Kỷ
nguyên mới và liệu có thể tránh ‘thẳng cẳng’ (Phần 1)
Trân Văn - Người Việt
25-5-2026
https://baotiengdan.com/2026/05/25/ky-nguyen-moi-va-lieu-co-the-tranh-thang-cang-ky-1/
Tuần
rồi, thiên hạ bắt đầu bàn luận về “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng.” Theo kế hoạch
đã được công bố, mục tiêu của dự án này sẽ biến hai bờ sông Hồng thành vành đai
sinh thái xanh, vừa phát triển giao thông, vừa phát triển văn hóa-du lịch-kinh
tế, đặc biệt là tạo thêm quỹ đất để thiết lập các khu đô thị sinh thái, trung
tâm thương mại-dịch vụ cao cấp.
Dự
án vừa đề cập đang được triển khai trên mặt bằng mà diện tích dự trù khoảng
11,000 héc ta, tổng vốn đầu tư khoảng 800,000 tỷ đồng. Đáng chú ý nhất là dự án
này sẽ khiến khoảng 70,000 gia đình mất nhà, khoảng 250,000 người không chỉ mất
nơi cư trú mà còn có thể mất sinh kế, sinh hoạt bị lộn ngược.
Khoan
bàn đến “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng,” trước mắt, người viết bài này chỉ muốn
đem dự án đặt bên cạnh chủ đề vốn đã và đang rất nóng, liên quan đến tương quan
giữa an sinh và động lực để duy trì sự ổn định của kinh tế-xã hội Việt Nam: Cơ
hội an cư của giới trẻ nói riêng và thường dân nói chung. Khi hệ thống chính trị,
hệ thống công quyền vẫn chỉ chuyên chú vào những kế hoạch như “Dự án Trục Cảnh
Quan Sông Hồng” thì chẳng khác gì tiếp tục khuyến khích đầu cơ, tiếp tục giữ
giá bất động sản ở mức ngất ngưởng, còn quỹ đất, nguồn nhà dành cho giới trẻ,
thường dân, giúp họ an cư, lạc nghiệp vẫn như giấc mơ siêu thực.
***
Tháng
trước, tại nghị trường, ông Lê Hoàng Anh – một đại biểu Quốc Hội (ĐBQH) – cảnh
báo, chuyện giá nhà gấp 30 lần thu nhập trung bình/năm, làm việc cật lực hơn ¼
thế kỷ cũng không thể mua được nhà, không chỉ phi lý mà còn là “vấn đề chính trị,
xã hội dài hạn,” vì điều đó khiến “niềm tin của giới trẻ vào công bằng lung
lay.”
Chuyện
thanh niên nói riêng, thường dân nói chung, nhịn ăn, nhịn mặc trong vài thập
niên vẫn không thể chạm đến ngưỡng an cư không mới, không chỉ vừa được các ĐBQH
khóa này nêu ra tại nghị trường mà đã từng được ĐBQH nhiều khóa trước đề cập.
Chẳng
riêng Quốc Hội, chính phủ các nhiệm kỳ trước cũng thế. Cứ search trên Internet
sẽ thấy, ông Phạm Minh Chính từng vài lần tuyên bố, phải đưa giá nhà về mức hợp
lý, phải thúc đẩy các đề án hỗ trợ an cư để giới trẻ, người thu nhập thấp có cơ
hội chạm tay vào ước mơ có nhà. Ông Tô Lâm, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước cũng
vài lần khẳng định, đại ý, quản lý đất đai phải lấy lợi ích của người lao động
làm trung tâm, phải kéo giá nhà xuống đúng giá trị thực để phục vụ nhân dân…
Tuy
nhiên trong thực tế, các kế hoạch hỗ trợ thanh niên, thường dân an cư như xây dựng
một triệu đơn vị căn nhà được dán nhãn “nhà ở xã hội” chỉ xuất hiện trên miệng
những viên chức hữu trách và tồn tại trên giấy. Đến giờ, hệ thống chính trị, hệ
thống công quyền tại Việt Nam vẫn chỉ tận tâm, tận lực với những dự án kiểu “Dự
án Trục Cảnh Quan Sông Hồng.”
Lựa
chọn ấy không chỉ bất nhân mà còn bất trí. Muốn hình dung hậu quả hãy nhìn
Trung Quốc.
***
Giống
như Trung Quốc, kinh tế và tăng trưởng của Việt Nam cũng phụ thuộc vào đất đai,
chính quyền bán đất để tạo ra nguồn thu cho ngân sách, doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực bất động sản thổi giá để làm giàu, xã hội không dùng vốn để đầu
tư vào sản xuất, cho công nghệ mà đổ vào đầu cơ đất. Mô hình phát triển kiểu
này trở thành “gông cùm” tài chính đè lên vai giới trẻ.
Giống
như Việt Nam, giới trẻ và thường dân Trung Quốc cũng bị gạt sang bên lề con đường
phát triển. Dựa vào báo chí, mạng xã hội Trung Quốc cũng như các nghiên cứu về
kinh tế-xã hội Trung Quốc có thể thấy, hơn mươi năm qua, giới trẻ Trung Quốc đã
có nhiều đợt phản kháng được xếp vào loại “bất tuân dân sự thụ động” – phản
kháng bằng cách buông bỏ các chuẩn về giá trị.
Trong
giai đoạn từ 2016 đến 2020, giới trẻ Trung Quốc theo nhau chống “văn hóa 996”
(buộc làm việc từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, 6 ngày/tuần) và “tiến hóa ngược”
(tuy phải vắt kiệt sức lực, không được nghỉ ngơi thỏa đáng nhưng thu nhập không
tăng, không có cơ hội thăng tiến), bằng cách tố cáo chuyện bị doanh nghiệp bóc
lột trên mạng xã hội, cùng nhau lên án, tẩy chay sản phẩm, dịch vụ của những
doanh nghiệp đó. Kiểu phản kháng ấy không chỉ khiến các doanh nghiệp điêu đứng
mà còn làm bất bình trong xã hội dâng cao. Năm 2021, Tòa Tối Cao Trung Quốc phải
tuyên bố “996” là bất hợp pháp. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn
(như Alibaba, Tencent,…) phải điều chỉnh chính sách để tránh các rủi ro pháp
lý.
Giữa
năm 2021, sau khi Luo Huazhong đăng “Nằm thẳng là công lý” trên Baidu, cho rằng,
với những đặc điểm xã hội như Trung Quốc, tốt nhất là nên “nằm thẳng” (chỉ làm
việc đủ để duy trì sự sống, không mua nhà, không mua xe, không kết hôn, không
sinh con, loại bỏ ham muốn vật chất, hạn chế tối đa mua sắm, chỉ làm việc đủ để
duy trì sự sống), rất nhiều thanh niên Trung Quốc tán thành quan niệm này, đồng
loạt từ chối “cuộc đua làm chuột” (rat race). “Nằm thẳng” (Tang ping) trở thành
phong trào, không chỉ khiến mãi lực suy giảm, mà còn đẩy tỷ lệ kết hôn, sinh sản
tụt sâu, khủng hoảng lão hóa dân số trở thành trầm trọng hơn. Chính quyền Trung
Quốc chỉ có một cách kiềm chế là xếp “nằm thẳng” vào nhóm từ nhạy cảm để chặn
trên mạng xã hội.
“Nằm
thẳng” chưa lắng xuống thì “buông xuôi” (Bạch lạn – Bai lan) bùng lên. Nếu “nằm
thẳng” chỉ là hạn chế tham gia sinh hoạt xã hội thì “buông xuôi” cổ xúy việc để
cho bản thân tự thối rữa. Một số tài liệu giải thích, trong Hoa ngữ, Bạch lạn
xuất phát từ việc chỉ một đội bóng rổ cố tình thua thảm khi không nhìn thấy cơ
hội xoay chuyển tình thế và thanh niên Trung Quốc chọn “buông xuôi” bởi nhận thức
rất rõ sự tồi tệ của thực tại, nên chủ động để cuộc đời của chính họ trượt dài,
bất kể hậu quả.
Giới
nghiên cứu xã hội học cả trong lẫn ngoài Trung Quốc xem “buông xuôi” phản ánh sự
kiệt quệ tinh thần và trầm cảm trên diện rộng của thế hệ trẻ Trung Quốc sau đại
dịch – thế hệ vừa vô hình, vừa vô cảm với tất cả, từ quốc gia đến dân tộc.
“Bất
tuân dân sự thụ động” ở Trung Quốc không chỉ chừng đó và sở dĩ phải tóm tắt
nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của những phong trào trong giới trẻ Trung Quốc
vì nếu nắm bắt và đối chiếu, tự nhiên sẽ nhận ra Việt Nam đã tiệm cận ngưỡng
phát sinh phản kháng, vấn đề đáng bận tâm là liệu chính quyền Việt Nam có thể
làm gì để hạn chế hậu quả.
(Còn
tiếp)
***
Kỷ
nguyên mới và liệu có thể tránh ‘thẳng cẳng’ (Phần 2)
Trân Văn - Người Việt
26-5-2026
https://baotiengdan.com/2026/05/26/ky-nguyen-moi-va-lieu-co-the-tranh-thang-cang-phan-2/
Phần
trước đã giới thiệu về “buông xuôi.” Trong khi “buông xuôi” đang làm sụt giảm
năng suất lao động của Trung Quốc, tạo ra làn sóng “thất nghiệp tự nguyện” thì
cuối năm 2022, phong trào “giấy trắng” (White Paper Revolution) bùng phát. Bất
bình trước chính sách phong tỏa cực đoan để hạn chế COVID-19 lây lan
(Zero-COVID), sinh viên và thanh niên tại các đô thị lớn ở Trung Quốc như Bắc
Kinh, Thượng Hải, Thành Đô… đã đổ ra đường giương cao những tờ giấy trắng – bày
tỏ việc bị buộc phải câm nín không được nói những điều họ muốn.
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/05/1-75-1024x682.jpg
Những
căn nhà ở Sài Gòn vượt quá xa thu nhập của người lao động, nhất là thế hệ trẻ
tuổi. (Hình minh họa: Thanh Hue/Getty Images)
Đợt
phản kháng công khai vốn hết sức hiếm hoi tại Trung Quốc đã khiến chính quyền
Trung Quốc vội vàng chấm dứt chính sách “Zero-COVID,” đưa sinh hoạt xã hội trở
lại bình thường sớm hơn dự kiến.
Từ
năm ngoái đến năm nay, giới trẻ Trung Quốc thêm một lần chuyển hướng. Giá nhà
cao, chi phí đắt đỏ khiến thanh niên Trung Quốc quyết định từ bỏ lối sống kiểu
“Tộc Chuột” (Rats Tribe – chui rúc trong các ổ chuột ở đô thị) và “bỏ phố về
quê.” Họ khuyến khích nhau hãy chấp nhận làm đủ thứ việc không tên, thu nhập thấp
để có không gian sống thoáng đãng, bình yên hơn.
Tuy
“bỏ phố về quê” là một cuộc rút lui vì bất lực nhưng cũng được xem như một kiểu
hỗ trợ giãn dân, tạo cơ hội cho những khu vực cần nhân lực phát triển. “Bỏ phố
về quê” cũng tạo một loại áp lực buộc chính quyền Trung Quốc tự điều chỉnh,
thay đổi cách tiếp cận, chú trọng nhiều hơn đến thế hệ trẻ vì hỗ trợ họ chính
là cách duy trì sự ổn định cả về kinh tế lẫn chính trị.
***
Bởi
là bản sao của Trung Quốc về thể chế nên sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những
vấn nạn kinh tế – xã hội mà chính quyền Trung Quốc phải đối mặt cũng đã hoặc sẽ
xuất hiện tại Việt Nam. Trước khi “nằm thẳng” trở thành phong trào, lan rộng tại
Trung Quốc, giới trẻ và thường dân Trung Quốc đã tuyệt vọng vì giá nhà thăng
thiên, vượt ngoài tầm với của họ.
Giữa
thập niên 2000, giới trẻ và thường dân Trung Quốc gọi nhau là “phòng nô” (nô lệ
của căn nhà). Để có thể trả trước 30% giá trị một căn nhà ở các đô thị lớn, những
cặp vợ chồng trẻ phải vét sạch tiền tiết kiệm của chính mình, của cha mẹ chồng,
cha mẹ vợ (lục cá ví tiền – sáu cái ví). Chuyện chưa ngừng ở đó, 30 năm trả góp
70% khoản tiền còn nợ là ba thập niên làm việc như nô lệ, tóm tắt trong “bốn
không” (không dám ốm, không dám xin nghỉ việc, không dám đi du lịch, và không
dám ăn ngon), chỉ cần thiếu tiền, chậm trả nợ trong một tháng là có thể mất
nhà. Bối cảnh đó mở đường cho “văn hóa 996” lên ngôi, “phòng nô” chấp nhận bị
chèn ép, bị sỉ nhục ở nơi làm việc, chấp nhận chất lượng cuộc sống chạm đáy, tiết
kiệm tối đa để có tiền trả nợ nhà.
Thực
trạng “phòng nô” còn bóp méo các giá trị truyền thống. Giá nhà quá cao, nợ nần
quá lớn, quá nặng nề khiến hôn nhân trong những thanh niên Trung Quốc cư trú tại
các đại đô thị có khuynh hướng trở thành thực dụng. Khi kết hôn, chẳng có gì bất
thường nếu vấn đề được cả hai phía quan tâm chỉ là người phối ngẫu tương lai có
khả năng chia sẻ gánh nặng nợ nần lúc mua nhà hay không. Giá nhà quá cao cũng
là lý do khiến những cặp vợ chồng trẻ không còn khả năng tài chính để sinh và
nuôi dưỡng một đứa trẻ, chẳng phải tự nhiên mà phần lớn “phòng nô” lựa chọn lối
sống DINK (nhân đôi thu nhập, không sinh con), rồi an ủi lẫn nhau rằng họ sẽ là
thế hệ cuối cùng phải gánh vác nợ nần.
Khi
giá nhà tại Việt Nam gấp 30 lần thu nhập trung bình/năm, giới trẻ và thường dân
tại Việt Nam phải nhịn mọi thứ suốt 30 năm mà vẫn không thể mua được một căn
nhà thì “phòng nô” đã hiện diện rồi. Chuyện những cặp vợ chồng trẻ không dám
sinh con hoặc nếu đã có con thì gửi đứa trẻ về quê nhờ cha mẹ nuôi dưỡng không
còn cá biệt.
Năm
ngoái, Viện Khoa Học Vùng Nam Bộ công bố kết quả cuộc khảo sát về dân số, nhân
lực của Việt Nam và các tỉnh/thành phố Nam bộ năm 2024-2025, theo đó, có 22.2%
người độc thân không có ý định lập gia đình, không muốn sinh con vì không đủ điều
kiện về thu nhập và nhà ở.
Hoàn
cảnh tác động tới suy nghĩ, rõ ràng lựa chọn như vừa đề cập có quan hệ mật thiết
với sinh suất của Việt Nam liên tục rơi càng lúc càng sâu hơn mức bình thường
(thay vì phải là 2.1 con/phụ nữ thì chỉ còn 1.93 con/phụ nữ, thậm chí ở một số
đô thị như TP.HCM, sinh suất đã giảm tới 1.2 con/phụ nữ), đẩy nhanh tốc độ già
hóa dân số. Thực trạng này chẳng khác gì “tam bất” (không kết hôn, không sinh
con, không mua nhà) trong phong trào “nằm thẳng” ở Trung Quốc.
Cũng
năm ngoái, báo cáo do Cục Thống Kê công bố khiến nhiều người, nhiều giới đồng
loạt cảnh báo, số lượng “thanh niên hai không” (không có việc làm, không tham
gia học tập, đào tạo) tại Việt Nam đang tăng dần. Số thanh niên thuộc nhóm “hai
không” xấp xỉ 1.5 triệu.
Trong
xã hội học có một thuật ngữ gọi là NEET (Not in Education, Employment, or
Training – không đi làm, không đi học, không học nghề). “Thanh niên hai không”
chính là NEET. NEET dù thụ động (do hoàn cảnh xô đẩy) hay chủ động (do tư tưởng,
chủ động chọn “không”) đều bị xem là là một “bom nổ chậm” về kinh tế và an sinh
xã hội bởi lãng phí nguồn lực của quốc gia, hệ lụy tâm lý vì khó tái hòa nhập,
mầm mống gây bất ổn cho xã hội).
Ngoài
số lượng “thanh niên hai không” đang tăng dần, báo cáo của Cục Thống Kê còn cho
thấy, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi dưới 24 tuổi rất cao (hơn
9%), gấp bốn lần tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước. Trong thực tế, càng ngày
càng nhiều thanh niên Việt Nam rơi vào tình trạng “thất nghiệp có bằng cấp.” Đó
không phải chỉ đơn thuần là lãng phí mà còn đẩy những thanh niên này vào tình
trạng mất phương hướng. Sau đại dịch COVID-19, nhiều triệu thanh niên Trung Quốc
rơi vào tình trạng giống vậy và sau đó chọn lối sống thu mình, ngắt kết nối với
xã hội, tạo ra trào lưu “tộc chuột mới.”
Trung
Quốc cung cấp hàng loạt ví dụ về hậu quả của phát triển lệch lạc khiến giới trẻ
nói riêng và thường dân nói chung không thể đạt được sự ổn định trong đời sống,
cũng như nuôi – giữ hy vọng về tương lai. Chính sự bế tắc ở hiện tại và sự bất
định ở tương lai đã khiến thế hệ trẻ Trung Quốc dùng sử dụng quyền từ chối, kể
cả từ chối duy trì nòi giống như một cách phản kháng áp lực sinh tồn mà thể chế
tạo ra và đè nặng lên họ. Có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy, thế hệ trẻ Việt
Nam đã bị đẩy đến đoạn đầu của “nằm thẳng.” Liệu chính quyền Việt Nam có đủ ý
thức trách nhiệm và khả năng để ngăn những “nằm thẳng,” hay “buông xuôi” trở
thành phong trào, tổn hại không chỉ vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc mà còn
hủy diệt thế hệ trẻ?
No comments:
Post a Comment