#65 - Sự kiện Nhân
Văn - Giai Phẩm, cuộc thanh trừng năm 1967, và di sản của sự bất đồng chính kiến
HÌNH : https://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2013/10/nhanvan.jpg
Nguồn:
Zachary Abuza (2001). “The Nhan
Van–Giai Pham Affair, the 1967 Purge, and the Legacy of Dissent”, in Z.
Abuza, Renovating Politics
in Contemporary Vietnam (London:
Lynne Rienner Publisher). [1]
Biên
dịch: Vương Thảo
Vy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
- Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2013/10/03/su-kien-nhan-van-giai-pham/
Bài
liên quan: 46
– “Chủ nghĩa xét lại” ở Việt Nam DCCH: Bằng chứng mới từ kho tư liệu
Đông Đức
Văn hóa,
nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong
kinh tế và chính trị.
– Hồ
Chí Minh
*
Nhà
soạn nhạc Xô Viết phải tìm kiếm những giá trị anh hùng, vĩ đại và cao đẹp, phải
chiến đấu chống lại chủ nghĩa hiện đại mang tính phá hoại lật đổ, điển hình cho
thời kỳ suy tàn của nền nghệ thuật tư sản. [Âm nhạc phải] mang tính dân tộc về
mặt hình thức và xã hội chủ nghĩa về mặt nội dung.
–
Maxim Gorky, “Bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, 1934
Những
kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y
như một cái bình vôi,
Càng
sống càng tồi.
Càng
sống càng bé lại.
–
Phan Khôi
Từ
ngày đất nước thống nhất năm 1975 đến Đại hội Đảng lần thứ Sáu vào tháng Mười
Hai năm 1986 khi chương trình cải cách kinh tế được tiến hành, hầu như không tồn
tại bất cứ mối bất đồng nào trên cả nước, ngoại trừ những cựu thành viên chống
cộng sản của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng ngay cả mối bất đồng này cũng bị hạn
chế vì sự độc đoán và những cuộc trừng trị không nương tay ngày càng mở rộng của
chính phủ đối với những kẻ thù trước đây. Những người không bị “học tập cải tạo”
và đưa đến “những vùng kinh tế mới” (hơn 300.000 người) sẽ bị hăm dọa buộc phải
phục tùng nhà nước. Những nguyên nhân của mối bất đồng xuất hiện trong suốt thời
kỳ đổi mới có nguồn gốc từ trước ngày đất nước thống nhất, và cũng cần xem xét
một bối cảnh lịch sử đặc biệt liên quan đến hai sự kiện nhằm giải thích cho mối
bất đồng trong thời kỳ đương đại.
Sự
kiện đầu tiên liên quan đến việc đối xử đối với các trí thức gia, tác giả, nhà
thơ, và văn nghệ sỹ – những người đã gia nhập hàng ngũ Việt Minh trong những
năm 1940-1950 nhưng sau đó đã bị thanh trừng vì yêu cầu đòi mở rộng quyền tự do
trí thức, bao gồm quyền được xuất bản các tác phẩm độc lập. Thực tế cho thấy rất
nhiều trong số những nhà trí thức này vẫn là những nhân vật đi đầu trong các hoạt
động chống đối trong thời điểm hiện tại trong khi những vấn đề và yêu sách
tương tự tiếp tục vẫn còn dư âm.
Sự
kiện thứ hai là cuộc thanh trừng nội bộ Đảng vào giữa đến cuối những năm 1960
mà trong đó những người chống lại chính sách leo thang chiến tranh chống Mỹ sẽ
bị thanh trừng vì đã vi phạm những nguyên tắc của chế độ tập trung dân chủ. Những
đảng viên nào đưa ra bất cứ phương án khác cho cuộc chiến ở miền Nam mà đi ngược
lại với chủ trương không khoan nhượng của những nhà cầm quyền sẽ bị ngược đãi
không thương xót, điều này đã vô hình chung chấm dứt những cuộc tranh luận công
khai và ý nghĩa trong nội bộ đảng. Từ năm 1967 đến khi chính sách Đổi Mới được
thực hiện, tất cả quá trình ra quyết định bị giữ độc quyền trong tay của những
nhà lãnh đạo mà không ai dám chống đối hoặc có ý nghi ngờ, do đó đã tạo ra sự
trì trệ trong chính sách nhà nước và chính sách đối ngoại. Mặc dù sự kiện Nhân
Văn – Giai Phẩm và cuộc thanh trừng nội bộ đảng vào năm 1967 đã được phân tích
một cách thấu đáo trong các tác phẩm khác, nhưng tác giả vẫn sẽ bàn luận hai sự
kiện trên trong bài viết này.
Chúng
chính là những sự kiện đầu tiên và mang tính cấu thành nhất đối với tình trạng
bất đồng chính kiến dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản, và những vấn đề được
những người chống đối đưa ra vào những năm 1950-1960 cho đến giờ vẫn không thay
đổi. Di sản của những sự kiện này mang tính thu hút, và chúng đã trở thành điểm
quy tụ cho những người chống đối ngày nay: sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm như là
một biểu tượng của sự thất bại của đảng trong lời hứa sẽ mang lại tự do cho giới
trí thức, và cuộc thanh trừng nội bộ đảng chính là dấu chấm hết cho nền dân chủ
nội đảng và dập tắt tư duy trong quá trình ra quyết định. Cuối cùng là, cách thức
mà chế độ đáp trả đối với những sự kiện này, ngay cả thời điểm hiện tại, cho ta
thấy về tình trạng cải cách chính trị tại Việt Nam.
Sự
kiện Nhân Văn – Giai Phẩm
Bối
cảnh sự kiện
Năm
1950, vào giữa cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc
và ký kết thỏa thuận viện trợ quân sự với nhà lãnh đạo cộng sản mới của Bắc
Kinh. Khi viện trợ quân sự được đưa vào, thì dòng chảy ồ ạt các thể chế, cải
cách và lực lượng cố vấn mang phong cách Trung Quốc cũng từ đó mà tràn vào. Một
chiến dịch gấp gáp được khởi động để học tập kinh nghiệm cách mạng của Trung Quốc,
và 200.000 bản sao của 43 cuốn sách của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã được dịch
và in ra. Các thể chế kinh tế và chính trị Trung Quốc ngày càng phổ biến. Trước
năm 1952, có gần 7.000 binh sĩ và cố vấn Trung Quốc hiện diện tại Bắc Bó (một
chiến khu phía Bắc). Trong giai đoạn 1949-1954, Trung Quốc huấn luyện và trang
bị cho gần 50.000 bộ đội Việt Nam tại các doanh trại ở Vân Nam và Quảng Tây
thành lập vào mùa xuân năm 1950. Theo đề xuất của Trung Quốc, Đảng Lao Động
mang tính xã hội chủ nghĩa được công khai thành lập vào tháng Hai năm 1951, sự
kiện này đã chấm dứt cáo buộc cho rằng Việt Minh là một tổ chức chống thực dân có
cơ sở rộng khắp mà lại không có điểm tựa về mặt tư tưởng.[2] Theo như một nhà sử
học, Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, tác phẩm
đặt ra cuộc cách mạng ba giai đoạn cho chiến tranh, lại “gần như ăn cắp ý tưởng
của chủ nghĩa Mao.”[3] William Duiker đã ghi nhận một cách súc tích rằng đường
hướng lãnh đạo của Việt Minh đơn thuần là để “vuốt ve cái tôi của những nhà
lãnh đạo Trung Quốc” bởi vì sự trợ giúp của họ là hoàn toàn thiết yếu.[4]
Chiến
dịch chỉnh huấn khổng lồ trong nội bộ Đảng (hay Cheng feng theo tiếng Hoa), lấy
hình mẫu của chiến dịch Diên An tại Trung Quốc, đã được khởi động và hàng ngàn
cán bộ bị thanh trừng; số lượng Đảng viên giảm từ 50.000 trong năm 1950 xuống
còn 40.000 vào năm 1954. Chiến dịch cải cách ruộng đất hai giai đoạn bắt chước
mô hình của Trung Quốc cũng được tiến hành. Giai đoạn ôn hòa từ năm 1953 đến
năm 1954 nổi bật là việc giảm tô, theo sau đó là giai đoạn thay đổi rõ rệt hơn
từ năm 1954 đến năm 1956 với việc tái phân phối một khối lượng lớn tài sản ở
phía Bắc.[5] Đây là hồi chuông cảnh báo giới trí thức bởi vì hầu hết trong số họ
đều có vài mối liên hệ đến tầng lớp có ruộng đất “phong kiến” và “phản động”.[6]
Vào tháng Ba năm 1953, chính phủ quyết định và ban hành một danh sách đặt tên
các giai cấp trong xã hội, trong đó chính phủ nỗ lực làm dịu đi nỗi sợ hãi bằng
cách khẳng định rằng “giới trí thức không tự họ hình thành nên một tầng lớp
riêng” mà địa vị của họ dựa trên “thành phần” của gia đình. Bởi vì nhiều trí thức
gia được xếp vào thành phần “kẻ thù giai cấp”, nên ngược lại cũng có một thành
phần mới được tạo ra, đó là “cá nhân tiên tiến”, danh hiệu này sẽ được cấp cho
ai ngoài việc phục vụ cho cách mạng còn tình nguyện giao nộp toàn bộ của cải
cho chính phủ.
Trong
khi sự trợ giúp về mặt hậu cần từ phía Trung Quốc là cần thiết, thì một nhiệm vụ
cũng không kém phần quan trọng đối với công cuộc đấu tranh chống thực dân của
Việt Minh là thu phục được sự đồng lòng của giới trí thức. Nhiều trí thức gia cảm
thấy họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải lên Việt Bắc và tham gia
cách mạng; nếu không làm như vậy, họ sẽ bị đánh đồng với việc bắt tay với giặc
Pháp. Một số lượng lớn các trí thức gia tham gia Việt Minh vì lòng yêu nước, chứ
không phải vì chủ nghĩa cộng sản. Thực tế cho thấy vì các nhà lãnh đạo Việt
Minh cố gắng che giấu đi những mối liên hệ với chủ nghĩa cộng sản của tổ chức
này, bằng cách trên danh nghĩa giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương vào năm 1946,
nên rất có thể nhiều nhà trí thức tin theo lời Hồ Chí Minh từng công khai cho rằng
đây là một tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải cộng sản. Thật vậy, một
học giả miền Nam Việt Nam có luận điểm cho rằng giới trí thức “được động viên bởi
hy vọng rằng họ có thể dùng tổ chức kháng chiến này để tập hợp các phần tử dân
tộc và tạo nên một lực lượng có thể điều chỉnh cán cân chống lại những người cộng
sản trong số những thành viên tham gia kháng chiến.[7] Dù cho lý do có là gì đi
nữa thì các nhà trí thức cũng tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân với đầy
nhiệt huyết.
Ngay
từ buổi ban đầu, [các nhà văn] đã dốc hết tâm huyết và sức lực cho tất cả các
hoạt động mà đất nước kêu gọi sự giúp sức của họ trong thời chiến. Họ sát cánh
với những người phu và nông dân để chiến đấu chống lại kẻ thù của đất nước. Họ
chia sẻ với những con người này đời sống khổ cực trong rừng rậm, và cũng như thế,
họ sống và làm việc trong bầu không khí ngập tràn lòng yêu nước.[8]
Nhưng
ngay từ buổi ban đầu, Đảng đã kiên quyết kiểm soát giới trí thức và ngăn cản họ
khỏi tình trạng quá độc lập. Dựa trên tác phẩm của Mao, Lenin, và Maxim
Gorky,[9]các văn nghệ sỹ Việt Nam bị bắt buộc phải chấp nhận những nguyên lý của
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và phải xem xét lại lập trường tư tưởng của
mình. Trong một bài phát biểu năm 1948, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Trường Chinh
đã yêu cầu văn học và văn hóa “phải duy trì lòng trung thành hoàn toàn với Tổ
quốc và cuộc kháng chiến.”[10]
Năm
1951 chứng kiến hai ràng buộc sâu sắc hơn đối với giới trí thức: Ràng buộc đầu
tiên chính là việc đưa vào “chế độ tập trung dân chủ” như là quy trình hoạt động
trung tâm của Đảng. Nguyên tắc này trở thành mối liên kết giữa giới tinh hoa và
quần chúng: một khi Đảng đã đưa đến một quyết định nào đó thì không có bất cứ sự
chống đối nào được chấp nhận. Sau đó, trong một bức thư gửi đến giới nghệ sỹ và
trí thức vào năm 1951, Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn từ mà Mao đã sử dụng trong
buổi nói chuyện với giới trí thức tại Diên An, trong đó nhà lãnh đạo Trung Quốc
đã làm rõ rằng “thực tế không có nghệ thuật vị nghệ thuật, không có nghệ thuật
đứng trên giai cấp, không có nghệ thuật tách rời hoặc độc lập với chính trị.
Văn học và nghệ thuật vô sản là một phần của toàn bộ lý tưởng đấu tranh cách mạng
của giới vô sản.”[11] Ông giải thích cho giới trí thức về khái niệm của chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. “Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, người chiến
đấu trên mặt trận văn hóa cần có một lập trường chính trị vững vàng và một hệ
tư tưởng đúng đắn: Nói tóm lại, anh phải đặt lợi ích của cuộc cách mạng, của quốc
gia và dân tộc lên trên tất cả.”[12] Để thực hiện được mục tiêu này, Hồ Chí
Minh lập luận rằng “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng
ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”[13] Kết quả là, những hình
thức thay đổi sự thật hoặc nguyên tắc từ ngữ ngữ pháp tiêu chuẩn trong các tác
phẩm nghệ thuật bị hạn chế, và theo như học giả người Pháp Georges Boudarel,
“những tác phẩm của họ được kỳ vọng xoay quanh những đặc tính điển hình và phục
vụ kịp thời cho các đòi hỏi về mặt chính trị của phong trào. Từ phổ biến hay
dùng là từ “căm thù”: căm thù đế quốc nước ngoài và phong kiến bản địa hoặc những
điền chủ.”[14]
Những
bó buộc đối với giới văn nghệ sỹ này, cùng với việc thi hành những khía cạnh
khác của chủ nghĩa cộng sản, “đã đẩy một làn sóng trí thức gia khổng lồ tới khu
vực thuộc quyền kiểm soát của Pháp.”[15] P.J.Honey khẳng định rằng “càng áp dụng
nhiều nguyên lý từ những người cộng sản Trung Quốc, thì hàng ngũ những trí thức
gia bị vỡ mộng ngày càng nhiều, điều này loại bỏ đi những thành phần tham gia
hoạt động kháng chiến.”[16] Những người nào còn trụ lại gần như chỉ có việc
sáng tác cho chiến dịch văn chương của Việt Minh và phải chịu đựng những nguyên
lý khắt khe của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Trong
một nỗ lực lớn hơn nhằm bắt giới tri thức phải chịu sự kiểm soát của Đàng, người
ta đã gây áp lực để giới này phải gia nhập đảng. “Họ bị đe dọa rằng nếu từ chối
tư cách thành viên, họ sẽ bị lên án là những kẻ phản động, cùng lúc đó, họ cũng
được dụ dỗ gia nhập bởi lời hứa về những ưu đãi đặc biệt.”[17] Tuy nhiên, ngay
cả những người trí thức ở lại chiến khu và gia nhập Đảng cũng phải chịu đựng
chiến dịch học tập cải tạo dẫn đầu bởi “những cán bộ văn hóa cộng sản đặc biệt”
– những người đã từng được “chỉ dẫn bởi ‘những người đàn anh ở phía bên kia đường
biên giới’ [các cán bộ Trung Quốc] trong ‘hệ thống nghệ thuật và văn chương
Trung Quốc.’”[18]
Nhìn
chung, hầu hết các trí thức gia trụ lại là do những lý do xuất phát từ lòng yêu
nước. Cuộc kháng chiến chống Pháp chính là một động cơ thúc đẩy thực sự. Vì muốn
giành độc lập, các văn nghệ sỹ sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa và mệnh lệnh của đảng buộc công việc của họ phải là một phần trong toàn bộ
phong trào kháng chiến lãnh đạo bởi Đảng Lao Động. Họ chấp nhận sự kiểm soát,
kiểm duyệt của Đảng và hy sinh một phần tự do cho nền độc lập dân tộc. Như một
nhà chống đối hàng đầu từng viết:
Khi
Hội [văn hóa cứu quốc] ở Việt Bắc thì đường lối hoạt động dường như rất đơn giản.
Để phục vụ đất nước dân tộc, và trên hết là cuộc kháng chiến cấp bách, thì phải
tuân theo chủ nghĩa Mác. Không thể cho rằng các văn nghệ sỹ lúc bấy giờ hoàn
thành đúng và đủ hoàn toàn các nhiệm vụ được giao, nhưng có một điều chắc chắn
rằng họ nỗ lực hết mình để đi theo đường lối hoạt động nói trên. Liệu họ có bao
giờ cảm thấy bất mãn với cấp trên của mình? Rất hiếm hoi. Hoặc nếu có đi chăng
nữa, họ cũng không để tâm lắm đến điều đó vì tâm hồn của họ đã đắm chìm trong
cuộc kháng chiến gian khó mà vĩ đại. Họ không có thì giờ rỗi rãi để nghĩ đến
các vấn đề khác nữa.[19]
Con
người họ tràn ngập niềm tự hào và lửa nhiệt tình với mong muốn xây dựng một Việt
Nam mới độc lập, và họ tin rằng chính việc phục vụ cách mạng sẽ mang lại cho họ
tự do sáng tác. Họ mong muốn rằng, sau cuộc kháng chiến, họ sẽ nhận được tự do
nhiều hơn cả dưới thời Pháp và sự can thiệp của đảng vào văn học nghệ thuật
cũng sẽ chấm dứt.
Vào
thời kỳ đầu tình hình cho thấy họ có vẻ sẽ được tự do. Đảng Lao Động gửi các
cán bộ văn hóa đến Hà Nội vào tháng Chín năm 1954 để thuyết phục những người đã
rời khỏi Việt Bắc thôi không chuyển vào miền Nam trong khoảng thời gian 300
ngày như hiệp định Geneva đã cho phép. Để lấy lại sự ủng hộ của giới trí thức,
vào năm 1954-1955 Đảng Lao Động đã thực hiện một đường lối mang tính tự do đối
với những trí thức và chuyên gia đã phục vụ cho Pháp; những người nào ở lại miền
Bắc được đối xử rất tốt, thường kiếm được nhiều hơn những người cùng với Đảng
Lao Động vào Hà Nội vào năm 1954.[20] Tố Hữu, một trí thức hàng đầu của đảng,
đã thông báo một chính sách hòa giải vào năm 1955: “Đảng có thể cung cấp sự
lãnh đạo trí thức để chống lại kẻ thù, nhưng hiện nay là giai đoạn cho công việc
mang tính xây dựng. Đảng có thể sẽ không lãnh đạo nữa, mà nên nhường đường cho
giới trí thức.”[21] Nhưng cùng thời điểm đó, Đảng Lao Động buộc tất cả văn nghệ
sỹ phải gia nhập Hội Văn Nghệ chính thức. Cuộc trấn áp bắt đầu.
Loạt
đạn mở màn
Tình
trạng bất đồng bắt đầu khi Trần Dần, một tác giả quân đội đồng thời là Đảng
viên, đã viết một cuốn sách phóng sự về trận chiến Điện Biên Phủ vào tháng Hai
năm 1955. Sau này Bảo Ninh và Dương Thu Hương có các tác phẩm tương tự vào những
năm 1990, các nhân vật trong tác phẩm của ông không phải là những hình mẫu anh
hùng chủ nghĩa xã hội mà đảng đã ra lệnh phải theo. Quyển sách là bức chân dung
phác họa cuộc sống khổ cực bên trong chiến hào nơi hầu như không thấy bằng chứng
cho thấy sự thắng lợi của cuộc chiến hay tính đúng đắn của sự nghiệp xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên ông đã được cử đến Trung Quốc để viết kịch bản phim; ở đó ông
đã trải qua một cuộc tranh cãi quyết liệt với viên chính ủy người đã được gửi đến
làm việc với ông. Trần Dần trở về nước với tâm trạng thất vọng và đã tập hợp một
nhóm các nhà trí thức có cùng tư tưởng trong nội bộ quân đội mà mục tiêu của họ
là thuyết phục các lãnh đạo đảng trả lại cho họ sự tự do sáng tác. Họ mong muốn
đòi lại sự tự do không chỉ từ các nhân viên kiểm duyệt quân đội mà còn từ các
viên chính ủy của đảng. Theo như cương lĩnh được soạn thảo và đệ trình cho Ban
chấp hành Trung ương vào năm 1955 của Trần Dần và gần 30 các trí thức gia khác,
Biểu
hiện cao nhất về trách nhiệm của một tác giả là sự tôn trọng và trung thành của
anh ta đối với sự thật… Sự thật, với phạm vi của nó, vượt qua tất cả những chỉ
thị, tất cả lý thuyết…Nếu nó đi ngược lại một kế hoạch hoặc mệnh lệnh nào đó,
các tác giả cần bám theo sự thật, không bóp méo nó cũng như không được ép sự thật
vào khuôn khổ chính trị… Cách mạng không cần bất cứ nhà tông đồ nào để đốt
hương và ca tụng các kế hoạch và cũng chẳng cần đến các vị pháp sư cúng tế khi
họ vỗ chiêng và tụng kinh cầu…Ngày nay, người ta tìm thấy trong văn chương của
chúng ta khá nhiều kỹ xảo (và ngay cả bộ mặt đạo đức giả).[22]
Ông
lập luận rằng “một tác giả phải được cho phép sự tự do gần như hoàn toàn trong
việc lựa chọn chủ đề, nhân vật, phong cách thể hiện thái độ và cảm xúc. Tất cả
trở ngại và hạn chế phải bị bài trừ như những kẻ thù của chủ nghĩa hiện thực.”
Trong thời gian ở Trung Quốc, Trần Dần chịu ảnh hưởng bởi một nhân vật trong nền
văn chương Trung Quốc là Hồ Phong, người muốn mở rộng những biên giới có thể chấp
nhận được của văn học. Khi trở về, Trần Dần đã viết, “Tại sao không có ai viết
về các quan chức chính phủ chẳng hạn? Hoặc về tình yêu? Tại sao cứ phải giới hạn
các nhân vật vào vai những cá nhân mang thân phận người công nhân hoặc nông
dân? Chủ nghĩa hiện thực khuyến khích hàng trăm trường phái cùng phát triển mạnh.”[23]
Những lời tấn công thẳng thắng như vậy vào sự kiểm soát của đảng đã khơi dậy
khí phách trong lòng giới trí thức, những người đã tập hợp lại để bảo vệ cho
ông. Phan Khôi, cha đẻ của nền thơ ca hiện đại Việt Nam,[24] khi đó 70 tuổi, đã
viết “mỗi người trong chúng ta sở hữu nghệ thuật của chính bản thân mình và phản
ánh tính cách của chúng ta trong đó. Chỉ có loại hình nghệ thuật và tính cách
này mới có thể tạo ra quang cảnh trăm hoa đua nở. Trái lại, nếu các tác giả bị
ép buộc phải viết theo cùng một phong cách, thì sẽ có ngày tất cả loài hoa đó sẽ
trở thành hoa cúc vạn thọ hết thảy.”[25]
Một
nhà trí thức khác, Lê Đạt, đã than phiền rằng hiện thực xã hội chủ nghĩa giống
như:
Việc
đặt các đồn cảnh sát và máy móc thiết bị vào giữa trái tim con người
Việc
buộc cảm xúc phải thể hiện theo như một bộ quy tắc mà chính phủ ban hành.
Phản
ứng ban đầu của đảng đối với Trần Dần và những nhà chống đối khác là đặt họ
trong chế độ quản thúc tại gia và sau đó cải tạo họ.[26] Tố Hữu, nhà thơ của
chính phủ, sau đó đã phát động một chiến dịch nhằm tái củng cố đời sống của giới
trí thức với những nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tố Hữu
yêu cầu các nhà trí thức phải tuân thủ nghiêm ngặt các tham số được quy định
trong bài phát biểu của chủ tịch Mao tại Diên An: “những nhân vật mang tính
tích cực,” “những anh hùng cách mạng,” và “nông dân và công nhân như lực lượng
tiên phong.” Nói tóm lại, Tố Hữu kêu gọi sự tổng hợp không thỏa hiệp giữa chính
trị và nghệ thuật bởi vì “nội dung quyết định hình thức.”
Trong
khi nhiều nhà trí thức ý thức được tương lai không lành sẽ xảy ra và tuân theo
đường lối của đảng thì những người khác lại tạm lánh mặt cho đến đầu năm 1956
khi tuyển tập mang tên Giai Phẩm Mùa Xuân được xuất bản. Tính
táo bạo của tạp chí này, trong đó bao gồm một bài thơ Trần Dần viết nhằm miêu tả
tình trạng tệ hại không thể chấp nhận được ở miền Bắc, đã làm chất xúc tác cho
các nhà trí thức khác.[27] Khi đảng trao giải Nhất Giải thưởng Văn học vào năm
1954-1955 cho một tác phẩm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường của
nhà thơ trung thành với đảng – Xuân Diệu, giới trí thức nổi dậy.[28]
Tại
Hội nghị tháng Tám năm 1956 của Hội Văn nghệ, các nhà trí thức công khai đòi
quyền tự do nhiều hơn, cũng giống như đồng sự của họ ở Trung Quốc và Liên Xô tại
thời điểm đó. Ở Trung Quốc, Lục Định Nhất kêu gọi “phá vỡ sự trì trệ trong hoạt
động của giới trí thức ở Trung Quốc” trong bài phát biểu “Trăm hoa” của ông. Cụ
thể là ông đã yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép “sự tự do trong suy
nghĩ độc lập về hệ tư tưởng, các hoạt động nghiên cứu khoa học và nghệ thuật; tự
do ngôn luận; tự do tham gia vào các công việc sáng tạo và phê bình tác phẩm của
những người khác; tự do bày tỏ ý kiến; và tự do thu lại ý kiến.” Các học giả
cũng bàn luận về những thay đổi trong chính sách của Xô Viết đối với giới trí
thức kể từ Đại hội lần thứ Hai mươi của Đảng Cộng Sản Liên Xô khi Khrushchev
đưa ra bài phát biểu phi Stalin hóa của mình.
Trong
một nỗ lực nhằm ngăn chặn làn sóng chỉ trích, Hoài Thanh – một quan chức cao cấp
của đảng đã xuất bản một bài viết tự phê bình trong tuần báo Văn Nghệ. Nhưng đã
quá trễ, giới trí thức bắt đầu xuất bản tạp chí riêng của họ dựa trên triết lý
của trí thức gia đối kháng Trung Quốc Hồ Phong, người đã cho rằng “chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa cần phải chuyển sang khía cạnh con người và khẳng định bản
thân như một loại hình của chủ nghĩa nhân văn.” Vào ngày 15 tháng Chín năm
1956, tạp chí Nhân Văn độc lập đã được cấp phép xuất bản. Biên tập bởi Phan
Khôi, Nhân Văn xuất bản năm lần từ 20 tháng Chín đến 20 tháng Mười Một năm
1956. Trong giai đoạn đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chấp nhận trong thời gian
ngắn sự thẳng thừng của các tác giả và biên tập viên.
Càng
nhiều thứ thay đổi…
Ngoài
nhu cầu tự do sáng tác và quyền tự do thành lập các ấn phẩm độc lập mà không chịu
sự kiểm soát và kiểm duyệt của đảng, những người bất đồng ý kiến còn có rất nhiều
khiếu nại khác. Cũng giống như nhiều đồng nhiệp của họ vào những năm 1990, giới
trí thức những năm 1950 rất cẩn trọng trong việc thách thức chủ nghĩa xã hội hoặc
sự độc quyền về quyền lực của đảng. Theo Georges Boudarel, một học giả hàng đầu
trong nghiên cứu phong trào này: “Nhưng họ không đồng ý việc đánh đồng chủ
nghĩa xã hội với chủ nghĩa nhất thể (monolithism), và chủ nghĩa yêu nước với chủ
nghĩa toàn trị (totalitarianism).”[29]
Phần
lớn nhu cầu của họ tập trung vào vấn đề “sự thật” và tính hợp pháp của các nguồn
thông tin độc lập và thay thế. Các nhà đối kháng hiểu sự cần thiết của công tác
tuyên truyền, nhưng họ cũng cảnh giác trước việc Đảng sẽ diễn dịch sai hoặc nói
dối về các sự kiện nhằm thúc đẩy các mục tiêu của mình. Phùng Quán đã yêu cầu một
cách rõ ràng về sự minh bạch trong một bài thơ nổi tiếng (Lời mẹ dặn – ND):
Con
ơi một người chân thật
Thấy
vui muốn cười cứ cười
Thấy
buồn muốn khóc là khóc.
Yêu
ai cứ bảo là yêu
Ghét
ai cứ bảo là ghét
Dù
ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng
không nói yêu thành ghét.
Dù
ai cầm dao dọa giết
Cũng
không nói ghét thành yêụ.[30]
Tương
tự như vậy, Trần Lê Văn giải thích cho sự thiếu thốn các nguồn thông tin thay
thế là do tính thiếu trách nhiệm tai hại và lạm dụng quyền lực của đảng. “Nếu
như các cuộc phê bình công khai được áp dụng sớm hơn trong công chúng và báo giới,
mà trong đó ai cũng có thể thẳng thắn nói ra điều họ nghĩ để các nhà lãnh đạo của
chúng ta dần dần nói ra sự thật từ những dối trá trong việc thực hiện các chính
sách, thì nhiều thảm họa đã có thể tránh được.”[31]
Sai
lầm tối quan trọng chính là chương trình cải cách ruộng đất đặc trưng bởi “sự nổi
lên của phong trào nông dân bạo lực.” Những người chống đối quan tâm đến thực tế
là có ít tính hợp pháp ở khu vực nông thôn hơn là ở Hà Nội – khu vực trong tầm
kiểm soát của Pháp: Bài xã luận của Nguyễn Hữu Đang trong kỳ 4 tạp chí Nhân
Văn, vào ngày 5 tháng 11 năm 1956, đã nhắc lại lời tố cáo của Khrushchev về việc
sử dụng bạo lực và khủng bố của Stalin và Beria, nhưng đồng thời cũng khẳng định
rằng “Điều này ở xã hội ta không phải ai cũng công nhận dễ dàng. Vì lòng khinh
bỉ của chúng ta đối với pháp lý tư sản lớn quá đến nỗi ở một số đông người nó
đã trở thành lòng khinh bỉ pháp lý nói chung… Ít luật lệ là một điều
thuận tiện cho sự lạm quyền, độc đoán. [32]
Để
thúc đẩy tạo dựng nên xã hội mang tính pháp trị hơn, giới trí thức đã kêu gọi
chỉnh sửa Hiến pháp, yêu cầu đảng trao tự do cho quốc hội, và mong muốn một
nhánh tư pháp được độc lập. Vị luật sư nổi tiếng, Nguyễn Mạnh Tường, đã vạch ra
bốn cuộc cải cách pháp lý cơ bản vào tháng 10 năm 1956 cần phải được thực hiện
để tránh những việc lạm dụng ngoài vòng pháp luật như đã xảy ra trong suốt chiến
dịch cải cách ruộng đất: thiết lập thời hiệu khởi kiện; chấm dứt việc xử tội đồng
lõa của gia đình và các thế hệ liên quan đến phạm nhân; thiết lập một tiêu chuẩn
cao hơn cho chứng cứ; và cung cấp quyền lợi cho người bị khởi tố trong suốt thời
gian điều tra. Theo ông, những trở ngại thêm vào đó là “sự khinh bỉ đối với
pháp lý – thứ đứng dưới quyền lực chính trị – và sự khinh bỉ đối với các chuyên
gia.”[33]
Các
nhà phê bình cũng đề cập rất nhiều đến sự thiếu dân chủ, sự chiếm hữu quyền lực
trong tay một số ít nhân vật, và tình trạng trì trệ của chính trị nói chung.
Hai tác phẩm táo bạo nhất là của Phan Khôi và Lê Đạt, hai tác giả viết về “ông
bình vôi,” ống nhổ mà người nhai trầu vẫn sử dụng, được lấp đầy bởi vôi để ngăn
mùi; đến lúc vôi tích tụ, làm cho bình vôi trở nên vô dụng. Sự ám chỉ Hồ Chí
Minh và những nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng trong tác phẩm này đã làm cho đảng
giận dữ:
Những
kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y
như một cái bình vôi,
Càng
sống càng tồi.
Càng
sống càng bé lại.
Phan
Khôi đã viết một bài khảo cứu nhỏ dựa trên bài thơ bốn câu này, đặt tên là “Ông
bình vôi,” nhằm bổ sung thêm cho hình ảnh phúng dụ của Lê Đạt. Trong bài viết
này, ông kể khi còn là một cậu bé 18 tuổi ông đã “hất một loạt ‘ông bình vôi’
thờ trên tường thành xuống đất. Sao lại làm như thế? Chúng tôi cứ làm như thế,
không cần có lý luận.” Ông đả kích những nhà lãnh đạo đảng vô dụng và già cỗi:
“Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại,
ngồi cũ rũ trên tran hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ
không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng
‘Ông’.”[34]
Đối
tượng của sự đả kích rất rõ ràng. Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo đảng hàng đầu
đã trở nên quá cứng nhắc và bảo thủ, cũng giống như những bình vôi cũ, đã mất
đi tính hữu dụng. Đã đến lúc cất họ vào kệ. Ở đó họ sẽ được kính trọng, nhưng họ
sẽ được thay thế bởi “những bình vôi” mới và có ích hơn. Vì điều này mà Phan
Khôi bị tố là kẻ phản động và người theo chủ nghĩa xét lại, một người con người
già nua suy yếu không thể vượt qua được “tâm tính tư sản” của mình, nhưng bất
chấp những sự tấn công này, ông tiếp tục biên tập tờ Nhân Văn và Giai Phẩm để hỗ
trợ cho những tác giả và trí thức trẻ. Để đáp lại lời cáo buộc của nhiều người
trong đảng rằng ông là kẻ phản cách mạng, ông đã viết một bài thơ trong tạp chí
Giai Phẩm kỳ số ba (tháng mười 1956):
Hồng
nào hồng chẳng có gai,
Miễn
đừng là thứ hồng rài không hoa.
Là
hồng thì phải có hoa,
Không
hoa chỉ có gai mà ai chơi?
Ta
yêu hồng lắm hồng ơi!
Có
gai mà cũng có mùi, hương thơm.
Tuy
nhiên, Lê Đạt và Phan Khôi đứng trong hàng ngũ thiểu số khác biệt, và rất ít
người sẵn sàng đối kháng công khai với hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Nhưng vẫn có một ngoại lệ, đó là Giáo sư sử học Đào Duy Anh, người đã khẳng định
rằng sự tuân thủ cứng nhắc của đảng đối với ý thức hệ sẽ giới hạn lại phạm vi
nghiên cứu và tri thức của đất nước và do đó làm chậm quá trình tăng trưởng và
phát triển. Trong một đoạn văn sẽ làm tấm gương cho các công trình vào gần bốn
thập kỷ sau đó của Phan Đình Diệu và Hà Sĩ Phu, Đào Duy Anh có viết:
Ở
nước ta thì bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn, khiến
người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của
Mác-Ăng-ghen và Lê-nin, hoặc những ý kiến của Sta-lin hay các lãnh tụ khác, để,
hoặc phát triển thêm những ý kiến ấy, hoặc g̣ò bó tài liệu, xoay sở thế nào để
gán vào khuôn khổ của những công thức rút ra tự những ý kiến ấy. Xin chỉ một
cái tỷ dụ gần đây. Như vấn đề phân kỳ của lịch sử Việt Nam và vấn đề hình thành
dân tộc, chúng tôi nhận thấy rằng nhiều người nghiên cứu không dám có ý kiến gì
mới ngoài những điều các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác hay các vị lãnh tụ đã
nói về các vấn đề ấy. Hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ,
những khuôn khổ sẵn có thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ, như cái
danh hiệu cải biến chủ nghĩa chẳng hạn, những mũ như thế rất dễ bịt mồm bịt miệng
người ta…Trong thực tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu
hay nghị luận một vấn đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra
ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy, công tác
học thuật trở thành trò xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là con đường cái
thênh thang mọi người tự do đi lại, chứ không phải sợi dây căng của người làm
xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho
học thuật. Phải áp dụng chính sách “bách gia tranh minh” mà Đảng Cộng sản Trung
Quốc thi hành đối với công tác nghiên cứu khoa học.”[35]
Tư
tưởng chính thống không chỉ dẫn đến tình trạng trì trệ về mặt tri thức và chủ
nghĩa giáo điều, mà nó còn tạo ra một tầng lớp tinh hoa hoàn toàn mới, một tầng
lớp “bà la môn” bao gồm các đảng viên nào bắt đầu tách mình ra khỏi quần chúng.
Là cơ sở cho những tác giả những năm 1990, Hữu Loan tấn công tầng lớp mới này
qua bài thơ “Cũng những thằng nịnh hót,” trong đó ông cáo buộc giai cấp thống
trị mới, những người đã hành động cũng tương tự như những kẻ thống trị thời
phong kiến và thực dân mà họ đã thay thế, về việc trở thành một thứ gì đó mà lẽ
ra không nên tồn tại trong xã hội không giai cấp này.[36]
Phản
ứng của Đảng
Các
nhà lãnh đạo đảng bị chia rẽ trong việc giải quyết tờ Nhân Văn, Giai Phẩm và những
tạp chí chống đối khác. Nhiều người muốn miễn tội cho giới trí thức này. Đặc biệt,
quân đội khá cảm thông với nhu cầu của những nhà trí thức có lẽ bởi vì bản thân
Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cảm thấy đảng can thiệp quá nhiều vào công việc
riêng của mình. Nhiều người trong QĐND, cũng như các nhà trí thức, cảm thấy lo
lắng về sự quỵ lụy một cách mù quáng đối với các mô hình và học thuyết Trung Quốc.[37]
Thật vậy, một chính ủy tư tưởng trong QĐND, Trần Độ, sau này trở thành người bất
đồng chính kiến dẫn đầu vào những năm 1990, đã cố gắng dàn xếp một thỏa hiệp với
những người theo đường lối cứng rắn của đảng đứng đầu bởi Tố Hữu và trợ lý của
ông là Hoài Thanh.
Những
người khác hoàn toàn không tin rằng giới trí thức có thể là mối đe dọa với chế
độ: những cuộc tấn công gay gắt từ trong nội bộ giới này đã chọc giận nhiều người
của đảng, nhưng dân chúng không mấy ai biết đến các nhà trí thức cùng với những
lời phê bình chỉ trích của họ. Bùi Tín cho rằng phong trào được dung thứ vì
tính cô lập của nó. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thường dưới dạng sách
và phim Trung Quốc và Xô Viết, dễ tiếp cận với người dân Việt Nam có trình độ
trung bình hơn nhiều so với các tác phẩm của Lê Đạt và Phan Khôi. Như Bùi Tín
ghi lại, “Những ngày đó không ai có thể sở hữu các bản Nhân Văn hoặc Giai Phẩm
để có thể tự hiểu được vấn đề ồn ào lúc bấy giờ.”[38] Lời kêu gọi của những nhà
bất đồng chính kiến phần nào không tới được phần lớn dân chúng bởi vì gần 90 phần
trăm dân cư là nông dân mù chữ hoặc bán mù chữ.
Tuy
nhiên, những người theo đường lối cứng rắn trong đảng đã giành phần thắng, vào
tháng Hai năm 1956 cuộc đàn áp không nương tay bắt đầu với việc bắt giam Trần Dần
và các đồng nghiệp của ông. Mặc dù đảng tiến hành hàng loạt các chiến dịch công
khai bài trừ các tác phẩm của ông, nhưng để theo kịp trào lưu của thế giới cộng
sản như bài phát biểu phi Stalin hóa của Khruschev và bài “Trăm hoa” của Lục Định
Nhất, đảng đã cho phép Nhân Văn, Giai Phẩm và các tạp chí khác được xuất bản
vào mùa hè và mùa thu năm đó (Nhân Văn được xuất bản năm lần từ 20 tháng 9 đến
20 tháng 11). Học giả người Nhật Hirohide Kurihara đã lập luận rằng trong suốt
giai đoạn này thật ra đảng đã thừa nhận những sai lầm trong chính sách văn
chương.[39] Ví dụ, tạp chí lý thuyết của đảng, Học Tập, đã công nhận những vấn
đề nêu ra trong Nhân Văn và Giai Phẩm “phần nào phản ánh được thực tế,” và một
bài viết trong nhật báo của đảng, Nhân Dân, đã nói rằng chính sách “Trăm hoa”
“nhìn chung là đúng.”[40]
Việc
đơn thuần khơi lên những vấn đề văn chương không thể đe dọa được những người
trong đảng. Điều làm cho đảng sợ là việc phong trào đang tìm cách biến mình
thành một tổ chức đối lập với đảng một cách độc lập, lâu dài, trung thành và có
tổ chức. Như Chu Ngọc – một biên tập viên – đã tổng kết lại trong tờ Nhân Văn kỳ
ba: “Chúng tôi cố gắng đấu tranh trong tổ chức, song liên tục chúng tôi bị chế
ngự, nguyện vọng của chúng tôi lên tới Trung ương Đảng đã bị thay thế bằng nguyện
vọng của bè phái họ.”[41] Khi các chỉ trích trên các tạp chí mang tính chính trị
nhiều hơn và định hướng văn chương ít lại thì nhiều thành viên trong đảng muốn
khơi dậy một cuộc đàn áp.
Những
tác nhân bên ngoài đã thay đổi tình hình trong nội bộ đảng khi chính quyền Xô
Viết nghiền nát cuộc nổi dậy tại Hungari vào tháng Mười Một năm 1956, trong khi
đó Trung Quốc đang ở giữa phong trào “chống cánh hữu.” Trong kỳ báo Nhân Dân ra
ngày 16 tháng Chín năm 1956, Lê Duẩn cho xuất bản một bài viết có tên “Đập tan
phe cánh hữu,” bài viết này là một sự mô phỏng rõ ràng lại cuộc đấu tranh được
phát động tại Trung Quốc chống lại Đinh Linh và các trí thức gia đã lên tiếng
chỉ trích trong suốt phong trào Trăm hoa. Trong bài báo, Lê Duẩn đã ghi “quyền
[chính trị] là một loài cỏ dại độc hại và [chúng ta cần] biến nó thành phân bón
để cải thiện đất trồng lúa của chúng ta.”[42] Vào tháng Mười Một, báo Nhân Dân
đã đặt tên cho phong trào nổi dậy ở Hungary là cuộc phản cách mạng,[43] và một
hội nghị vào tháng Mười Hai của các đảng cộng sản tại Matxcơva đã dẫn đến kết
quả là các hệ tư tưởng trở nên cứng rắn hơn và việc đàn áp tất cả kẻ thù của chế
độ chuyên chính vô sản được biện minh.
Các
nhân tố bên trong cũng có tác dụng, cụ thể là công cuộc cấp tiến hóa của xã hội
trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo giai đoạn 1954-1956. Đảng Lao
Động “giải phóng sức mạnh của quần chúng để tiêu diệt tầng lớp địa chủ,” đây là
một chiến dịch làm cho nhiều người căm phẫn và tổn hại rất nhiều đến khu vực
nông thôn. Quá trình tập thể hóa nông nghiệp được thực hiện vào năm 1956 dưới sự
lãnh đạo của Trung Quốc, và các chiến thuật của Trung Quốc như tòa án nhân dân,
chiến dịch chống lại địa chủ, vận động quần chúng, đặt tên giai cấp, và hành
quyết hàng loạt đã được áp dụng một cách sốt sắng.[44]
Và
tất nhiên tồn tại một mối quan ngại về việc thống nhất đất nước vốn đã bị chia
cắt từ giữa năm 1954. Có người lo sợ rằng nếu các trí thức gia trở nên quá thẳng
thắn và tập hợp được một diễn đàn công cộng thì họ sẽ sử dụng nó để xúc tiến
các quan điểm của họ, và sau đó họ sẽ bị chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam sử
dụng cho hoạt động tuyên truyền và làm mất uy tín chính phủ Bắc Việt Nam.[45]
Theo Hiệp định Geneve ký năm 1954, các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng
hai năm – đây là một quyết định mang tính thỏa hiệp, bởi vì trước đó Hà Nội đã
muốn tổ chức bầu cử ngay lập tức nhằm tận dụng thế áp đảo của Việt Minh. Mặc dù
các cuộc bầu cử ngày càng khó xảy ra, nhưng hy vọng vẫn chưa bị dập tắt, Đảng vẫn
muốn duy trì sự ủng hộ cao độ của nhân dân – đặc biệt là ở miền Bắc – kể từ khi
mạng lưới Việt Minh và cơ sở hỗ trợ nhanh chóng bị xóa sổ bởi Diệm và em trai của
ông là Ngô Đình Nhu ở miền Nam.
Ảnh
hưởng thực của sức ép quốc tế và nhu cầu chính trị trong nước là một phản ứng
hai mũi nhọn tấn công. Đầu tiên là cuộc đàn áp đối với những người bất đồng
chính kiến, bao gồm cả việc các ấn phẩm của họ bị tịch thu và những nhà lãnh đạo
phong trào bị bắt và cho đi cải tạo. Hai là chiến dịch văn học mạnh mẽ dẫn đầu
bởi giới trí thức trung thành với đảng và mệnh lệnh của chủ nghĩa hiện thực xã
hội chủ nghĩa.
Chiến
dịch bắt đầu khi tạp chí Nhân Văn bị đóng cửa vào tháng Mười Một năm 1956 sau một
cuộc đình công có tổ chức của công nhân xưởng in, trước khi số báo thứ sáu được
xuất bản. Tạp chí Giai Phẩm cũng bị đóng cửa chỉ sau khi phát hành bốn số
(Tháng Ba, Tháng Tám, Tháng Mười, Tháng Mười Hai năm 1956). Các nhà xuất bản của
cả hai tờ báo đều bị bắt, còn Phan Khôi qua đời tại Hà Nội vào đầu năm 1960, chỉ
vài ngày trước khi ông bị triệu tập xét xử vì tội “đi chệch đường lối.” Các nhà
lãnh đạo khác bị cáo buộc là đã “âm mưu kích động quần chúng thực hiện những cuộc
biểu tình phản cách mạng nhằm lật đổ chế độ dân chủ nhân dân và sự lãnh đạo của
đảng.”
Trong
bài nói chuyện với giới trí thức vào tháng Bảy năm 1956, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh
“Đảng và chính phủ cần hỗ trợ giới trí thức bằng cách giáo dục để họ có được một
lập trường giai cấp vững vàng, một quan điểm đúng đắn, một suy nghĩ hợp lý và
những cách cư xử mang tính dân chủ.”[46] Theo lời dẫn dắt này, vào tháng Mười
Hai năm 1956, một cuộc họp của các quan chức cao cấp của đảng chịu trách nhiệm
về giáo dục và nghệ thuật đã được triệu tập nhằm “thống nhất các quan điểm và
suy nghĩ của đảng về chủ đề văn học nghệ thuật, để đưa ra một quyết định cho tạp
chí Nhân Văn và chỉ ra những hướng phát triển cho tương lai.”[47] Buổi họp
này đã đưa ra quyết định biên dịch ra tiếng Việt tất cả tài liệu tiếng Trung và
tiếng Nga về việc quản lý giới trí thức.
….
Bài
học kinh nghiệm
Cuộc
thanh trừng 1963 – 1967
Gốc
rễ của cuộc thanh trừng
Tìm
hiểu lại cuộc thanh trừng
Di
sản của sự bất đồng chính kiến
Download phần
còn lại của văn bản tại đây:
Su kien Nhan Van – Giai Pham.pdf
[1] Ghi
chú của Ban Biên tập:
1.
Tài liệu mang tính chất tham khảo, thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không
phải quan điểm của người dịch và Ban Biên tập Nghiencuuquocte.net;
2. Do không thể tìm được tất cả các văn bản gốc để đối chiếu, một số trích dẫn
được dịch từ tiếng Anh có thể không đúng như nguyên văn tiếng Việt. Một số
thông tin (như về tên riêng, nhân thân, chức danh… của các nhân vật) trong bài
mà tác giả đưa ra có thể không chính xác.
[2]
Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1946 khi các cuộc đàm
phán với Pháp về quyền tự trị đã thất bại và ông chuẩn bị cuộc chiến chống
Pháp. Để làm cho các nhóm dân tộc khác, đặc biệt là Việt Nam Quốc Dân Đảng – những
người kiên quyết chống cộng, gia nhập vào tổ chức chung là Việt Minh, Hồ Chí
Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông tìm cách làm giảm bớt những lo
ngại cho rằng Việt Minh là một tổ chức do cộng sản lãnh đạo hoặc chi phối. Tuy
nhiên, các cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã chiếm ưu thế trong những vị trí
lãnh đạo của Việt Minh.
[3]
Melvin Gurtov, The First Indochina War: Chinese Communist Strategy and
the United States (New York: NXB ĐH Columbia, 1967), 16.
[4]
William Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam (Boulder,
Colo.: Westview Press, 1981), 141.
[5]
Andrew Vickerman, The Fate of the Peasantry: The Premature “Transition
to Socialism” in the Democratic Republic of Vietnam (New Haven, Conn.:
Yale Center for International and Area Studies, Chuyên khảo số 28, 1986). Tham
khảo thêm Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley:
University of California Press, 1993), 224.
[6]
Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” trong P. J. Honey, biên tập., North
Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite (New York: Praeger,
1962), 77.
[7]
Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 73.
[8]
Đặng Thai Mai, “Văn học Việt Nam,” tạp chí Châu Âu, 187-388 (Tháng Bảy –
Tháng Tám 1961), 91.
[9]
Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature and Art,” Tháng Năm
1942, trong Mao Trạch Đông, Tuyển tập, tập 3 (Peking: NXB Ngoại Ngữ Hà Nội,
1965), 69–98; Vladimir Lenin, “Party Organization and Party Literature,” 1905,
trong Robert C. Tucker, biên tập và dịch, The Lenin Anthology (New
York: Norton, 1975), 148–153; Maxim Gorky, “Soviet Literature,” Bài nói chuyện
tại Đại hội đầu tiên các nhà văn Xô Viết của toàn liên bang 17 tháng Tám 1934,
trong Maxim Gorky, On Literature: Selected Articles (Moscow:
Foreign Language Publishing House, n.d.), 228–268.
[10]
Trường Chinh, “Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam” (Báo cáo trong Hội nghị Văn
hóa Toàn Quốc lần hai, tháng Bảy 1948) trong Trường Chinh, tuyển tập (Hà Nội:
NXB Ngoại Ngữ, 1977), 286
[11]
Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature and Art,” 86.
[12]
Hồ Chí Minh, “Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội
họa 1951,” trong Hồ Chí Minh, tuyển tập (1920-1949) (Hà Nội: NXB Ngoại
Ngữ, 1973), 133
[13]
Cùng tác phẩm, 134
[14]
Georges Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s: The Nhan-Van Giai Pham
Affair,” Vietnam Forum 13, 155.
[15]
Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 74.
[16]
P. J. Honey, “Introduction,” in Honey, ed., North Vietnam Today:
Profile of a Communist Satellite (New York: Praeger, 1962), 6.
[17]
Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 75.
[18]
Như trên, 76.
[19]
Phan Khôi, “Phê bình Lãnh đạo Văn nghệ,” Giai Phẩm Mùa Thu (Tháng Chín 1956)
trong Hoàng Văn Chí, biên tập, Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam (Sài Gòn: NXB
Công Dân, 1958), 75.
[20]
Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 80.
[21]
Trích trong Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 80.
[22]
Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 157.
[23]
Trích trong C. K. Nguyễn, “Prophets without Honour,” Far Eastern
Economic Review (sau đây viết tắt là FEER), 4 Tháng Tư 1991, 31.
[24]
Phan Khôi là cháu trai của huyền thoại Hoàng Diệu (người đã treo cổ tự vẫn khi
người Pháp chiếm thành Hà Nội) và là cha đẻ của thơ hiện đại, một nhà cách mạng
kỳ cựu, người đã trải qua chín năm bị giam cầm trong nhà tù Côn Đảo và tám năm
trong những khu rừng Việt Bắc cùng với lực lượng kháng chiến. Ông qua đời trong
tủi nhục, và bị gán cái mác kẻ thù của quốc gia.
[25]Giai
Phẩm, Tháng Chín 1956, trích trong Jamieson, Understanding Vietnam,
258
[26]
Hoàng Văn Chí khẳng định rằng Trần Dần cuối cùng cũng bị đem ra xét xử, nhưng
“không có lời bào chữa nào của ông được nhắc đến,” qua đó chứng minh rằng “tất
cả miệng của họ đã bị lắp đầy.” Tham khảo Hoàng Văn Chí, The New Class
in North Vietnam (Sài Gòn, NXB Công Dân, 1958), 81-83
[27]
Tham khảo Nguyễn Ngọc Bích, biên tập, One Thousand Years of Vietnamese
Poetry (New York: NXB ĐH Columbia, 1975), 187–189.
[28]
Tác phẩm giành giải của Xuân Diệu “Ngôi sao.” Xuân Diệu trở thành trí thức gia
hàng đầu của đảng, liên kết chặt chẽ với Tố Hữu – nhà thơ cách mạng và sau này
trở thành ủy viên Bộ chính trị.
[29]
Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164.
[30]
Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164. Khi đảng cảnh
cáo ông về những tác phẩm này, Phùng Quán đã trả lời một cách ngang ngược:
Đường
mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét
nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút
giấy tôi, ai cướp giật đi?
[31]
Trần Lê Văn, “Fear Not that the Enemy Shall Benefit,” Nhân Văn số 2 (30 tháng
Chín 1956): 164; trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s.”
[32]
Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 166.
[33]
Như trên.
[34]
Trích trong Jamieson, Understanding Vietnam, 261.
[35]
Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 167.
[36]
Bài thơ xuất hiện trong Giai Phẩm mùa Thu phiên bản ra vào Tháng Mười năm 1956
và có thể tìm thấy trong Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam.
[37]
Bùi Tín, Following Ho Chi Minh: Memoirs of a North Vietnamese Colonel (Honolulu:
University of Hawaii Press, 1995), 14-16. Tác phẩm này nhấn mạnh sự bất đồng
giữa Võ Nguyên Giáp và Trường Chinh. Ông Giáp, người chiến thắng trong trận chiến
Điện Biên Phủ, đã đạt được điều đó bằng cách lờ đi lời khuyên từ các cố vấn
Trung Quốc của mình. Một điểm thú vị là trong hồi ký của mình về cuộc chiến,
ông rất hiếm khi nhắc đến sự ủng hộ của Trung Quốc hoặc trợ giúp mà ông nhận từ
Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tham khảo thêm trong Cecil Currey, Victory
at Any Cost (Washington, D.C.: Brassey’s, 1997), esp. 145–212.
[38]
Tín, Following Ho Chi Minh, 35.
[39]
Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers’
Party, 1956-1958,” in Indochina in the 1940s and 1950s (Ithaca,
N.Y.: NXB ĐH Cornell, Southeast Asia Program, 1992), 165–196.
[40]
Ví dụ, tham khảo Nguyễn Chương, “Có căn cứ hay không có căn cứ,” Nhân Dân, 15
tháng Mười 1956. Và Nguyễn Chương, “Mấy điểm sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn
và tập Giai Phẩm Mùa Thu,” Nhân Dân, 25 tháng Chín 1956.
[41]
Chu Ngọc, Nhân Văn, Kỳ 3. Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 164.
[42]
Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 171.
[43]
“Phất cao ngọn cờ yêu nước và xã hội chủ nghĩa, nhân dân Hung-ga-ri đã đè bẹp bọn
phản cách mạng, tay sai của đế quốc,” báo Nhân Dân, 5 tháng Mười Một 1956
[44]
Chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo và gây ra cuộc nổi loạn công khai tại Nghệ
An, điều này đã đe dọa đến sự sống còn của đảng – Ngay cả sự trung thành của
Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng bị nghi ngờ. Hồ Chí Minh bị buộc phải cách chức
Trường Chinh (người đã trải qua việc tự phê bình trước công chúng) và nắm quyền
điều hành đảng. Bản thân Hồ Chủ tịch nhận ra được sự thái quá, và đã tiến hành
một cuộc vận động chỉnh đốn. Ban chấp hành Trung ương Đảng thừa nhận “đã mắc phải
một số sai lầm nghiêm trọng trong suốt cuộc cải cách ruộng đất,” và hàng nghìn
tù chính trị đã được thả như một động thái thể hiện thiện chí. Nhưng những cuộc
thanh trừng của đảng đã gieo rắc sự ngờ vực sâu sắc. Tại Hội nghị lần thứ 10 của
Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Lao Động đã thông báo sẽ “mở rộng dân chủ, bảo vệ
tự do dân chủ và mở rộng hệ thống pháp lý dân chủ.” Lincoln Kaye, “A Bowl of
Rice Divided: The Economy of North Vietnam,” trong P. J. Honey, biên tập, North
Vietnam Today, 107–108. Lịch sử đầy đủ của chiến dịch cải cách ruộng đất có
thể tìm đọc trong Vickerma, The Fate of the Peasantry.
[45]
Ví dụ, tham khảo, Hoàng Văn Chí, The New Class in North Vietnam.
[46]
Hồ Chí Minh, “A Talk with Intellectuals,” trong Hồ Chí Minh, Tuyển tập các bài
báo và phát biểu, 1920–1967, Jack Woddis, biên tập (New York: International
Publishers, 1969), 109.
[47]
Tạp chí Văn Nghệ, 13 (Tháng Sáu 1957)
[efb_likebox
fanpage_url=”DAnghiencuuquocte” box_width=”420″ box_height=”” locale=”en_US”
responsive=”0″ show_faces=”1″ show_stream=”0″ hide_cover=”0″ small_header=”0″
hide_cta=”0″ ]
--------------------------
Có
thể bạn quan tâm:
1.
#86 – Việt Nam: Tranh
luận về dân chủ hóa và pháp quyền hóa nhà nước (Phần 1)
2.
#87 – Việt Nam: Tranh
luận về dân chủ hóa và pháp quyền hóa nhà nước (Phần 2)
3.
#46
– “Chủ nghĩa xét lại” ở Việt Nam DCCH: Bằng chứng mới từ kho tư liệu Đông Đức
4.
#125 – Biến động
chính trị trong nước và các sắc dân thiểu số: Trường hợp người Việt tại
Campuchia
5.
#141 – Phát Diệm: Chủ
nghĩa dân tộc, tôn giáo và bản sắc trong chiến tranh Pháp – Việt Minh
6.
#197 – Vai trò truyền
thông Hoa Kỳ trong sự sụp đổ chính quyền Ngô Đình Diệm
7.
#244 – Chính sách đối
ngoại của Ngô Đình Diệm (P.1)
8.
#245 – Chính sách đối
ngoại của Ngô Đình Diệm (P.2)
No comments:
Post a Comment