BÊN
THẮNG CUỘC - HUY ĐỨC
TẬP I : GIẢI PHÓNG
PHẦN
II : THỜI LÊ DUẨN
Chương XI : Campuchia
Dù muốn hay không,
Campuchia đã “nằm trong một trang sử” của Việt Nam. Không gian chiến tranh
trong thập niên 1980s và cách mà Việt Nam đã làm để thoát ra khỏi hai cuộc
chiến: Biên giới phía Bắc và Campuchia (“Pot ở đầu phum ta cuối phum”/ “Xuất
khẩu cách mạng”/ Tư tưởng nước lớn/ Bị cô lập/ Phương Bắc/ Hội nghị Thành Đô/
Campuchia thời hậu Việt Nam).
*
*
Giữa trưa 7-1-1979,
khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin, “Quân ta đã vào Phnom
Penh”, ông Lê Duẩn chỉ “ừ” rồi ngủ tiếp. Ông Hồ Ngọc Đại nói: “Tôi rất ngạc
nhiên. Khi nhận được điện thoại từ Cục Tác chiến tôi cũng không ngờ chuyện long
trời lở đất như thế mà ông vẫn ngủ”. Đưa đại quân đến thủ đô một quốc gia khác
tưởng nhẹ tựa giấc ngủ trưa của một đấng quân vương nhưng phải mười năm sau
Quân đội Việt Nam mới rút được chân ra khỏi đó. Cho dù câu chuyện xảy ra bên
ngoài lãnh thổ, mười năm ấy sẽ trở thành một phần lịch sử Việt Nam, lịch
sử can thiệp vào một quốc gia khác.
“Pot
ở đầu phum ta cuối phum”
Theo
Tướng Lê Đức Anh: “Khi đánh Campuchia, trong lãnh đạo Đảng ta có hai ý kiến:
một là đánh xong giao lại cho bạn rồi rút về ngay, hai là đánh xong phải giúp
bạn xây dựng cho vững rồi mới bàn giao và rút về nước… Anh Lê Duẩn bảo đánh
xong giao cho bạn rồi rút cho bộ đội về Nam Bộ làm ruộng”558. Ông Ngô Điền xác
nhận, khi mới lên Phnom Penh, ông Lê Đức Thọ có nói đại ý, “ta cố làm tốt một
thời gian, ba tháng, sáu tháng rồi giao cho bạn”. Nhưng làm sao trong ba hoặc
sáu tháng những người lính Việt Nam có thể “trở về Nam Bộ làm ruộng” khi Khmer
Đỏ chỉ mới bị đánh đuổi chứ chưa bị đánh tan.
Chưa
đầy một tháng sau khi khởi binh, ngày 17-1-1979, bộ đội Việt Nam đã đánh đổ
chính quyền cuối cùng của Pol Pot ở thị xã Ko Kong. Nhưng, như Cục trưởng
Cục Tác chiến Lê Hữu Đức thừa nhận, “chúng ta chiếm được Phnom Penh và các
thành phố, thị xã, nhưng chúng ra không diệt được sư đoàn nào của Pol
Pot. Sinh lực địch bị tiêu hao không đáng kể”. Trung tướng Lê Hữu Đức cho
rằng: “Chúng ta đã dùng búa tạ diệt ruồi, sử dụng binh chủng hợp thành như đánh
Pháp, đánh Mỹ, để đánh với một đội quân du kích”.
Khmer
Đỏ bỏ chạy nhưng chúng không phải là một tàn quân. Tướng Đức nói: “Chúng được
các cố vấn Trung Quốc dạy rất kỹ, cứ thấy xe tăng là chạy rồi gài mìn lại. Mìn
Trung Quốc không giết chết mà chỉ sát thương. Cứ một người trúng mìn, quân ta
lại phải mất bốn người để cáng”. Khi tiến quân vào Phnom Penh, thế Việt Nam như
“chẻ tre”, nhưng khi tới những vùng biên giới xa, các đơn vị Việt Nam lập tức
bị Khmer Đỏ đặt trong tầm phục kích. Đây là giai đoạn quân đội Việt Nam bắt đầu
chịu hy sinh lớn nhất.
Mùa
khô năm 1980-1981, Khmer Đỏ mở cuộc phản kích lần thứ nhất. Khi ấy, lực lượng
Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia vẫn ở mức cao. Không giành lại được
đất, nhưng Pol Pot cũng đã kéo Quân Tình nguyện và Quân đội của Heng Samrin vào
một cuộc chiến khốc liệt không chỉ bởi mức độ thương vong.
Mùa
mưa năm 1983, ông Phạm Văn Trà, lúc bấy giờ là phó tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt
trận 979, trực tiếp lên vùng biên giới Ko Kong chỉ đạo Sư đoàn 4. Ông Trà kể:
“Suốt mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 10, hầu như tuyến trước bị cắt đứt hoàn
toàn liên lạc với tuyến sau; đặc biệt là việc tiếp tế, vận chuyển tê liệt hoàn
toàn. Trong khi đó, địch sử dụng pháo đất từ Thái Lan bắn dai dẳng, ngày này
qua ngày khác vào khu vực có bộ đội ta, các trận địa, bãi mìn của địch bủa
giăng khắp nơi; anh em mình cứ đi ra khỏi địa bàn quen thuộc là vướng mìn,
thương vong rất nhiều. Xuống các bệnh xá, trạm phẫu của sư đoàn, bắt gặp nhiều
chiến sĩ trẻ trung, khôi ngô bị mìn nổ tiện mất chân, có đồng chí cụt cả hai chân,
tôi không cầm được nước mắt, thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm với anh em. Và
cũng thật đớn đau, sau một mùa khô, một mùa mưa, giật mình thấy hàng ngũ của
anh em mình thưa thớt, trống vắng mất một phần”559.
Ở
nơi hòn tên mũi đạn, bữa cơm người lính, theo ông Trà, chỉ gạo mục, cá khô mục,
thịt ôi. Động viên anh em cũng chỉ tăng gia được một ít rau xanh để cải thiện
bữa ăn, có thêm tí chất rau. Khí hậu thì khắc nghiệt, sốt rét, sốt rét ác tính
cứ như “thần chết cầm lưỡi hái” đứng chờ mỗi ngày. Người lính cần vụ của
Tướng Trà đã bị sốt rét, chết khi mới mười tám tuổi.
Ông
Phạm Văn Trà kể: “Riêng tôi, mặc dù không bị sốt rét quật ngã, nhưng cũng đã
nếm trải những cơn sốt kinh khủng. Sợ nhất là đang xuống đơn vị, cắt rừng kiểm
tra trận địa phòng ngự của bộ đội, bất thần cơn sốt ập đến, người run lên bần
bật, mắt hoa lên, bước đi lẩy bẩy, anh em không kịp dìu thì khuỵu xuống giữa
đường, giữa rừng. Bộ đội ốm đau, bị thương do pháo, mìn, nhiều trường hợp bình
thường, nếu cấp cứu kịp, chữa trị chu đáo sẽ qua khỏi, nhưng vì không chuyển
được về tuyến sau nên đành nằm lại chịu chết”. Đặc biệt trong mùa khô, theo
Tướng Phạm Văn Trà, nước uống thiếu “là nỗi đe dọa kinh hoàng”. Ông Trà kể:
“Tôi đã nghe cán bộ, chiến sĩ đơn vị kể lại những chuyện rất thương tâm: bộ đội
khát nước bò lê trên đất, gặp cây gì xanh, mềm đều dùng răng gặm, may chăng
kiếm được giọt nước. Khi đó, mọi phản xạ của con người gần như là bản năng.
Cũng có trường hợp bộ đội chết khát, rất đau lòng” 560.
Mùa
khô cũng là mùa tác chiến quan trọng nhất. Trận đánh ngày 25-5-1984 của Sư đoàn
330 mở màn đợt tấn công mùa khô 1984 được coi là thắng lợi, nhưng theo ông Phạm
Văn Trà, để có chiến thắng đó, Sư đoàn đã phải trả giá rất đắt: 103 cán bộ,
chiến sĩ hy sinh, 485 bộ đội bị thương. Bốn căn cứ của Khmer Đỏ bị chiếm, thu
giữ hơn 300 khẩu súng. Nói là “loại khỏi vòng chiến đấu 700 tên Khmer Đỏ” nhưng
trong những trận đánh như thế, Khmer Đỏ đều chủ động bỏ chạy để bảo tồn lực
lượng, số sinh lực địch bị tiêu hao là rất ít.
Mùa
khô 1983-1984, Khmer Đỏ tổ chức “cuộc phản kích thứ hai” nhưng thất bại.
Mùa
khô 1984-1985, quân đội Việt Nam mở một chiến dịch lớn đánh thẳng vào căn cứ
địa của “ba phái Khmer phản động” nằm trên đường biên giới, trong đó có những
phần nằm sâu vào đất Thái Lan, phá hủy mười sáu căn cứ của “ba phái Khmer”.
Sau
đó, Tướng Lê Đức Anh chủ trương đưa “quân đội và nhân dân bạn” ra làm chủ biên
giới bằng cách cho xây dựng Công trình K5: phát quang hơn 800km đường biên làm
tuyến tuần tra, sau đó cho trồng tre, đào hào, gài mìn, dựng lên một hàng rào
ngăn Pol Pot thâm nhập từ các căn cứ trên phần đất Thái Lan sang.
Theo
tướng Mai Xuân Tần, trưởng Đoàn Chuyên gia 478: “Làm K5 có ý nghĩa rất rõ và
thiết thực. Một là, có công trình phòng thủ biên giới thì các đơn vị vũ trang
của bạn mới cảm thấy vững tâm hơn, từ đó mới dám tự lực bảo vệ tuyến đường
biên, và như vậy quân tình nguyện của ta mới rảnh ra thực hiện nhiệm vụ của đơn
vị chủ lực cơ động chiến lược. Hai là, nếu lúc đó bảo bạn đứng ra tổ chức những
trận đánh lớn hoặc một chiến dịch lớn, một cuộc vận động cách mạng lớn thì
bạn chưa làm được. Nhưng bảo bạn đứng ra tổ chức cho dân cò cây, đào hào,
trồng tre làm thành đường tuần tra biên giới thì bạn làm được và dần dần làm
tốt”561.
Rào
biên giới để ngăn giặc là một kế hoạch táo bạo. Nhưng Thái Lan và Campuchia có
một đường biên dài hàng nghìn cây số, núi cao, rừng thiêng; Khmer Đỏ cũng không
phải là con nai hay con trâu mà là những chiến binh áo đen. Từ những Preah
Vihear, Dangrek, Pailin, Poi Pet, Phnom Malai, Anlong Veng,… những bóng đen ấy vẫn
thoắt ẩn, thoắt hiện, qua lại biên giới như con thoi; Pol Pot tiếp tục lập căn
cứ sâu bên trong lãnh thổ Campuchia sau khi có K5.
Tướng
Mai Xuân Tần giải thích: “Việc tổ chức Công trình K5 là nơi thực tế để tập dượt
cho bạn biết làm công tác vận động và tổ chức quần chúng”. Nhưng không phải tự
nhiên mà “hồi đó và cả bây giờ vẫn có một số đồng chí thắc mắc và cho rằng K5
là tốn kém và không cần thiết”562. Trên thực tế, “K5” đã từng là nỗi sợ hãi của
người Campuchia. Để làm K5, theo ông Ngô Điền: “Ta đã thúc đẩy bạn huy động
khoảng bảy triệu ngày công của quần chúng từ các tỉnh hậu phương đi xây dựng
phòng tuyến biên giới”.
Hàng
chục vạn dân công, phối hợp với bộ đội của Heng Samrin trên Công trường K5
không chỉ là những mục tiêu sống của Khmer Đỏ mà còn là của sốt rét, bệnh tật.
Phần thì bị phục kích, đánh úp, phần bị sơn lam, chướng khí, không thể tính
hết con số thường dân Campuchia bị thương bởi mìn, bị chết bởi súng đạn và
đau ốm, trong cuộc “tập dượt làm công tác vận động quần chúng” này.
Sau
K5, chiến sự càng ác liệt, nhất là khi hơn năm vạn quân tình nguyện Việt Nam
được rút đi. “Từ năm 1983, bạn đảm đương được nhiệm vụ bảo vệ ấp, xã, thị xã,
thị trấn, trừ hai thành phố Phnom Penh và Kongpong Som; năm 1984, bạn tự đảm
đương hoàn toàn bốn tỉnh, Svey Rieng, Prey Veng, Kongpong Cham, Kandal; năm
1985, bạn tự đảm đương được một phần biên giới Campuchia-Thái Lan”563. Tuy
nhiên, lực lượng Việt Nam đã phải dàn mỏng trên những vùng chiến trường rộng
lớn. Những người lính trực tiếp ở đơn vị chiến đấu cảm nhận rất rõ điều đó và
đây là trường hợp của Thượng úy Long.
Tháng
5-1986, Thượng úy Trần Hữu Long, đang là giáo viên quân sự ở trường Quân chính
Quân khu VII, được điều sang chiến trường Campuchia làm đại đội trưởng Đại
đội 11, Trung đoàn 4, Sư 5, Mặt trận 479. Long kể: “Đơn vị đóng ở nơi ác liệt
nhất, nhưng vũ khí vẫn rất thiếu thốn. Đại đội tôi có 110 người mà chỉ còn chín
mươi khẩu súng; theo lý thuyết thì hỏa lực phải được trang bị tới tận phân đội
nhưng tiểu đội thì có B40, trung liên, tiểu đội không”.
Đóng
quân ở bìa rừng, nơi lực lượng Khmer Đỏ thường từ Thái Lan vượt biên giới vào
bên trong đất Campuchia. Long kể: “Chiến tranh như trò đùa, chúng tôi thì cứ
phơi mặt ra, trong khi Khmer Đỏ lại lẩn khuất trong bóng đêm, trong dân. Từ
biên giới luồn qua, tụi lính Pol Pot lại dừng lại đánh nhau với tụi tôi một
chặp, sau đó đi về lại bắn nhau thêm một chặp nữa. Chúng tôi phải đắp tường và
đào hào vây quanh doanh trại theo kiểu pháo đài. Loại pháo đài tường đất với
những ngôi nhà tranh tre chỉ cần một phát B40 là cháy rụi”.
Sự
ác liệt mà những người lính ở Campuchia đã phải trải qua là không thể định
lượng. Đánh chiếm một căn cứ của Khmer Đỏ thì có vẻ như rất dễ, nhưng tiêu diệt
lực lượng Pol Pot thì rất khó. Có những đơn vị Quân Tình nguyện Việt Nam đã
từng bị “xóa sổ”. Thượng úy Long kể: Đầu mùa khô năm 1986, trung đoàn tổ chức
truy lùng địch, đại đội tôi được giao ở nhà giữ cứ. Tối, tôi qua Đại đội 13,
anh em kêu ngồi vào uống ly rượu tiễn. Đang ăn, Đại đội trưởng Thụ hỏi: “Còn
đạn K54 không?”. Tôi rút nguyên băng đạn từ khẩu K54 bên hông đưa cho Thụ. Trưa
hôm sau ra phum, thấy mấy người già Khmer ngồi khóc, nói: “Bộ đội ông Thụ chết
hết rồi”.
Toàn
bộ lực lượng Đại đội 13 tham gia trận đánh bị hy sinh, chỉ còn một người lính
vác chân đại liên sống sót. Đêm ấy, gần 300 lính Khmer Đỏ bị Trung đoàn 4 bao
vây, dồn đánh. Chúng buộc phải mở đột phá khẩu. Nơi chúng chọn nằm trong phạm
vi chốt chặn của Đại đội 13. Những tên lính Khmer Đỏ hung hãn nã B40
như vãi xuống những người lính đang phơi lưng giữa đồng trống. Người lính
sống sót về kể rằng, trước khi chúng đến, anh kịp nằm sấp xuống, kéo xác đồng
đội đè lên.
Lính
Khmer Đỏ lần lượt bắn bồi vào những cái xác bộ đội Việt Nam, nhưng không hiểu
sao anh sống sót. Sáng hôm sau, người dân đưa xe bò vào rừng chở về bốn mươi
xác bộ đội trong đó có cả “Đại đội trưởng Thụ”.
Sau
trận ấy, Thượng úy Long triệu tập đơn vị nói, lực lượng mỏng, chúng ta có thể
bị đánh bất cứ lúc nào. Rồi ra lệnh mở kho đạn, nâng cấp báo động, đặt đơn vị
trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đầu năm 1987, một tiểu đoàn Pol Pot xuất hiện
trong khu vực đại đội Long đóng quân. Lúc này, Long đã chuyển sang chỉ huy Đại
đội 12. Người dân trong phum nói: “Ông Long ơi, nó chuẩn bị đánh bộ đội 12 đó”.
Nguôn,
tiểu đoàn trưởng Khmer Đỏ, nhắn qua dân: “Nói ông Long chỉ cần ra khỏi doanh
trại, bước qua bìa phum là tôi bắn”. Thượng úy Long nhắn lại: “Nói ông Nguôn có
giỏi thì cứ đưa quân về đây”. Khmer Đỏ không đánh ngay mà cứ dấm dứ hàng tháng
trời hòng đặt bộ đội của Thượng úy Long trong trạng thái căng thẳng kéo dài cho
đến khi mệt mỏi. Bộ đội của Long vẫn thường nghêu ngao hát: “Pot ở đầu phum /
Ta cuối Phum / Uống chung dòng nước thối um um / Lên đây đã trải bao mùa lúa /
Pot vẫn đầu phum ta cuối phum”564.
Thượng
úy Long kể: “Đêm Campuchia tối tới mức ngửa lòng bàn tay ra đưa lên trước mặt
cũng không nhìn thấy. Khi hành quân đêm, chúng tôi phải bắt con sâu đất có ánh
lân tinh quệt lên ba lô của người lính trước mặt để bám theo nhau. Đêm đi qua
trảng trống, nếu lỡ tụt lại phía sau phải nằm sát mặt đất may ra mới nhìn thấy
bóng những người lính hành quân in trên nền trời”. Những khoảnh khắc hay bị
phục kích nhất là ở thời điểm trăng vừa lên, Khmer Đỏ phục sẵn chỉ chờ có ánh
sáng nhận rõ mục tiêu là bắn. Khi tiểu đoàn Khmer Đỏ của Nguôn vẫn thập thò
ngoài rừng, Long kể: “Cứ hai tiếng một lần, tôi lại phải dậy đi một vòng đốc
gác. Tiền đồn tối như mực mà không có lấy một trái hỏa châu. Khmer Đỏ áp sát
hàng rào cũng khó lòng nhìn thấy”.
Sau
bốn ngày bị bao vây, “bộ đội 12” căng như dây đàn nhưng đám lính Khmer Đỏ vẫn
chưa khởi chiến. Trung đoàn 4 lúc đó cũng không còn khả năng chi viện vì lực
lượng đã bị dàn mỏng. Tiểu đoàn nhắn xuống: “Tập trung phòng thủ cho tốt”.
Khoảng
4:30 sáng, Thượng úy Long đi đốc gác lần cuối, thấy anh em chấp hành nghiêm,
anh trở về lán. Long kể: Vừa đặt lưng, tôi nghe tiếng AK nổ phát một bụp, bụp.
Chưa kịp nhảy ra thì quả B40 thứ nhất nổ sát nóc nhà sở chỉ huy. Tôi phóng
xuống hầm.
Nghe
đạn của tụi Pol Pot bắn hết cỡ mà không thấy tiếng súng bắn trả của anh em
mình. Tôi nói với cậu liên lạc: không ra đánh là chết hết. Vừa dợm chân ra thì
một trái B40 nổ ngay cửa hầm hất mình trở lại. Nhìn thấy miệng cậu liên lạc mấp
máy, tôi hét lên: “Tao còn sống, đánh!”. Ra khỏi hầm, thấy hàng chục nóc nhà
đang bốc lửa. Một nhóm bộ đội đang vác khẩu cối 82 chạy ra phía sau. Long hét:
“Dựng nòng, bắn cấp tập”. Hô xong vẫn không nghe tiếng cối, Long quát: “Không
bắn, tao bắn tụi bây bây giờ”. Quát xong nhìn lại, thấy miệng khẩu cối chớp
liên tục, anh em không kịp gá chân, cứ thế dựng nòng, thả đạn. Khi ấy, Long mới
biết tai mình đã điếc.
Chạy
xuống Trung đội 1, thấy một chiến sỹ bị thương lòi ruột, anh em đang lấy bát úp
bụng băng lại. Ở Trung đội 2, Trung đội trưởng Nê bị một viên đạn
xuyên qua ngực, chết trong khi tay ôm chặt một chiếc gối hồng. Đại đội trưởng
Long giật mình. Chỉ hai ngày trước, khi nhìn thấy chiếc gối, Long đùa: “Ai tặng
đây?”. Nê tự hào: “Người yêu em tặng. Có chết em cũng sẽ ôm theo chiếc gối”.
Người yêu của Nê là một cô gái người Khmer mới quen. Người lính có mặt trong
giờ phút trung đội trưởng Nê hy sinh kể: “Anh ấy đang chỉ huy thì khựng lại,
máu rỉ ra từ một vết nhỏ trên ngực. Ngay lập tức anh ấy bảo em vào hầm lấy
chiếc gối, rồi ra lệnh: Bắn! Anh ấy ôm chặt chiếc gối cho đến khi mặt tái
lại và lịm dần”.
Trời
sáng, lực lượng Khmer Đỏ rút lui. Ở Trung đội 3, hai người lính đang cố gắng để
nâng xác một đồng đội bị B40 xé nát một mảng lưng. Lửa vẫn cháy ở gần như tất
cả những ngôi nhà của đại đội. Ba người lính hy sinh, ba người khác bị thương.
Xác anh em được đưa về Sở Chỉ huy. Long lấy khăn lau mặt cho từng tử sỹ rồi đợi
xe bò của người Khmer vào đưa xác những bộ đội xấu số lên trung đoàn. “Đêm khô
như tiếng mõ trâu / Rừng khô như tờ bánh tráng / Trời không một tia gió
thoảng”565. Mùa khô ở Campuchia, đất sắt lại, phải hai ba người đào một ngày
mới được một cái huyệt để chôn đồng đội.
Ngay
cổng chính, xác một lính Khmer Đỏ bị bắn chết khi đang vác khẩu B40 với viên
đạn đã sẵn sàng nhưng chưa kịp bắn. Trên lưng hắn ta còn sáu quả đạn. Tiếng AK
“bụp” phát một mà Long nghe khi vừa trở về chỗ nằm là của người lính mà anh vừa
gặp khi đi đốc gác. Nếu anh bộ đội để cho tên lính Khmer Đỏ mang bảy quả B40 ấy
lọt qua hàng rào thì thế trận có nguy cơ vỡ. Đêm ấy, lực lượng Pol Pot chỉ tấn
công ba mặt, chừa một mặt để, nếu “bộ đội 12” bỏ chạy, sẽ rơi trọn vào bẫy phục
kích của chúng. Đấy là trận tập kích khốc liệt nhất của Khmer Đỏ vào nơi đóng
quân của “bộ đội 12” nhưng không phải là trận đánh duy nhất. Thượng úy Long đến
Mặt trận 479 tháng 5-1986, từ đó cho tới giữa năm 1987 anh chỉ huy đơn vị phản
công, phục kích và truy kích Khmer Đỏ tổng cộng sáu mươi tám trận.
Cùng
thời gian ấy, có tin đồn ở Sài Gòn rằng Long hy sinh. Mẹ Long, bà Đỗ Thị Bích
Hà, đến Phòng Cán bộ Quân khu nhiều lần để hỏi thăm. Nhưng thông tin
liên lạc tới chiến trường, nhất là tới những đơn vị đóng sát biên giới
Thái Lan như đơn vị Long là hết sức khó khăn. Sau ba tháng hỏi han, mẹ Long chỉ
được cho biết: Vào thời gian ấy tại Mặt trận 479 có ba thượng úy tên Long chết.
Tháng
8-1987, Trần Hữu Long có lệnh rời chiến trường. Nghe tin Long về nước, Tuân,
người nhận bàn giao chức đại đội trưởng Đại đội 11 từ Long, cho liên lạc cắt
rừng, gửi anh một lá thư ngắn: “Mình được tin Long về nước mà không gặp được.
Chỉ
mong Long về nhà, hạnh phúc”. Tuân và Long đã từng mắc võng nằm trò chuyện với
nhau suốt đêm ngoài rừng. Đấy là lá thư cuối cùng giữa hai người. Khi Long
về tới Bộ Chỉ huy Sư đoàn 5, xác của Tuân và một người phó của anh cũng vừa
được đưa về Sư đoàn bộ. Ở chiến trường có những cái chết không thể nào lường
trước. Tuân không chết bởi Khmer Đỏ mà chết bởi đạn của một chiến sỹ, trong cơn
kích động do chịu đựng căng thẳng kéo dài, đã mất trí bắn vào đồng đội. Cho đến
nay, người dân vẫn không được biết chính xác có bao nhiêu “quân tình nguyện” đã
hy sinh ở Campuchia. Con số bộ đội Việt Nam bị chết, bị tàn phế bởi mìn zip và
mìn K58 trong mười năm ở đây lên đến hàng trăm nghìn566. Các văn kiện của Đảng
và Nhà nước Việt Nam lúc đó mô tả: “Đất nước vừa có hòa bình vừa có nguy cơ xảy
ra chiến tranh”.
Nhưng
không chỉ là nguy cơ. Đưa quân sang Campuchia là để giữ cho không gian chiến
tranh ở xa biên giới Tây Nam, vậy mà ở những quân y viện Sài Gòn, Cần Thơ vẫn
tấp nập thương binh. Những người lính ở “Chiến trường K” lâu ngày bặt tin đã
đưa không gian chiến tranh tràn về những làng quê, góc phố.
“Xuất
khẩu cách mạng”
Năm
1978, Ouk Bun Xươn, bí thư một vùng ở Quân khu Đông, cầm đầu một nhóm Khmer Đỏ
chạy sang Việt Nam. Ouk Bun Xươn đề nghị Việt Nam giúp xây dựng một “khu
giải phóng” dọc biên giới, giúp xây dựng lực lượng vũ trang, từ đó, những người
Khmer sẽ tự chiến đấu để “giải phóng Campuchia” khỏi chế độ Khmer Đỏ. Theo ông
Ngô Điền, phó Ban B68, “đề nghị hợp lý này đã không được chấp nhận”.
Bắt
đầu từ tháng 6-1978, ông Lê Đức Thọ vào Sài Gòn lập ra Ban B68, ban chỉ đạo
“giải quyết chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn”.
Theo
Tướng Lê Đức Anh: “Ông Lê Đức Thọ là người thiết kế từ đầu, là người quyết định
những vấn đề lớn như xây dựng lực lượng, phương thức tiến hành, phương án chiến
đấu, điều binh khiển tướng”.
Khi
chính quyền Khmer Đỏ tháo chạy, người dân Campuchia đang ở trong các công
trường giống như những trại tập trung thời Đức Quốc xã, run rẩy, đói khát,
hôi hám. Công việc của bộ đội Việt Nam trong mấy ngày đầu chủ yếu là cứu
đói và cứu sống hàng vạn người Khmer đang thoi thóp. Những hố chôn người tập
thể, những giếng nước đầy xương người có thể tìm thấy tại hàng ngàn phum, sóc
của đất nước nhỏ bé này.
Sau
hơn ba năm chín tháng sống dưới bàn tay Pol Pot, Campuchia thực sự trở thành
những “cánh đồng chết”. Hàng triệu người bị hành quyết hoặc bị hành hạ cho đến
chết trong các công xã và trên những đại công trường567. Bộ đội Việt Nam đã
giúp từng người dân tìm lại nhà, tìm lại những người sống sót trong gia đình,
mang từng hạt bắp, hạt đậu từ Việt Nam sang để người dân Campuchia khôi phục
công việc đồng áng. Những “hạt giống cách mạng” cũng đồng thời được mang tới,
hình thành ở Campuchia một chế độ theo đúng mô hình Việt Nam.
Các
đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đứng chân ở đâu có nhiệm vụ giúp lập nên chính
quyền ở đấy. Tiểu đoàn, đại đội, “giải phóng huyện” thì giúp lập ra chính quyền
cấp huyện, tiểu đội “giải phóng xã” thì giúp từng xã lập nên chính quyền tạm
thời gọi là “ủy ban tự quản”. Những người “thù Pol Pot, không có nợ máu với
dân, đoàn kết với Việt Nam” có thể được cơ cấu vào các ủy ban này.
Những
người lính Việt Nam trong độ tuổi hai mươi chưa từng lập gia đình, chưa từng
một ngày “làm quan” bỗng nhiên trở thành “chuyên gia” ở xã và có khi
ở huyện. Ông Lê Đức Thọ muốn dựng lên ở Campuchia một bộ máy hoàn chỉnh,
theo mô hình Việt Nam, mặc dù ông chỉ tập hợp được vẻn vẹn sáu mươi mốt cán bộ
người Khmer trước khi “Phnom Penh giải phóng”.
Cuối
năm 1978, báo chí Việt Nam dồn dập đưa tin về các lực lượng nổi dậy, về “Mặt
trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia”, liên tục phát thanh những “lời kêu
gọi” của Heng Somrin, Chea Sim. Nhưng cho tới lúc đó, trên lãnh
thổ Campuchia không hề có nổi dậy, chỉ có những cuộc đào thoát của người
Campuchia đến Việt Nam. Tháng 9-1978, những người đào thoát này mới được tập
hợp lại thành “đoàn đại biểu lực lượng nổi dậy đến thành phố Hồ Chí Minh” yêu
cầu Việt Nam giúp đỡ.
Theo
ông Ngô Điền568: “Lãnh đạo Việt Nam lúc đó rất khó mà đánh giá các nhóm từ
Campuchia sang nên điều dễ hiểu là phải dành sự tin cậy của mình cho những nhóm
cán bộ năm 1954 tập kết ra Bắc. Oái oăm là những cán bộ tập kết có tầm cỡ đã
lần lượt được đưa về lại Campuchia từ 1970 và đã lần lượt bị bọn Pol Pot thủ
tiêu. Những người còn sót lại tới năm 1978 là những cán bộ rất khó sử dụng.
Anh Lê Đức Thọ đã dùng cụm từ ‘vơ bèo, vạt tép’ nhưng cũng chỉ kiếm được
khoảng bốn mươi người”569. Ông Ngô Điền thừa nhận: “Thực tế là ta dựng lên nhóm
lãnh đạo bảy người; ta dựng lên Ủy ban Trung ương Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu
nước mười bốn người; ta viết cương lĩnh Mặt trận 11 điểm; ta tổ chức lễ ra mắt
của Mặt trận ở vùng Mimot ngày 2-12-1978”.
Chỉ
có khoảng hai mươi cán bộ trong “lực lượng nổi dậy” được quân đội Việt Nam mang
theo khi tiến vào Phnom Penh. Theo ông Ngô Điền: “Ta tuyên truyền như là một
cuộc tổng tiến công và nổi dậy của bạn, có sự giúp đỡ quân sự của Việt Nam. Sự
thực, sau khi Phnom Penh giải phóng rồi, đội quay phim quân đội của ta đã bố
trí quay cảnh một cánh quân Cách mạng Campuchia, thực ra là chiến sĩ Việt Nam
mặc quân phục Campuchia, ngày 7-1-1979, tiến nhanh dưới lá cờ đỏ năm tháp vàng
xông vào chiếm hoàng cung giống như cảnh đánh chiếm Cung điện Mùa đông trong
Cách mạng tháng Mười”570.
Tối
ngày 8-1-1979, thế giới nghe được tuyên bố thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách
mạng Campuchia” của những người nổi dậy. Nhưng sự thực thì vài giờ trước đó,
theo ông Ngô Điền: “Tại Bộ Tư lệnh Quân khu VII, ông Lê Đức Thọ mới chủ trì một
cuộc họp gồm lãnh đạo B68 và Tiền phương Bộ Quốc phòng để xem xét lần cuối
danh sách chính phủ mới của Campuchia trước khi công bố. Cuộc họp không có bạn
Campuchia tham dự. Ta đã quyết định không gọi là ‘chính phủ’ mà gọi là ‘Hội
đồng Nhân dân cách mạng’. Việc lớn mà ta quyết định nhanh như vậy và mọi người
xem như bình thường”571.
Mãi
tới ngày 20-1-1979, tại Nhà khách 14 Võ Văn Tần, ông Lê Đức Thọ mới làm tiệc
tiễn hơn bốn mươi cán bộ người Campuchia còn lại về Phnom Penh chấp chính.
Trong số đó có bảy nhân vật chủ chốt: Pen Sovan, Chea Xim, Heng Samrin, Van
Xôn, Bou Thong, Nan Xarin tức Chan Kiri và Hun Sen.
Tư
tưởng nước lớn
Từ
cuối tháng 1-1979, ông Đỗ Mười cùng một số chuyên viên đã được đưa sang Phnom
Penh. Ngày 11-2-1979, toàn bộ “Trung ương bạn” có mặt ở Hoàng cung dự họp với
Lê Đức Thọ, Đỗ Mười và các thành viên B 68. Ông Đỗ Mười trình bày một dự thảo
hiệp định theo đó, Việt Nam sẽ viện trợ cho Campuchia 400 triệu đồng, tương
đương với 60-70 triệu USD theo thời giá. Một tuần sau, Thủ tướng Phạm Văn Đồng
bay sang, ký với Chủ tịch Heng Samrin một hiệp ước có giá trị trong vòng hai
mươi lăm năm gọi là “Hiệp ước Hòa bình Hữu nghị và Hợp tác”, theo đó,
“Campuchia yêu cầu Việt Nam để quân tình nguyện ở lại”.
Một
năm sau khi đánh sang Campuchia, ông Lê Đức Anh được thăng quân hàm từ trung
tướng lên thượng tướng. Ngày 20-5-1981, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập
Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, lấy phiên hiệu là “Bộ Tư
lệnh 719”. Ông Lê Đức Anh, khi ấy đang là tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu VII,
được bổ nhiệm làm tư lệnh Quân Tình nguyện.
Vừa
làm tư lệnh 719, ông Lê Đức Anh vừa trực tiếp làm trưởng Đoàn Chuyên gia quân
sự 478, cơ quan giúp hình thành Bộ Quốc phòng và xây dựng lực lượng vũ trang
Campuchia. Bên cạnh lực lượng “Quân Tình nguyện” còn có một “Đoàn Chuyên gia”
giúp xây dựng hệ thống chính quyền dân sự, có mật danh là B68, do ông Trần Xuân
Bách, ủy viên Trung ương Đảng phụ trách. Tháng 3-1982, tại Đại hội Đảng
lần thứ V của Việt Nam, ông Trần Xuân Bách vào Ban Bí thư trở về Hà Nội làm
chánh Văn phòng Trung ương; ông Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị, trở lại
Campuchia, thống lĩnh cả Đoàn Chuyên gia B68 và Quân Tình nguyện.
Những
năm ấy ở Việt Nam, kinh tế thì kiệt quệ, kinh nghiệm thì chỉ có cơ chế quan
liêu, bao cấp. Vậy mà mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa mà chính Việt
Nam cũng đang cần phải đổi mới ấy lại được đưa sang áp đặt ở Campuchia,
một quốc gia vốn rất khác biệt về văn hóa và đã quá hoảng sợ chính quyền vô sản
từ thời Khmer Đỏ.
Những
người Việt Nam làm “nhiệm vụ quốc tế” ở Campuchia, theo tướng Lê Đức Anh, còn
mắc phải “tư tưởng nước lớn”. Từng cán bộ Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ “chuyên
gia giúp bạn”, biết rõ nguồn gốc lý lịch của từng cán bộ người Campuchia.
Thật
khó để bỗng chốc họ có được thái độ đúng mực với những người vừa được đưa lên
lãnh đạo ở tầm quốc gia ấy.
Những
người thực sự có năng lực và đã từng nắm giữ những chức vụ cao trong hàng ngũ
Khmer Đỏ chạy sang Việt Nam thì chưa được tin cậy. Trong giai đoạn 1979-1981,
nhóm “tập kết” được ông Lê Đức Thọ giao nắm giữ các chức vụ tổng bí thư, chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng, bộ trưởng Bộ Quốc phòng; 3/8 ủy viên Bộ chính trị;
8/17 bộ trưởng; 7/29 chủ tịch, bí thư tỉnh, thành.
Những
người tập kết từ miền Bắc Việt Nam đưa về trình độ rất giới hạn. Người được
chọn “cầm cờ” là Pen Sovan cũng chỉ vốn là trưởng Phòng tiếng Khmer ở Đài Tiếng
nói Việt Nam. Người sau đó thay Pen Sovan giữ chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
ông Chan Si, khi ở Việt Nam chỉ là trưởng một phân xưởng của nhà máy nhiệt điện
Việt Trì, Vĩnh Phú. “Tư lệnh Binh đoàn I” và sau đó là chủ tịch thành phố Phnom
Penh, Khang Sarin, nguyên là một thượng úy ở Thị đội Sơn Tây. Khi được Lê Đức
Thọ kêu, Khang Sarin đã về hưu, đang đi cọ rửa thùng phuy với tiền công hai
đồng một cái. Men Som Ol, từ một nữ y tá hai mươi sáu tuổi ở Quân khu VII,
được ông Lê Đức Anh đưa về làm cục phó Cục Cán bộ Bộ Quốc phòng. Som
Sosor, người gác cổng một nhà máy, được ông Lê Đức Thọ bố trí làm bí thư tỉnh
Kongpong Speu. Mọi quyết định về nhân sự cao cấp của Campuchia đều do một tay
ông Lê Đức Thọ. Sau ngày 20-1-1979, “Ban Xây dựng đảng”, chỉ mới hình
thành trước đó mấy ngày, được ông Thọ gọi là “Trung ương Đảng Nhân dân Cách
mạng Campuchia” và theo ông Ngô Điền, Pen Sovan được ông Lê Đức Thọ gọi là tổng
bí thư, cùng với Chia Xim, Van Xon hợp thành Ban Thường vụ. Nói là trung ương,
là ban thường vụ, nhưng theo ông Ngô Điền: “Trên thực tế chẳng mấy khi họp, mọi
quyết định lớn đều do phía ta làm rồi truyền đạt cho Pen Sovan, Pen Sovan
nêu ra với Trung ương như là ý kiến của Ban Thường vụ. Cái đầu thực sự là Đảng
Cộng sản Việt Nam, cụ thể là Lê Đức Thọ. Làm giúp chỉ là cách nói thôi, trên
thực tế là làm thay”572. Từ thực tế này, ông Ngô Điền thừa nhận tâm lý coi
thường của cán bộ Việt Nam là không tránh khỏi.
Ông
Ngô Điền là đại sứ kiêm cố vấn cho Bộ Ngoại giao Campuchia. Bộ trưởng là Hun
Sen, năm ấy mới hai mươi bảy. Ngô Điền là người hướng dẫn cho Hun Sen từ cách
cầm từng cái ly, cái nĩa. Khi đã được đưa lên làm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
năm 1985, giữa công khai, Hun Sen vẫn giới thiệu ông Ngô Điền với mọi người:
“Đây là người thầy vĩ đại của tôi”. Bộ Ngoại giao Campuchia trong những ngày
đầu chỉ có một bộ trưởng, một chuyện gia, mọi văn kiện, từ thư của Chủ tịch
Heng Samrin gửi các nguyên thủ quốc gia, đến các tuyên bố quốc tế quan trọng
đều do một tay ông Ngô Điền thảo. Ông Điền thừa nhận: “Có lúc phải viết bằng
tiếng Pháp cho kịp thời gian”. Ngay cả khi Đại sứ Ngô Điền “trình quốc thư” lên
“Quốc trưởng” Heng Samrin, mọi hoạt động, kể cả việc “Quốc trưởng tiếp thân mật
đại sứ” đều do chính ông Ngô Điền sắp đặt573.
Hun
Sen thuộc trong số những người khi về Phnom Penh là ý thức được vai trò “chủ
thể của nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia”. Từ một người không biết gì về ngoại
giao, nhờ thông minh, năng động và chịu khó học, Hun Sen đã trở thành một nhà
ngoại giao thực sự. Ông Ngô Điền kể: “Mỗi lần tôi gặp đều tranh thủ giải thích
thêm những vấn đề có liên quan. Hun Sen chăm chú lắng nghe, chỗ nào không rõ
thì hỏi lại, không giấu dốt”.
Ngược
lại, cũng có những người, theo ông Ngô Điền: “Thoắt cái nhảy lên địa vị mới,
nắm trong tay nhiều quyền lực, họ sống như trong giấc mộng… Quên mất mình
vốn chỉ là những bình vôi vô danh, được đưa đặt dưới gốc cây đa, do có hương
đèn cúng vái mà thành thần… Rất nhanh chóng, họ trở thành những người
lạm dụng chức quyền, sống buông thả theo tiền, theo gái”574. Điển hình
trong số đó là Pen Sovan. Theo ông Ngô Điền: “Pen Sovan thường lên mặt lãnh tụ
thông thạo, đôi lần còn giảng giải lại cho tôi… Và, chẳng mấy chốc, đã bộc lộ
tham vọng làm một lãnh tụ độc tài”575. Cho dù nói là “giúp bạn chân thành và vô
điều kiện”, nhưng những người thực sự nắm quyền lúc đó ở Campuchia cũng không
thể chấp nhận cung cách của Pen Sovan. Ngày 2-12-1981, Pen Sovan bị bắt576.
Không
ai phủ nhận Khmer Đỏ là một chế độ diệt chủng, và cho dù lên án Việt Nam “xâm
lược”, chính Sihanouk cũng phải thừa nhận Việt Nam đã cứu nhân
dân Campuchia thoát khỏi bàn tay Pol Pot. Trong hơn mười năm ở lại
Campuchia, những người lính Việt Nam đã làm nhiều việc để ngăn cản Pol Pot quay
trở lại. Họ hy sinh rất nhiều xương máu. Nhưng đồng thời họ cũng can thiệp
vào không ít quyết định của Chính quyền Campuchia. Chính “tinh thần quốc tế vô
sản” này đã dẫn đến khá nhiều sai lầm, trong đó có “sai lầm Seam Riep”.
Mùa
khô năm 1982-1983, Khmer Đỏ dùng thủ đoạn “phản tình báo”, cho một trung đoàn
phó ra trá hàng. Kẻ trá hàng này khai có hàng loạt cán bộ trong
chính quyền Campuchia vừa làm việc cho Phnom Penh vừa làm cho Pol Pot. Ở
Campuchia lúc ấy, không chỉ có một số cá nhân, một số chính quyền địa phương
cũng ngày thì làm việc cho Heng Samrin, tối thì làm cho Pol Pot. Kiểu như
vậy gọi là “chính quyền hai mặt”. Không phải ai tham gia “chính quyền hai mặt”
cũng là để chống Việt Nam. Trong một tình thế mà đêm đêm Khmer Đỏ vẫn từ trong
rừng lẻn ra, sẵn sàng dùng dao quắm chặt đầu những người Khmer trung thành với
Việt Nam, thì “hợp tác” chỉ là lựa chọn để tồn tại. Theo ông Lê Đức Anh: “Căn
cứ vào lời khai của thằng trung đoàn phó trá hàng, anh em đã bắt và xét nhà một
số cán bộ của bạn”.
Khoảng
bốn mươi cán bộ người Campuchia đã bị bắt vì âm mưu của một kẻ trá hàng, hầu
hết đều là cán bộ chủ chốt của chính quyền Seam Riep. Bí thư Tỉnh ủy Seam Reap
đã tự sát khi “các đồng chí Việt Nam” của ông đến bắt. Theo ông Ngô Điền: “Việc
bắt bớ, truy bức, tra tấn đã làm cho nhiều người dân và cán bộ chết oan, bị vùi
dập. Chua xót biết bao khi nghe dư luận cán bộ bạn đặt câu hỏi: cán bộ Việt Nam
sao lại ác như vậy”. Một không khí hoang mang, lo sợ và oán giận Việt Nam bao
trùm Seam Reap rồi nhanh chóng lan ra khắp đất nước Campuchia. Trước khi tiến
hành “vụ Xiêm Riệp”, Bộ tư lệnh 719 đã “xin ý kiến cấp trên” ở Hà Nội577. Nguồn
gốc của những sai lầm kiểu như vụ Seam Riep, theo ông Ngô Điền, đều có căn
nguyên từ “tư tưởng dân tộc nước lớn”. Ông Điền nói: “Biểu hiện rõ nhất của tư
tưởng nước lớn là việc ta mặc nhiên tự cho mình cái vai trò làm lại cuộc cách
mạng Campuchia, sắp xếp từ đầu đến chân bộ máy Campuchia”. Ông Lê Đức Thọ có
thể vẫn ung dung trong buồng tắm trong khi một vị “nguyên thủ” Campuchia ngồi
đợi bên ngoài. Còn Tổng Bí thư Lê Duẩn thì đối xử với tổng bí thư của “bạn”
không hề theo nghi lễ578.
Bị
cô lập
Khi
đến Liên Hiệp Quốc, trong khi tố cáo “Việt Nam xâm lược”, Sihanouk đồng thời
cũng tố cáo “tội ác diệt chủng” của Khmer Đỏ. Tuy nhiên, thế giới dường như chỉ
chú ý đến sự hiện diện của gần hai trăm nghìn quân Việt Nam tại Campuchia, khía
cạnh cứu “nhân dân Khmer” của cuộc chiến tranh thì không ai thừa nhận. Người Mỹ
khôi phục lại lệnh cấm vận thương mại, nhiều nước ASEAN quay qua hậu thuẫn cho
các lực lượng Khmer chống Việt Nam. Sau năm 1975, khi ông Nguyễn Cơ Thạch
sang Bangkok, các bộ trưởng ASEAN được nói là sắp hàng đứng chờ bắt tay ông.
Sau ngày Việt Nam có mặt ở Campuchia, khi ông Thạch tới Bangkok, những người
biểu tình gọi ông là “dog eater-kẻ ăn thịt chó”.
Tháng
4-1984, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch đánh vào căn cứ địa của “ba phái
Khmer phản động” nằm trên đường biên giới, trong đó có những phần nằm sâu trong
đất Thái Lan, một máy bay trinh sát L19 của Thái đã bị trúng đạn phòng không
Việt Nam, một trực thăng khác bị bắn hỏng. Tháng 5-1984, pháo của quân tình
nguyện Việt Nam bắn sâu vào lãnh thổ Thái Lan, phần thuộc tỉnh Surin làm chết
và bị thương một số dân làng. Quan hệ với Thái Lan càng thêm căng thẳng. Theo
ông Trần Quang Cơ, đại sứ Việt Nam tại Thái Lan đầu thập niên 1980, chính quyền
Thái Lan lúc đó gắn bó rất chặt với Trung Quốc trong việc nuôi dưỡng Pol Pot chống
Việt Nam nên, hầu như không có tháng nào là không có những đám đông biểu tình
trước sứ quán hò hét phản đối Việt Nam “xâm lược Campuchia”, xâm phạm lãnh thổ
Thái.
Sự
căng thẳng giữa hai quốc gia đã dồn thêm nhiều áp lực lên cộng đồng Việt Kiều.
Các tỉnh Đông Bắc Thái Lan là nơi có nhiều người Việt từ hai tỉnh Hà Tĩnh và
Nghệ An tới làm ăn. Họ đã từng được Thái Lan chào đón. Cuối thập niên 1920,
Nguyễn Ái Quốc thường dừng chân tại đây để gây dựng cơ sở, truyền bá chủ nghĩa
cộng sản trong cộng đồng và liên lạc với các phong trào trong nước. Đây cũng là
vùng có hàng ngàn người Thái cảm tình với chủ nghĩa cộng sản, nuôi ý đồ làm
cách mạng.
Năm
1947, chính phủ có thiện cảm với Hồ Chí Minh của Thủ tướng Bridi Banomyong bị
thay thế bởi một chính phủ thân Mỹ. Lo sợ chủ nghĩa cộng sản nảy nở, chính
quyền mới ban hành luật cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lập hội và không cho tự
do ngôn luận. Vùng biên giới Đông Bắc Thái Lan bị thiết quân luật.
Người
Việt ở đây, tuy vẫn được lưu dung, nhưng bị coi là “tị nạn bất hợp pháp”.
Theo
ông Trần Quang Cơ: “Họ không được cấp ‘tàng-đạo’ – giấy chứng nhận ngoại kiều –
cũng không được nhập quốc tịch Thái. Mặc dù đã làm ăn sinh sống trên đất Thái
hàng chục năm, hàng chục vạn người Việt vẫn bị quản thúc, muốn ra khỏi nơi cư
trú, muốn đến sứ quán ở Bangkok những dịp Tết Nguyên đán hay ngày Quốc khánh,
đều phải xin giấy phép. Đại sứ Việt Nam cũng không thể tới những tỉnh Đông Bắc
để thăm người Việt”579.
Năm
1979, khi đến Liên Hiệp Quốc, ông Hoàng Sihanouk đã dừng lại ở New York khá lâu
để chờ chấp thuận tị nạn. Nhưng sự im lặng của người Mỹ đã đẩy ông trở lại tay
Trung Quốc. Tất cả các dinh thự mà người Trung Quốc và Bắc Triều Tiên tặng ông
ở Bắc Kinh và Bình Nhưỡng vẫn chờ đợi ông. Thoạt đầu, Sihanouk tuyên bố “không
bao giờ hợp tác với Pol Pot”. Sihanouk đã từng nói với Đặng Tiểu Bình: “Ngài có
thể mở tiệc chiêu đãi tôi, nhưng chúng ta đừng thảo luận về Pol Pot và Khmer
Đỏ, nếu không, cuối cùng chúng ta sẽ ném cốc chén và bát đĩa vào
mặt nhau”. Nhưng, khi Trung Nam Hải để Đặng Dĩnh Siêu, bà quả phụ Chu Ân
Lai, người mà ông rất quý trọng, tiếp, ông Hoàng đã không còn khăng khăng nữa.
Đặng Dĩnh Siêu đã nói với ông: “Hãy quên những nỗi đau riêng của ngài đi”.
Liên
Hợp Quốc vẫn giữ chiếc ghế của Campuchia cho Pol Pot. Ngày 22-6-1982, tại
Kualalumpur, Đảng Funcinpec của Hoàng thân Norodom Sihanouk đã ngồi lại với
Khmer Đỏ – những kẻ đã giết mười tám người thân của ông – cùng với Mặt trận
Giải phóng Dân tộc Nhân dân Khmer (KPNLF) của Son Sann, lập “Chính phủ Liên
hiệp Ba phái Campuchia Dân chủ” do Sihanouk làm chủ tịch. Lại một lần nữa
Sihanouk đánh cờ cho “Trung Hoa”, củng cố vị thế chính trị cho lực lượng chủ
yếu là Khmer Đỏ.
Phương
Bắc
Sau
khi ký Hiệp định Paris, Kissinger đã đến Việt Nam. Có nhiều giai thoại nói rằng
khi đó, Kissinger cảnh báo: từ nay, mối đe dọa của Việt Nam sẽ đến từ phương
Bắc. Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn tác giả cuốn sách này, Cựu Ngoại trưởng
Henry Kissinger đã cười và giải thích: “Khi tới Hà Nội, Lê Đức Thọ dẫn tôi đến
bảo tàng lịch sử, ở đó chưa nói gì về chiến tranh với người Mỹ trong khi mô tả
khá chi tiết những lần xung đột với Trung Hoa. Anh nghĩ, Hà Nội còn cần tôi nói
với họ điều mà họ đã thuộc làu qua lịch sử!”.
Cảnh
giác với người Trung Hoa là điều có từ trong máu người Việt Nam. Nhưng, trong
lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với “Thiên Triều”, chưa có triều đại nào
lại công khai xác định Trung Quốc là “kẻ thù truyền kiếp và lâu dài” trong các
văn kiện chính thức như thời Tổng Bí thư Lê Duẩn. Trong suốt thập niên Trung
Quốc đánh Việt Nam, Hà Nội vẫn giữ đại sứ tại Bắc Kinh và Bắc Kinh vẫn giữ đại
sứ của mình tại Hà Nội. Nhưng đó là một mối quan hệ không bình thường.
Theo
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc giai đoạn 1974- 1987,
ngay từ khi mới xảy ra vấn đề người Hoa, ông đã rất “vất vả với các trò trẻ con
của Trung Quốc”. Tướng Vĩnh kể: “Trung Quốc bố trí hai chiếc xe ô tô con luôn
luôn chầu chực ở hai cửa của sứ quán ta, cán bộ mình đi đâu nó theo đấy, ngay
đại sứ đi nó cũng đi theo. Có lần tôi ngồi xe có cắm cờ Việt Nam đi từ sứ quán
ta ra, đi được một đoạn, mặc dù đồng chí Quảng đang lái rất nghiêm chỉnh, đúng
luật, thế mà cảnh sát Trung Quốc lại thổi còi bắt dừng xe, rồi bắt lái xe xuất
trình giấy tờ. Giấy tờ đủ cả! Rồi họ cũng phải cho đi tiếp vì không biết làm
cách nào, không tìm ra cái gì để bắt bẻ nữa. Chủ yếu là họ làm chậm hành trình
để tôi sai hẹn với đối tác hoặc với đại sứ nước nào đó”. Nhân viên sân bay Bắc
Kinh cũng từng bắt Tướng Vĩnh đi vào cửa kiểm tra hành lý, cho dù ông được
quyền “miễn trừ ngoại giao”.
Tướng
Vĩnh dọa “họp báo tố cáo Bắc Kinh vi phạm công ước quốc tế” và dọa sẽ áp dụng
biện pháp tương tự với đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội theo “nguyên tắc đối đẳng”
họ mới để ông đi theo cửa không kiểm tra hành lý.
Sau
khi Trung Quốc rút hết quân vào ngày 18-3-1979, hai bên đã có hai vòng đàm phán
– vòng 1, từ 18-4 đến 18-5-79 tại Hà Nội và vòng 2, từ 28-6-79 đến 6-3- 80, tại
Bắc Kinh – chủ yếu là giải quyết vấn đề tù binh. Theo ông Trần Quang Cơ: “Từ
năm 1980 đến cuối năm 1988, ngót hai chục lần Việt Nam gửi thư hoặc công hàm
cho Trung Quốc đề nghị nối lại đàm phán nhưng đều bị Trung Quốc bác. Trung Quốc
nâng cao dần điều kiện lên: về quân sự đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, về
chính trị đòi Việt Nam chấp nhận sẽ lập chính phủ liên hiệp ở Campuchia, bao gồm
cả Khmer Đỏ”.
Chỉ
hơn một năm sau khi tuyên bố rút quân, Trung Quốc bắt đầu gây chiến tranh trở
lại580. Duy trì chiến sự trên biên giới phía Bắc không chỉ làm suy kiệt Việt
Nam mà còn là nơi để Trung Quốc phối hợp tấn công khi các phái Khmer chống Việt
Nam bị đánh đuổi trên vùng biên giới Thái581. So với thời điểm tháng 2-1979,
cuộc tiến công năm 1984 của Trung Quốc có trình độ tác chiến cao hơn hẳn. Ngày
16-5- 1984, chỉ sau mười tám ngày điều quân, Trung Quốc đã chiếm và chốt giữ
hai mươi chín điểm dọc biên giới Việt Nam.
Cuộc
phản công đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu từ ngày 11-6-1984,
đánh vào các cao điểm 233, 685 nhưng không thành công. Cuộc phản công quy mô
hơn vào ngày 12-7-1984 cũng bị coi là thất bại. Chiến sự ở thế dằng co kéo dài
cho tới tháng Giêng năm 1985. Có những nơi, chốt của quân đội Việt Nam cách
chốt của quân Trung Quốc chỉ từ sáu đến tám mét; có những điểm cao, đôi bên
liên tục giành giật, chiếm đi, chiếm lại ba bốn chục lần. Do địa hình phía Việt
Nam hiểm trở, tháng 3-1985, Trung Quốc chiếm lại được bốn điểm cao quan trọng
thuộc khu vực Quân khu II, đặc biệt là các khu vực thuộc vùng biên giới Hà
Giang. Đây là giai đoạn chiến tranh có tỉ lệ thương vong cao nhất ở vùng biên
giới582.
Tháng
2-1979, khi Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam, Liên Xô đang có năm mươi sáu sư đoàn
ở vùng biên giới với Trung Quốc nhưng đã không có bất cứ một động thái quân sự
nào. Trước “thông điệp” này, Đặng Tiểu Bình quyết định “đi đêm” ngay với
Moscow, và mặc dù nhận ra sự yếu kém của quân đội, Đặng quyết định không cần
vội vã chi tiền hiện đại hóa quân sự583. Tuy nhiên, Đặng vẫn duy trì chiến
tranh quy mô nhỏ trên vùng biên giới, một mặt giữ chân thường xuyên hơn 800
nghìn quân Việt Nam584, mặt khác, biên giới trở thành chiến trường thật để quân
đội Trung Quốc có nơi huấn luyện. Trong thập niên 1980, gần hết lực lượng bộ
binh Trung Quốc ở trên cả nước đã được luân chuyển đến tác chiến ở vùng biên
giới Việt Nam585.
Chiến
cuộc đã giữ chân đội quân bảo vệ biên giới phía Bắc Việt Nam lên tới ba quân đoàn,
mười một sư đoàn, mười ba trung đoàn trung đoàn và bảy mươi tiểu đoàn độc lập,
góp phần đưa lượng quân thường trực ở cả hai đầu đất nước lên tới 1,6 triệu
người. Sau khi Gorbachev nhận chức tổng bí thư, viện trợ của Liên Xô cho Việt
Nam bắt đầu bị cắt giảm. Người lính trên biên giới phía Bắc vừa rất khổ về vật
chất, vừa rất căng thẳng về tinh thần. Hà Nội nhận ra không thể tiếp tục duy
trì tình trạng đó.
“Giải
pháp chính trị cho vấn đề Campuchia” liên quan đến “bình thường hóa quan hệ
Việt – Trung” được Bộ Chính trị đặt ra trong Nghị quyết 32/BCT21, ngày 9-
7-1986, một ngày trước cái chết của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Hội nghị do Trường
Chinh chủ trì. Nghị quyết 32 ra đời, theo Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ,
“không phải là ngẫu nhiên”. Gần hai mươi ngày sau đó (28-7-1986), tại
Vladivodstock, Gorbachev công bố chính sách đối ngoại mới, theo đó, Liên Xô sẽ:
“Xích gần lại với Trung Quốc, giải quyết ‘ba trở ngại’ mà Trung Quốc nêu ra:
rút quân khỏi Afghanistan, chấm dứt xung đột biên giới Trung-Xô, giải quyết vấn
đề Campuchia”. Gorbachev tuyên bố: “Vấn đề Campuchia không thể giải quyết ở các
thủ đô xa xôi, kể cả ở Liệp Hiệp quốc mà phải giải quyết giữa Việt Nam và Trung
Quốc là hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng”.
Vấn
đề “Việt Nam rút quân khỏi Campuchia” đã từng được Trung Quốc đề cập tại vòng
một, đàm phán Xô-Trung, tháng 10-1982. Sau chiến dịch pháo kích và tập kích quy
mô lớn trên toàn tuyến biên giới miền Bắc – kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6-1984
– Trung Quốc tuyên bố: chỉ cần Việt Nam hứa rút quân khỏi Campuchia
thì hai bên sẽ bắt đầu đàm phán. Ngày 21-1-85, trong thư gửi Bộ Ngoại giao
Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Ngô Học Khiêm viết: “Quan hệ
Trung-Việt xấu đi, vấn đề cốt lõi là quân đội Việt Nam xâm chiếm Campuchia… Sau
khi Việt Nam công khai cam kết và thực hiện rút quân thì đàm phán mới có ý
nghĩa thực tế”586.
Ngày
7-3-1987, chưa đầy ba tuần sau khi ông Lê Đức Anh nhận chức bộ trưởng Quốc
phòng, Bộ Chính trị tổ chức một hội nghị hẹp, Tướng Lê Đức Anh cho rằng: “Trung
Quốc gây xung đột vũ trang ở biên giới không phải có ý định xâm lược mà vì một
mục đích khác”587. Sau Hội nghị đó, Tướng Lê Đức Anh đã cho: “Điều chỉnh tạm
thời lại thế bố trí chiến đấu ở biên giới phía Bắc: Các đơn vị chủ lực cơ động
lui xuống phía sau, tuyến thứ hai; đưa dân lên sống và sản xuất, đưa dân quân,
bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng lên tuyến một”. Theo ông thì sự điều
chỉnh này “là bước thăm dò đầu tiên với phía bên kia” 588.
Đầu
năm 1987, Việt Nam bắt đầu “giảm tuyên truyền chống đối Trung Quốc”. Theo Thứ
trưởng Trần Quang Cơ: “Ngày 20-5-87, Bộ Ngoại giao làm tờ trình lên Bộ Chính
trị kiến nghị sửa Lời nói đầu của Hiến pháp, bỏ chỗ nói Trung Quốc là “kẻ thù
trực tiếp và nguy hiểm nhất” như đã sửa Điều lệ Đảng. Mãi tới 26-8-88 Quốc hội
mới có nghị quyết thông qua việc sửa này”589.
Ngày
20-5-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 13, xác định: “Bình thường hoá quan hệ
với Trung Quốc là một quá trình gay go, phức tạp, đòi hỏi có thời gian. Sau khi
bình thường hóa, quan hệ hai nước khó trở lại ngay như những năm 1950, 1960…
Cần phòng ngừa, khắc phục những tư tưởng lệch lạc, chỉ thấy giới hạn Trung Quốc
là bá quyền, không thấy Trung Quốc là xã hội chủ nghĩa; hoặc chỉ thấy Trung
Quốc là xã hội chủ nghĩa mà không thấy bá quyền, bành trướng”590.
Lúc
này, cả Hà Nội và Phnom Penh đều nhận thấy không thể trì hoãn việc rút quân đội
Việt Nam ra khỏi Campuchia. Càng ngày, Phnom Penh càng chịu nhiều sức ép quốc
tế và các nhà lãnh đạo Phnom Penh biết rõ: Không có quân đội Việt Nam thì Pol
Pot có thể cướp lại chính quyền, nhưng nếu vẫn còn quân đội Việt Nam thì vai
trò chính trị của Phnom Penh vẫn bị coi là lệ thuộc. Họ nhận thấy cơ hội của
mình và chấp nhận tác chiến độc lập với một đối thủ đã từng tàn bạo.
Ngày
5-1-1989, khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến Phnom Penh dự lễ kỷ niệm “ngày 7
tháng Giêng”, trong cuộc hội đàm lúc mười sáu giờ chiều cùng ngày, theo đề nghị
của Chủ tịch Heng Samrin, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã sửa bài diễn văn chuẩn
bị từ Việt Nam. Để chiều 6-1-1989, hai nhà lãnh đạo cùng tuyên bố: “Việt Nam
rút hết quân chậm nhất là tháng 9-1989 nếu có giải pháp chính trị”591. Trước
ngày rút hết quân, Việt Nam cho lập năm tổng lãnh sự quán ở những vùng nguy cơ
Khmer Đỏ cao. Những người giữ chức tổng lãnh sự này đều là sỹ quan cấp tá dày
dạn chiến trường chứ không phải là các nhà ngoại giao.
Ngày
30-9-1989, bốn ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son Sann đánh
chiếm Thmar Ponk. Ngày 22-10-1989, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xã
Battambang. Bộ đội Campuchia ở Pailin bỏ chạy. Phnom Penh cầu cứu và Việt Nam
đã đưa một lực lượng đặc biệt lên giúp bộ đội Phnom Penh tái chiếm. Quân đội
Campuchia thấy Việt Nam chưa bỏ rơi mình, Khmer Đỏ cũng ý thức rõ hơn điều đó
nên về sau, đã không còn có chiến dịch nào uy hiếp mạnh hơn592.
Tuyên
bố rút hết quân khỏi Campuchia vào năm 1989 của Việt Nam đã phá vỡ nhiều bế
tắc, các diễn đàn mới về Campuchia được khai thông. Trung Quốc không còn có thể
gây sức ép với Việt Nam và ASEAN như trước, cho dù vẫn tìm cách chống phá Việt
Nam, và gây xung đột vũ trang ở Trường Sa vào tháng 3-1988593.
Hội
nghị Thành Đô
Ngày
7-10-1989, khi tiếp Tổng Bí thư Lào, ông Kayson Phomvihan, Đặng Tiểu Bình đã
dùng sáu mươi phút trong toàn bộ bảy mươi phút nói chuyện để nói về Việt Nam.
Trong khi phê phán nặng nề Lê Duẩn, Đặng đã ca ngợi Nguyễn Văn Linh là “người
sáng suốt”. Một thông điệp bình thường hóa giữa Đặng Tiểu Bình và Nguyễn Văn
Linh đã được truyền đi. Tuy nhiên, theo ông Trần Quang Cơ, Bắc Kinh vẫn tiếp
tục lạnh lùng sau khi Nguyễn Văn Linh phản hồi tích cực.
Con
đường đến với Bắc Kinh còn qua một kênh khác mà cả Tướng Lê Đức Anh lẫn Bộ
Ngoại giao đều hoàn toàn không biết. Tháng 9-1989, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch
Nhà nước Phan Văn Khải sang Nhật gặp chủ tịch Đảng Tự do Dân chủ,
ông Michio Watanabe594. Cuộc gặp tại trụ sở đảng của ông Watanabe diễn ra
thân mật, đôi bên bàn một số vấn đề chiến lược về hợp tác kinh tế, bàn những
công việc có thể bắt đầu ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Theo ông Phan Văn
Khải, cuối cuộc gặp, ông Watanabe gợi ý: “Tôi có nhiều bạn bè quốc tế, liệu tôi
có thể giúp được gì không?”. Được lời, ông Khải nói: “Việt Nam muốn bình thường
hóa với các nước, đặc biệt là với Trung Quốc và Mỹ”.
Giữa
năm 1990, ông Michio Watanabe đi Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân. Sau chuyến đi
đó, ngày 7-5-1990, Watanabe lặng lẽ bay tới Sài Gòn. Ông được đưa tới biệt thự
261 Điện Biên Phủ, nơi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch
Phan Văn Khải, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Mai Chí Thọ và người trung gian, ông Charles
Đức595 đang đợi. Ông Phan Văn Khải thừa nhận, ông Watanabe chuyển tới Tổng Bí
thư Nguyễn Văn Linh những tín hiệu tích cực. Sau khi ông Watanabe rời Sài Gòn,
Bắc Kinh gửi Thứ trưởng Ngoại giao Từ Đôn Tín đến Hà Nội.
Trước
khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, ngày 5-6-1990, ông Nguyễn Văn Linh mời Đại sứ Trương
Đức Duy đến Nhà khách Trung ương Đảng “nói chuyện thân mật”. Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh nói với Trương Đức Duy là ông sẵn sàng đến Bắc Kinh. Ông Nguyễn
Văn Linh thừa nhận: “Trong quan hệ hai nước, mười năm qua có nhiều cái sai. Có
cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến Pháp, có cái sai đang sửa”596.
Sáng hôm sau, ngày 6-6-1990, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh cũng mời cơm Đại
sứ Trương Đức Duy. Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên
cuộc gặp chỉ có hai người. Bộ Ngoại giao chỉ biết thông tin về cuộc gặp
này vào chiều 10-6-1990 từ Bí thư Thứ nhất sứ quán Trung Quốc Hồ Càn
Văn597.
Ngày
29-8-1990, Đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, chuyển thông điệp của Bắc Kinh mời Nguyễn Văn
Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô – thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên,
Trung Quốc – vào ngày 3-9-1990 để “hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề
bình thường hoá quan hệ hai nước”. Chuyến đi Thành Đô vào ngày 2-9-1990 gồm
Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng, được tháp tùng bởi Hồng Hà,
chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn, trưởng Ban Đối ngoại và Thứ trưởng
Ngoại Giao Đinh Nho Liêm. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch không có trong
thành phần cuộc gặp.
Hội
nghị Thành Đô đóng vai trò quyết định trong tiến trình bình thường hóa quan hệ
Việt Nam-Trung Quốc. Nó là cơ sở để thiết lập hòa bình trên biên giới Việt-
Trung, một biên giới chiến trường bắt đầu có cơ hội chuyển sang biên giới thị
trường. Tuy nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ muốn cuộc gặp gói gọn
trong vấn đề hai nước.
Ngày
5-6-1990, trong cuộc gặp Đại sứ Trương Đức Duy, tổng bí thư Việt Nam đã sốt
sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã
hội”. Ông Nguyễn Văn Linh nói với Trương Đức Duy: “Chúng tôi muốn cùng những
người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng
sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu
hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao
ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”598. Thay vì bắt đầu một
kỷ nguyên Việt Nam thiết lập quan hệ với Trung Quốc bằng tư thế độc lập của một
quốc gia và chỉ vì quyền lợi quốc gia, Trung Quốc vẫn được coi là đàn anh trong
mối tương quan của hai quốc gia cộng sản. Điều này còn ảnh hưởng đến mối quan
hệ giữa Hà Nội và Phnom Penh.
Trong
cuộc gặp Trương Đức Duy ngày 5-6-1990, tổng bí thư tiếp tục đề cập đến “giải
pháp Đỏ”, giải pháp chấp nhận Khmer Đỏ trong thành phần chính phủ mới ở Phnom
Penh. Ông Nguyễn Văn Linh giải thích: “Không lý gì những người cộng sản lại
không thể bàn với những người cộng sản; họ gặp Sihanouk còn được huống chi là
gặp lại nhau”599. Ngày 6-6-1990 Tướng Lê Đức Anh nói với Trương Đức Duy:
“Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của
hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Pol Pot, Trung
Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai
bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt
động ngoại giao vẫn như thường… Ngày xưa Pol Pot là bạn chiến đấu của tôi”600.
Tại
Hội nghị Thành Đô, sáng kiến “giải pháp đỏ” mà lãnh đạo Việt Nam đưa ra đã bị
Lý Bằng và cả Giang Trạch Dân bác bỏ. Giang Trạch Dân đã giảng giải cho phía
Việt Nam: “Tình hình quốc tế hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là
sách lược không lợi cho chúng ta”. Theo ông Trần Quang Cơ, trong bảy điểm về
Campuchia thống nhất ở Hội nghị Thành Đô, có hai điểm có tính chất chung, năm
điểm còn lại hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc, không có điểm nào
theo yêu cầu của Việt Nam601.
Campuchia
thời hậu Việt Nam
Đất
nước Campuchia may mắn đã không rơi trở lại vào tay của Khmer Đỏ sau khi Việt
Nam rút quân như trường hợp Afganistan rơi vào tay Taliban thời kỳ
hậu Liên xô. Và cũng thực sự may mắn cho người dân Campuchia khi những
người được Hà Nội đưa lên nắm quyền ở Phnom Penh, đặc biệt là Hun Sen, đã không
nghe theo Hà Nội một cách mù quáng. Khi đứng trước thời cuộc mới, họ đã biết quyết
định dựa trên quyền lợi của dân tộc mình.
Ngay
sau Hội nghị Thành Đô, ngày 5-9-1990, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch
và Lê Đức Anh, bay sang Phnom Penh thuyết phục Phnom Penh chấp nhận thỏa thuận
Thành Đô, coi Trung Quốc là một đồng minh. Nhưng điều này chỉ làm cho Phnom
Penh càng xa hơn với Hà Nội. Theo Đại sứ Ngô Điền: “Về công khai, bạn cố tránh
tỏ ra bị lệ thuộc vào Việt nam. Trên cơ sở tính toán về lợi ích của mình, bạn
tự quyết định lấy đối sách, không trao đổi trước với ta, hoặc quyết định trái
với sự gợi ý của ta trên nhiều việc”.
Nguyễn
Văn Linh, Lê Đức Anh, muốn Phnom Penh chọn “giải pháp Đỏ” nhằm để “hai phái
Khmer cộng sản” hợp tác với nhau. Nhưng, hơn ba năm sống dưới triều đại
Pol Pot, các nhà lãnh đạo Campuchia đã mất đủ máu xương để biết sợ cái gọi là
“cộng sản”. Năm tháng trước khi Việt Nam rút hết quân, ngày 30-4-1989, Phnom
Penh quyết định đổi tên nước “Cộng hòa Nhân dân Campuchia” thành “Nhà nước
Campuchia”.
Ngày 18-10-1991, khi Việt Nam không còn can thiệp được vào các quyết định của Phnom Penh, Campuchia đã sửa đổi hiến pháp theo hướng từ bỏ chủ nghĩa xã hội: chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, ngày quốc khánh thời Sihanouk được đưa ra dùng trở lại. Hai chữ “cách mạng” trong tên gọi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đảng mà Việt Nam giúp dựng lên, đã được bỏ đi.
Năm
1985, khi tổng kết một lớp tập huấn chuyên gia, Tướng Lê Đức Anh cho rằng lực
lượng Quân Tình nguyện sẽ rút trước sau khi giúp Phnom Penh tự đảm đương
được về quân sự, nhưng đội ngũ chuyên gia thì phải ở lại Campuchia cho tới năm
2000. Trên thực tế, khi Việt Nam ngỏ lời rút chuyên gia, “bạn” sốt sắng đồng ý
và thúc đẩy tiến trình này diễn ra nhanh hơn. Đoàn Chuyên gia đã được giải thể
từ ngày 30-12-1988.
Trừ
một số không nhiều cán bộ Việt Nam thực sự có năng lực, phần lớn chuyên gia chỉ
là những người năng nổ, nhiệt tình, sốt sắng áp đặt những kinh nghiệm, lề lối
làm việc máy móc từ chế độ quan liêu bao cấp Việt Nam. Sau Hội nghị Cán bộ Đảng
toàn quốc lần thứ II, tháng 4-1989, Hun Sen đã khen ngợi Bí thư tỉnh Takeo, Pol
Saroeun, khi ông này đã biết “báo cáo láo” để qua mặt chuyên gia về thành tích
xây dựng “hợp tác hóa” trong nông nghiệp. Nhờ không hình thành mô hình tổ đoàn
kết sản xuất theo yêu cầu của chuyên gia Việt Nam, trong khi vẫn báo cáo “có”
lên chuyên gia, sản xuất nông nghiệp của Takeo đã khá hơn các tỉnh khác.
Cũng
tại Hội nghị Cán bộ Đảng toàn quốc lần II, Campuchia đã thay căn bản thành phần
nhân sự mà chuyên gia Việt Nam trước đây áp đặt. Giai đoạn 1979- 1981, nhóm
“tập kết” được ông Lê Đức Thọ đưa về gần như thống lĩnh Phnom Penh. Từ tháng
4-1989, nhóm từ lực lượng Quân Khu Đông (khu 203) chạy sang Việt Nam, cầm
đầu bởi Chea Sim, Hun Sen, Ouk Bun Sươn, Heng Samrin, bắt đầu thâu tóm dần quyền
bính602.
Đây
không hẳn là sự kỳ thị. Theo ông Ngô Điền, ngay từ đầu chuyên gia Việt Nam đã
không tin những người thuộc phái Khu 203. Ở Bộ Nội vụ, những người thực sự có
năng lực như Sin Song được cả Heng Samrin lẫn Chea Sim đề cử nhưng vẫn không
được chuyên gia chấp nhận; trong khi đó, Khang Sarin, một người “năng lực có
hạn, đạo đức kém, sinh hoạt bừa bãi”, lại được đưa lên làm bộ trưởng (1981).
Khi thấy Khang Sarin không hoàn thành nhiệm vụ, “chuyên gia” lại đưa Nay Pena,
một người năng lực không khá gì hơn lên thay. Phải đến khi chuyên gia rút,
“bạn” mới đưa được Sin Song lên làm Bộ trưởng.
Yim
Chhay Li, vốn là y tá, chỉ bổ túc nghề ở Việt Nam một thời gian ngắn, cũng được
“chuyên gia” đưa lên làm bộ trưởng Y tế. So Niet, theo ông Ngô Điền, “dốt nát
và thường say rượu”, cũng được cử làm thứ trưởng Bộ Nội vụ. Đặc biệt, nữ y
tá Quân khu VII Mel Sam Ol đã được Tướng Lê Đức Anh và các chuyên gia Trần
Xuân Bách, Đỗ Chính, Phạm Bái đưa lên giữ chức trưởng Ban tổ chức Trung ương
Đảng thay cho Xại Phuthong, một kháng chiến quân kỳ cựu603. Ngay từ khi chuyên
gia chưa rút, các quyết định lớn về nhân sự, Heng Samrin, Chea Sim và Hun Sen
đã phải làm thay. Sau tháng 4-1989, tuy chưa tiện đưa Mel Sam Ol ra khỏi Bộ
Chính trị nhưng nữ ý tá này chỉ còn giữ chức chủ tịch Công đoàn. Hun Sen
càng ngày càng tỏ ra bản lĩnh, tách khỏi các ảnh hưởng của Việt Nam và đưa ra
những quyết định thích hợp hơn với thời cuộc.
Tối
23-10-1991, Hội nghị hòa bình về Campuchia kết thúc. Một hiệp định đã được ký
kết tại Paris, theo đó, Liên Hiệp Quốc sẽ gửi tới Campuchia một lực lượng gìn
giữ hòa bình gọi là UNTAC. UNTAC sẽ cùng với Hội đồng Dân tộc Tối cao SNC điều
hành chính quyền Campuchia và tổ chức bầu cử. Mặc dù, theo ông Trần Quang Cơ,
ngày 24-2-1991, khi gặp Heng Samrin ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vẫn
cố ép “thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề
diệt chủng, SNC nên gồm mười ba thành viên do Sihanouk làm chủ tịch”. Nhưng
Phnom Penh đã không nghe theo lời khuyên ấy.
Trong
khi đó, Hà Nội đã không bắt kịp tình hình, vẫn giữ “ông thầy” Ngô Điền của Hun
Sen ở lại Phnom Penh sau khi Hiệp định Paris về Campuchia đã có hiệu lực,
“nguyên thủ” mới là Sihanouk chứ không còn là Heng Sarin. Chính phủ Hun Sen có
nhu cầu thiết lập một trật tự mới trong chính sách đối ngoại, áp dụng sách lược
tách khỏi Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế và tránh bị các phái Khmer
khai thác. Một chỉ lệnh đã được bí mật truyền đi trong nội bộ Đảng Nhân dân
Campuchia lúc đó, yêu cầu các cấp tiêu hủy các tài liệu liên quan đến Việt Nam,
tránh công khai nhắc đến Việt Nam.
Mặc
dù giữa năm 1991, cả Hun Sen và Sihanouk đều không tỏ thái độ gì về phương án
ông Ngô Điền tiếp tục ở Phnom Penh làm đại sứ, nhưng ngày 3-9-1991, khi tới
thăm Ngô Điền tại Phnom Penh, phóng viên tờ báo Pháp Le Monde, J.C. Pomonti đã
hỏi: “Liệu Sihanouk có vừa lòng khi một người đã được ông ta gọi là thái thú
(proconsul) lại là đại sứ bên cạnh SNC?”. Tháng 10-1991, tại Hội nghị Paris, Bộ
trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm hỏi Sihanouk về việc Ngô Điền kiêm
nhiệm đại sứ bên cạnh SNC, Sihanouk đã viện cớ Son Sann không đồng thuận để
ngầm từ chối. Khi ông Cầm hỏi Hun Sen, Hun Sen đã trả lời: “Có lẽ là phải làm
như vậy”.
Từ
giữa tháng 9-1991, Hun Sen bốn lần từ chối tiếp “người thầy vĩ đại của mình”
nhưng chính sách của Hà Nội đối với Phnom Penh phải nhiều tháng sau mới thay
đổi604. Ngày 5-11-1991, khi Ngô Điền liên hệ, Hun Sen đã cáo bận. Ngày 6-11-
1991, một ủy viên Bộ Chính trị Campuchia là Sok An, gặp đại sứ Ấn Độ, Cu Ba và
một số nước đã từng là “cộng sản”, thông báo, các nước nên rút đại sứ trước
ngày 14-11-1991, ngày Sihanoul về Phnom Penh, một cách “lặng lẽ, lịch sự và
không tuyên bố”; vì, Hun Sen sẽ nói với Sihanouk, tất cả các đại sứ bên cạnh
chính phủ của ông đã rút.
Khi
ấy, các lãnh đạo Việt Nam như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Mạnh Cầm lại đang ở
thăm Trung Quốc. Mãi tới ngày 10-11-1991, ông Ngô Điền mới được lệnh rời khỏi
Campuchia. Ông chỉ có hai ngày để chia tay bạn bè và thu xếp hành trang.
Sau
mười ba năm làm “thái thú” ở Campuchia, ông Ngô Điền phải rời Phnom Penh mà
không được một quan chức Campuchia nào đưa tiễn.
Sáng 13-11-1991, trong khuôn viên đại sứ quán Việt Nam, hai người nấu bếp của sứ quán vốn là người Khmer Krom đã phải quấn xà-rông, ôm hoa tặng ông Ngô Điền để chụp hình. Ít phút sau, ông cùng vợ lên xe, theo đường bộ, rời khỏi Phnom Penh mãi mãi. Hun Sen khi đó đã lên đường đến Bắc Kinh đón Hoàng thân Sihnouk. Từ 1987, Hun Sen đã gặp Sihanouk nhiều lần, Đảng Nhân dân Campuchia biết vai trò của ông Hoàng trong cộng đồng quốc tế và biết rõ lòng sùng kính của nhân dân dành cho ông. Trưa 14-11-1991, chiếc Boeing 737 của Hàng không Trung Quốc hạ cánh xuống sân bay Pochentong. Ông Hoàng xuất hiện trước cửa máy bay giữa tiếng hò reo nồng nhiệt của đám đông. Kế bước theo ông là Hun Sen. Các thiếu nữ choàng lên cổ Sihanouk và Hun Sen những vòng hoa nhài.
Trước
đó, chính quyền Phnom Penh đã lùng mua được một chiếc Chevrolet mui trần, loại
xe ông Hoàng ưa dùng khi đang ở trên đỉnh cao quyền lực. Một người lái xe cũ
của Hoàng gia cũng đã được tuyển chọn để lái chiếc xe đón Hoàng
thân Sihanouk. Trên con đường dài gần 8km, chạy từ sân bay về Hoàng Cung,
người dân Campuchia đứng chen nhau trong cờ hoa để đón chào ông Hoàng của họ.
Trên chiếc Chevrolet mui trần ấy, Hun Sen đứng bên cạnh ông Hoàng, chia sẻ
những vinh quang mà người dân Campuchia dành cho ông. Trước đó, Đảng Nhân dân
Campuchia cũng đã chi một khoản tiền lớn để tu bổ Hoàng cung, mua sắm phương
tiện cho ông hoàng Sihanouk605.
Trước
bầu cử, UNTAC cho phép lập ở Campuchia hai mươi đảng chính trị, bốn tổ chức
nhân quyền và cấp phép cho ra đời nhiều tờ báo đối lập. Theo đại sứ Việt Nam
tại Phnom Penh, ông Trần Huy Chương: “Việc giết hại người Việt xảy ra ở nhiều
nơi do một số báo tuyên truyền, kích động. Trong các cuộc họp của P5, Trung
Quốc luôn có thái độ có hại cho lợi ích của Việt Nam”.
Các
tổ chức chính trị còn cáo buộc quân đội Việt Nam chưa rút hết khỏi Campuchia.
Ngày 25-01-1992, Sihanouk phải xác nhận không còn quân đội Việt Nam. Nhưng
con trai ông, Hoàng thân Ranaridh, ngày 12-05-1992 lại nói là đang có 40.000
quân Việt Nam và một triệu Việt kiều ở Campuchia. Hơn hai tuần sau, ngày
28-05-1992, ông Akashi đại diện đặc biệt của tổng thư ký Liên Hợp quốc đã phải
làm dịu tình hình bằng cách tuyên bố “không có bằng chứng về sự hiện diện của
quân đội Việt Nam ở Campuchia” nữa.
Trước
khi UNTAC tới Phnom Penh, chính quyền Hun Sen cũng đã đưa ra khỏi các cơ quan
nhà nước một số người có thể “bị nghi ngờ là Việt Nam”. Chính UNTAC, khi giám
sát và kiểm soát năm bộ của Chính phủ Hun Sen cũng đã loại bỏ thêm một số người
bị cho là lai Việt.
Theo
Đại sứ Trần Huy Chương: “Ngày 1-3-1993, sau nhiều lần điều chỉnh
định nghĩa, khái niệm ‘lực lượng nước ngoài’, UNTAC phát hiện ba người đã
từng ở trong quân đội Việt Nam nhưng sau khi giải ngũ lấy vợ sanh con và ở lại.
UNTAC đòi đưa ba người này ra khỏi Campuchia. Ta giải thích rằng, việc trục
xuất họ, chẳng những sai trái về mặt pháp luật, mà còn là tội ác vô nhân đạo,
vi phạm nhân quyền. Cuối cùng UNTAC không nêu lại vấn đề này và cũng không
dẫn độ ba người nói trên ra khỏi Campuchia”606.
Các
lực lượng đối lập với Hun Sen phối hợp với Khmer Đỏ tiến hành nhiều
cuộc khủng bố để xua đuổi Việt kiều. Cuối năm 1992, một lực lượng mà Chính
phủ Hun Sen nói là Khmer Đỏ đã sát hại chín mươi hai người Việt Nam ở Đầm Be.
Đây là số lao động do Công ty Miền Đông, một công ty được Quân Khu VII lập ra
thời kỳ hậu Campuchia, đưa sang khai thác gỗ theo một thỏa thuận ký giữa quân
đội Việt Nam và Chính phủ Phnom Penh.
Ngày
15-3-1993, Hoàng thân Shihanouk “khuyên người Việt nam về nước vì ở Campuchia
không có an ninh”. Theo Đại sứ Trần Huy Chương: UNTAC đã làm ngơ trước hành
động khủng bố, làm cho hàng vạn người Việt đã phải rời khỏi Campuchia về nước,
mặc dù họ đã sống qua nhiều thế hệ ở Campuchia. Tính đến khi cuộc vận động bầu
cử chấm dứt vào ngày 18-5-1993, có 131 người bị Khmer Đỏ giết, 250 người
bị thương, năm mươi ba người bị bắt cóc; đặc biệt 25.000 người Việt đã phải rời
Campuchia chạy qua biên giới lánh nạn, phần lớn về định cư tại một số tỉnh miền
Nam Việt Nam. Hơn 4000 người đã bị kẹt lại ở Korthum, biên giới Việt
Nam-Campuchia”.
Trong
cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 23-5-1993, Đảng Funcinpec của Ranaridh dẫn trước
với số phiếu chiếm 45%, Đảng Nhân dân Campuchia của Hun Sen chỉ được 38%, Mặt
trận KNLF của Son Sann được 4%. Nhưng trước áp lực của Hun Sen, Sihanouk phải
thuyết phục con trai nhượng bộ607. Ngày 15-6-1993 Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
công nhận kết quả bầu cử và đề cao vai trò lãnh đạo của Shihanouk. Hôm sau,
ngày 16-6, Sihanouk đề cử Ranaridh và Hun Sen làm đồng thủ tướng của chính phủ
liên hiệp lâm thời, cho phép các đảng có chân trong quốc hội được tham gia
chính phủ.
Ngày
8-8-1993 chính phủ tấn công vào các khu vực Khmer Đỏ đã lấn chiếm trong thời kỳ
UNTAC như Kongpong Thom, Preah Vihear, Siem Riep, Ban Tây Miên Chây nhằm xóa bỏ
thế da báo. Cuộc tấn công có sự phối hợp của ba phái cầm quyền thu được kết quả
lớn. Khmer Đỏ phải rút về khu vực mà chúng kiểm soát trước khi có Hiệp định
Paris.
Ngày
24-9-1993 Hiến pháp Campuchia được công bố chính thức. Nhà vua với tư cách là
quốc trưởng chỉ định Ranaridh làm thủ tướng thứ nhất, Hun Sen làm thủ tướng thứ
hai; Sihanouk tuyên thệ làm vua, Monique trở thành hoàng hậu.
Ngày 25-10-1993, Quốc hội Campuchia họp phiên đầu tiên và hôm sau, lễ trao
quyền cho Chính phủ được thực hiện.
Các
lực lượng UNTAC rút khỏi Campuchia vào ngày 15-11-1993. Quyền lực trên thực tế
vẫn nằm trong tay Hun Sen. Tuy phải chia sẻ một số ghế ở chính quyền trung
ương, nhưng chính quyền địa phương về cơ bản vẫn nằm trong tay Đảng Nhân
dân Campuchia. Hun Sen còn bị thách thức ba lần trước khi ông thâu tóm gần như
hoàn toàn quyền lực608.
Cho
dù Hun Sen rồi sẽ bị chỉ trích như một nhà độc tài, quyền lực của ông càng được
củng cố ở Campuchia càng làm cho các nhà lãnh đạo Việt Nam cùng thời yên tâm.
Phía Tây Nam từ đây là một quốc gia láng giềng. Phần tiếp giáp với Trung Quốc
cũng bắt đầu trở thành một đường biên mậu dịch. Chiến tranh chính thức kết thúc
đối với Việt Nam. Hà Nội trở về với những vấn đề lợi quyền muôn thuở.
Huy
Đức
Chú Thích Chương XI
558 Đại Tướng Lê Đức
Anh, Nhà Xuất bản Quân Đội Nhân Dân, 2005.
559 Phạm Văn Trà, 2009,
trang 326-327.
560 Phạm Văn Trà, 2009,
trang 327-328.
561 Mai Xuân Tần, 2005,
trang 176.
562 Mai Xuân Tần, 2005,
trang 176.
563 Sđd, trang 177.
564 Theo điệu bài hát
Anh Ở Đầu Sông Em Cuối Sông, Phan Huỳnh Điểu.
565 Văn Lê, thơ.
566 Mìn zip và K58
thường không làm chết người. Mìn zip thì cắt đứt gót chân của những người đạp
phải nó. Mìn K58 thì bật lên và nổ ở độ cao khoảng 80cm, sức sát thương đủ cắt
đứt hai chân của người lính dẫm lên nó và còn có khả năng sát thương cả người
đi phía sau, phía trước.
567 Điều tra của Ben
Kiernan trong cuốn The Pol Pot Regime cho rằng: 1,67 triệu người, tương đương
với 21% dân số Campuchia lúc ấy (7,89 triệu người) đã bị chết dưới bàn tay
Khmer Đỏ; 100% người Việt, với mười nghìn sống trong các đô thị và mười nghìn
người khác sống ở các vùng nông thôn, đều bị Khmer Đỏ giết sạch. Tuy, được hậu
thuẫn bởi Bắc Kinh, nhưng chế độ Khmer Đỏ cũng không tha mạng cho người Hoa.
Khoảng 50% người Hoa sống ở Campuchia, tương đương với 215 nghìn người đã phải
chết dưới bàn tay Pol Pot.
568 Đại sứ Việt Nam tại
Campuchia giai đoạn 1979-1991.
569 Ngô Điền, 1992,
trang 63.
570 Ngô Điền, 1992,
trang 63.
571 Sđd, trang 60.
572 Ngô Điền, 1992, tr
60.
573 Hun Sen sinh năm
1952 (Năm sinh trong lý lịch là 1951) quê ở huyện Stưng Troong, Kongpong Cham.
Khi còn học phổ thông, Hun Sen có tham gia phong trào học sinh, bị khủng bố,
lánh về Kratie buôn hàng tiếp tế cho Quân Giải phóng miền Nam. Khi Lonnol đảo
chính, Hun Sen chạy theo bộ đội Việt Nam và sau đó tham gia một đơn vị vũ trang
Campuchia do bộ đội Việt Nam huấn luyện. Năm 1972, Hun Sen đã lên đến tiểu đoàn
trưởng. Năm 1975, khi tham gia “giải phóng Kompong Cham”, Hun Sen bị thương
nặng và hỏng mắt trái. Thời Pol Pot, Hun Sen là trung đoàn phó, tham mưu trưởng
Trung đoàn Vùng 21. Tháng 6-1977, trung đoàn của Hun Sen được lệnh chuẩn bị tác
chiến, trinh sát về báo, mục tiêu được giao là đồn biên phòng Hoa Lư của Việt
Nam. Sau khi một số cán bộ trung đoàn được gọi về quân khu học tập không thấy
quay trở lại, Hun Sen cùng với một số cán bộ tâm phúc khác chạy thoát sang Việt
Nam. Hun Sen đã được hai cán bộ Việt Nam tiếp đón và giúp đỡ trong thời kỳ đầu,
ông Tám Quang và Ba Cung, đánh giá rất cao. Sau một số lớp huấn luyện đầu tiên,
Hun Sen đã viết những kiến nghị có tầm chiến lược, được nói là, đã làm cho các
cán bộ Việt Nam kinh ngạc. Khi trở thành bộ trưởng, biết mình bắt đầu từ số
không, Hun Sen, với tư chất thông minh, đã nỗ lực hết mình để học tập. Theo ông
Ngô Điền: “Bộ Ngoại giao Việt Nam nhanh chóng soạn một giáo trình sơ đẳng về
ngoại giao, cử cán bộ sang giúp tôi mở lớp đào tạo cấp tốc. Hun Sen học trước,
học riêng và học rất chăm, sau đó tự mình lên bục giảng lại bài cho các cán bộ
Campuchia khác”. Cách làm này vừa giúp Hun Sen nắm bài chắc hơn vừa giúp ông
kiến tạo uy tín trong hàng ngũ cán bộ Campuchia.
Theo
ông Ngô Điền, khác với Pen Sovan, muốn tỏ ra tự mình làm được, không chịu tranh
thủ sự giúp đỡ của chuyên gia, anh Hun Sen lúc đầu luôn khai thác chuyên gia,
học rồi hỏi. Nhưng, những việc như chọn cán bộ, giải quyết các mối quan hệ nội
bộ thì Hun Sen lại thường tự làm.
574 Ngô Điền, 1992,
trang 65.
575 Sđd, trang 76.
576 Pen Sovan bị đưa
trở lại Hà Nội giam giữ cho tới ngày 25-1-1992.
577 Theo Tướng Lê Đức
Anh: “Trở về Hà Nội, Bộ Chính trị họp bàn xét vụ này. Lúc đó, tôi nhớ anh Tô
(Phạm Văn Đồng) đã phê phán rất gay gắt và đề nghị một mức kỷ luật rất nặng đối
với toàn bộ cán bộ chủ chốt của Bộ Tư lệnh 479 và 719 có liên quan đến vụ việc.
Tôi nghĩ, lúc đó bất cứ ai đứng vào cương vị và nhiệm vụ của tôi cũng cảm thấy
rơi vào trạng thái khó xử, vì nếu tình hình chỉ thuần túy là anh em tự động
làm, sai đến đâu kiểm điểm kỷ luật đến đó thì không khó. Nhưng đằng này lại có
chuyện đồng chí Hồ Quang Hóa có ra Hà Nội báo cáo cấp trên. Vậy thì mấy ông
‘cấp trên’ này trách nhiệm đến đâu phải do Bộ Chính trị định đoạt. Bởi vậy, tôi
đề nghị với Bộ Chính trị là giao cho tôi xử lý thì tôi chỉ xin xử lý những việc
cụ thể và những con người cụ thể của Bộ tư lệnh 719 và 479 có liên quan thôi.
Bộ Chính trị chấp nhận. Tôi cũng đề xuất Bộ Chính trị nên cử một đồng chí có
cương vị cao, thay mặt Đảng ta sang xin lỗi Đảng bạn, Bộ Chính trị nhất trí cử
anh Chu Huy Mân” (Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân Đội Nhân Dân, 2005,
tr 186-187). Theo ông Lê Đức Anh: “Việc đầu tiên, tôi điện sang ngừng tất cả
các cuộc bắt bớ và thả tất cả những người đã bắt. Tôi vào Thành phố Hồ Chí
Minh, sang Camphuchia, yêu cầu các đồng chí có trách nhiệm, không chỉ của Mặt
trận 479 mà cả các mặt trận khác lên báo cáo tình hình. Tôi nghe rất kỹ, hỏi
rất kỹ và đi kiểm tra thực tế thì thấy rằng các đồng chí không hề có ác ý hay
thủ đoạn gì ở đây, chẳng qua chỉ là do ấu trĩ và nôn nóng nên dẫn đến sai lầm…
Không kỷ luật thì không được nhưng kỷ luật nặng quá cũng không nên. Cuối cùng
chỉ kỷ luật hai người, mỗi người hạ một sao cho về nước” (Đại Tướng Lê Đức Anh,
trang 188).
Hai
nhân vật mà ông Lê Đức Anh đề cập là Thiếu tướng Hồ Quang Hóa và Thiếu tướng Tư
Thanh, tư lệnh Mặt trận 479, cả hai
bị giáng cấp xuống đại tá. Ông Hồ Quang Hóa còn bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành
Trung ương, nơi ông chỉ vừa mới được bầu vào hồi tháng 3-1982.
578 Tháng 10-1985, Tổng
Bí thư Lê Duẩn tới Phnom Penh dự Đại hội lần thứ V Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia.
Theo
ông Ngô Điền: “Anh Lê Duẩn lúc đó đã bảy mươi tám tuổi, ăn uống phải theo chế
độ cẩn thận. Anh Heng Samrin định đến ăn tối với đoàn nhưng do buổi tối anh
Duẩn chỉ ăn nhẹ trong phòng riêng nên anh thu xếp ăn trưa cùng đoàn ở nhà khách
Chamcar Mon. Suốt bữa ăn, anh Ba Duẩn nói say sưa về một số đề tài mà anh
thường nhắc đi nhắc lại: làm chủ tập thể, xây dựng 400 pháo đài cấp huyện… Anh
Heng Samrin không nói chen vào được bao nhiêu, chủ yếu ngồi nghe. Anh Ba Duẩn
ăn ít, xong phần mình, anh nói: ‘Thôi nhé, ta đi nghỉ’, rồi kéo ghế đứng dậy đi
về buồng mình ở ngay sau chỗ anh ngồi. Anh Heng Samrin đành thôi ăn, đứng dậy…
Chắc anh Lê Duẩn không nghĩ ngợi gì, cho là cách xử sự của mình là bình thường.
Mới hay tư tưởng nước lớn của ta đối với bạn đã ăn sâu và trở thành tự nhiên
đến vậy” (Ngô Điền, 1992, trang 86).
579 Trần Quang Cơ, 2003,
trang (?).
580 Tháng 8-1980, chiến
sự xảy ra ác liệt ở điểm cao 1992, thuộc Sín Mần. Tháng 5-1981 Trung Quốc lại
tiến đánh các cao điểm 1800A-1800B, thuộc Lao Chải, Hà Tuyên. Cũng tháng
5-1981, trên tuyến Đông Bắc, Trung Quốc tiến đánh bình độ 400, thuộc Cao Lộc,
cao điểm 820, 630, thuộc Thất Khê, Lạng Sơn. Tháng 2-1982 Trung Quốc đánh vào
Đồng Văn, Mèo Vạc, tháng 4-1983, đánh Mường Khương…
581 Ngày 26-3-1984, khi
Quân Tình nguyện Việt Nam mở đợt tấn công lớn, phá vỡ các căn cứ của Khmer Đỏ
tại biên giới Thái Lan, Trung Quốc liền điều quân và trong suốt hơn ba tuần lễ
- từ ngày 2-4 đến 27-4-1984 - pháo kích cấp tập vào 205 mục tiêu ở hai mươi khu
vực thuộc sáu tỉnh biên giới Hà Tuyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hoàng
Liên Sơn, Lai Châu. Có ngày, Trung Quốc bắn tới hơn 6.000 viên đạn pháo, có nơi
phải chịu từ 1.000-3.000 viên đạn mỗi ngày. Nơi xa nhất bị bắn phá là thị xã Hà
Giang, cách biên giới 18km. Trong các ngày từ 28-4 đến 30-4-1984, Trung Quốc
bắn 12.000 quả đạn pháo vào sáu điểm tựa của Việt Nam để chi viện cho bộ binh
tấn công đánh chiếm hàng loạt điểm cao như 226, 233, 772, 1509, bình độ
300-400. Ngày 15-5-1984, Trung Quốc dùng một trung đoàn tăng cường đánh xuống
phía Đông sông Lô, ngay trong ngày chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá,
1250.
582 Trên biên giới Vị
Xuyên-Yên Minh, chiến sự kéo dài từ tháng 4-1984 cho đến tháng 4-1989. Những
điểm cao như 1545, 1509, 1030 ở Vị Xuyên hay 1250, Núi Bạc ở Yên Minh, Hà Giang
đã trở thành những địa danh máu lửa. Trên những cao điểm chủ yếu được đánh số
ấy, hàng ngàn người lính Việt Nam đã ngã xuống để giành giật từng tấc đất với
quân Trung Quốc.
583 Theo Ezra F. Vogel
(2011): Hai tuần sau khi rút quân khỏi Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa
đã gặp Đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh, đưa ra danh sách những vấn đề hai bên cần
thảo luận để đi đến bình thường hóa quan hệ. Từ tháng 4 đến tháng 10-1979, đã
có 5 cuộc gặp ở cấp thứ trưởng giữa Liên Xô và Trung Quốc. Cho dù mục tiêu ép
Trung Quốc rút quân khỏi vùng Ngoại Mông và thôi trợ viện trợ cho quân đội Việt
Nam ở Campuchia không thành công nhưng Đặng Tiểu Bình đã dẹp được mối đe dọa
quân sự từ Liên Xô(trang 536). Ba ngày sau khi rút quân, 19-3-1979, khi họp với
Ủy ban quân sự đặc trách khoa học và công nghệ, Đặng nhận định rằng: “Ít nhất
trong 10 năm tới sẽ không có chiến tranh quy mô trên thế giới. Chúng ta không
cần phải vội như vậy. Quân số quá đông. Chúng ta phải giảm xuống”. Chi phí quốc
phòng của Trung Quốc giảm từ 4,6% GDP năm 1979 xuống còn 1,4% năm 1991. Trong
thập niên 1980s, lượng vũ khí nhập ngoại của Trung Quốc chỉ bằng 1/6 của Việt
Nam (trang 540-541). Quân số Trung Quốc giảm từ 6,1 triệu năm 1975 xuống còn:
5,2 triệu năm 1979; 4,2 triệu năm 1982; 3,2 triệu năm 1988 (trang 526).
584 Chiến cuộc đã giữ
chân đội quân bảo vệ biên giới phía Bắc Việt Nam lên tới 3 quân đoàn, 11 sư
đoàn, 13 trung đoàn và 70 tiểu đoàn độc lập.
585 Ezra F. Vogel,
2011, trang 534.
586 Trần Quang Cơ,
2003, trang (?).
587 Khuất Biên Hoà,
2005, trang 216.
588 Khuất Biên Hoà,
2005, trang 216.
589 Trần Quang Cơ,
2003, trang (?).
590 Sđd, trang (?).
591 Trần Quang Cơ, trả
lời phỏng vấn tác giả năm 2004.
592 Theo ông Trần Quang
Cơ, ngày 2-12-1989, ông Nguyễn Cơ Thạch đã đến Phnom Penh nói với Bộ Chính trị
Campuchia: Chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể
đưa quân trở lại. Chỉ khi đạt được một giải pháp chính trị thì Trung Quốc mới
thôi đứng sau lưng Khmer Đỏ, điều kiện cần thiết để lực lượng đe dọa Phnom Penh
nhiều nhất này yếu đi.
593 Ngày 14-2-1988,
Trung Quốc đưa 3 tàu chiến tới vùng biển Trường Sa. Vào lúc 1:30 ngày
15-2-1988, tàu HQ 701 nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam lao cắm
vào đảo chìm Đá Lớn, lấy cả con tàu làm bia chủ quyền. Ngày 6-2- 1988, tàu HQ
701 khi trên đường đưa hàng Tết ra đảo Nam Yết, đã được lệnh neo lại đảo Đá
Lớn, chờ. Đầu tháng 3-1988, Trung Quốc huy động hai hạm đội xuống khu vực quần
đảo Trường Sa. Để bảo vệ các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, Bộ Tư lệnh Hải quân
Việt Nam đã điều đến đây các tàu của Lữ đoàn vận tải 125 mang theo một số phân
đội của Trung đoàn Công binh 83 và Lữ đoàn 146. Ngày 12-3-1988, tàu HQ-605 được
lệnh từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ sáng ngày 14-3. Sau 29
tiếng hành quân, tàu HQ-605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14-3, cắm cờ Việt Nam
trên đảo. Chín giờ sáng ngày 13-3, tàu HQ-604 và tàu HQ-505 được lệnh từ đảo Đá
Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Trong tình thế tàu Trung Quốc áp sát uy hiếp,
đêm 13-3, Hải quân Việt Nam đã bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma.
Sáng 14-3- 1988, bốn tàu lớn của Trung Quốc tiến gần đảo Gạc Ma, dùng loa nói
ra mật danh của tàu HQ 604 và yêu cầu tàu rời đảo.
Một
tổ 3 người trên tàu HQ 604 được Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn
146, Vùng 4 Hải quân Việt Nam, cử lên đảo Gạc Ma bảo vệ Quốc kỳ. Hải quân Trung
Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo, bắn chết Thiếu úy Trần Văn
Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, đâm trọng thương Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh. Từ
hai chiến hạm của mình, Trung Quốc bắn pháo 100 mm làm chìm tàu HQ-604. Lữ đoàn
phó Trần Đức Thông, Đại úy thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và nhiều sĩ quan, chiến sĩ
đã hy sinh cùng tàu HQ-604. Sau khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng
tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo, tăng tốc cho tàu ủi bãi. Tàu HQ-505 đã
kịp trườn được hai phần ba thân lên đảo Co Lin trước khi bị bắn cháy. Cùng
ngày, tàu HQ-605 của Hải Quân Việt Nam cũng bị tàu Trung Quốc bắn tại đảo Len
Đao, thủy thủ đoàn bơi thoát về đảo Sinh Tồn. Trước đó, không ai nghĩ là Trung
Quốc sẽ bắn. Các chiến sỹ Hải quân Việt Nam chỉ được trang bị súng AK nhưng khi
xuống đảo chìm, họ để hết vũ khí ở khoang hàng. Trung Quốc đã bắn như vãi đạn
vào những người lính đang đứng giữa biển trong tay không tấc sắt. Trong trận
chiến không cân sức ấy, Hải quân Việt Nam chịu tổn thất: 3 tàu bị cháy; 64 sĩ
quan, chiến sĩ hy sinh; 11 người bị thương. Nhưng, chủ quyền tại các đảo Cô Lin
và Len Đao đã được bảo vệ.
Trung
Quốc chiếm đảo Gạc Ma.
594 Bộ trưởng Ngoại
giao Nhật 1991-1993; Bộ trưởng Tài chánh 1980-1982.
595 Tổng Giám đốc Công
ty kinh doanh ngoài nước (OFTC).
596 Trần Quang Cơ,
2003, trang (?).
597 Theo ông Trần Quang
Cơ: Mãi tới ngày 19-6-1990, Tướng Lê Đức Anh mới nói trong cuộc họp Bộ Chính
trị để đánh giá cuộc đàm phán giữa Trần Quang Cơ với Từ Đôn Tín, ông gặp Trương
Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh nói với đại sứ Trung Quốc hôm
5-6-1990: gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội; hai
nhóm cộng sản Khmer nên nói chuyện với nhau. Cuộc gặp còn được viết trong cuốn
tự truyện của ông Lê Đức Anh: “Ông (Lê Đức Anh) nói Cục trưởng Cục Đối ngoại
quân sự Vũ Xuân Vinh đến mời Đại sứ Trương Đức Duy tới Nhà khách Bộ Quốc phòng
ở số 28 Cửa Đông để ông mời cơm. Bữa cơm và cuộc gặp bí mật đó chỉ có hai
người, vừa ăn vừa nói chuyện. Ông điểm lại quá trình Trung Quốc giúp Việt Nam…
Đề nghị đồng chí Đại sứ báo cáo với lãnh đạo Trung Quốc. Ông mới nhậm chức
nhưng cũng sẽ báo cáo với lãnh đạo của Việt Nam. Để lãnh đạo hai nước gặp nhau
giải quyết việc này… Hôm đó Đại sứ Trương Đức Duy vừa ngạc nhiên vừa vui mừng ra
mặt khi nghe ông nói những lời như vậy. Trương nói: Vậy thì tôi phải về báo cáo
với lãnh đạo bên tôi” (Khuất Biên Hoà, 2005, trang 220).
598 Trần Quang Cơ, 2003,
trang (?).
599 Sđd, trang (?).
600 Trần Quang Cơ, 2003,
trang (?).
601 Sau khi vấn đề Campuchia
được giải quyết, ngày 5-11-1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Võ Văn Kiệt đã đi thăm chính thức Bắc Kinh. Quan hệ Việt - Trung trở lại
bình thường như hai quốc gia có quan hệ ngoại giao với nhau. Nhưng, Trung Quốc
không còn là một “đồng minh” như đã từng trong thập niên 1950s, 1960s nữa. Sau
Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6-1991: ông Nguyễn Văn Linh thôi chức Tổng Bí
thư, ông Đỗ Mười thay thế; ông Lê Đức Anh, được xếp vào hàng thứ 2, từ năm 1992
sẽ làm Chủ tịch Nước kiêm Bí thư phụ trách quốc phòng-an ninh - ngoại giao; ông
Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; nhà lý luận Đào Duy Tùng giữ chức
Thường trực Ban bí thư. Ông Nguyễn Cơ Thạch, người mà Trung Quốc đã đặt ra rìa
trong các cuộc tiếp xúc song phương, bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị. Theo ông Trần
Quang Cơ: “Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều
do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại - dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng Bí thư Đỗ Mười - quyết
định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do
Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì”. Theo ông Cơ: Ngày 5-8-1991, tại cuộc họp Hội
đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: “Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các
ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua
sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương từng đề
nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Đây
không chỉ là bỏ qua nguyên tắc ngoại giao, theo ông Trần Quang Cơ, mà còn là
vấn đề “danh dự và quốc thể”.
602 Đến năm 1991, lực
lượng Khu 203 có 19/62 ủy viên Trung ương, 8/16 ủy viên Bộ Chính trị, trong khi
lực lượng tập kết chỉ có 5/62 ủy viên, 1/16 ủy viên Bộ Chính trị. Các chức vụ
như tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, bí thư Thành ủy Phnom Penh, bộ
trưởng Nội vụ, trưởng Ban Tổ chức Trung ương… đều là người của Khu 203. Phần
còn lại trong chính trường Campuchia là lực lượng bắt đầu “tham gia cách mạng”
sau ngày 7-1-1979: 24/62 ủy viên Trung ương; 2/16 ủy viên Bộ Chính trị, 40% ghế
bộ trưởng, 28,5% số bí thư tỉnh, thành, 57,1% số chủ tịch tỉnh.
603 Mel Sam Ol là người
Khmer nhưng gia nhập quân đội Việt Nam từ năm 17 tuổi. Năm 1979, từ một nữ y
tá, chị được đưa về Phnom Penh giữ chức cục phó Cục Cán bộ, Bộ Quốc phòng, rồi
sau đó được đưa vào Ban Bí thư, giữ chức trưởng Ban Tuyên huấn.
604 Ngày 10-12-1991, Bộ
Chính trị ra Chỉ thị 05/CT-TW, xác định: “Quan hệ giữa Đảng ta với Đảng Nhân
dân Campuchia theo những nguyên tắc tôn trọng độc lập tự chủ, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và theo phương
thức mới, chủ yếu là quan hệ nội bộ, tránh mọi sơ hở gây hậu quả xấu, không lợi
cho quan hệ về mặt Nhà nước và việc thi hành Hiệp định Paris về Campuchia…
Trước mắt, Đảng ta chỉ quan hệ với Đảng Nhân dân Campuchia; sẽ xem xét tình
hình các đảng và lực lượng khác để quyết định vấn đề quan hệ tùy từng trường
hợp. Hai bên duy trì quan hệ giữa các đoàn thể quần chúng, các hội hữu nghị, tổ
chức xã hội, tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, phù hợp với Hiệp
định Paris về Campuchia và tập quán quốc tế. Hai bên ngừng các quan hệ kết
nghĩa giữa các tỉnh thành phố của hai nước, quan hệ giữa các tỉnh, thành phố sẽ
được giải quyết trong khuôn khổ quan hệ giữa hai Nhà nước”.
605 Ngày 16-11-1991,
trong cuộc họp báo đầu tiên tại Hoàng Cung kể từ khi trở về, khi trả lời câu
hỏi của phóng viên Tuổi Trẻ về việc Việt Nam đưa quân tới Campuchia, Sihanouk
nói: “Vấn đề có hai mặt (deux aspects). Tôi biết ơn Việt Nam đã cứu tôi, gia
đình tôi và nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng. Mặt khác, tôi lên án việc
thực dân hóa Campuchia của Việt Nam. Thà chết vì tay Pol Pot còn hơn là nước
không có độc lập”.
606 Trả lời phỏng vấn
của tác giả năm 2004.
607 Ngày 11-6-1993, Khmer
Đỏ tuyên bố không thừa nhận kết quả bầu cử và kêu gọi ám sát sáu nhân vật thuộc
Đảng Nhân dân Campuchia. Trong khi, ông Hun Sen tố cáo cuộc bầu cử do UNTAC tổ
chức là gian lận. Đảng Nhân dân Campuchia trong thế bị loại ra khỏi chính quyền
đã dựng lên “phong trào ly khai đòi tự trị” trong nhiều vùng. Hai đại biểu của
Đảng là Sinsong và Chakkrapong từ chối nhận chức đại biểu và đứng ra lãnh đạo
phong trào này. Lo sợ đất nước bị chia cắt và nội chiến tái phát, Shihanouk đề
nghị công thức chia quyền 45% + 45% + 10%. Funcinpec phải chấp nhận vì thắng
lợi của họ là nhờ ảnh hưởng của ông hoàng Sihanouk.
608
Một lần suýt bị các đồng chí của ông ép từ chức. Một lần bị đảo chính hụt bởi
Bộ trưởng Nội vụ Sin Song có sự hậu thuẫn của Chea Sim (2-7-1994). Một lần bị đảo
chính bởi Funcinpec va lực lượng Khmer Đỏ: cuộc đảo chính được thực hiện ngày
5-7-1997 khi Hun Sen đang ở Vũng Tàu và Ranaridth thì lánh ra nước ngoài; ngày
6-7-1997, một ngày sau khi Hun Sen trở về, ông đập tan cuộc đảo chính; bảy
tướng của Funcinpec bị giết.
Nguồn:
bodoilambao
Được bạn: mọt sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 1 năm 2013
Được bạn: mọt sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 1 năm 2013
(HẾT CUỐN I)
Tác giả
Huy Đức – Trương Huy San
sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh
nhập ngũ tháng 3-1979
học viên trường Sỹ quan Hoá Học (1980-1983)
chuyên gia quân sự ở Campuchia (1984-1987)
phóng viên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, và Sài Gòn Tiếp Thị (1988-2009)
blogger của trang Osinblog (2006-2010)
Humphrey Fellow về phân tích chính sách tại Đại học Maryland (2005-2006)
Nieman Fellow về phân tích chính trị tại Đại học Harvard (2012-2013)
sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh
nhập ngũ tháng 3-1979
học viên trường Sỹ quan Hoá Học (1980-1983)
chuyên gia quân sự ở Campuchia (1984-1987)
phóng viên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, và Sài Gòn Tiếp Thị (1988-2009)
blogger của trang Osinblog (2006-2010)
Humphrey Fellow về phân tích chính sách tại Đại học Maryland (2005-2006)
Nieman Fellow về phân tích chính trị tại Đại học Harvard (2012-2013)
Liên hệ tác giả qua thư điện tử osinbook@gmail.com
Facebook: https://www.facebook.com/BenThangCuocBook
Facebook: https://www.facebook.com/BenThangCuocBook
Danh mục sách tham khảo
1. Archimedes L. A. Patti, Why Vietnam, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007
2. Ba mươi năm Công giáo Việt Nam dưới chế độ Cộng sản 1975 – 2005, Nguyệt san diễn đàn giáo dân và phong trào giáo dân Việt Nam hải ngoại cơ sở Đức quốc, 2005
3. Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2001, Nền Kinh tế trước ngã ba đường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011
4. Ban Tuyên giáo Thành ủy – Cục Chính trị quân khu 7 Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn Mậu Thân 1968, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008
5. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Kỷ yếu Thủ tướng Phan Văn Khải làm việc với Ban nghiên cứu và tổ kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Chính phủ, Bản thảo ngày 13 tháng 2 năm 2004
6. Bản thảo Hồi ký Ngô Công Đức 1936 – 2007
7. Bộ Ngoại giao, Phạm Văn Đồng và Ngoại giao Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006
8. Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000
9. Carl Bernstein, Hillary Rodham Clinton người đàn bà quyền lực, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008
10. Chính Đạo Việt Nam niên biểu 1939 – 1975, Văn hóa xuất bản và phát hành, 2000
11. Chương trình Khoa học Công nghệ cấp nhà nước KX.01, “Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về con đường XHCN qua cuộc đổi mới”, Bản thảo năm 1994
12. Chuyện kể về chị Ba Thi nữ anh hùng lao động, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, 1992
13. Chuyện thời bao cấp tập 1, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011
14. Christopher E. Goscha, Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Intergration of Vietnam into the Internationalist Communist Movement (1945-1950), “Vietnam Studies” Conference April 6, 2006, UC Berkeley.
15. Duyên Anh, Nhà tù hồi ký, Nhà xuất bản Xuân Thu, 1987
16. Dương Đức Dũng, Nhà doanh nghiệp cần biết Những gương mặt tỷ phú Sài Gòn trước năm 1975, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1992
17. Đại tướng Phạm Văn Trà, Đời chiến sĩ hồi ký, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2009
18. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1976
19. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành Dinh trong Mùa Xuân Toàn Thắng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000
20. Đại Việt Sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 2003
21. Đào Xuân Sâm, Viết theo dòng đổi mới tư duy kinh tế, Nhà xuất bản Thanh niên, 2000
22. David G. Marr, Vietnam 1945, The Regents of the University of California, 1995
23. Đặng Phong, “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới, Nhà xuất bản Tri thức, 2009
24. Đây là Đài Phát thanh Giải phóng, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1997
25. Egon Krenz, Mùa thu Đức 1989, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2010
26. Ezra F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, the Belknap Press of Harvard University Press, 2011.
27. Giáo giới trong đấu tranh đô thị qua hai thời kỳ Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1975), Bản thảo tháng 6 năm 2004
28. GS. Trần Nhâm, Trường Chinh – Một tư suy sáng tạo, một tài năng kiệt xuất, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2009
29. Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức, Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1996
30. Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003
31. Henry Kissinger, Những năm bão táp (Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng), Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2003
32. Hoàng Dũng, Chiến tranh Đông Dương III, Văn Nghệ xuất bản, 2000
33. Hoàng thân Norodom Shihanouk cùng Bernard Kriser, Hồi ký Shihanouk, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1999
34. Hoàng Minh Thắng, Nơi ấy tôi đã sống, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003
35. Hoàng Ngọc Thành và Trần Thị Nhân Đức, Tài liệu Sử: Những ngày cuối cùng của Tổng thống Ngô Đình Diệm
36. Hoàng Tùng, Những kỷ niệm về Bác Hồ
37. Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đồng chí Trường Chinh – Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, 2007
38. Hồ Ngọc Nhuận, Bản thảo Đời hay Chuyện về những người tù của tôi
39. Hồ Ngọc Nhuận, Bản thảo Tình bạn hay Những là thư tâm tình về tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam trước 1975
40. Hồi ký của Nguyễn Kỳ Nam 1945 – 1954, Xuân Giáp Thìn 1964
41. Hồi ký Trần Văn Giàu 1940 – 1945
42. Hồi ức Mai Chí Thọ, tập 2 Theo bước chân lịch sử, Nhà xuất bản Trẻ, 2001
43. Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương
44. Hội thảo Khoa học Lịch sử phát triển Kinh vĩnh tế, Sở Khoa học Công nghệ môi trường An Giang, 1999
45. Huỳnh Bá Thành, Vụ án Hồ Con Rùa, Phụ bản báo Tuổi trẻ, 1983
46. Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nhà xuất bản Sự Thật, 1985
47. Lê Hoài Nguyên, Vụ Nhân văn – giai phẩm từ góc nhìn Một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc Cách mạng văn học không thành
48. Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945 – 1995, Tiên Rồng xuất bản, 2004
49. Lịch sử Phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Sài Gòn – Gia Định và các thành thị Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1928 – 1975), Bản thảo tháng 9 năm 2004
50. Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh, Phong trào đấu tranh của công nhân Nam Bộ 1945 – 1975, Bản thảo tháng 6 năm 2004
51. Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2002
52. Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, Thông tấn xã Việt Nam, 2008
53. My life Bill Clinton, William Jefferson Clinton, 2004
54. Ngã ba Đồng Lộc – Ngã ba anh hùng, Bản thảo năm 1971
55. Nghiêm Xuân Hồng, Cách mạng và hành động (1789 – 1917 – 1933 – 1949), Quan điểm xuất bản
56. Ngô Điền, Campuchia nhìn lại và suy nghĩ, Bản thảo ngày 30 tháng 7 năm 1992
57. Ngô Thảo, Dĩ vãng phía trước, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2011
58. Nhớ về anh Lê Đức Thọ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000
59. Nhà Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003
60. Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận Văn hóa – Tư tưởng, Nhà xuất bản Văn hóa, 1980
61. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 1
62. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 2
63. Những sự kiện lịch sử Đảng Bộ thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1995) tập 2
64. Nguyễn Đình Đầu, Tìm hiểu Thềm lục địa – biển Đông hải đảo Việt Nam, Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, 2009
65. Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, Tủ sách Sử học Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974
66. Nguyễn Khánh, Phong cách Võ Văn Kiệt, Bản thảo ngày 20 tháng 10 năm 2009
67. Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa thiêng xuất bản, 1970
68. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Chuyện đời Đại sứ, Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ, 2012
69. Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trở lại xứ Ka Đô, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2011
70. Nguyễn Nhật Lâm, Trở lại, Nhà xuất bản Văn học, 2012
71. Nguyễn Văn Trung, Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nam Sơn, 1963
72. Nguyễn Văn Linh, Đổi mới để tiến lên, Nhà xuất bản Sự Thật, 1991
73. Nguyễn Văn Linh, Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, Nhà xuất bản Sự thật, 1985
74. Nguyễn Văn Linh, Hành trình cùng lịch sử, Nhà xuất bản Trẻ, 1999
75. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ và Quốc hội
76. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng thống Thiêu, Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2010
77. Nguyễn Xuân Oánh, Đổi mới vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2001
78. Nguyễn Văn Xương, Lược dịch và chú giải Sắc lệnh điền thổ 21 tháng 7 năm 1925, in lần thứ nhì, 1971
79. Peter Braestrup, Big Story, Presidio, 1977
80. PGS Đào Công Tiến, Nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Giáo dục và đào tạo – mấy cảm nhận và đề xuất, Bản thảo tháng 6 năm 2009
81. PGS Đào Công Tiến, Với các Dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng XI – Mấy trao đổi, đóng góp, Bản thảo năm 2005
82. Phạm Khắc Hòe, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2007
83. Phạm Sơn Khai, Hồi ký
84. Phan Lạc Phúc, Bè bạn gần xa, Nhà xuất bản Văn nghệ, 2000
85. Philip Short, Polpot, John Murray, 2004
86. Phong trào đấu tranh của phụ nữ Sài gòn – Gia Định trong Nam Bộ kháng chiến (1945 -1975), Bản thảo tháng 5 năm 2004
87. Quốc triều Hình luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995
88. Stanley Karnow, Vietnam A History the first complete account of Vietnam at War, WGBH Educational Foundation and Stanley Karnow, 1983
89. Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941, University of California Press, 2002.
90. Tạ Chí Đại Trường, Sử Việt đọc vài quyển, Nhà xuất bản Văn Mới, 2004
91. Tạ Chí Đại Trường, Người lính thuộc địa Nam Kỳ (1861 – 1945), Nhà xuất bản Tri thức, 2011
92. Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài
93. TGM F. X Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân hy vọng, Công đoàn Đức Mẹ La Vang ấn hành, 2000
94. Thành ủy – Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Viện lịch sử Quân sự Việt Nam, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1998
95. Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Ban Tư tưởng – Văn hóa Thành ủy, Biên Niên sự kiện (1986 – 1995), Bản thảo năm 2000
96. Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 2002
97. Thượng tướng Trần Văn Trà, Những chặng đường của “B2 – Thành đồng” tập V Kết thúc chiến tranh 30 năm, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1982
98. Trần Công Tấn, Nguyễn Chí Thanh sáng trong như ngọc một con người, Nhà xuất bản Văn học, 2009
99. Trần Quang Cơ, Hồi ức và suy nghĩ, Bản thảo năm 2003
100.Trần Quốc Hương, Những năm tháng làm việc bên anh Trường Chinh, Bản thảo tháng 5 năm 2002
101.Trần Quỳnh, Những kỷ niệm về Lê Duẩn (trích)
102.Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2002
103.Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nhà xuất bản Vĩnh Sơn, 1969
104.Tuyển tập Đào Duy Tùng tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008
105.Tuyển tập Đào Duy Tùng tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008
106.Tướng Nguyễn Văn Vịnh – Như anh còn sống, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2003.
107.Trần Huy Chương, Campuchia Hậu UNTAC, Hồi ký – bản thảo 2002.
108.Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Đề án Quy hoạch, phát triển hạ tầng giao thông đô thị, khắc phục tình trang ùn tắc giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bản thảo tháng 11 năm 2007
109.Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Viện kinh tế, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học “Kinh tế vỉa hè” tại thành phố Hồ Chí Minh: Hiện trạng và các giải pháp, Bản thảo tháng 1 năm 2005
110.Văn phòng Quốc hội, Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2006
111.Văn kiện Đảng toàn tập 1 (1924 – 1930), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998
112.Văn kiện Đảng toàn tập tập 36 (1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004
113.Văn phòng Chính phủ, Hội thảo Khoa học Tuyển tập các báo cáo toàn văn, Hà Nội tháng 9 năm 2000
114.Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, Bản thảo tháng 4 năm 2005
115.Viện nghiên cứu Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đô thị hóa ở Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn Lịch sử – Văn hóa, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008
116.Viện nghiên cứu Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh Những vấn đề nghiên cứu, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2009
117.Việt Nam cộng đồng người Việt tị nạn trên thế giới 1975 – 2004, Nhóm nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận và hiện đại, 2004
118.Vĩnh Sính, Nhật Bản cận đại, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Khoa Sử trường Đại học Sư Phạm, 1991
119.Võ Nhơn Trí, Việt Nam cần đổi mới thật sự, Đông Á xuất bản, 2003
120.Võ Văn Kiệt, Quyết thắng trên mặt trận Văn hóa và Tư tưởng, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1981
121.Vũ Đình Hòe, Hồi ký Thanh Nghị tập 1, Nhà xuất bản Văn học, 1997
122.Vũ Đình Hòe, Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ, 2008
123.Vũ Mão, Ngọn cờ tiên phong, Bản thảo năm 2005
124.Vũ Quốc Thông, Pháp Chế Sử Việt Nam, Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1971
125.Zhao Ziyang, Prisoner of the State, Simon & Schuster, 2009
126.Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885, Nhà xuất bản Tri thức, 2011
No comments:
Post a Comment