linh mục được tôn kính
là đức trinh khiết. Thật cao cả biết bao thái độ của cha T. trước những lời tố
cáo của K. Ngài không oán giận mà còn tha thứ, cầu nguyện cho những người hiểu
nhầm mình. Ngài cũng không phán đoán họ vì phải chăng phán đoán là kết án và
bao giờ cũng là sai lầm khi phê phán đụng tới những lý do thuộc về lương tâm của
một người. Đó cũng là thái độ của Chúa Yêsu trên thánh giá đối với những kẻ
đóng đinh Ngài”(17).
Mặc dù chia sẻ phần nào sự đánh giá của Nguyễn
Văn Trung đối với những thiện ý của nhân vật T., chúng tôi cho rằng xét cho
cùng thì cha T. vẫn không phải là biểu tượng của sự cứu chuộc trong Hồi
chuông tắt lửa. T. không phải là người duy nhất nắm giữ những bí mật của
M., cũng không phải là người biết rõ tất cả mặt trái của M., so với cô giáo.
Nhưng trước một con người mà ông biết là sa đọa, liệu lương tâm ông có yên ổn
khi ông không tỏ ra một biểu hiện nào để ngăn cản tội ác. Tuy việc M. cướp thằng
Ánh trên tay cô giáo dẫn đến cái chết thảm khốc của nó là việc ngoài ý muốn mà
T. không lường trước, nhưng ông vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về tấn thảm
kịch ấy.
Tuy vậy, đó chưa phải là lý do chủ yếu để ta đặt
dấu hỏi về “đức trinh khiết” của cha T. Điều chủ yếu khiến ta đặt dấu hỏi về điều
đó chính là thái độ của cha T. trong quan hệ với Bô Khương. Phải chăng Bô
Khương cũng chỉ là một phương tiện trong những toan tính của cha T.? Việc Bô phải
đền tội cho người khác trong ngày thứ sáu tuần thánh phải chăng cũng là một vở
kịch nhằm che đậy một âm mưu chính trị dưới lớp vỏ tôn giáo? Và như vậy, phải
chăng chủ đề “cứu chuộc” đã bị nhìn nhận trái với tinh thần nhân bản?
Chính vì vậy mà theo chúng tôi, biểu tượng của
sự cứu chuộc trong Hồi chuông tắt lửa không phải là Bô Khương,
càng không phải là cha T. Biểu tượng đó chính là Ánh, dù thằng bé chưa ý thức đầy
đủ về số phận của mình, càng không thể tự cắt nghĩa về cái sống và cái chết của
mình. Ánh chính là biểu tượng của “đức trinh khiết” mà tất cả người lớn có thể
soi vào. Ánh đã làm vật hiến tế cho những toan tính của người lớn. Nó phải trả
món nợ tinh thần cho những kẻ đã tạo ra hình hài và linh hồn nó bằng chính mạng
sống của nó. Cái chết của Ánh vừa như một phi lý của hiện sinh, vừa có ý nghĩa
như một cứu rỗi cho những tội ác, sa đọa của người lớn.
Một chi tiết có sức ám ảnh là hình ảnh con búp
bê bằng len thắt nơ đỏ mà Agnès để lại đã làm chứng cho tấn bi kịch của người bạn
gái cô giáo và rồi của chính cô. Có thể xem Ánh là hoá thân của con búp bê mà
ba người phụ nữ cả tin này muốn sở hữu cho riêng mình. Đứa bé có tật hay ngủ gục
và học hành chểnh mảng đó thật ra là một “thiên sứ” mà Thượng đế gửi xuống để cứu
chuộc cho những kiếp người tội lỗi.
Có thể nói Hồi chuông tắt lửa là
một tác phẩm pha trộn chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện sinh và kỹ thuật miêu
tả hiện tượng luận. Sự pha trộn đó thể hiện sự giằng co trong tâm thức của bản
thân tác giả. Trên hành trình tư tưởng và trong sáng tác nghệ thuật, Thế Nguyên
đã tìm đến hiện tượng luận như một sự hoà giải giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ
nghĩa hiện sinh, rồi từ hiện tượng luận về hiện sinh đi tới một hiện tượng luận
về xã hội, nhưng thời cuộc không cho phép ông đi đến cùng chọn lựa nghệ thuật của
mình. Càng về sau, nhà văn càng mạnh mẽ phê phán những biểu hiện của điều mà
ông gọi là “tính chất sì-nốp-bít” (thói học đòi làm sang) của xã hội
miền Nam(18). Ông bài bác thứ “văn chương hiện sinh” theo đuôi, làm
dáng, đồng thời đề cao văn chương hiện sinh dấn thân, trong đó con người phản tỉnh
về thân phận của mình, thông qua những kinh nghiệm sống trong một hoàn cảnh cực
đoan của đất nước.
Hoạt động thực tiễn tạo điều kiện cho Thế
Nguyên tìm thấy ở phong trào dân tộc một điểm kết nối giữa tinh thần xã hội và
đức tin Kitô giáo. Nhưng rồi chính Hồi chuông tắt lửa và tác
giả của nó cũng không tìm được sự dung hợp và chỗ đứng trong lịch sử. Nhà văn
đã chịu chung thân phận với nhân vật của mình, thân phận con người ở “giữa hai
làn đạn”.
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện
Văn học,
số 5 (471), tháng 5-2011, tr. 64-75.
_________________
(1) Thế Nguyên tên thật là Trần Gia Thoại, sinh năm 1942 tại Nam Định,
mất năm 1989 tại TP. Hồ Chí Minh, nguyên là Giám đốc Nhà xuất bản Trình Bầy, Chủ
nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Trình Bầy, nhật báo Làm
Dân; Thư ký toà soạn các tạp chí Đất Nước, Nghiên cứu văn học ở
Sài Gòn trước 1975. Tác phẩm đã công bố: Hồi chuông tắt lửa, Nuôi con
nhơn tình, Từ dưới vực sâu, Nghĩ gì (hai tập, ký bút danh Trần Trọng
Phủ), Cho một ngày mai mơ ước.
(2), (9), (10), (11),
(12), (13), (17) Thế Nguyên: Hồi
chuông tắt lửa, in lần thứ ba, NXB Trình bầy, Sài Gòn, 1969, tr.8, 107, 34,
28, 35, 36, 96. Có tham khảo bản in Hồi chuông tắt lửa trên tập
san Văn, số 6, Sài Gòn, ngày 15-3-1964.
(3), (5), (8) Trần Thái Đỉnh: Hiện tượng học là gì? NXB Hướng
mới, Sài Gòn, 1968, tr. 99, 61, 29.
(4) Merleau-Ponty: Phénoménologie de la perception, Gallimard, Paris,
1945, tr.491.
(6) Lê Tôn Nghiêm: Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học
Husserl về cuối đời, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1,
Sài Gòn, ngày 01-6-1969, tr.83.
(7) Phạm Công Thiện: Hiện tượng học về hiện tượng học của
Husserl, Tạp chí Tư tưởng, bộ mới số 1, Sài Gòn, ngày
01-6-1969, tr.24.
(14), (15), (16) Nguyễn Văn Trung: Hồi chuông tắt lửa, trong
sách Nhận định, tập VI, NXB Nam sơn, Sài Gòn, 1972, tr.267,
268. Bài viết này đã từng được NXB Nam sơn in kèm theo sách Hồi chuông
tắt lửa để “thanh minh” cho Thế Nguyên.
(18) Thế Nguyên: Nghĩ về “văn chương hiện sinh” hay là tính chất
“sì-nốp-bít” của xã hội miền Nam, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số
6, Sài Gòn, 1968, tr.85.
-------------------
Xem thêm:
·
Rừng gió những
tiếng vọng khắc khoải
·
“Những
người phất cờ hồng” của quá khứ và hôm nay
·
Thượng
tướng Nguyễn Trọng Nghĩa giữ chức Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương
·
‘Số
đỏ’ của Vũ Trọng Phụng sẽ được xuất bản tại Đức
·
Năm
mươi bước chân của biển – Tản văn Huỳnh Thục Oanh
No comments:
Post a Comment