Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương
Ngày 06.08.2012,
00:37 (GMT+7)
SGTT.VN - Việc 9.000 tàu cá tại Hải Nam và 13.000
tàu cá tại Quảng Đông Trung Quốc ồ ạt kéo ra Biển Đông liệu có phải là một nước
cờ “thật” trên quy mô rộng lớn hơn sau những phép thử liên tục của nước này tại
Biển Đông?
Việc Trung Quốc cho tàu cá liên tục hiện diện với
số lượng lớn và ngăn cản tàu cá của các quốc gia khác đánh bắt, là một bước đi
“xác quyết chủ quyền trên thực địa” được Trung Quốc tính toán hết sức tỉ mỉ.
Trước hết, tàu hải quân của các nước không thể tấn
công các tàu cá vì là tàu “dân sự”, cũng không thể bắt hoặc đuổi vì số lượng
quá nhiều, hoàn toàn vượt trội số lượng tàu của họ; đó là chưa kể đến việc các
tàu cá được sự hỗ trợ của lực lượng bán quân sự là hải giám, ngư chính, và thậm
chí bản thân các tàu được Trung Quốc nói là “dân sự” này còn có trang bị vũ
khí. Nếu Trung Quốc thực hiện phép thử ở Scarborough trên phạm vi toàn Biển
Đông, bằng việc cho tàu cá luân phiên lưu lại và gây cản trở tàu cũng như hoạt
động đánh bắt của các quốc gia khác, Trung Quốc sẽ có khả năng gián tiếp biến
Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Các quốc gia trong khu vực sẽ không thể đi
lại, đánh bắt hay thực hiện bất cứ hành động khai thác nào. Lúc đó, về bản
chất, Biển Đông gần như đã bị khoá chặt.
Thứ hai, với hành động này, Trung Quốc đang muốn
thể hiện sức mạnh áp đảo của mình và ngầm “đe nẹt” các nước có liên quan đến
tranh chấp Biển Đông; cảnh báo các quốc gia trong khu vực về khả năng quân sự
hoá tàu cá của mình – như việc nước này cân nhắc trang bị vũ khí và huấn luyện
cho 100.000 ngư dân của tỉnh Hải Nam, để tạo nên một “lực lượng quân sự mạnh
hơn tất cả các nước khác ở Biển Đông gộp lại” và khi đó, “lực lượng hải quân
của cả khu vực Đông Nam Á cũng sẽ không thể ngăn cản Trung Quốc độc chiếm Biển
Đông!”
Từ dân sự sang quân sự là một bước đi tiện lợi và
ngày càng rõ ràng hơn qua các hành động quân sự hoá ráo riết gần đây của Trung
Quốc.
Diễn biến thực tế cho thấy phần nào hiệu quả của
những thủ đoạn mà Trung Quốc đã áp dụng. Lực lượng hải quân Philippines chưa
thể đuổi tàu cá Trung Quốc khỏi bãi cạn Scarborough, ngư dân Philippines cũng
chưa thể quay trở lại khai thác tại ngư trường này. Khi ngư dân Philippines bị
phía Trung Quốc rượt đuổi, bắt bớ ngay tại vùng biển thuộc quyền tài phán của
quốc gia mà chính quyền Manila chưa thể bảo vệ họ hữu hiệu, thì uy tín của
chính phủ trong mắt người dân khó tránh khỏi bị giảm sút. Đây chính là mầm mống
nguy hiểm cho sự ổn định của quốc gia Philippines mà Trung Quốc đã gieo vào;
chưa kể sự hiện diện của tàu cá Trung Quốc trên vùng bãi cạn Scarborough, nếu
diễn ra trong một thời gian dài, có thể làm ngư dân cảm thấy bất lực và cho
rằng việc Trung Quốc xuất hiện tại vùng biển
của họ là điều không thể tránh được. Từ đó, Trung Quốc sẽ gián tiếp
chiếm được các vùng biển này nhờ sự từ bỏ của chính các ngư dân Philippines.
Nước cờ này của Trung Quốc còn nhắm đến một kết quả
khác, đó là làm suy giảm niềm tin của các nước đang tranh chấp ở Biển Đông vào
các cường quốc khác bên ngoài, đặc biệt là Mỹ. Rõ ràng trong vụ Scarborough mới
đây, Mỹ ít nhiều đã khiến nhiều người thất vọng do không giúp được Philippines
giành lại Scarborough, dù hai nước đã ký hiệp ước Liên minh quân sự. Hệ luỵ của
việc này có thể sẽ dẫn đến sự dè đặt trong hành động phản kháng, thậm chí có
thể là buông bỏ, của các nước có liên quan trong tranh chấp Biển Đông với Trung
Quốc, vì nghĩ rằng sẽ khó có sự hỗ trợ từ các cường quốc khác.
Việc Trung Quốc điều động một lượng lớn tàu cá tràn
vào các khu vực tranh chấp trên biển cũng cho thấy rõ một mưu đồ, đó chính là
biến những hành động gây hấn của Bắc Kinh trở nên quen thuộc và bình thường tới
mức hiển nhiên. Nói cách khác, khi đó, việc đánh bắt cá của các đội tàu Trung
Quốc tại các ngư trường quanh Hoàng Sa và Trường Sa sẽ dần dần trở thành chuyện
không có gì phải bàn cãi về thực tế! Việc cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung
Quốc bị các bên liên quan như Việt Nam hay Philippines phản đối mạnh mẽ. Tuy
nhiên, có thể thấy rằng cả Việt Nam lẫn Philippines dường như vẫn chưa đủ “lực”
để chống lại điều này một cách thực sự, dù cả hai đều quyết tâm cao.
Có một điểm chung, đó là cho đến nay ngư dân của
Việt Nam và Philippines đều chưa được trang bị tốt, dẫn đến việc họ khó có thể
bám biển dài ngày để kiên trì thực thi và thể hiện quyền chủ quyền tại các ngư
trường của mình. Bên cạnh đó, lực lượng chấp pháp biển yếu về cả chất và lượng
đã khiến ngư dân hai nước lép vế hoàn toàn khi so sánh cùng ngư dân Trung Quốc
với lực lượng hải giám hay ngư chính của họ luôn kè kè bên cạnh.
Cũng cần lưu ý, việc cả chục ngàn tàu cá ra khơi ồ
ạt sau lệnh cấm đánh bắt đơn phương mà Trung Quốc áp đặt trên Biển Đông còn
nhằm mục đích thể hiện sự hợp pháp, nói cách khác, là nhằm hợp thức hoá lệnh
cấm đánh bắt vô lối kia để từ đó có thể tiếp tục cấm các nước khác đánh bắt
cũng như khai thác tài nguyên trên Biển Đông trong tương lai.
Những đặc điểm đó – từ mưu mô thâm hiểm của Trung
Quốc đến diễn biến thực tế trên vùng tranh chấp – được nhấn mạnh trong thời
gian gần đây. Tuy nhiên, để thay đổi thực tế đó xem ra không đơn giản và có vẻ
như không phải chỉ trong một sớm một chiều.
Chiến lược tiếp cận Biển Đông dựa trên tồn tại quân
sự của Trung Quốc sẽ gồm ba lớp chính. Tàu cá cùng với những ngư dân, chủ yếu
tại Hải Nam và Quảng Đông, sẽ là lớp đầu tiên với nhiệm vụ thực thi quyền “chủ
quyền thực tế” của Bắc Kinh tại Biển Đông, vừa tránh được tiếng sử dụng vũ lực
vừa thể hiện quyền “tự nhiên” dựa trên quá trình sinh sống của các ngư dân
thông qua việc bắt cá làm kế sinh nhai. Lớp thứ hai chính là các đội tàu kiểm
ngư bán quân sự, lực lượng xương sống trong việc chấp pháp và bảo vệ chủ quyền.
Và lớp cuối cùng, đó chính là hải quân Trung Quốc – lá chắn và cũng là mũi kiếm
mạnh mẽ nhất.
Những phân tích trên nhằm chỉ rõ vai trò quan trọng
của “chiến lược tàu cá” mà Bắc Kinh đang thực hiện. Trước các bước đi đầy toan
tính không trong sáng đó, chúng ta rất cần những biện pháp đối phó thích hợp và
hiệu quả.
Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương
No comments:
Post a Comment