Friday, 31 January 2014

SỰ VIỆC ĐÃ XẢY RA (Người Buôn Gió)




Thứ Sáu, ngày 31 tháng 1 năm 2014

Tết năm 1982, mình cả thằng An nhà Bính bị bắt vào đồn Hàng Buồm vì tội chơi pháo ném. Hai thằng dùng pháo ném tương nhau như đánh trận. Pháo ném là loại pháo bên trong có ít sỏi và thuốc pháo, bọc giấy bên ngoài. Ném cái chạm vào chỗ nào cứng , các viên sỏi chạm vào nhau làm thuốc pháo cháy gây nổ.

Nghe thế nhưng pháo ném không nguy hiểm, vì lượng thuốc pháo ít. Những cái loại pháo ném này nếu trúng tường  thì cả khoảng tường ấy ám luôn vết khói. Hồi đó Tết người ta hay quét vôi lại nhà để đón năm mới. Hai thằng mải trốn, nấp ném nhau. Tương chi chít vết khói trên tường nhà người ta. Bị họ bắt đưa lên đồn.

Đồn nhốt hai thằng lại từ trưa cho đến chiều, người nhà lên xin không cho về. Hai thằng ngồi ở cái ghế phòng trực ban bên ngoài

Tết thì lắm chuyện, chuyện cờ bạc và chuyện đánh nhau thường hay xảy ra nhất.

Đầu tiên có người hớt hải chạy lên đồn báo là chỗ họ sắp có đánh nhau. Bọn nào đó đang vác dao kéo đến chỗ họ ở tìm nhà ai đó để đánh. Người đến đồn báo mặt xám ngoét vì sợ hãi, lắp ba lắp bắp, ríu lưỡi lại. Trực ban quát.

- Đã đánh nhau đâu mà cuống thế, bao giờ đánh nhau hẵng báo, sự việc chưa xảy ra làm sao chúng tôi đến được.

Người báo năn nỉ, bị trực ban quát.

- Đã bảo là đi về đi, rồi chúng tôi cho người xuống, tết thế này đâu có nhiều người ngay được.

Người báo sợ hãi, luống cuống ra về. Trực ban lẩm bẩm.

- Tết nhất rượu chè cho lắm vào rồi đánh nhau, cho chết bớt đi.

Trực ban cúi xuống đọc báo Xuân. Có người đến báo mất xe đạp. Trực ban báo họ viết tờ khai,mất ở đâu, lúc nào, xe thế nào...xong bảo họ về. Nếu tìm thấy sẽ gọi. Người kia khóc lóc , mếu máo nói mong các anh tìm giúp, xe em đi mượn của người ta, giờ không biết lấy gì ra mà đền. Trực ban đẩy ra cửa nói.

- Thì khai báo đây rồi, còn phải để chúng tôi đi tìm chứ. Cứ về đi có gì sẽ gọi. Có cái xe mà không biết giữ.


Người mất xe đi, trực ban cắm đầu đọc tiếp báo Xuân. Chừng hai tiếng yên ắng trôi qua, trong quãng thời gian ấy chỉ có một cảnh sát đi từ trên gác qua phòng trực ban ra ngoài. Hai thằng gọi khẽ chú ơi cho cháu về, trực ban quắc mắt.

- Không được, cho chúng mày về để chúng mày phá nhà người ta à. Ở yên đấy.

Một người đạp xe đến, dựng vội vã trước cửa đồn, ông ta vào nói gấp trong hơi thở.

- Đằng Nội Miếu có đám bạc to lắm, nhiều đứa đang chơi, đánh nhiều tiền lắm.

Trực ban bật dậy, hỏi sốt sắng. 

- Chỗ nào, bên trong ngõ hay đầu ngõ.

- Ở ngay đầu ngõ, chỗ tổ phục vụ bán nước sôi, chúng nó chơi ở đấy.

Trực bạn gật đầu, nhanh nhẹn chạy lên vào trong hô.

- Anh em dậy thôi, khẩn trương, khẩn trương có vụ đánh bạc to.

Từ bên phía trong đồn và trên gác, lục tục đến 6 người công an đi ra, họ vội vã mặc quần áo, hối hả thúc nhau lấy xe, lấy còng. Một người chỉ huy hỏi vắn tắt địa điểm rồi phân công chia hai ngả từ Lương Ngọc Quyến xộc đến và ngả từ Hàng Giầy xộc đến. Còn ông thì sẽ vòng qua Hàng Đào bịt cái lối từ Nội Miếu thông sang. Thấy thiếu người, ông chỉ huy chỉ trực ban nói.

- cả mày cũng đi luôn, đi một tí , cần đéo gì trực.

Cả hội công an hăm hở kéo nhau đi, ra cửa trực ban quay đầu nói với hai thằng.

- Bọn ranh con ngồi đấy trông nhà cho chú, tí chú về thì chú cho chúng mày về, hồ sơ chúng mày tao ghi rồi, trốn tao về nhà bắt lên. Ở đó ngoan trông cho chú, ai hỏi bảo tí chú quay lại.

Công an đi hết, hai thằng nhảy bổ vào góc phòng trực ban, có mấy thứ đồ của quán nước nào bị thu, có lọ chè lam, kẹo lạc mà hai thằng tăm tia thèm rỏ dãi suốt. Bốc cho mồm nhai ngấu nghiến, bột ở lọ kéo dính đầy mép. Ăn được một lúc thấy lao xao, công an đang đưa đám bạc về nhốt hết vào trong. Cho từng người ra hỏi cung.

Hai người đầu tiên thì một người bảo đứng xem, một người thì bảo tết nhất đánh có một tí lấy vui, không có ý định cờ bạc. Công an khám người thu tiền, lập biên bản bắt ký , xong bảo hai người lên gác làm kiểm điểm, tường trình. Đến người thư ba có hàm râu mép, mặt mũi khôn ngoan, chú ấy bảo chả đánh bạc. Đang đứng chờ vợ con cạnh đám bạc thì bị bắt. Công an khám người chú ấy , móc ở túi quần chú ấy ra phải đến gần hai mươi đồng( cũng khá to hồi đó )Công an hỏi.

- Chờ vợ con mà tiền gì đây.

Chú kia lắc đầu thản nhiên.

- Này nhé, tiền của ông sao ông lại bảo tôi, tôi làm gì có đồng nào.

Công an sững người lại mấy chục giây, sau đó đút tiền vào ngăn bàn nói.

- Ừ không có tiền, đứng chờ vợ con à, thôi về đón vợ con đi không họ lo. Lần sau đứng tránh đám bạc ra nhớ.

Chú kia cảm ơn, rồi tỉnh bơ ra khỏi đồn. Nhìn chú ấy buồn cười quá, nên hai thằng bật cười, công an quát.

- Oắt con, cười gì, có đi về ngay không hay muốn nhốt trong kia cho muỗi đốt.

Hai thằng líu ríu chào chú, ba chân bốn cẳng chạy tót về nhà luôn.

Được đăng bởi nguoibuongio1972 vào lúc 06:38



BẨY HỒNG : DI ...CHÚC! CUỘC ĐỜI & CÁI CHẾT RẤT BUỒN (Phùng Bắc / Mai Thanh Truyết)




Phùng Bắc   (baomai.blogspot.com)  
Friday, March 29, 2013

Câu chuyện về gia đình bà Dương Quỳnh Hoa

Trong nhiều vụ án tranh chấp về tài sản thừa kế, kiện tụng đòi chia nhà cửa, đất đai… của con cháu khi cha mẹ mất đi, có những vụ việc làm biết bao người, không chỉ người trong cuộc, phải đau đớn, day dứt mãi, chuyện này không của riêng ai, ai cũng có thể gặp phải.

Chuyện gia đình bà nguyên Bộ trưởng…

Đây là câu chuyện đau lòng tôi từng biết. Đọc từng tập hồ sơ, từng lời viết “kêu cứu” của nạn nhân là con cháu của bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, bà là Thứ trưởng Bộ Y tế và sau cùng là Giám đốc Trung tâm Nhi khoa… Ngôi nhà với gần 1.000 mét vuông, hai mặt tiền ở đường Nguyễn Thị Minh Khai và Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, TP.Hồ Chí Minh (đối diện công viên Tao Đàn, quận 1), vốn là của ông bà Dương Minh Thới và Hà Thị Ngọc ( cha mẹ của bác sĩ Dương Huỳnh Hoa)

Cũng trong ngôi nhà này, ông Thới có hàng ngàn cổ vật, trở thành bộ sưu tập mang tên Dương Hà (họ của ông Thới và vợ ghép lại). Bà Hoa là con gái của ông Thới, cũng sớm làm cách mạng. Sau ngày thống nhất đất nước, bà Hoa đưa người chồng, tên là Huỳnh Văn Nghị (SN 1928) về nhà ở rể. Năm 2006, vì vợ chồng bà Hoa không có con, nên theo ý nguyện của ông bà Thới để lại, ngôi nhà và bộ sưu tập đồ cổ phải được lưu giữ truyền lại cho các con cháu dòng họ sau này, và đây cũng là nơi để con cháu dòng họ thờ cúng ông bà tổ tiên. Vì dòng họ không còn ai, nên bà Hoa đã lập di chúc vào ngày 23.2.2006 để lại ngôi nhà cùng tài sản cho ông Đỗ Tường Phước, là cháu ngoại của ông Dương Minh Thới, gọi bà Hoa bằng dì ruột. Di chúc cũng được bà Hoa và ông Huỳnh Văn Nghị ký tên, có công chứng tại Phòng công chứng số 1 - TP.Hồ Chí Minh.

Ông Đỗ Tường Phước cũng là một người trong ngành y, là một dược sĩ, là cháu ngoại của ông Thới, vốn trước đây từng lăn lộn góp sức với dì ruột của mình là bác sĩ Dương Quỳnh Hoa đóng góp cho ngành y tế nước nhà, trong đó có việc xây dựng hình thành Trung tâm Nhi khoa, hiện nay trực thuộc Bệnh viện Nhi đồng 2 - TP.Hồ Chí Minh. Ông Phước nói chuyện với tôi trong nước mắt và đầy cay đắng. Khi bà Hoa mất đi, ông Nghị sống một mình trong ngôi nhà bề thế rộng lớn ngay trung tâm thành phố, đã làm ông động lòng trắc ẩn và sợ một cái gì đó, nên gọi gia đình ông Phước, người được thừa kế tài sản về sống chung một nhà. Ông Phước cho biết: “Lúc đó, là khoảng giữa năm 2009, ông Nghị yêu cầu gia đình tôi về sống chung với ông để tự giữ tài sản, đồ đạc mà bà Hoa đã di chúc để lại cho tôi. Thương dì chúng tôi đã mất, nên chúng tôi đều rất thương ông là dượng rể trong nhà. Nhưng chữ ngờ ai biết được…”.

Một góc bộ sưu tập đồ cổ của ông Dương Minh Thới, nay đã bị lấy đi.

Thay đổi di chúc xoành xoạch

Ngày 26.8.2009, ông Huỳnh Văn Nghị đến Phòng công chứng số 1 - TP.Hồ Chí Minh lập “di chúc” với nội dung: “Ông Nguyễn Quốc Nam, sinh năm 1986, ngụ 417 đường Minh Phụng, phường 19, quận 11 sẽ thừa hưởng di sản thừa kế do tôi để lại là một phần thuộc sử dụng, sở hữu của tôi trong bất động sản số 208 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, quận 3”. Nhưng đến ngày 1.9.2009, ông Phước lại bất ngờ biết chuyện ông Huỳnh Văn Nghị đến văn phòng luật sư Đông Dương, quận 8 để làm… tiếp một “di chúc” khác với nội dung để lại toàn bộ tài sản chứ không phải là một phần. Trong bản di chúc này ông Nghị viết: “Tôi và vợ tôi Dương Quỳnh Hoa, đã mất ngày 26.2.2006 là chủ sở hữu toàn bộ động sản có trong căn nhà 208 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, quận 3 (có danh mục đính kèm, gồm 2.310 món đồ cổ). Vợ chồng tôi không có con chung, con riêng.
Cha mẹ vợ tôi đã chết trước vợ tôi nên toàn bộ số tài sản trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tôi”. Và nội dung quan trọng trong bản di chúc này là: “Sau khi tôi qua đời, ông Nguyễn Quốc Nam, sinh năm 1968 ngụ 417 đường Minh Phụng, quận 11, sẽ được thừa hưởng toàn bộ di sản thừa kế là các động sản nói trên do tôi để lại. Ngoài Nguyễn Quốc  Nam , tôi không để lại cho bất cứ ai”. Ông Phước cho biết: “Gia đình tôi hoàn toàn không biết ông Nam  là ai”. Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đây, mà có dấu hiệu không bình thường khi ngôi nhà trị giá hàng trăm tỉ đồng và bộ sưu tập đồ cổ vô giá của ông bà Thới để lại (chính ông Nghị cũng thừa nhận điều hiển nhiên này), được ông này thay đổi di chúc lần thứ… 4!

Với bản di chúc chính tay ông Nghị viết vào ngày 1.9.2009 ở văn phòng luật sư Đông Dương, quận 8, thì chỉ sau 15 ngày, tức vào ngày 15.9.2009, cũng chính ông Nghị trở lại văn phòng luật sư này làm “Giấy hủy bỏ di chúc” lập ngày 1.9.2009. Lúc này, ông Nghị lại thừa nhận bản di chúc được lập lần đầu tiên cùng với vợ của mình là bà Hoa vào năm 2006. Dấu hiệu không bình thường của ông lại thể hiện một lần nữa, là vào ngày 25.1.2011, ông Nghị lại đến Phòng công chứng số 1… lập di chúc với nội dung: “Sau khi tôi qua đời thì toàn bộ phần sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của tôi và phần di sản tôi được thừa kế của vợ tôi… tôi không để lại cho ông Đỗ Tường Phước nữa mà để lại cho bà Huỳnh Thị Vinh Mai, sinh năm 1972, ngụ 716/H Hậu Giang, phường 12, quận 6”.

Dương Quỳnh Hoa bí danh “Bẩy Hồng”

Kiện rồi lại rút

Trong khi ông Nghị lập di chúc để tài sản cho bà Huỳnh Thị Vinh Mai nào đó, hoàn toàn xa lạ với dòng họ Dương, thì đùng một cái, ngày 29.1.2011, ông Nghị nộp đơn “khởi kiện” ông Đỗ Tường Phước, tức là cháu ngoại dòng họ Dương mà theo ý nguyện của bà Hoa, là người được thừa hưởng tài sản theo di chúc lúc bà còn sống. Cũng trong đơn khởi kiện, ông Nghị “đồng ý thanh toán 1 phần 6 giá trị quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở nhà 208 Nguyễn Thị Minh Khai cho ông Phước”. Như vậy, từ cuối năm 2009 đến thời điểm đầu năm 2011, ông Nghị đã thay đổi liên tục ít nhất 6 lần lập di chúc, rồi thay đổi nội dung di chúc cho đến khởi kiện ra tòa. Ngày 15.2.2011, TAND quận 3 đã ra quyết định thụ lý vụ án dân sự, mà ông Nghị nộp đơn khởi kiện. Rồi lại thêm một lần nữa, cũng chính ông Nghị viết đơn đề ngày 21.9.2011 gửi đến TAND quận 3 với nội dung xin rút đơn kiện vô điều kiện. Do vậy, ngày 30.9.2011, TAND quận 3 đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, số 32/2011/DS ngày 15.2.2011 về tranh chấp thừa kế, mà ông Nghị là nguyên đơn, bị đơn là ông Phước.

Như vậy, sau khi rút đơn kiện ông Phước, coi như bản di chúc mà ông Nghị cho tài sản thừa kế cho những người “lạ” nêu trên đều bị mất tác dụng, coi như bản di chúc được lập năm 2006, thời điểm bà Hoa còn sống lại trở về vị trí… đích thực của nó. Tuy nhiên, lần này diễn biến câu chuyện lại đi vào tình thế khác, với nhiều “tay” máu mặt lao vào… kiếm chác.

Sau khi rút đơn kiện ông Phước, ông Huỳnh Văn Nghị tiếp tục “gây sốc” cho dòng họ Dương, đó là hiến tặng toàn bộ sưu tập đồ cổ cho Bảo tàng TP.Hồ Chí Minh. Ông Nghị gửi đơn kêu cứu khắp nơi, khắp nơi đều im lặng, đùng một cái, ngày 16.3.2011, các cơ quan chức năng của TP.Hồ Chí Minh, huy động hàng trăm người vào nhà mang đi toàn bộ đồ cổ, mà ông Phước cho biết là hơn 3.000 món đồ vật, trị giá cực kỳ lớn.

Ông Huỳnh Văn Nghị 2011

Càng khó hiểu hơn về hành động của ông Nghị, đó là đầu tháng 11.2011, gia đình ông Phước bị “khủng bố” tinh thần khi xuất hiện một vị cảnh sát mang hàm trung tá, đến gia đình xưng là Nguyễn Minh Hưng, dẫn theo một số người đòi “trục xuất” gia đình ông Phước ra khỏi nhà, vì được ông Nghị thuê làm. Thấy việc bất bình và ngang trái, ông Phước gửi đơn đến cơ quan công tác của vị trung tá cảnh sát này, thì ông Hưng “biến mất”, nhưng gần đây lại xuất hiện người khác cũng đòi “trục xuất” gia đình ông Phước ra khỏi ngôi nhà của cha ông họ. Ông Phước cho biết: “Gia đình tôi đang bị nhiều người lạ ngày đêm đe dọa, họ nhăm nhe vì ngôi nhà mà chúng tôi phải ra sức bảo vệ để làm nơi thờ phụng cho ông bà”.


Phùng Bắc

Di sản của ông bà, cha mẹ để lại thường là thảm họa cho các cháu về sau, ngoại trừ người quản lý di sản đó phải là người có lương tri, còn người quản lý di sản vô trách nhiệm muốn độc chiếm cho riêng gia đình, thì sẽ để lại hậu quả khôn lường cho chính con cháu họ./.


XEM TIẾP  : 

March, 2010




SÀI GÒN ĐANG HẤP HỐI - SOÁI NGA PHẠM NHẬT VƯỢNG & VẠN THỊNH PHÁT ĐÃ & ĐANG XẺ THỊT TRUNG TÂM QUẬN 1 (Trần Hoàng)




Posted by hoangtran204 on 31/01/2014

Chứng từ : 



Bình luận : 

Đứng đàng sau và chống lưng cho Soái Nga Phạm Nhật Vượng là Ủy Viên Bộ Chính Trị có quyền hành bao trùm tất cả. Sau hơn một thập niên được đảng đỡ đầu để phá nát Hà Nội, Soái Nga đã Nam tiến hơn 7 năm qua. Kế đó,  Nguyễn Tấn Dũng và Hoàng Trung Hải lên kế hoạch làm thịt cảng Sài Gòn 2009 (nhưng gọi là: “dự án di dời và chuyển đổi mục đích sử dụng cảng Sài Gòn”), mục đích là để mở đường cho Phạm Nhật Vượng lấy đất Cảng Sài Gòn xây dựng “trung tâm thương mại và căn hộ thương mại.” (Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn hồi tháng 9/2013 nói Vingroup của tỷ phú Phạm Nhật Vượng đã trở thành đối tác của Công ty Cảng Sài Gòn trong dự án.)

Sau khi hoàn tất việc lấy Cảng Sài Gòn làm dự án xây dựng “trung tâm thương mại và căn hộ thương mại”vào năm ngoái, và nay PNV đã tiếp tục lên kế hoạch để phá nát cảnh quan hài hòa của khu trung tâm Quận 1, Sài Gòn.  Vạn Thịnh Phát là phe thân tàu Hồng Kông (Hồng Kông thuộc nhóm “top 3″ trong số các quốc gia đã đầu tư nhiều tiền nhất vào Trung Quốc).  

Không gì phá nát các cảnh quan hài hòa và kiến trúc  lịch sử của một thành phố cổ xưa bằng việc xây dựng các cao ốc 10, 15, 20, 30, 50 tầng lầu. Đó chính là công việc mà phe đảng của Soái Nga đang làm và  đứa chống lưng cho con Soái Nga này chính là các đảng viên cao cấp của đảng CSVN.  

Đỗ Trường trong bài viết sau đây cung cấp một phiên bản bé hơn của Phạm Nhật Vượng:





ĐÔI LỜI VỀ ĐIẾU VĂN "VĨNH BIỆT ANH LÊ HIẾU ĐẰNG!", THEO MỘT QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ - KỲ 3 (Chép Sử Việt)




Posted by chepsuviet on 31/01/2014

Cuối phần trước (*) đã nêu dấu hỏi tại sao lại có bản Điếu văn lạ vậy. Phần này xin đi tìm lý do, cũng để cố tìm cái lẽ công bằng cho các tác giả và người được hưởng bản văn đó.

Rành rẽ

Trong thời gian qua, nhiều nhân sĩ, trí thức tiến bộ đã tham gia tích cực, đi đầu trong tranh đấu cho chủ quyền đất nước, dân chủ của người dân. Trong số họ, không ít người từng là thành viên trong Phong trào Học sinh – Sinh viên Sài Gòn những năm 60’ – 70′ thế kỷ trước, hoặc là thành phần thiên tả thân cộng ở miền Nam, du học hải ngoại, tham gia phản chiến, chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Quá khứ bị cho là “lỗi lầm” của họ, bị cộng sản lợi dụng, lừa dối, lật lọng … có rất nhiều điều đáng bàn, xin được nêu ở một phần khác.

Quan điểm về cuộc đấu tranh dân chủ lúc này, hoàn cảnh và khả năng ở mỗi người trong số họ không giống nhau. Họ có những vấn đề rất lớn từ quá khứ theo cộng, thân cộng và cả được chế độ cộng sản đãi ngộ, “tiêm chích” vào người thứ ma túy háo danh mê muội v.v.. ảnh hưởng nhiều tới suy nghĩ và hành động hiện nay.

Họ có những khó khăn không giống ai. Người miền Nam ghét cộng sản coi họ như kẻ phản bội, “bán nước” một thời. Đương nhiên, tâm lý chung thường thù kẻ “bán nước”, “tay sai” hơn nhiều so với kẻ “cướp nước”, “xâm lược”.

Còn các “đồng chí” của họ luôn “vừa dùng vừa nghi”, đồng thời sẵn sàng sử dụng ngón đòn hiểm bằng việc vu cho hai chữ “phản bội” một khi họ có biểu hiện muốn nhìn lại quá khứ sai lầm của mình, hay “sám hối”. Các “đồng chí” còn hiểm ở chỗ sắm vai “chống cộng cực đoan” để xỉ vả, gây nghi ngờ mỗi khi họ muốn “tính sổ” với quá khứ, như trường hợp ông Lê Hiếu Đằng.

Họ cần có được sự cảm thông nhất định.

Có điều, trong họ cũng có đầy đủ những tính xấu của người cộng sản, không dễ và nhanh gột rửa. Nay bước vào tranh đấu, một trong những tính xấu đó nổi lên thêm, rất không lợi, đó là thái độ công thần, tưởng mình là “nhất”, mà không tự soi xét, chỉnh sửa. Họ không chấp nhận, không có khả năng “ngồi chung mâm” với những người “chống cộng” mà nay, dù không nói ra nhưng trong lòng họ vẫn coi như kẻ đối nghịch.

Họ có thế mạnh, là rất hiểu người cộng sản, nhưng nhìn chung có tư tưởng tiến bộ và kiến thức vượt trội so với số “đồng chí” còn lại, nên tiếng nói có trọng lượng với quần chúng. Biết tận dụng điểm mạnh, hạn chế mặt yếu là không dễ.

Lạ là tuy “vượt trội” như vậy, nhưng họ lại như chưa thoát được dăm ba thứ “bùa mê thuốc lú” cộng sản, ví như sùng bái mù quáng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đáng lo thêm ở chỗ lẫn lộn trong thứ “sùng bái” này là toan tính bảo vệ hình tượng của ông để o bế cho chính quá khứ “huy hoàng” của mình. Không thoát ra được, họ sẽ mất uy tín trong phong trào đấu tranh dân chủ.

Có được con người vừa quyết liệt, nhưng lại khéo léo để đi dần từng bước tới việc đối diện với quá khứ, đoạn tuyệt với nó, trước khi từ giã cõi đời, như Lê Hiếu Đằng là quá hiếm. Ấy thế mà cũng không khỏi có những ý kiến chưa vừa lòng với ông, cho là chỉ khi sắp ra đi, không còn phải sợ nữa, ông mới dám “phản tỉnh” theo cách đó.

Ngược lại, không tránh khỏi một số bạn hữu một thời HSSV, tham gia cách mạng với ông, có thể nay cũng đang cùng con đường tranh đấu cho dân chủ, đã khó chịu vì coi ông hành động như thể bị “cướp cò”. Bản “Điếu văn” được soạn ra để đọc trong tang lễ ông là bộc lộ khá rõ những gì nung nấu của không ít người trong họ và giới nhân sĩ trí thức là đảng viên cấp tiến thời gian gần đây, nhất là kể từ khi ông kêu gọi thành lập đảng Dân chủ Xã hội, rồi tuyên bố bỏ đảng.

Cũng như với mọi tổ chức, đảng phái, phong trào, viêc có những quan điểm, phương pháp đấu tranh khác nhau là chuyện bình thường và cần được tôn trọng, được trao đổi, tranh luận dân chủ, công khai (dù trong phạm vi hẹp) để đi đến thống nhất và có giải pháp khả dĩ được nhiều người chấp nhận. Thế nhưng, không thể vì những mong muốn cá nhân mà có thể phản ánh sai lạc về người khác, nhất là người đã khuất, đã hy sinh nhiều quyền lợi riêng mà đóng góp cho xã hội.

Càng không thể tận dụng một bản văn đặc biệt, một tình huống đặc biệt như vậy để cố gắng “rào giậu” cho một xu hướng tranh đấu cải lương, nửa vời của mình được. Muốn thể hiện quan điểm riêng, hãy viết thành bài báo, đối mặt với những tranh luận thẳng thắn, rất không nên núp bóng một bản Điếu văn theo cách đó. Càng cần tránh để bị hiểu là dùng nó nhằm nhắn nhủ tới người đã khuất lời trách móc nào đó của mình.

Từ đây, một tính xấu khác nữa họ cần nhận ra và sửa, đó là lối “níu áo nhau”, khi không dám, không có điều kiện tiến lên, thì trở thành vật cản cho phong trào.

Cũng không thể vì vài lý do, như theo ý nguyện gia đình muốn đám tang diễn ra êm đẹp, sau vụ gây rối của đám côn đồ, hay do “mủi lòng” từ sự có mặt của quan chức thành phố, mà có thể có những đánh giá thiên lệch như vậy về một con người, là “bạn hữu”, lại mới chỉ ra đi mấy ngày trước đó thôi. Muốn “dĩ hòa vi quý”, không khó để có một bản Điếu văn tử tế.

-


-----------------------------------------------







View My Stats