Monday, 30 September 2024

CHIẾN TRANH UKRAINA : TỔNG THỐNG NGA PUTIN KHẲNG ĐỊNH SẼ "HOÀN THÀNH MỌI MỤC TIÊU ĐỀ RA" (Phan Minh / RFI)

 



Nga tuyên bố chặn Ukraine xâm nhập khu vực Kursk

Reuters

29/09/2024

https://www.voatiengviet.com/a/7803682.html

 

Bộ Quốc phòng Nga cho biết hôm 29/9 rằng lực lượng của họ đã đẩy lùi sáu nỗ lực mới của Ukraine nhằm xâm nhập khu vực Kursk ở phía tây và cũng đã kiểm soát được khu định cư Makiivka ở khu vực Luhansk, phía đông Ukraine.

 

https://gdb.voanews.com/172a4d17-c72d-444b-9287-aa403b376ffb_w1023_r1_s.jpg

Hình ảnh một vụ tấn công của Ukraine ở khu vực Kursk.

 

Bộ này cho biết trong một bài đăng trên ứng dụng nhắn tin Telegram rằng lực lượng của họ, với sự hỗ trợ của máy bay và đạn pháo, đã đẩy lùi các nỗ lực xâm nhập khu vực gần làng Novy Put, cách Sudzha khoảng 79 km về phía tây, một điểm giao cắt chiến lược để xuất khẩu khí đốt tự nhiên của Nga sang châu Âu qua Ukraine.

 

Vào ngày 6 tháng 8, Ukraine đã phát động cuộc tấn công của lực lượng nước ngoài lớn nhất vào Nga kể từ Thế chiến II, vượt qua biên giới vào khu vực Kursk, với sự hỗ trợ của hàng loạt máy bay không người lái và vũ khí hạng nặng, bao gồm cả vũ khí do phương Tây sản xuất.

 

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy cho biết đầu tháng này rằng lực lượng của ông đã kiểm soát 100 khu định cư ở khu vực Kursk trên diện tích hơn 1.300 km vuông.

 

Các nguồn tin của Nga đã phản bác con số này và Nga cho biết họ đã giành lại một số ngôi làng trong một cuộc phản công.

 

Bộ Quốc phòng cho biết, 50 quân nhân Ukraine đã thiệt mạng và bị thương trong nỗ lực xâm nhập mới nhất vào Kursk, nhưng không nêu chính xác số người tử vong.

 

Bộ này cho biết một xe tăng và bốn xe bọc thép chiến đấu, cũng như một chiếc ô tô đã bị phá hủy.

 

Reuters không thể xác nhận ngay các báo cáo trên chiến trường. Ukraine chưa đưa ra bình luận.

 

Bộ Quốc phòng Nga cũng cho biết hôm 29/9 rằng lực lượng phòng không của họ đã bắn hạ 125 máy bay không người lái của Ukraine trong đêm, trong khi một căn hộ dân cư đã bị tấn công ở thành phố Voronezh nằm ở phía tây, theo lời của thống đốc địa phương.

 





CHIẾN TRANH UKRAINA : "CÓ BẰNG CHỨNG HIỂN NHIÊN" VỀ VIỆC VŨ KHÍ TRUNG QUỐC ĐƯỢC BÍ MẬT CẤP CHO NGA (Trọng Thành / RFI)

 



Chiến tranh Ukraina: ‘‘Có bằng chứng hiển nhiên’’ về việc vũ khí Tr  -  RFIung Quốc được bí mật cấp cho Nga  

Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 29/09/2024 - 13:35Sửa đổi ngày: 29/09/2024 - 15:35

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20240929-chi%E1%BA%BFn-tranh-ukraina-c%C3%B3-nhi%E1%BB%81......BA%A5p-v%C5%A9-kh%C3%AD-cho-nga

 

Truyền thông Anh Quốc dường như đang gia tăng áp lực lên Bắc Kinh liên quan đến các cáo buộc doanh nghiệp Trung Quốc bí mật trợ giúp Nga về vũ khí trong cuộc xâm lược Ukraina. Theo báo Anh The Times, ngày 27/09/2024, nhiều giới chức cao cấp phương Tây đã có trong tay các bằng chứng đáng tin cậy về việc này.

 

HÌNH :

Tổng thống Nga Vladimir Putin và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nâng ly trong bữa tối tại Cung điện Facets, Nga, ngày 21/03/2023. AP - Pavel Byrkin

 

Cụ thể là IEMZ Koupol, một chi nhánh của công ty sản xuất vũ khí Nga Almaz-Antey, do Nhà nước sở hữu, đã phát triển một loại drone quân sự mới, có tên gọi Garpiya-3 (G3) tại Trung Quốc với sự hỗ trợ của các chuyên gia nước này. Drone G3 có tầm hoạt động 2.000 km và có thể chuyên chở đến 50 kg.

 

The Times có trong tay một báo cáo của chi nhánh IEMZ của công ty Nhà nước Nga gửi đến bộ Quốc Phòng về dự án sản xuất drone G3 trên quy mô lớn tại Trung Quốc, và các sản phẩm sẽ được sử dụng trong ‘‘chiến dịch quân sự đặc biệt’’, tên gọi chính thức mà Matxcơva dùng để chỉ cuộc xâm lăng Ukraina.

 

Phát ngôn viên sứ quán Trung Quốc tại Anh bảo đảm ‘‘không biết chi tiết về các cáo buộc này’’, nhưng riêng về drone, nhà ngoại giao này cam đoan Trung Quốc ‘‘luôn duy trì chế độ kiểm tra chặt chẽ đối với việc xuất khẩu drone, luôn kiểm tra chặt các drone quân sự hay các hàng hóa lưỡng dụng’’.

 

Theo The Times, các giới chức NATO đã ‘‘bày tỏ quan ngại sâu sắc’’ sau khi nhận được hai báo cáo về chủ đề này, trong đó có báo cáo về chi nhánh của công ty sản xuất vũ khí của Nhà nước Nga, và cho biết các đồng minh NATO hiện đang tìm hiểu kỹ hơn. Theo Fabian Hinz, thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, trung tâm tư vấn về quốc phòng có trụ sở tại Luân Đôn, nếu chính quyền Trung Quốc biết thì điều này cho thấy Bắc Kinh ‘‘đã nâng mức độ ủng hộ đối với nỗ lực chiến tranh của Nga’’.

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

 

CHUYÊN MỤC TRÊN MẠNG

Trung Quốc và Nga đang hướng đến một liên minh quân sự không chính thức ?

 

NGA - TRUNG QUỐC

Trung Quốc thông báo chuẩn bị tập trận hải quân chung với Nga

 

Tạp chí Tiêu điểm

Nga hợp tác quân sự với Trung Quốc, Iran và Bắc Triều Tiên, nhưng với giá nào ?

 





TẠI SAO NÊN THÀNH LẬP MỘT LIÊN BANG ISRAEL - PALESTINE? (Omar M. Dajani và Limor Yehuda  |  Foreign Affairs)

 



Tại sao nên thành lập một Liên bang Israel-Palestine?

Omar M. Dajani và Limor Yehuda  |  Foreign Affairs   

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch

29/09/2024
https://nghiencuuquocte.org/2024/09/29/tai-sao-nen-thanh-lap-mot-lien-bang-israel-palestine/

 

Tháng 7 vừa qua, Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đã gặp Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu để thảo luận về cuộc chiến ở Gaza và tương lai của Trung Đông. Sau đó, Harris nhấn mạnh cam kết của bà đối với giải pháp hai nhà nước cho người Israel và người Palestine – nói rằng nó là “con đường duy nhất đảm bảo Israel vẫn là một nhà nước Do Thái và dân chủ an toàn, và con đường đảm bảo người Palestine cuối cùng có thể được hưởng tự do, an ninh, và thịnh vượng mà họ xứng đáng được hưởng.” Harris không phải là người duy nhất có quan điểm này. Trên khắp thế giới, các nhà lãnh đạo tiếp tục cam kết ủng hộ giải pháp hai nhà nước, lập luận rằng giải pháp này cung cấp định hướng và động lực cho các nỗ lực chấm dứt chiến tranh và cuối cùng là tái thiết Gaza. Trong một nghị quyết ngừng bắn được mong đợi từ lâu, được thông qua vào tháng 6, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc một lần nữa cam kết với “tầm nhìn về giải pháp hai nhà nước, trong đó hai quốc gia dân chủ, Israel và Palestine, chung sống hòa bình bên cạnh nhau, với các đường biên giới an toàn và được công nhận.”

 

Tuy nhiên, đối với bất kỳ ai theo dõi sát sao những gì đang diễn ra trên chiến trường, những tuyên bố này có vẻ tách biệt với thực tế. Netanyahu và các đối tác trong liên minh cực hữu của ông đã cam kết không cho phép thành lập một nhà nước Palestine. Ngay cả những đối thủ hàng đầu của Netanyahu cũng cảnh giác với ý tưởng này, bởi các cuộc thăm dò cho thấy người Israel đang phản đối áp đảo. Israel không muốn từ bỏ quyền kiểm soát Bờ Tây và Dải Gaza, cũng không muốn di dời hàng trăm nghìn người định cư hoặc dựng lên một đường biên giới vật lý chia cắt Jerusalem. Có lẽ đó là lý do tại sao, trong các cuộc trò chuyện riêng tư, hầu như không ai mà chúng tôi nói chuyện cùng – từ các nhà phân tích, đến các nhà ngoại giao hay nhà hoạch định chính sách – thực sự tin rằng có thể đạt được giải pháp hai nhà nước được mong đợi từ lâu. Như chính Harris đã thừa nhận sau cuộc họp của bà vào tháng 7, “Ngay bây giờ, thật khó để hình dung ra viễn cảnh đó.”

 

Tính bất khả thi của kế hoạch hai nhà nước quen thuộc đã khiến một số trí thức quay sang ủng hộ giải pháp một nhà nước. Theo các đề xuất này, người Palestine và người Israel gốc Do Thái sẽ là công dân bình đẳng trong một nhà nước, do một chính phủ dân cử duy nhất quản lý. Một giải pháp như vậy có thể là một mục tiêu dài hạn xứng đáng, nhưng hiện tại, nó chỉ là tham vọng hão huyền. Cả người Israel gốc Do Thái và người Palestine đều không muốn hy sinh quyền tự quyết quốc gia của mình. Và cả hai đều có lý do chính đáng để làm vậy. Không có bản sắc chung nào giữa Israel và Palestine, và dù bản sắc là có thể phát triển, nhưng sẽ cần thêm nhiều thế hệ.

 

Nếu giải pháp hai nhà nước quen thuộc cũng như giải pháp một nhà nước đều không hiệu quả, thì triển vọng hòa bình giữa hai dân tộc có lẽ vô cùng ảm đạm. Nhưng vẫn còn một giải pháp thay thế: một liên bang Israel-Palestine, được xây dựng trên các nguyên tắc bình đẳng và hợp tác. Trong đó, người Israel và người Palestine sẽ có các quốc gia riêng biệt của mình. Họ sẽ có biên giới rõ ràng và quyền thông qua luật pháp của riêng mình. Nhưng sau một thời gian chuyển tiếp, biên giới sẽ được mở ra, và cuối cùng, cả hai dân tộc sẽ có quyền sinh sống trên toàn bộ vùng đất nằm giữa Jordan và Biển Địa Trung Hải, nơi mà cả hai đều xem là quê hương lịch sử của mình. Các cơ quan chung của Israel-Palestine sẽ quản lý các vấn đề vượt ra ngoài ranh giới của mỗi quốc gia, chẳng hạn như năng lượng và an ninh đối ngoại. Cũng sẽ có các thể chế tư pháp chung để bảo vệ quyền tự do của mọi người.

 

Bằng cách làm tất cả những điều này, một liên bang sẽ giải quyết được những câu hỏi hóc búa phát sinh từ sự bất nhất giữa quyền công dân, quốc tịch, và nhà nước, cũng như giữa nhân khẩu học, quốc tịch, và chủ quyền. Nó sẽ đảm bảo sự bình đẳng cho cả người Israel và người Palestine, cả về mặt cá nhân lẫn tập thể. Và nó sẽ giúp cả hai bên hợp tác trên cơ sở công bằng sau nhiều thập kỷ chiếm đóng và xung đột.

 

 

CÁI CHẾT VÀ SỰ CHIA CẮT

 

Kể từ những năm 1990, việc phân chia vùng đất giữa Sông Jordan và Biển Địa Trung Hải thành hai quốc gia đã gắn liền với mô hình “phân tách” (hay hafrada trong tiếng Do Thái). Mô hình này giả định rằng Israel chỉ có thể là một nhà nước Do Thái và dân chủ nếu nó tách biệt về mặt vật lý khỏi hàng triệu người Palestine mà nó cai trị ở Bờ Tây và Dải Gaza. Trong chiến dịch tranh cử thành công vào năm 1999, cựu Thủ tướng Israel Ehud Barak đã nói với cả nước rằng ông sẽ theo đuổi “hòa bình thông qua phân tách.” Một trong những câu thần chú của ông là “Chúng ta ở đây; họ ở đó.”

 

Mô hình này đã định hình nền tảng của thỏa thuận hòa bình mà người Israel thúc đẩy. Theo các điều khoản của các đề xuất do Barak và người kế nhiệm Ehud Olmert đưa ra, các khu định cư lớn nhất ở Bờ Tây của Israel sẽ bị sáp nhập, và tất cả những người định cư sống bên ngoài các khu định cư này sẽ phải di tản. Một đường biên giới vật lý sẽ được dựng lên bên trong Jerusalem, phân chia thành phố theo ranh giới sắc tộc. Và người tị nạn Palestine sẽ bị từ chối quyền trở về quê hương của họ, vốn nằm bên trong Israel.

 

Nhưng hai bên không thể thống nhất về cách biến khái niệm này thành hiện thực. Trong các cuộc đàm phán hòa bình dưới ba đời chính quyền Mỹ, người Israel và người Palestine đã liên tục tranh cãi về việc khu định cư nào sẽ ở lại và khu định cư nào sẽ biến mất – tất cả đều được xây dựng trái với luật pháp quốc tế. Họ cũng không thể thống nhất về cách chính xác mà thành phố Jerusalem sẽ được phân chia.

 

Ngày nay, mô hình phân tách gần như đã chết. Dân số định cư ở Bờ Tây và Đông Jerusalem đã vượt quá 700.000 người, gấp đôi con số của năm 2000. Hơn 115.000 người trong nhóm này sống bên ngoài các khu đất mà Israel trước đây đã tuyên bố sáp nhập. Trong khi đó, phe cực hữu đang có ảnh hưởng chưa từng có trong chính phủ Israel. Kết quả là, chi phí chính trị, kinh tế, và an ninh của việc cưỡng bức di dời người định cư đã trở nên quá cao.

 

Những vấn đề mà giải pháp hai nhà nước dựa trên phân tách phải đối mặt không chỉ mang tính thực tế, mà còn mang tính đạo đức. Sự thật là mô hình này được xây dựng trên những tiền đề đáng ngờ. Nó củng cố quan niệm về các quốc gia dân tộc đồng nhất về mặt sắc tộc, theo đó gợi nhớ lại, và đe dọa lặp lại, những cuộc di cư thảm khốc của thế kỷ 20. Nó gạt bỏ quyền của người tị nạn Palestine, đồng thời dựng lên những đường biên giới vững chắc chia cắt người Palestine và người Do Thái khỏi những nơi đóng vai trò trung tâm trong lịch sử và ký ức của họ. Cuối cùng, nó đưa ra một khuôn khổ thể chế hạn chế để quản lý sự phụ thuộc lẫn nhau không thể tránh khỏi của người Israel và người Palestine, những người – cho dù đã phân tách hay chưa – đều phải sống cùng nhau trên một vùng lãnh thổ chỉ lớn hơn tiểu bang Vermont một chút. Do vị trí địa lý gần gũi đó, họ phải đối mặt với những rủi ro có thể vượt qua mọi biên giới. Phải có lý do thì các chuyên gia y tế mới cảnh báo rằng bệnh bại liệt từ hệ thống nước bị tàn phá của Gaza có thể lây lan sang Israel.

 

Bất chấp những sai sót này, các nhà phân tích thường lập luận rằng sự phân tách về mặt vật lý giữa người Palestine và người Israel gốc Do Thái là cần thiết vì lợi ích an ninh của người Do Thái. Họ cho rằng điều này có thể giúp ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố và giảm căng thẳng giữa các sắc tộc. Nhưng lập luận này đã bị phản bác bởi trải nghiệm thực tế. Bên trong Israel, nơi người Do Thái đang sống cùng với khoảng hai triệu công dân Israel gốc Palestine, bạo lực giữa các sắc tộc là rất hiếm. Ngược lại, việc cô lập Dải Gaza khỏi Israel và Bờ Tây không chỉ không ngăn chặn được chiến tranh và các cuộc tấn công xuyên biên giới, mà còn góp phần gây ra chúng. Ngay cả khi có thể dựng lên những rào cản để tách biệt hoàn toàn người Do Thái với những người hàng xóm Palestine của họ ở Bờ Tây và Dải Gaza, thì các trung tâm dân số chính của Israel vẫn rất dễ bị tấn công. Mọi người chỉ đơn giản là sống quá gần nhau.

 

Đối với hầu hết những người ủng hộ việc phân tách, câu trả lời cho tình thế lưỡng nan này là duy trì quyền kiểm soát tuyệt đối của Israel trên toàn bộ vùng lãnh thổ. Quan điểm này đã được Yair Lapid – một chính trị gia trung dung của Israel – nêu chi tiết vào tháng 3, khi ông kêu gọi giải pháp hai nhà nước “bao gồm lợi thế quyền lực có lợi cho chúng ta, tạo ra hai thực thể chính trị không ngang bằng về quyền lực hoặc giá trị. Một là nhà nước Palestine phi quân sự, nhỏ bé và phụ thuộc vào chúng ta, và một là nhà nước Israel mạnh mẽ đã lấy lại được sự tự tin của mình.” Nhưng đây hoàn toàn không phải là giải pháp hai nhà nước. Thay vào đó, nó sẽ chỉ trao mạng sống và sinh kế của người Palestine vào tay các thể chế Israel, những thể chế liên tục thể hiện sự coi thường trắng trợn đối với người Palestine. Nó chính là một viễn cảnh về sự thống trị và xung đột liên tục: trái ngược với quyền tự quyết và sự chung sống hòa bình.

 

 

CHIA SẺ KHÔNG GIAN

 

Nếu giải pháp phân tách là không hiệu quả, và nếu giải pháp một nhà nước là không thể đạt được trong tương lai gần, thì dường như chẳng còn lựa chọn nào tốt. Đây là quan điểm của phần lớn người Israel và người Palestine, theo các kết quả thăm dò gần đây. Nhưng ngày càng có nhiều nhà quan sát, bao gồm cả chúng tôi, tin rằng một liên bang hai nhà nước cung cấp một lập trường trung dung khả thi. Nó sẽ cung cấp cho cả hai dân tộc quyền tự quyết quốc gia, đồng thời cũng cung cấp một khuôn khổ công bằng để quản lý sự gắn bó của họ với quê hương chung và sự phụ thuộc lẫn nhau của họ trong quê hương đó.

 

Liên bang Israel-Palestine không phải là trường hợp đầu tiên của một liên bang kiểu này. Các liên bang (confederation) đã tồn tại suốt hàng thế kỷ: thuật ngữ này đề cập đến một liên hiệp hoặc liên minh trong đó hai hoặc nhiều quốc gia có chủ quyền đồng ý nhượng một số quyền chủ quyền của họ cho các thể chế chung nhằm mục đích đạt được các mục tiêu chung, chẳng hạn như an ninh chung hoặc hội nhập kinh tế. Các quốc gia thành viên trong một liên bang thường độc lập trên trường quốc tế. Nhưng các liên bang cũng thường tạo điều kiện cho việc tự do di chuyển của con người và hàng hóa trong phạm vi liên bang.

 

Các liên bang, giống như các thỏa thuận chia sẻ quyền lực khác, từ lâu đã được sử dụng để giải quyết căng thẳng sắc tộc trong các không gian chung. Đôi khi, chúng đóng vai trò tạm thời. Ví dụ, Liên bang Serbia và Montenegro đã tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi hòa bình sang nền độc lập của Montenegro trong một khu vực vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh sắc tộc. Thụy Sĩ từng là một liên bang giữa các bang nói tiếng Đức, tiếng Pháp, và tiếng Ý. Nhưng với hiến pháp năm 1848, nước này đã chuyển đổi thành một liên bang gắn kết chặt chẽ hơn.

 

Tuy nhiên, các liên bang không nhất thiết phải là tạm thời. Ví dụ, Liên minh châu Âu là một liên bang đã chứng minh được tính bền vững. EU được thành lập để đảm bảo rằng châu Âu sẽ không trở thành nguồn gốc của chiến tranh thế giới thứ ba và đã vô cùng thành công trong sứ mệnh đó. EU thậm chí còn giành được Giải Nobel Hòa bình năm 2012. Khối này cũng đã thành công theo nhiều cách khác. EU đã tạo ra sự hợp tác kinh tế và khoa học, cho phép tự do di chuyển và thúc đẩy nhân quyền, dân chủ, và pháp quyền. Các quốc gia bên ngoài đã yêu cầu được gia nhập liên minh và chỉ có một thành viên rời đi. Và dù EU đã thiết lập chính sách thương mại chung, các quy tắc về môi trường, và nhiều loại quy định khác, mọi quốc gia trong khối vẫn có chủ quyền, với luật pháp, đặc điểm quốc tế, và bản sắc dân tộc riêng.

 

Một liên bang Israel-Palestine, giống như Liên minh châu Âu, sẽ bao gồm các quốc gia riêng biệt. Palestine sẽ được thành lập bên cạnh Israel, với một đường biên giới quốc tế được công nhận giữa hai quốc gia. Mỗi quốc gia sẽ có chủ quyền, sở hữu một trật tự hiến pháp riêng biệt, tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế, và thẩm quyền độc lập đối với một loạt các lĩnh vực rộng lớn, chẳng hạn như giáo dục, ngoại giao, hành pháp, phúc lợi xã hội và thuế. Xét trên những khía cạnh này, một liên bang, về bản chất, chính là một giải pháp hai nhà nước.

 

Nhưng khuôn khổ này sẽ khác với giải pháp hai nhà nước ở những khía cạnh quan trọng. Ví dụ, sẽ có một biên giới mở, được giám sát giữa hai nhà nước. Trong thời gian chuyển tiếp, công dân của cả hai bên sẽ có quyền di chuyển trên toàn bộ đất nước, tùy thuộc vào các biện pháp an ninh trên cơ sở có đi có lại và phối hợp với nhau. Sau cùng, người Israel và người Palestine cũng sẽ được hưởng quyền tự do cư trú trên khắp quê hương chung của họ (dù quyền cư trú sẽ được tích hợp một cách từ từ và cẩn trọng, có tính đến ổn định chính trị và kinh tế). Điều đó có nghĩa là công dân Israel, bao gồm cả những người định cư ở Bờ Tây, có thể cư trú tại Palestine miễn là họ tuân thủ luật pháp của nước này, trong khi công dân Palestine, bao gồm cả những người tị nạn, có thể cư trú tại Israel theo cùng một nguyên tắc. Còn người Israel gốc Palestine sẽ giữ nguyên quyền công dân và quyền cư trú ở Israel.

 

Giống như ở Liên minh châu Âu, quyền bỏ phiếu cho các cuộc bầu cử quốc gia sẽ dựa trên quyền công dân, trong khi quyền bỏ phiếu cho các cuộc bầu cử địa phương sẽ dựa trên nơi cư trú. Theo đó, một người tị nạn Palestine trở về sống ở Jaffa sẽ bỏ phiếu cho Quốc hội Palestine, chứ không phải Knesset (Quốc hội Israel), nhưng sẽ có thể bỏ phiếu cho hội đồng thành phố Yafo–Tel Aviv. Ngược lại, một người Israel cư trú tại một khu định cư (cũ) như Ariel sẽ bỏ phiếu bầu Knesset, chứ không phải Quốc hội Palestine, nhưng có thể tham gia bầu đại diện trong chính quyền thành phố Ariel hợp nhất.

 

Chế độ biên giới này sẽ giải quyết một số vấn đề đã cản trở các thỏa thuận hòa bình trong quá khứ. Nó đưa ra một giải pháp cho các khu định cư mà không đòi hỏi phải di tản hàng loạt những người định cư Israel, cũng như không làm suy yếu chủ quyền của người Palestine. Nó cung cấp cho những người tị nạn Palestine cơ hội trở về sống ở nơi họ sinh ra, trong khi vẫn đảm bảo Israel là quê hương của người Do Thái. Và nó tránh được việc xây dựng một rào cản vật lý chia cắt Jerusalem, cho phép thủ đô của cả hai quốc gia là một thành phố mở, được quản lý bởi một chính quyền thành phố duy nhất hoặc bởi hai chính quyền thành phố phối hợp do cư dân của cả hai bên bầu ra. Ngoài ra, vì khuôn khổ này không yêu cầu người Israel hoặc người Palestine phải từ bỏ sự ràng buộc của họ với bất kỳ phần nào của đất nước, nên nó làm giảm rủi ro trong việc xác định biên giới giữa hai quốc gia sẽ ở đâu.

 

 

ĐỐI TÁC BÌNH ĐẲNG

 

Một liên bang sẽ khác với giải pháp hai nhà nước quen thuộc theo một cách quan trọng khác. Nó sẽ cung cấp cho người Israel và người Palestine một khuôn khổ thể chế đủ mạnh và đủ linh hoạt để quản lý những thách thức chung mà họ đang phải đối mặt. Trong các cuộc đàm phán hòa bình trước đây, cả hai bên đều hiểu rằng khoảng không gian nhỏ bé mà họ chia sẻ đòi hỏi sự hợp tác giữa một Israel và một Palestine riêng biệt. Và trong một số lĩnh vực – như nông nghiệp, ngân hàng, tư pháp hình sự, quy hoạch phát triển, giáo dục, ngoại giao, thuế, và du lịch – sự hợp tác như vậy là đủ. Nhưng một liên bang sẽ tạo điều kiện để hai bên cùng nhau giải quyết các chủ đề khó khăn hơn.

 

Chẳng hạn, Israel và Palestine có thể thiết lập các thể chế chung để giải quyết các vấn đề liên quan đến cơ sở hạ tầng hoặc tài nguyên, bao gồm hàng không dân dụng, hải quan, năng lượng, bảo vệ môi trường, nhập cư, y tế công, và giao thông. Mỗi bên sẽ có thẩm quyền đối với an ninh nội bộ của riêng mình, nhưng các thể chế liên bang sẽ tạo điều kiện cho sự hợp tác chặt chẽ và chia sẻ thông tin tình báo giữa các đơn vị cảnh sát của mỗi bên. Mặt khác, an ninh đối ngoại có thể được quản lý thông qua các thể chế chung liên kết với khuôn khổ an ninh khu vực.

 

Để đảm bảo rằng các tranh chấp giữa hai quốc gia được giải quyết một cách hòa bình và rằng các quyền con người được bảo vệ trên toàn bộ đất nước, liên bang sẽ cần một loạt các thể chế tư pháp chung (như một sự bổ sung cho các tòa án quốc gia). Các tòa án này và các cơ quan liên bang khác có thể sẽ yêu cầu sự tham gia của bên thứ ba ngay từ đầu, để xây dựng lòng tin lẫn nhau và tránh rơi vào bế tắc. Tất cả chúng đều cần được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng tập thể: ý tưởng rằng cả hai bên đều bình đẳng và không bên nào thống trị bên kia. Nguyên tắc này là thiết yếu, sau kinh nghiệm từ các hiệp định Oslo, vốn đã thành lập các ủy ban chung để hợp tác trong những lĩnh vực như an ninh, quản lý nước, và viễn thông mà người Palestine thường cho là có tính cưỡng ép.

 

Việc xây dựng các thỏa thuận liên bang xoay quanh nguyên tắc bình đẳng tập thể không có nghĩa là các bên phải đàm phán với năng lực giống hệt nhau. Trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như năng lực kinh tế, phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khỏe, và quốc phòng, có sự bất đối xứng lớn giữa người Israel và người Palestine, theo đó đòi hỏi các bên phải đảm nhận các vai trò khác nhau hoặc nhận được các lợi ích khác nhau trong một thời gian. Tuy nhiên, điều cần thiết là một cam kết chuẩn mực đối với bình đẳng cá nhân và tập thể, và một khuôn khổ đảm bảo cam kết này được chuyển hóa thành hiện thực.

 

 

CÙNG NHAU

 

Chắc chắn, việc tạo ra một liên bang Israel-Palestine sẽ rất khó khăn. Trên thực tế, đối với một số người, một kịch bản mà trong đó một nhà nước Palestine được xây dựng lại từ đống đổ nát ở Gaza và từ Bờ Tây bị chia cắt, rồi sau đó hợp tác chặt chẽ với Israel dường như là không thể tưởng tượng được. Sự thù địch giữa các bên, sự bất cân xứng quyền lực đến cực độ, và sự coi thường trắng trợn của họ đối với luật pháp quốc tế tạo ra những trở ngại to lớn cho hòa bình. Nhưng giải pháp nào cũng sẽ bị cản trở bởi những rào cản này, và một liên bang vẫn khả thi hơn một cách tiếp cận được xây dựng trên phân tách và thống trị. Quan trọng là, liên bang được thiết kế để thiết lập một nền hòa bình bền vững, hơn là một hệ thống quản lý xung đột không điểm dừng.

 

Tuy nhiên, để vượt qua các rào cản, người Israel và người Palestine sẽ cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Thậm chí có thể cần đến một chính quyền chuyển tiếp quốc tế có thẩm quyền đối với Bờ Tây và Dải Gaza, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền lực từ quân đội Israel sang các thể chế chính phủ Palestine. Trong ngắn hạn, một chính quyền như vậy sẽ rất cần thiết để mang lại an ninh, trật tự công cộng, và cứu trợ nhân đạo cho cả hai khu vực. Trong trung hạn, chính quyền sẽ tập trung vào việc chấm dứt sự chiếm đóng của Israel, giúp xây dựng một nhà nước Palestine đủ năng lực, và thành lập các thể chế chung của liên bang. Chính quyền này cũng sẽ nỗ lực giảm bớt sự chênh lệch kinh tế xã hội giữa người Palestine và người Israel gốc Do Thái. Chính quyền này nên được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy quyền, hợp tác với cả chính phủ Israel và Palestine, đồng thời có các điều khoản rõ ràng về thời điểm kết thúc.

 

Ở thời điểm hiện tại, nói về một chính quyền như vậy có vẻ còn quá sớm. Thế giới vẫn đang tập trung vào việc đạt được một lệnh ngừng bắn có thể chấm dứt tình trạng giết chóc và hủy diệt ở Gaza, đưa con tin và tù nhân trở về nhà, và giảm nguy cơ xảy ra chiến tranh khu vực lớn hơn. Nhưng để thành công trong tất cả các mục tiêu này, các quốc gia liên quan phải được hướng dẫn bởi một tầm nhìn về tương lai rõ ràng, đáng tin cậy, và công bằng. Họ phải thừa nhận rằng hai dân tộc, mỗi dân tộc có hơn bảy triệu người, sẽ tiếp tục chung sống trên quê hương chung của họ. Một liên bang được xây dựng trên các giá trị của quan hệ đối tác bình đẳng và tự do đi lại chính xác là một tầm nhìn như vậy, và nó cung cấp một giải pháp thay thế hấp dẫn cho khát vọng nguy hiểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nó sẽ đóng vai trò kim chỉ nam giúp các quan chức vạch ra con đường vượt qua những quyết định khó khăn sắp tới.

 

----------------------

Omar M. Dajani là Giáo sư Luật quốc tế tại Trường Luật McGeorge, Đại học Thái Bình Dương. Từ năm 1999 đến năm 2001, ông đã làm cố vấn pháp lý cho nhóm đàm phán Palestine trong các cuộc đàm phán hòa bình với Israel.

 

Limor Yehuda là Nghiên cứu viên cấp cao và là người đứng đầu dự án Hòa bình Israel-Palestine dựa trên Quan hệ Đối tác tại Viện Van Leer Jerusalem, Giảng viên Khoa Luật của Đại học Do Thái, và là tác giả cuốn sách “Collective Equality: Democracy and Human Rights in Ethno-National Conflicts.”

 

Hai người cũng là đồng chủ tịch ban quản trị “A Land for All,” một phong trào Israel-Palestine ủng hộ viễn cảnh liên bang “hai nhà nước, một quê hương.”

 

-----------------------------

Nguồn: Omar M. Dajani và Limor Yehuda, “A Two-State Solution That Can Work,” Foreign Affairs, 19/09/2024

 

 





ISRAEL và CHIẾN LƯỢC DIỆT TRỪ LÃNH ĐẠO HEZBOLLAH CỦA LIBAN (Thùy Dương / RFI)

 



Israel và chiến lược diệt trừ giới lãnh đạo Hezbollah của Liban  

Thùy Dương  -  RFI

Đăng ngày: 29/09/2024 - 11:27Sửa đổi ngày: 29/09/2024 - 12:56

 https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20240929-israel-v%C3%A0-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-di%E1%BB%87t-tr%E1%BB%AB-gi%E1%BB%9Bi-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-hezbollah-c%E1%BB%A7a-liban

 

Cái chết của Hassan Nasrallah, thủ lĩnh của Hezbollah - Liban suốt từ khi phong trào này được thành lập vào năm 1982 đến nay, dường như là kết quả của một chiến lược mà Israel đã tiến hành trong vài tháng qua. Theo đó, Israel  diệt trừ lần lượt, một cách có hệ thống, các chỉ huy cao nhất của Hezbollah. Phong trào Hồi giáo Hezbollah theo hệ phái Shia ở Liban, đã tiến hành nhiều chiến dịch chống lại nhà nước Do Thái, đặc biệt từ khi nổ ra chiến tranh Gaza từ tháng 10/2023.

 

HÌNH :

Hình ảnh hai nhân vật tiềm năng trong việc kế nhiệm thủ lĩnh Nasrallah : Naïm Qassem (T) và Hachem Safieddine (P) © Iranian presidency / Anwar Amro / AFP / Montage RFI

 

Chiến dịch ném bom nhắm vào các nhân vật chủ chốt của phong trào Hezbollah bắt đầu từ tháng 01/2024, với vụ hạ sát Wissam al-Tawil, chỉ huy đơn vị tinh nhuệ al-Radwan. Theo thông tín viên RFI Paul Khalifeh từ Beyruth, Wissam al- Tawil đã « tham gia mọi cuộc chiến của Hezbollah trong suốt 30 năm qua ở Liban, Syria và Irak, và giữ các vị trí quan trọng trong hệ thống quân sự ở miền nam Liban nhằm chống lại quân đội Israel ».

 

Tới ngày 30/07/2024, đến lượt chỉ huy quân sự cấp cao nhất của Hezbollah, Fouad Chokr, cánh tay phải của thủ lĩnh Hassan Nasrallah, bị Israel tiêu diệt trong một vụ oanh kích vào ngoại ô phía nam thủ đô Beyruth của Liban. Fouad Chokr bị quân đội Israel xem là người phải chịu trách nhiệm cho vụ oanh kích bằng tên lửa vào cao nguyên Golan ngày 27/07 khiến 12 thanh thiếu niên Israel thiệt mạng.

 

Từ giữa tháng 9, chiến dịch của Israel tiêu diệt giới lãnh đạo của Hezbollah được đẩy mạnh. Khởi đầu là 2 loạt vụ kích nổ hàng ngàn máy nhắn tin và máy bộ đàm, thiết bị liên lạc chính trong hàng ngũ Hezbollah trong hai ngày liên tiếp 17-18/09, khiến 30 người của Hezbollah thiệt mạng, hơn 3000 người bị thương và gây xáo trộn hàng ngũ Hezbollah. Vào ngày 20/09, một vụ đánh bom của Israel đã giết chết 15 thành viên đơn vị tinh nhuệ al-Radwan, trong đó có cả Ibrahim Aqil, chỉ huy đơn vị. Đến ngày 23/09, đến lượt Ali Karaké, được coi là nhân vật số 3 của Hezbollaz, bị hạ sát. Một hôm sau đó, đến lượt Ibrahim Koubaissi, chỉ huy chuyên trách các cuộc tấn công bằng tên lửa và rốc-kết của Hezbollah, mất mạng.

 

Theo giới quan sát, để lần lượt triệt hạ các chỉ huy cấp cao của Hezbollah, dường như Nhà nước Do Thái đã thâm nhập được vào bộ máy tổ chức của Hezbollah, xác định được những người chỉ huy chính của phong trào này và áp dụng chiến thuật tấn công, trừ khử lần lượt từng người. Theo RFI Pháp ngữ, cả một thế hệ những người thành lập phong trào Hezbollah vào đầu những năm 1980, đã bị Israel hạ sát.

 

Mỗi khi định vị được nơi ở hoặc nơi ẩn náu của những người này, Israel cho tiến hành những vụ đánh bom lớn, bất chấp tình trạng có rất nhiều nạn nhân liên đới là thường dân thiệt mạng hoặc bị thương.

 

 

Hezbollah : Ai sẽ kế nhiệm thủ lĩnh Nasrallah ?

 

Theo ghi nhận hôm nay 29/09 của thông tín viên RFI Paul Khalifeh tại Beyruth, Hachem Safieddine, một người anh họ ngoại của Hassan Nasrallah, là ứng cử viên nổi bật nhất. Chính Safieddine đứng đầu hội đồng điều hành của đảng Hezbollah, hoạt động như chính phủ, nhờ đó ông có được kinh nghiệm sâu rộng về chính trị, tài chính, hành chính và quân sự. Cũng giống như Nasrallah, Hachem Safieddine từng theo học thần học tại thành phố thánh Qom, Iran và được giới chuyên gia đánh giá là có đường lối cứng rắn, nên sẽ ít có xu hướng thỏa hiệp.

 

Ứng cử viên tiềm năng thứ hai là Naïm Qassem, phó tổng thư ký đảng. Không có nhiều kinh nghiệm quân sự, nhưng Qassem đại diện cho phe tôn giáo bảo thủ của đảng Hezbollah.

 

----------------------------

Các nội dung liên quan

 

XUNG ĐỘT - TRUNG CẬN ĐÔNG

Hassan Nasrallah, thủ lĩnh Hezbollah của Liban, bị Israel hạ sát

 

ĐIỂM TUẦN BÁO

Israel - Hezbollah: Quân sự là con đường duy nhất giải quyết xung đột ?

 

 

======================================================

 

 

Israel tiếp tục oanh kích Hezbollah sau vụ hạ sát thủ lĩnh Hassan Nasrallah  

Trọng Thành  -  RFI

Đăng ngày: 29/09/2024 - 15:12

 https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20240929-israel-ti%E1%BA%BFp-t%E1%BB%A5c-oanh-k%C3%ADch-hezbollah-sau-v%E1%BB%A5-h%E1%BA%A1-s%C3%A1t-th%E1%BB%A7-l%C4%A9nh-hassan-nasrallah

 

 

 

Netanyahu : Cái chết của thủ lĩnh Hezbollah là “bước ngoặt lịch sử” với Israel  

Minh Phương  -  RFI

Đăng ngày: 29/09/2024 - 11:36Sửa đổi ngày: 29/09/2024 - 17:56

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20240929-netanyahu-c%C3%A1i-ch%E1%BA%BFt-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%A7-l%C4%A9nh-hezbollah-l%C3%A0-b%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%E1%BA%B7t-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-v%E1%BB%9Bi-israel

 

 

 

Lãnh đạo Hezbollah tại Liban bị trừ khử : Sự bất lực của Mỹ và Iran  

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 30/09/2024 - 15:46

https://www.rfi.fr/vi/ph%C3%A2n-t%C3%ADch/20240930-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-hezbollah-t%E1%BA%A1i-liban-b%E1%BB%8B-tr%E1%BB%AB-kh%E1%BB%AD-s%E1%BB%B1-b%E1%BA%A5t-l%E1%BB%B1c-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%B9-v%C3%A0-iran

 

 

 

Israel gia tăng oanh kích, đánh sâu vào thủ đô Beirut  

Minh Anh  -  RFI

Đăng ngày: 30/09/2024 - 13:26Sửa đổi ngày: 30/09/2024 - 14:48

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20240930-israel-gia-t%C4%83ng-oanh-k%C3%ADch-%C4%91%C3%A1nh-s%C3%A2u-v%C3%A0o-th%E1%BB%A7-%C4%91%C3%B4-beirut

 

 

 

 



CHUYÊN GIA TÀI CHÍNH TRUNG QUỐC BÀN VỀ VINFAST, VINGROUP và KINH TẾ VIỆT NAM (Fan Tong Huang Lao Ban / Guancha)

 



Chuyên gia tài chính Trung Quốc bàn về VinFast, Vingroup và kinh tế Việt Nam

Fan Tong Huang Lao Ban饭统戴老板|西贡河畔的谜题:越南的三星和比亚迪在哪里?Guancha

Lê Thị Thanh Loan, biên dịch

17/09/2024

https://nghiencuuquocte.org/2024/09/17/chuyen-gia-tai-chinh-trung-quoc-ban-ve-vinfast-vingroup-va-kinh-te-viet-nam/

 

Ngày 15/8/2023, hãng ô tô Việt Nam VinFast được niêm yết tại Mỹ với giá trị vốn hóa ở mức cao nhất lên tới 200 tỷ USD.

 

Tuy không có danh tiếng lẫy lừng nhưng VinFast lại được nhà nhà biết đến ở Việt Nam, công ty mẹ của hãng xe này là Tập đoàn Vingroup, doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam. Công ty này có vô số điểm tương đồng với Evergrande: ông chủ Phạm Nhật Vượng cũng là người giàu nhất giống như Hứa Gia Ấn, hoạt động kinh doanh chính của họ là bất động sản, cả hai đều thích làm bóng đá và có tư duy “cái gì ra tiền thì làm cái đó”. Nhìn tổng thể thì VinFast gần như là phiên bản Việt Nam của Evergrande.

 

VIDEO :

Chuyên gia tài chính Trung Quốc bàn về VinFast, Vingroup và kinh tế Việt Nam

https://www.youtube.com/watch?v=51Yg7FzE6UY

 

Hiểu như thế nào về khái niệm vốn hóa thị trường 200 tỷ USD? Nếu xếp hạng thì con số này đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Tesla và Toyota. Trên thực tế, khi Phố Wall xếp hạng VinFast, đó cũng là lúc lý thuyết về sự trỗi dậy của Việt Nam đang ở vào thời đỉnh cao. Ở một mức độ nào đó, điều này phản ánh trí tưởng tượng đẹp đẽ của thế giới về việc Việt Nam sẽ thay thế vị thế công xưởng thế giới của Trung Quốc, ngay cả khi chưa có ai trên thế giới ngoài người Việt được chiêm ngưỡng xe của VinFast.

 

Vào cuối tháng 7, tôi đến TP.HCM công tác và có ghé thăm một cửa hàng VinFast. Giống như các thế lực mới trong nước, VinFast cũng mở cửa hàng trải nghiệm tại các trung tâm mua sắm cao cấp. Một người bạn Trung Quốc ở Việt Nam cùng tôi đi khảo sát cho biết, xe điện VinFast về cơ bản được lắp ráp từ linh kiện Trung Quốc: pin của Gotion High-Tech, động cơ của Dalian Haosen, radar của Shanghai Baolong và cảm biến nhiệt của Jiangsu Kingfield…

 

Vì vậy, chiếc xe này đem lại cảm giác có chút “giả”.

 

Lịch sử đã chứng minh Việt Nam không mấy phù hợp với vị trí thứ ba thế giới. VinFast nhanh chóng bị đưa trở lại giá trị thực và vốn hóa đã giảm 95% so với mức đỉnh. Tuy nhiên, khi thảo luận với người bạn Việt Nam về công ty này, chúng tôi nảy ra một câu hỏi thú vị: VinFast đã dựa vào sự thổi phồng của Phố Wall để trở thành thương hiệu Việt đầu tiên vươn tầm toàn cầu, nhưng ngoài nó ra, Việt Nam đã từng có thương hiệu đẳng cấp thế giới hay đẳng cấp châu Á nào?

 

Bối cảnh của câu hỏi này là: Việt Nam đã bước sang năm thứ 38 kể từ cuộc cải cách vào năm 1986, ít nhất cũng phải có một số công ty trong nước có tên tuổi.

 

Thế là người bạn Việt Nam của chúng tôi kể ra một loạt cái tên: Vinamilk, Viettel, VietinBank… Một người bạn Singapore cùng ngành đã làm việc ở Việt Nam hơn mười năm ngắt lời anh ấy và nói rằng, có rất ít người dân ở các nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam từng nghe nói đến những thương hiệu này, chứ đừng nói đến đẳng cấp thế giới hay đẳng cấp châu Á.

 

Chúng ta cũng có thể đưa ra các ứng cử viên của “mô hình Đông Á” và tiến hành một so sánh thống nhất:

 

Với Nhật Bản, nếu bắt đầu tính từ năm 1946 thì 38 năm sau là 1984, nước này đã có các hãng lớn như Sony, Toyota, Panasonic, Toshiba… Sản phẩm của họ bán chạy trên toàn thế giới, ngay cả người Mỹ cũng hét lên rằng “Nhật Bản là số 1”.

 

Đài Loan bắt đầu xây dựng nền kinh tế định hướng xuất khẩu vào năm 1958. 38 năm sau, tức năm 1996, Acer, Formosa Plastics, Asus và Uni-President đã nổi tiếng khắp châu Á. Ngay cả TSMC, một doanh nghiệp mới thành lập chưa đầy 10 năm, cũng đang chuẩn bị lên sàn.

 

Chính phủ Park Chung-hee của Hàn Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên vào năm 1962. 38 năm sau, vào năm 2000, các doanh nghiệp chaebol như Samsung, LG, Hyundai, KIA đã trở thành tấm danh thiếp quốc gia của Hàn Quốc với danh tiếng vươn tầm thế giới.

 

Điều này cũng đúng với Trung Quốc đại lục. Nếu tính từ năm 1978 thì 38 năm sau, tức năm 2016, có 110 công ty Trung Quốc nằm trong top 500 công ty hàng đầu thế giới. Huawei, Haier, Lenovo, Tencent và Alibaba đã tạo dựng được danh tiếng trên toàn cầu.

 

Nếu nói quy mô của Trung Quốc đại lục lớn hơn Việt Nam rất nhiều và không thể so sánh thì Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đều có cùng tầm cỡ (hoặc nhỏ hơn) với Việt Nam về cả dân số và diện tích, nhưng Việt Nam lại có khoảng cách rất lớn so với cả ba.

 

Nếu đặt câu hỏi này với giới tinh anh Việt Nam, chỉ cần bạn đủ khéo léo, họ sẽ không cảm thấy bị xúc phạm, mà sẽ kể với bạn không ngừng: Một số người quy cho việc chính phủ thiếu hành động, phàn nàn về việc quan chức tham nhũng; có người bàn đến thói hư tật xấu của dân tộc và việc người dân sính ngoại, chỉ yêu thích thương hiệu Nhật, Hàn; có người trách cứ các công ty không có khát vọng, chỉ biết bóc lột công nhân trong cuộc chiến giá cả rồi chuyển tài sản sang Mỹ…

 

Những lời này nghe có chút quen thuộc. Thậm chí, tôi còn tự hỏi liệu chúng có được trích từ một trang web tiếng Trung hay không. Tất nhiên, việc phàn nàn chỉ có thể trút bỏ cảm xúc chứ chẳng thể nào cho ra được đáp án. Vẫn cần dựa vào số liệu và thực tế để trả lời câu hỏi này: Việc Việt Nam vắng bóng thương hiệu nội địa là kết quả của sự mất cân bằng cơ cấu kinh tế trong thời gian dài, hay nói cách khác, là do sự thất bại trong việc học hỏi “mô hình Đông Á”.

 

Đằng sau câu hỏi này ẩn chứa sự thực về nền kinh tế Việt Nam. Chỉ khi hiểu được nó, bạn mới có thể thực sự hiểu về Việt Nam.

 

01.

 

Nhìn bề ngoài, Việt Nam là người bạn siêng năng cùng học hỏi “mô hình Đông Á” và là đại diện tiêu biểu cho việc “níu lấy Trung Quốc để qua sông”.

 

Nhịp độ của Việt Nam cách Trung Quốc khoảng 6 đến 10 năm: Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa từ năm 1978, Việt Nam cũng bắt đầu thực hiện cải cách đổi mới từ năm 1986; năm 1980, Trung Quốc bắt đầu thực hiện “hệ thống khoán hộ gia đình”, Việt Nam thực hiện chính sách tương tự năm 1988; năm 1982, Trung Quốc công nhận địa vị pháp lý của kinh tế tư nhân, Việt Nam thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990; Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, Việt Nam cũng gia nhập WTO năm 2007.

 

Chúng ta coi cuộc cải cách của hai bên làm xuất phát điểm và vẽ ra tốc độ tăng trưởng GDP của hai nước trong 20 năm qua. Có thể thấy rằng, cả Trung Quốc và Việt Nam đều trải qua hai chu kỳ tăng trưởng, nhưng tốc độ của Trung Quốc nhanh hơn. Từ năm 1978 đến năm 1998, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung Quốc là 9,8%, trong khi từ năm 1986 đến năm 2006, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam là 7,1%. Từ góc độ dữ liệu, thành tích của Việt Nam trong 20 năm đầu của cuộc cải cách là khá chuẩn mực.

 

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào cơ cấu kinh tế của hai nước, chúng ta sẽ nhận thấy sự khác biệt to lớn.

 

Từ cơ cấu xuất khẩu của Trung Quốc năm 1998 có thể thấy, các sản phẩm cơ điện tử đã vượt qua dệt may và trở thành sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc. Còn với cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam năm 2006, có thể thấy sau 20 năm cải cách, nhiên liệu (chủ yếu là xăng dầu) chiếm thị phần xuất khẩu lớn nhất, và trong số các sản phẩm công nghiệp, dệt may và giày dép xếp trên các sản phẩm cơ điện tử.

 

Tổng kết đơn giản như sau: Trong kỳ đầu, Trung Quốc và Việt Nam đều xây dựng nền kinh tế “định hướng xuất khẩu” theo mô hình Đông Á. Tuy nhiên, trong hai thập kỷ đầu của cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc đã chuyển từ các ngành cấp thấp như dệt may sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như điện và cơ khí, trong khi Việt Nam vẫn dừng lại ở tài nguyên khoáng sản và các sản phẩm công nghiệp cấp thấp. Nhìn bề ngoài, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam gần giống với số liệu của Trung Quốc nhưng lại có những lỗ hổng nhất định trong cơ cấu.

 

Không phải Việt Nam không có cơ hội sửa chữa sự lạc hậu về cơ cấu, mà thực tế là họ đã sớm nhận được cơ hội thứ hai.

 

Tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, hàng loạt công ty có vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam. Đặc biệt, năm 2008, Samsung đầu tư xây dựng nhà máy đầu tiên ở Việt Nam tại tỉnh Bắc Ninh và sau đó triển khai kế hoạch “kiến chuyển nhà”, liên tiếp đóng cửa các nhà máy ở Thâm Quyến, Thiên Tân và Huệ Châu để chuyển đến Việt Nam, kèm theo một lượng lớn các nhà sản xuất linh kiện thượng nguồn và hạ nguồn. Việt Nam nghênh đón nhà đầu tư lớn nhất trong lịch sử.

 

Hiện nay, Samsung sản xuất điện thoại di động, đồ gia dụng, máy tính, linh kiện chip, linh kiện điện tử và các sản phẩm khác tại Việt Nam. Đặc biệt, sản lượng điện thoại di động của Samsung Việt Nam đã vượt quá một nửa sản lượng toàn cầu của Samsung, đưa Việt Nam trở thành nhà sản xuất điện thoại di động lớn thứ hai trên thế giới. Giá trị sản lượng hằng năm của Samsung tại Việt Nam chiếm tới hơn 20% GDP của nước này. Thậm chí, một lãnh đạo cấp cao của Samsung cũng từng đảm nhận chức Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam.

 

Trong Chiến tranh Việt Nam, chính phủ Park Chung-hee đã phái tổng cộng 320.000 người đến Việt Nam để giúp đỡ quân đội Mỹ. Dưới sự thúc đẩy của Samsung, các doanh nghiệp Hàn Quốc kéo nhau tới. LG đổ bộ vào Đà Nẵng, SK vào Hải Phòng, Hyundai khai thác Ninh Bình, Lotte cắm cờ ở Thành phố Hồ Chí Minh, POSCO ngụ ở Bà Rịa Vũng Tàu… Các doanh nghiệp Hàn Quốc kết thành một dải từ Nam ra Bắc, thực hiện giấc mơ còn dang dở của quân đội Mỹ hồi đó.

 

Vốn sản xuất theo mô hình Đông Á sẽ không bỏ sót bất kỳ quốc gia nào có nhân công giá rẻ. Các doanh nghiệp từ Nhật Bản, Đài Loan lần lượt vào Việt Nam, còn TCL và Haier của Trung Quốc đại lục cũng vào Nam mở nhà máy từ rất sớm. Vì vậy, với sự giúp đỡ của các chủ doanh nghiệp nước ngoài, nền xuất khẩu của Việt Nam cũng dần rời xa thời đại của nguyên liệu thô và dệt may, các sản phẩm cơ điện có giá trị gia tăng cao đã chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2023.

 

Theo kinh nghiệm của mô hình Đông Á, việc tận dụng hiệu ứng lan tỏa của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài lên chuỗi cung ứng bản địa, cùng sự tiếp thu và hấp thụ các công nghệ tiên tiến có thể giúp nuôi dưỡng một lượng lớn các doanh nghiệp thuộc chuỗi công nghiệp bản địa. Các thương hiệu bản địa này có thể hoàn thành cuộc phản công chống lại các doanh nghiệp nước ngoài, trước tiên là thay thế hàng nhập khẩu, tiếp đó là tiến hành cạnh tranh với các ông trùm nước ngoài trên toàn cầu và cuối cùng trở thành thế lực xuất khẩu lớn. Có rất nhiều công ty ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có thể làm được điều này.

 

Vậy Việt Nam có làm được điều này không? Hãy nhìn thẳng vào số liệu.

 

Đây là biểu đồ về tỷ trọng doanh nghiệp FDI trong xuất khẩu của Việt Nam. FDI là viết tắt của Đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh. Có thể thấy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tỷ trọng FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên qua từng năm và tỷ trọng của doanh nghiệp nội địa cũng giảm dần theo thời gian. Đến năm 2023, tỷ trọng FDI đã tăng lên mức khoảng 74%.

 

https://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2024/09/FDI-Vietnam.jpg

 

Khi phân tích sâu hơn, có thể thấy, trong các lĩnh vực sản phẩm công nghệ cao như điện thoại di động, máy tính, đồ gia dụng và linh kiện điện tử, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngay cả trong lĩnh vực dệt may ở cấp tương đối thấp, các doanh nghiệp trong nước cũng chưa thể đánh bại các doanh nghiệp có vốn nước ngoài (chủ yếu là các doanh nghiệp Trung Quốc). Chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu các ngành chế biến nông sản và thủy hải sản, doanh nghiệp nội địa của Việt Nam mới có thể áp đảo doanh nghiệp vốn nước ngoài.

 

Nếu nghiên cứu sâu hơn sẽ phát hiện ra rằng, chỉ có 13% doanh nghiệp FDI là liên doanh, còn lại là 100% vốn đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đầu tư nước ngoài bị siết chặt, Việt Nam khó có thể nuôi dưỡng được các doanh nghiệp nội địa có đủ năng lực cạnh tranh. Cơ cấu kinh tế hiện nay của Việt Nam giống như một trạm trung chuyển sản xuất cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài ở Đông Nam Á và để lại rất ít không gian cho các doanh nghiệp trong nước. Nhiệm vụ tham gia và cạnh tranh toàn cầu còn khó thực hiện hơn nữa.

 

Do vậy, khó có thể coi Việt Nam là “học sinh xuất sắc” trong lớp học mô hình Đông Á. Rõ ràng rằng, Việt Nam đã không sao chép đúng một vài vấn đề lớn.

 

02.

 

Đầu tiên là chi tiêu R&D có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cấp công nghiệp.

 

Đây là biểu đồ về tỷ trọng đầu tư cho R&D trong GDP của 4 nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Trung Quốc (không bao gồm Hồng Kông, Macao và Đài Loan). Có thể thấy rõ khoảng cách giữa Việt Nam và 3 nước còn lại là rất rõ ràng. Nó là một đường thẳng trong một thời gian dài, vẫn nằm ở đáy và khoảng cách này vẫn chưa được thu hẹp mà ngày càng bị nới rộng, ngay cả khi nền kinh tế đã cất cánh.

 

https://nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2024/09/RD-Vietnam.jpg

 

Năm 2023, đầu tư cho R&D của Việt Nam chỉ chiếm 0,43% GDP. Trong mối tương quan với 4,91% của Hàn Quốc, 3,3% của Nhật Bản, 3,96% của Đài Loan, 2,43% của Trung Quốc đại lục, 0,95% của Malaysia và 0,65% của Ấn Độ, Việt Nam chỉ nhỉnh hơn một chút so với một nước sản xuất khác là Mexico (0,27%) và chỉ tương đương với trình độ của Trung Quốc vào đầu những năm 1990.

 

Hãy lấy ví dụ về một trường hợp mà ngay cả chính người Việt cũng phải tiếc nuối, đó là Orion Hanel, doanh nghiệp liên doanh lớn nhất Việt Nam.

 

Doanh nghiệp này thành lập vào năm 1993, là liên doanh do doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam cùng góp vốn. Vào thời điểm đó, doanh nghiệp này sản xuất bóng đèn hình và phát triển khá mạnh mẽ. Tuy nhiên, sau năm 2000, khi toàn bộ ngành công nghiệp chuyển đổi sang LCD, Orion Hanel đã không kiên quyết đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển màn hình, cuối cùng đã hoàn toàn tụt lại phía sau rồi tuyên bố phá sản vào năm 2009.

 

Trên thực tế, cũng trong năm 2009, khi mà khu nghỉ dưỡng của Vingroup ở Nha Trang thường xuyên “cháy” phòng và Sun Group đang xây dựng dự án quy mô lớn ở Đà Nẵng, thì Việt Nam lại để doanh nghiệp liên doanh lớn nhất của mình phá sản. Nói một cách đơn giản, điều này tương đương với việc vào lúc Evergrande, Sunac đang phát triển điên cuồng thì Trung Quốc lại để SAIC Motor phá sản. Trong con mắt người Trung Quốc, có lẽ đây là điều khiến người ta phải kinh ngạc.

 

Kết quả, Việt Nam hiện là quốc gia lắp ráp TV lớn trên thế giới nhưng mức giá mà người tiêu dùng phải chi trả cho TV lại cao hơn ở Trung Quốc. Dù là thị trường trong nước hay thị trường xuất khẩu thì cũng đều là “địa bàn” của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Samsung, TCL và LG. Việt Nam không có chỗ đứng trong lĩnh vực màn hình ở thượng nguồn và chỉ có thể kiếm được chi phí lắp ráp ở cấp thấp.

 

Một số người có lẽ sẽ đặt ra câu hỏi: Nếu Việt Nam có nhiều doanh nghiệp có vốn nước ngoài đến vậy, chẳng lẽ không có chút lực đẩy nào đối với các doanh nghiệp trong nước?

 

Hãy lấy Samsung làm ví dụ và cũng sử dụng dữ liệu để đánh giá. Samsung Electronics là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Giá trị sản xuất tại Việt Nam của họ từng chiếm đến 28% GDP của nước này. Doanh nghiệp này tuyển dụng gần 100.000 nhân viên tại Việt Nam, có 1.600 xe buýt đưa đón nhân viên đi làm mỗi ngày. Vậy Samsung có bao nhiêu nhà cung cấp bản địa ở Việt Nam?

 

Theo danh sách các nhà cung cấp được Samsung Electronics công bố năm 2023, doanh nghiệp này có tổng cộng 103 nhà cung cấp cốt lõi trên toàn thế giới, 27 trong số đó có cơ sở sản xuất tại Việt Nam và có thể cung cấp tại bản địa. Tuy nhiên, trong số 27 doanh nghiệp này, có 23 doanh nghiệp Hàn Quốc, 2 doanh nghiệp Nhật Bản và 2 doanh nghiệp Trung Quốc. Không có bất kỳ doanh nghiệp bản địa nào của Việt Nam.

 

Lẽ nào không có bất kỳ doanh nghiệp Việt Nam nào lọt vào chuỗi cung ứng của Samsung? Cũng không hẳn vậy, ba công ty Việt Nam sau đây là nhà cung cấp bản địa khá lớn của Samsung tại Việt Nam:

 

Ngân Hà Printing (in bao bì)

 

Phước Thành Plastic (linh kiện nhựa)

 

Goldsun (linh kiện nhựa)

 

Có thể thấy, các doanh nghiệp bản địa của Việt Nam về cơ bản chỉ có thể cung cấp hộp đựng và linh kiện nhựa cho Samsung.

 

Giáo sư Thi Triển kể câu chuyện sau trong cuốn Lan tỏa: Ông đến thăm Nguyễn Đức Thành (tên tiếng Anh là Felix), viện trưởng Viện Kinh tế và Chính sách thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và là một chuyên gia về kinh tế Việt Nam. Trong cuộc trò chuyện giữa hai người họ, có một đọan như sau:

 

Tôi hỏi ông: “Việt Nam đang thu hút các ngành sản xuất một cách mạnh mẽ, vậy Việt Nam có chính sách công nghiệp của riêng mình không?”

 

Điều khiến tôi kinh ngạc là Felix đã khẳng định thẳng thừng rằng: “Chúng tôi không cần chính sách công nghiệp vì chúng tôi đã có Quảng Châu rồi!”

 

Tôi choáng váng: “Ông nói có Quảng Châu là có ý gì?”

 

“Nếu thiếu thứ gì đó trong quá trình sản xuất, chúng tôi có thể đến Quảng Châu để mua. Đâu cần đến chính sách công nghiệp”.

 

Quả là rất thuận tiện khi đến Quảng Châu để mua sắm – khoảng cách từ Quảng Châu đến Hà Nội là 850 km, trong khi khoảng cách từ Hà Nội đến TP.HCM là 1.150 km. Tuy nhiên, “Quảng Châu” ở đây chỉ vùng duyên hải phía Đông Nam Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam, nơi đây có chuỗi công nghiệp hoàn chỉnh nhất thế giới. Nếu Việt Nam bằng lòng với việc chỉ làm lắp ráp thì đúng là không cần hỗ trợ cho chuỗi cung ứng bản địa.

 

Câu chuyện này nghe có chút giống như chuyện đùa, nhưng giả dụ đối phương không kiêm chức vụ trong Cục Chiến lược, vậy thì điều này hẳn đã phản ánh nhận thức của một số người Việt Nam về chuỗi cung ứng bản địa. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp bản địa của Việt Nam tiếp tục vắng mặt trong các công đoạn cốt lõi của chuỗi công nghiệp, nền kinh tế Việt Nam sẽ chỉ có thể là phần mở rộng của chuỗi kinh tế Trung, Nhật, Hàn, chứ không thể là đối thủ cạnh tranh độc lập với ba nước này. Giới hạn trên của sự phát triển đã bị khóa chặt.

 

Thế nhưng lịch sử đầy rẫy những điều trớ trêu. Sau khi Việt Nam bỏ lỡ hai cơ hội chiến lược liên tiếp, một miếng bánh khổng lồ lại rơi vào tay nước này.

 

03.

 

Năm 2018, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung bùng nổ và Việt Nam trở thành một trong những nước được hưởng lợi nhất từ đó.

 

Năm 2016, trước khi cuộc chiến thương mại nổ ra, Việt Nam đã đề xuất chiến lược “ngoại giao cây tre”, nghĩa là gốc rễ phải vững chãi nhưng phần ngọn thì phải linh hoạt, uyển chuyển trước gió giống như cây tre. Dựa trên ý tưởng này, Việt Nam đã ký kết các hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia. 16 FTA mà Việt Nam tham gia chiếm tới 90% GDP thế giới và bao trùm các nền kinh tế chính trên toàn cầu.

 

Quan trọng hơn, nhằm lách qua rào cản thương mại, các doanh nghiệp Trung Quốc đang đổ xô vào Việt Nam với tốc độ chưa từng thấy. Theo trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2024, Trung Quốc đại lục đã vượt qua Hàn Quốc về số dự án được phê duyệt mới, chiếm 29,1%, và con số này chưa bao gồm tỷ trọng “mượn danh” Hồng Kông và Singapore.

 

Mượn lời của một ông chủ từng sang Việt Nam: Các doanh nghiệp Trung Quốc đang điên cuồng gửi vốn, nhà máy, đơn hàng, công nghệ và nhân tài sang Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam tăng trưởng tới 20,6%. Nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc và nước xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ. Nước này kiếm được một khoản lớn “phí quá cảnh”.

 

Liệu Việt Nam có nắm bắt cơ hội thứ ba này và chuyển hóa sản lượng đầu ra từ Trung Quốc thành sự trỗi dậy của các doanh nghiệp trong nước?

 

Cũng chính vào lúc đề xuất “ngoại giao cây tre” năm 2016, Việt Nam đã ban hành “Quy hoạch tổng thể ngành điện tử”, trong đó đề xuất rõ ràng việc tạo ra 500.000 việc làm mới, “trong đó hầu hết là kỹ sư, kỹ thuật viên và quản lý cấp trung”, và “bổ sung những việc làm này thông qua phát triển năng lực nghiên cứu bản địa”.

 

Mục tiêu là mục tiêu, Việt Nam sẽ lựa chọn con đường nào để thực hiện nó? Mặc dù mô hình của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có những điểm tương đồng nhưng cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt:

 

1.    Mô hình Nhật Bản: Thực thi mạnh mẽ các chính sách và trợ cấp công nghiệp, phát triển hệ thống công nghiệp một cách độc lập, đồng thời dùng “giá trị địa chính trị” để đổi lấy sự ưng thuận ngầm của phương Tây (chủ yếu là Mỹ) đối với chính sách và trợ cấp.

2.    Mô hình Hàn Quốc: Sử dụng mô hình chaebol (tài phiệt) để tập trung đột phá ở một số ngành có giá trị gia tăng cao, đồng thời sử dụng “giá trị địa chính trị” để đổi lấy tư cách xâm nhập những thị trường nhất định.

3.    Mô hình Trung Quốc: Học hỏi Nhật Bản, Hàn Quốc về chính sách công nghiệp, phát triển hệ thống công nghiệp một cách độc lập, đồng thời xây dựng thị trường nội địa có tính thống nhất và sử dụng việc mở cửa thị trường quy mô lớn để loại bỏ một số thế lực đối địch.

 

Mặc dù đáp án ở ngay trước mắt nhưng đối với Việt Nam, “thời thế nay đã khác”.

 

Một mặt, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã chặn đứng nhiều ngành công nghiệp, khiến các nước lạc hậu khó bắt kịp hơn gấp bội; mặt khác, vào thời đại mà Trung, Nhật, Hàn theo “mô hình Đông Á”, toàn cầu hóa vẫn là một xu hướng không thể ngăn cản. Nhưng trong bối cảnh chống toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam khó có thể sao chép hoàn toàn chính sách công nghiệp của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

 

Trên thực tế, chính bởi ngành công nghiệp của Việt Nam tập trung vào công đoạn lắp ráp và có tương đối ít sự hỗ trợ công nghiệp ở cấp chính phủ nên nước này mới có thể thiết lập thành công quan hệ thương mại tự do với rất nhiều thị trường nước ngoài. Nếu hiện giờ Việt Nam quay trở lại con đường trợ cấp và hỗ trợ công nghiệp, nhiều khả năng sẽ bị thiết lập các rào cản thương mại, từ đó ảnh hưởng đến mô hình thu phí quá cảnh hiện tại.

 

Vì vậy, con đường khả dĩ nhất mà Việt Nam có thể lựa chọn hiện nay là mô hình chaebol của Hàn Quốc, cũng chính là mô hình tài phiệt.

 

Cái gọi là mô hình tài phiệt, chỉ sự hỗ trợ cho các ông trùm nắm trong tay nhiều mảng kinh doanh khác nhau. Chính phủ trợ cấp cho “bộ phận phi thương mại” của một doanh nghiệp lớn thông qua “trợ cấp không liên quan”, sau đó doanh nghiệp chuyển tiền tới “bộ phận thương mại” thông qua phân bổ theo chiều ngang, từ đó có được khả năng đầu tư quy mô lớn nhằm đạt được mục tiêu chuyển đổi theo định hướng.

 

Hãy lấy một ví dụ. Vào thời điểm đó, chính phủ Park Chung-hee của Hàn Quốc muốn phát triển mạnh mẽ ngành đóng tàu nhưng không muốn các đối thủ chính là Nhật Bản và châu Âu nói ra nói vào, vậy nên đã tìm đến Tập đoàn Hyundai, trợ cấp cho mảng cơ sở hạ tầng – một “bộ phận phi thương mại” – và cung cấp cho họ các đơn hàng đường cao tốc khổng lồ. Thông qua cuộc chuyển đổi, Tập đoàn Hyundai đã chuyển sang ngành đóng tàu trên quy mô lớn và cuối cùng dựng nên công ty đóng tàu át chủ bài Hyundai Heavy Industries của Hàn Quốc.

 

Mô hình Hàn Quốc dường như là câu trả lời duy nhất. Vậy cần hỗ trợ doanh nghiệp nào trở thành tài phiệt? Vingroup vào thời kỳ đầu rõ ràng là “kẻ được chọn”.

 

Nhìn vào báo cáo tài chính mới nhất của Tập đoàn Vingroup, có thể thấy tập đoàn này tham gia vào tất cả các lĩnh vực như bất động sản, bán lẻ, công nghiệp, công nghệ, ô tô… Người Việt Nam không chỉ có thể mua ô tô Vingroup, đến các khu nghỉ dưỡng, mua sắm tại trung tâm thương mại và sử dụng thanh toán điện tử của Vingroup, mà còn có thể đến các bệnh viện và trường học của Vingroup để chữa bệnh và học tập.

 

Sau khi người sáng lập tập đoàn, Phạm Nhật Vượng, kiếm được hũ vàng đầu tiên nhờ bán mì ăn liền ở Đông Âu, ông trở lại Việt Nam vào năm 2000 và nhận được sự hỗ trợ toàn diện từ chính phủ Việt Nam, từ đất đai, tín dụng cho đến chính sách. Thậm chí, khi lãnh đạo Việt Nam sang thăm Lào cách đây không lâu, họ đã mang theo 20 chiếc xe điện VinFast để làm quà cho nước bạn.

 

Chỉ khi trực tiếp đến Việt Nam, bạn mới cảm nhận được sự hiện diện khắp nơi của Vingroup. Vào cuối tháng 7, tôi có một bài phát biểu ở Việt Nam, địa điểm là tòa Landmark 81 cao 461 mét, công trình mang tính biểu tượng của TP.HCM. Tòa nhà cao thứ hai Đông Nam Á này là “trung tâm Thượng Hải” của TP.HCM và các căn hộ cao cấp nằm bên cạnh (tương đương với Tomson Riviera) đều thuộc về Vingroup đang ở thời hưng thịnh.

 

Vì vậy, tuy mẫu xe điện VinFast được nêu ở phần đầu lỗ tới 2,3 tỷ USD vào năm 2023 nhưng mảng kinh doanh bất động sản và bán lẻ của Vingroup vẫn đang liên tục hái ra tiền. Trong bối cảnh bất động sản Việt Nam suy giảm vào năm ngoái và án tử hình của bà trùm bất động sản Trương Mỹ Lan, hoạt động kinh doanh bất động sản năm 2023 của Vingroup đã đi ngược lại xu hướng và tăng trưởng 49%, lợi nhuận cũng tăng 14%. Có thể coi đây là một “phép màu trong kinh doanh”.

 

Dù mô hình chaebol là liều thuốc độc nhưng đối với Việt Nam, có lẽ không uống cũng không được.

 

Chỉ khi bù đắp được những lỗ hổng của chuỗi công nghiệp trong nước, Việt Nam mới có thể thực sự trở thành đối thủ của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trong một số ngành công nghiệp. Tuy nhiên, nếu mô hình chaebol không hoạt động, ông Phạm Nhật Vượng sẽ trở thành ông Hứa Gia Ấn, tức là sẽ không có Samsung, Sony, Toyota hay Huawei, Xiaomi, BYD phiên bản Việt Nam và nước này chỉ có thể tiếp tục đóng vai trò là cơ sở sản xuất.

 

Vận mệnh của Việt Nam quả thực đã khởi sắc trong hai năm qua, nhưng không còn đủ thời gian nữa rồi. Năm 2023, dân số Việt Nam đã vượt mốc 100 triệu người, tổng tỷ suất sinh cũng đã giảm xuống dưới mức 2. Cùng nằm trong vòng văn hóa Nho giáo, Việt Nam cũng không thể tránh khỏi những căn bệnh dai dẳng về giá nhà đất, sự trì trệ và suy giảm tỷ suất sinh. Chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

 

Thực ra đây mới là cơ cấu thực sự của nền kinh tế Việt Nam: Một mặt, được hưởng lợi lớn từ lợi thế địa lý, có lợi thế lớn về chi phí lao động, cả nước vẫn đang cất cánh và đời sống vật chất của người dân vẫn còn nhiều không gian phát triển. Nhưng mặt khác, nền kinh tế còn tồn tại những bất cập về cơ cấu, quá phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nội địa đang tụt hậu nghiêm trọng. Còn phải quan sát xem liệu họ có vượt qua được “mức trần” hay không.

 

Sự thật này cũng cho chúng ta biết rằng: Có một số bài tập tưởng chừng như khá dễ sao chép nhưng thực ra lại rất khó thực hiện. Chiếc bánh nâng cấp công nghiệp chưa bao giờ từ trên trời rơi xuống.

 

04.

 

Trên thực tế, tình hình hiện nay ở Việt Nam mang lại nhiều yếu tố thuận lợi cho Trung Quốc.

 

Một mặt, do sự yếu kém của chuỗi cung ứng trong nước, Việt Nam sẽ tiếp tục phụ thuộc nhiều vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc, điều này được thể hiện rõ qua tỷ trọng các nước nhập khẩu vào Việt Nam. Điều này cho phép Trung Quốc duy trì được giá trị gia tăng cao của chuỗi công nghiệp và các công nghệ cốt lõi. Nhìn vào mức chi cho R&D hiện dưới 0,5% của Việt Nam, sự phụ thuộc này sẽ còn kéo dài trong nhiều năm nữa.

 

Mặt khác, chính sách “ngoại giao cây tre” và chính sách công nghiệp yếu kém của Việt Nam đã cho phép nhiều nước phương Tây mở rộng cánh cửa với họ, khiến nước này trở thành trạm trung chuyển quan trọng cho ngành sản xuất của Trung Quốc, đây là điều có ý nghĩa rất lớn đối với nhiều doanh nghiệp Trung Quốc. Ví dụ, Mỹ gần đây đã khôi phục lại việc đánh thuế đối với các sản phẩm quang điện của Việt Nam. Bên phải chịu ảnh hưởng lớn nhất từ việc này không phải các doanh nghiệp Việt Nam, mà là các doanh nghiệp Trung Quốc.

 

Do chi phí trong nước tăng, việc chuyển giao công nghiệp là điều khó tránh khỏi, nhưng vấn đề là chuyển tới đâu? Nó sẽ được chuyển giao sang Việt Nam, quốc gia vốn phụ thuộc vào chuỗi công nghiệp của Trung Quốc, nằm trong phạm vi ảnh hưởng địa chính trị của Trung Quốc và khó có thể xây dựng được doanh nghiệp nội địa trong ngắn hạn? Hay nó sẽ được chuyển sang Ấn Độ, quốc gia không ngừng “kiếm chuyện” về chính trị, tìm mọi cách để hạn chế các doanh nghiệp Trung Quốc và điên cuồng hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước? Tôi tin rằng không khó để lựa chọn câu trả lời.

 

Trung Quốc quả thực không còn trẻ nữa, nhưng chúng ta thực sự không muốn nhìn thấy dáng vẻ trước đây của chính mình trong vô số kẻ theo sau.

 

----------------------------

Sự phụ thuộc quá mức của Việt Nam vào xuất khẩu và FDI

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EUVFTA) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2020 là hiệp định mới nhất trong chuỗi các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Hiệp định “sinh đôi” … Continue reading  Sự phụ thuộc quá mức của Việt Nam vào xuất khẩu và FDI

Nghiên cứu quốc tế

 

 

 





View My Stats