Wednesday 26 June 2019

TẢN MẠN VỀ CHUYỆN VIẾT BÁO & LÀM BÁO (Tương Lai)




Tương Lai
 25/06/2019

(Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 69)

Nhà báo là người chấm ngòi bút vào nỗi đau của nhân loại”.
Người viết câu ấy là một nhà báo từng có mặt ở những vùng nóng bỏng nhất trên hành tinh. Vì sứ mệnh cao cả của báo chí, nhiều nhà báo vẫn đang dấn thân vào những vùng chết chóc ấy. Viết một bài báo dở, bạn có thể mất việc, viết một bài báo hay, bạn có thể mất mạng, New York Times từng giật một cái tít đậm như vậy. Thế thì vì sao nhà báo vẫn dấn thân? Francesca Borri, nữ phóng viên chiến trường người Italia từng bị bắn vào đầu gối khi tác nghiệp ở Syria nói rằng cô đến đấy vì “có gì đó bóp nghẹt lương tâm tôi”.

Còn tôi, từng là một nhà giáo dạy ở trường Chu Văn An hồi từ Việt Bắc về “tiếp quản Hà Nội” cuối năm 1954 để rồi mười năm sau, dồn sức vào nghiên cứu triết học và xã hội học, lĩnh vực mà tôi yêu thích, nhất là xã hội học có sức hút mạnh mẽ thêm một lý do rất cơ bản là để có điều kiện đi khắp đất nước. Tôi mượn báo chí để chuyển tải những cảm nhận và suy tư qua tìm đọc, nghiên cứu mày mò tự học và những chuyến đi với những buồn vui, day dứt nung nấu trong tim óc mình. Liệu tôi có thể “chấm ngòi bút vào nỗi đau của nhân dân mình mà viết ra những gì tai nghe, mắt thấy, đầu óc không yên về thực trạng của đất nước mình! Để gì?

Để lương tâm mình không bị cắn rứt. Nhiều học trò cũ đến thăm, biết tôi vẫn cặm cụi gõ phím máy tính mà viết ra những “mênh mông thế sự” để “gió cuốn đi những gì mình suy ngẫm trong nỗi bất an về đất nước. Lo lắng cho sức khoẻ của tôi, họ - những người nay đều có cháu nội, cháu ngoại, những đại tá từng vượt Trường Sơn đi cứu nước, những giáo sư, bác sĩ, những doanh nhân thành đạt - đã chân thành khuyên tôi: “Thầy ơi, thầy đã vượt cái tuổi xưa nay hiếm đến hơn một thập kỷ rồi, thầy nghỉ viết đi”. Tôi chỉ biết cười trả lời học trò yêu quý của mình rằng: “Cám ơn các em, tôi viết là cách tập thể dục cho bộ não đấy, ngừng tập thì nó teo lại mất. Vả chăng, nằm thì càng chóng chết các em ạ”.

Thật ra thì không phải bây giờ tôi mới viết. Tôi chính thức bước vào nghề báo từ những ngày đầu tiên của nghiệp nghiên cứu với tờ Thông báo Triết học, tiền thân của Tạp chí Triết học Viện Triết học thuộc UBKHXHVN ra đời vào tháng 6.1966. Tờ Thông báo Triết học này chỉ có ba người chịu trách nhiệm trong đó có tôi, do Đặng Xuân Kỳ phụ trách. Bài báo đầu tiên của tôi đăng trên “tạp chí” này viết về một luận điểm mỹ học trong “Bản thảo Kinh tế-Triết học 1844” của Marx: “Chỉ có âm nhạc thức tỉnh cảm giác của con người, đối với lỗ tai không thính âm nhạc thì âm nhạc hay nhất cũng không có ý nghĩa gì cả, đối với nó âm nhạc không phải là đối tượng, bởi vì đối tượng của tôi chỉ có thể là sự khẳng định một trong những lực lượng bản chất của tôi... những cảm giác có khả năng về những hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lực lượng bản chất của con người... sự hình thành năm giác quan là công việc của toàn bộ lịch sử toàn thế giới đã diễn ra từ trước tới nay”. Tôi “đã mang lấy nghiệp vào thân” với nghề báo từ đấy để sau này, khi làm Tổng Biên tập Tạp chí Xã hội học, một tạp chí khoa học chuyên ngành cũng tiếp tục cái nghiệp ấy vào những năm 80 và 90 của thế kỷ trước.

Nhưng nói về việc tham gia vào nghiệp báo chí thì phải kể về những bài báo tương đối dày dặn trên báo Nhân Dân thời anh Hoàng Tùng làm Tổng Biên tập. Nhớ lại, tôi cũng thấy bất ngờ không hiểu tại sao anh Tùng lại cho đăng một loạt bài với số lượng chữ không nhỏ của tôi khi thì ở trang 3, khi thì ở trang 2 để “Bàn về nghĩa vụ”, “Đạo đức và lương tâm, Lý tưởng và hành động, Bản lĩnh dám là mình, Tuổi trẻ Các Mác..., những chủ đề tôi nghiền ngẫm trong nghiên cứu. Anh Tô Vương, biên tập viên đến đặt bài có trả lời nhưng ý chưa rõ nên tôi không tiện nhắc ra đây. Tôi cũng viết cho Tiền Phong thời anh Nguyễn Thanh Dương là chủ bút và hình như trụ sở ở phố Hồ Xuân Hương, Hà Nội mà có lần tôi đến đó nộp bài và trao đổi. Viết cho báo Đại Đoàn Kết thời anh Lê Điền làm Tổng Biên tập, rồi sau đó hình như anh Nguyễn Ngọc Thạch tiếp tục vì đã nhiều lần anh Thạch mời tôi đến Toà soạn ở phố Bà Triệu trao đổi. Chỉ còn nhớ anh Thái Cương là người tôi trực tiếp trao đổi nhiều nhất về các chủ đề cần viết, và cũng vì anh hay đến nhà tôi cùng trao đổi bên chén trà.

Ở báo Đại Đoàn Kết, tôi nhớ nhất hai kỷ niệm. Đó là với Lý Tiến Dũng. Trong một lần gặp Dũng ở hành lang Hội nghị Trung ương Mặt trận, tôi trao đổi với Dũng về tiểu luận “Chân lý là cụ thể” gần 100 trang tôi viết nhằm đưa ra những Kiến nghị với Đại hội X của Đảng. Trong đó, chương cuối cùng có nhắc lại những ý tôi đã từng đưa trên báo Người Đại biểu Nhân dân do Hồ Anh Tài làm Tổng Biên tập ngày 27.2.2006, với kiến nghị “Đảng trở lại với tên Đảng Lao động Việt Nam và lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Lý Tiến Dũng nắm chặt tay tôi “Chú cho cháu đọc tiểu luận ấy, cháu sẽ liệu xem sao”. Thế rồi sau đó người Tổng Biên tập can trường ấy cho đăng một phần chương cuối của tiểu luận lên Đại Đoàn kết. Sau này gặp lại nhau ở nhà tôi bên ly cà phê, Dũng vẫn xúc động trong tiếng cười hể hả: “Cháu vẫn rất khoái được đăng bài ấy của chú”. Tuy Dũng cười hể hả, nhưng tôi thì cảm thấy day dứt vì có thể điều đó làm dày thêm những cáo buộc mà một nhân cách tồi tệ như Hồng Vinh với đôi mắt soi mói chuyên nghiệp không thể bỏ qua cho người đã dám mẳng thẳng vào mặt hắn.

Dũng gọi tôi bằng chú và xưng cháu vì biết tôi hay nói chuyện với giáo sư Lý Chánh Trung trong các Hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận và chia sẻ với ông trong sự phẫn nộ về sự hiểu nhầm một phát biểu của Luật sư Phan Anh, người mà tôi rất kính trọng. Kỷ niệm thứ hai là với anh Thái Duy mà mới đây tôi “gặp” anh qua điện thoại. Đó là một nhân cách, một nhà báo chân chính. Tôi hay nói chuyện với anh hồi còn ở Hà Nội vì nhà anh gần nhà tôi. Sau này, mỗi lần từ Sài Gòn bay ra Hà Nội, thế nào tôi cũng mò đến anh để cùng chia sẻ những nỗi niềm canh cánh bên chén trà pha rất đậm. Ngoài tuổi 90, giọng Thái Duy vẫn trầm ấm với những ý tưởng mạnh mẽ trong dòng tư duy mạch lạc và trung thực. Làm báo được như Thái Duy quả là một hạnh phúc khó có.

Ngoài những tờ báo vừa kể, tôi còn viết cho khá nhiều những tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Hà Nội Mới, Văn Nghệ, Lao Động, Người Lao Động, Sài Gòn Giải Phóng, Doanh nhân Sài Gòn, Sinh Viên, Thương Nghiệp,... và một số báo khác tôi không còn nhớ rõ tên tuy trong hồi ức đã để lại nhiều ấn tượng, giờ đây nghĩ lại vẫn bồi hồi. Tôi cũng viết cho các tạp chí như Tia Sáng, Xưa & Nay, Thế Giới Mới, Đẹp, Nhịp cấu Trí thức, Tạp chí Cộng sản... và một số tạp chí khác tôi quên mất tên.

Đáng tiếc là mãi những năm 80 tôi mới biết sử dụng máy vi tính nên những bài bài báo trước 80 (hình như quãng trên một nghìn bài) tôi lưu giữ đều quá cũ nát nên buộc phải “chuyển khoản” cho cho các bà “đồng nát” Hà Nội và “ve chai” ở Sài Gòn mỗi lần phải chuyển nhà. Những gì lưu lại trong máy vi tính thì sau những lần máy hỏng hoặc bị “tấn công” cũng bị mất đi khá nhiều. Nhưng sự “tấn công” tàn hại nhất là từ khi tôi bị “rút phép thông công” (cụm từ của cụ luật sư Nguyễn Mạnh Tường), không được xuất hiện trên “báo nhà nước” nữa. Mà có lẽ khởi đầu từ tờ báo Người Đại biểu Nhân dân tôi nhắc ở trên.

Xin dừng lại để có vài dòng về câu chuyện khá thú vị này.

Trên tờ Người Đại biểu Nhân dân khổ lớn ấy, Tổng Biên tập Hồ Anh Tài đã ưu ái dành cho tôi một vinh dự trong việc mở một mục mới trên trang nhất của tờ báo với “Đàm luận sáng thứ hai” hàng tuần mà tôi nhớ (nếu nhầm nhờ Hồ Anh Tài đính chính giúp) với tên bài “Phải là Đảng của trí tuệ” ngày 1.4.2006 sau bài “Đảng phải là Đảng của dân tộc” đăng ngày 27.2.2006 đăng ở trang nhất (chưa phải trong Đàm luận sáng thứ hai, nhưng chắc là một gợi ý) chắc có tác động đến người Tổng Biên tập rất nhạy bén với cái mới để mở một chuyên luận trên tờ báo mình phụ trách. Có lẽ anh ấy đọc thấy có cái gì đó nghiêm túc và mạnh mẽ trong dòng chảy ngôn từ với những ý chính làm điểm tựa cho nội dung bài viết.

Bài viết trên xuất phát từ một luận điểm trong Đại Bách khoa Toàn thư Anh: “Trong thế giới hiện đại, nền dân chủ và các đảng chính trị là hai mặt của một thực tế, mặt bên trong và mặt bên ngoài của cùng một cơ cấu”. Tôi nghĩ rằng, với Việt Nam ta thì “Yếu tố dân tộc phải thấm đẫm trong cơ cấu đó”. Và Đại Bách khoa toàn thư Pháp thì khẳng định: “Dân chủ không phải là một môi trường trừu tượng có thể cung cấp những cách tổ chức chính trị và xã hội có giá trị toàn cầu. Nó chỉ có thể tồn tại được tuỳ theo môi trường mà nó bám rễ và ghi nhận những khát vọng”. Từ những ý tưởng đó, tôi đưa ra kết luận “Môi trường mà nó bám rễ đó là gì, nếu không là cuộc sống và khát vọng dân tộc, đặc thù dân tộc”.

Với những gợi ý ấy, tôi viết trong bài báo này điều tôi suy ngẫm và cũng từ những trao đổi, học hỏi với anh Việt Phương, con người tuyệt vời, vừa là bạn vừa là thầy rất quý mến của tôi, trong bài báo ấy tôi viết: “Bước vào thế kỷ XXI, tầm mắt của không ít người được mở rộng hơn nhờ vào sự xé toang một tấm màng bưng bít, để hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ của những huyền thoại, sự phá sản của những giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới không phải về lý tưởng mà là về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tiễn đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn. Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và đầy hứa hẹn ấy, nâng cao về trí tuệ là điều kiện tiên quyết... Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc tiến về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI, thể kỷ của nền văn minh trí tuệ.


Không đứng ở tầm cao trí tuệ của thời đại, Đảng không thể là người “soi đường chỉ lối” cho nhân dân ta vững bước trên con đường thắng lợi. Con đường đó lại chưa được vạch sẵn trên bản đồ đất nước do ông cha ta để lại. Chỉ có thể bằng khí phách quật cường của ông cha mà tự trang bị cho mình một tầm cao trí tuệ do thời đại mang lại. Trí tuệ ấy của Đảng phải được xây dựng từ sự nhận thức sâu sắc chân lý của thời đại với đòi hỏi sự sáng tạo của bộ phận lãnh đạo... tuyệt đối không để lọt vào đấy những phần tử cơ hội, bất tài nhưng giỏi tụng niệm những giáo điều đã mốc meo và sành sỏi trong sự vâng lời, “dạ thưa anh” với cấp trên với thói “gọi dạ bảo vâng” để chóng lọt vào mắt xanh mà leo dần lên những nấc thang quyền lực.”..

Không may cho những ý tưởng được viết ra đúng vào thời điểm Nguyễn Phú Trọng về làm Chủ tịch Quốc hội (tháng 6. 2006). Chắc “ngài” bị chạm nọc, và giọt nước tràn ly là lá thư tôi gửi Tổng Biên tập lại cắc cớ được đăng tải trên báo Người Đại biểu Nhân dân ngày 31.12.2006 mà Toà soạn đặt cho cái tít “Dùng ngòi bút của mình chiến đấu cho lý tưởng cao cả”. Thực chất đây là thư tôi viết riêng cho Tổng Biên tập để tế nhị từ chối việc bay ra Hà Nội lĩnh giải thưởng báo chí về Đề tài Quốc hội và Hội đồng Nhân dân do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trao. Quả là “ghét của nào, trời trao của ấy”.

Mà cũng thật oái oăm, nội dung thư tôi viết là chĩa thẳng vào Trọng, với những ý tứ mà dù lú lẫn cỡ nào cũng vẫn “động lòng” với những điều trong thư: “nhằm giữ cho ngòi bút của mình không thẹn với chính mình, phải lao tâm khổ tứ để chọn ý, chọn lời, chọn cách diễn đạt sao cho ai đó khỏi động lòng khiến họ dùng thói độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tuỳ tiện quy kết để rồi gây khó khăn cho tờ báo đã đăng bài của mình. Cũng đã từng làm Tổng Biên tập, tôi hiểu được sự soi mói của thói đa nghi, suy bụng ta ra bụng người, dễ rình chộp lấy dăm ba từ, một hai câu để bắt bẻ, một thói tệ khó bỏ của người có quyền áp đặt ý tưởng của hắn, mà không coi trọng ý tứ chung người viết định gửi gắm, đã làm tiêu hao một cách vô ích bao tâm huyết và tri tuệ của người cầm bút..”.. Đấy là chưa nói đến lý do chính không tiện nói toẹt ra: tôi không muốn chường mặt ra trước một nhân cách tôi khinh. Phải chìa tay ra để đón nhận một phần thưởng - do tôi rút ruột viết ra mà có được - lại do ông ta trao, một nhân vật mà bản lai diện mục của hắn, thì xin lỗi, tôi chẳng lạ gì. Thế mà lại phải trân trọng về một ân huệ do “ngài” ban phát sao? Với tôi, đó là một điều sỉ nhục. Để rồi, sau một thời gian, tôi nhận được một phần thưởng tương xứng với thái độ không cam chịu sỉ nhục đó: báo Người Đại biểu Nhân dân phải dẹp bỏ mục “Bàn luận sáng thứ hai”. Ít lâu sau có một lệnh “bất thành văn” của ai đó cấm tiệt không cho tên của Tương Lai trên báo chí nhà nước. Xem ra “khen nhau mà lại bằng mười làm kẹt nhau” đấy Hồ Anh Tài ơi!

Tôi đoán biết lệnh đó từ đâu ban ra. Không đợi một người làm báo có tâm huyết của tờ Hà Nội Mới trong một lần tâm sự đã ngậm ngùi nói với tôi tại quán cà phê bên Hồ Gươm vào một đêm thu tôi bay ra Hà Nội: “Chắc bác cũng biết em buồn như thế nào. Chuyên mục của bác mà em dày công gầy dựng buộc phải chấm dứt và.”... Anh bạn quý đã đọc mấy câu thơ rất thâm thuý và phẫn nộ anh vừa viết khiến tôi không giấu được những bồi hồi thương cảm. Những câu thơ rất hay ấy tôi không tiện nhắc ra đây vì sợ lại “yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau” thêm một lần nữa. Câu thơ có thể gây tai hoạ cho anh, khi vẫn còn tung hoành trên những tờ báo nhà nước. Mà đâu chỉ Hà Nội Mới, rồi các báo khác cũng vậy. Lạ một điều, trong khi đó, một vài báo nhà nước vẫn đăng bài của Nguyễn Quang A, bạn tôi, Viện trưởng Viện IDS. Mà bài của Quang A còn quyết liệt và cập nhật những vấn đề thực sự nhạy cảm, búa bổ hơn bài viết của tôi rất nhiều. Phải sau đó một thời gian (tôi không nhớ rõ là lúc nào), khi Quang A trở thành một tên tuổi được nói đến nhiều ở trong nước cũng như từ ngoài nước thì mới không thấy xuất hiện trên báo nhà nước nữa. (Tôi cũng chưa có dịp hỏi Quang A xem là anh bị cấm hay là chán không muốn viết nữa).

Tiếp theo Người Đại biểu Nhân dân, là báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, nơi đã dành cho tôi mục Thời Luận vào thứ Tư hàng tuần trong một thời gian khá dài với số lượng “thời luận” cũng ngót nghét trên dưới dăm chục bài với những “Chạy ghế, căn bệnh đã di căn”, “Thẻ nhà báo không chặn được đạn”, “Nỗi đau khát vọng”, “Đừng ươm mầm cho sự mất gốc”... Tôi không nhớ bắt đầu từ năm nào vì hồ sơ lưu trong máy tính bị phá nát, chỉ nhớ được bài cuối cùng tôi còn lưu giữ được trong một USB là bài “Nhân mùa Giáng Sinh”, toà soạn đổi thành “Khoan dung” không thèm hỏi ý kiến tôi. Khốn thay, người đổi tên bài không hiểu nổi nội dung khái niệm khoan dung trong bài đăng ngày 27.12.2009 sau khi đã ngang xương gạch bỏ câu kết luận của bài viết: Cách đây 60 năm, Bác Hồ đã nghiêm khắc phê phán: Có nơi đã có hành động lố lăng, phạm đến tín ngưỡng và quyền lợi của đồng bào tôn giáo”. Sự dốt nát thì quả là vô cùng. Nhưng đến câu phê bình nghiêm khắc của Cụ Hồ mà người ta còn gạch bỏ, thì chuyện cho mình ra rìa có chi phải lăn tăn.

Cho dù vậy, một câu hỏi vẫn cứ vướng vất “điều đâu bay buộc ai làm, này ai đan dậm giật giàm bỗng dưng”? Dòng mạch ý tưởng và ngôn từ đang tuôn chảy bỗng đột nhiên sững lại. Cũng chẳng muốn hỏi, mà hỏi ai bây giờ? Thế rồi, im lặng là vàng, chẳng một ai trong Ban Biên tập gặp tôi để chia tay cho phải đạo mà thể hiện một nét văn hoá ứng xử tối thiểu. Vì dù sao cũng có một thời gian mấy năm tay bắt mặt mừng với những lời có cánh đầu lưỡi hay thật lòng thì có trời hiểu được. Chắc là “khéo đem muối nọ gieo lòng biển, nghĩ rút dây kia lại động rừng” như cụ Nguyễn Công Trứ luận về thế thái “nhân tình đã biết rồi, Lạt như nước ốc bạc như vôi” nay cập nhật hơn trong toan tính thực dụng và thâm trầm hơn bởi sự lo xa. Chao ôi, “thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã”, cụ Khổng dạy chí phải, việc ấy làm được thì còn thứ gì mà không làm!

Mà đâu phải chỉ Pháp luật TP Hồ Chí Minh mới có toan tính và lo xa như vậy. Đến như một tạp chí sang trọng nọ mà một thời bài viết của tôi được đón chào, người phụ trách lại là bạn khá thân với nhiều kỷ niệm thú vị. Mỗi lần tôi ra Hà Nội, thế nào cũng có buổi ngồi nhâm nhi cùng với Thái Bá Vân, Lê Đạt, Văn Như Cương ở cái quán cuối phố Lãn Ông, gần nhà Lê Đạt mà anh là người đưa đón. Thế mà rồi anh cũng phải lẳng lặng xoá tên tôi trong danh sách những người được ghi ở trang bìa (hay trang nhất tôi không nhớ rõ, và với chức năng gì thật tình tôi cũng không hay) để rồi, dần dần bài viết của tôi gửi đến không có chút hồi âm. Có lần ngồi gần giáo sư Hoàng Tuỵ trong một cuộc gặp mặt của các thành viên cũ của IDS, tôi định hỏi điều này vì ông đứng đầu trong danh sách ấy, nhưng nghĩ lại, tôi thấy chẳng nên làm phiền ông về chuyện tào lao rất vô vị chẳng có chút ý nghĩa gì này.

Tuy vậy, không thể không nói rằng, bên cạnh những ứng xử không mấy văn hoá như thế kia thì vẫn có nhiều những ứng xử rất văn hoá mà tôi đã nhận được khi tôi lẳng lặng không gửi bài nữa, do biết được là Tổng Biên tập cũng đang chịu áp lực nặng nề, cho dù anh vẫn cố tìm cách để đăng bài của tôi. Xin chỉ kể ra đây tạp chí Thế Giới Mới ra hàng tuần với Vĩnh Thắng là người phụ trách đã từng đều đặn đăng bài của tôi suốt trong nhiều năm. Khi tôi chủ động rút lui, anh vẫn thường xuyên có mối thâm tình thăm hỏi, sẻ chia với tôi. Thì ra bên cạnh nỗi buồn thế thái nhân tình “lạt như nước ốc, bạc như vôi” vẫn không thiếu niềm vui ấm lòng của “gừng cay muối mặn”. Mà vì thế xét cho cùng, cũng không nên trách những người chưa vượt qua được toan tính thực dụng với những nỗi lo đang cận kề, khi mà “sự sợ hãi là nền tảng của hầu hết các bộ máy chính quyền” như cảnh báo của John Adams, vị tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ. Một khi đã nằm trong bộ máy quyền lực, dù chỉ tí xíu quyền lực, thì vẫn cứ bị sức hút của thói tật khó bỏ: quyền lực luôn nuôi trong nó khao khát được tăng thêm nữa, thêm mãi dù chỉ là hư danh.

Người ta bị cầm tù trong nỗi sợ hãi bị đánh mất chút quyền lực và quyền uy thảm hại đó! Những kẻ khoác lác đòi nhốt quyền lực vào trong chiếc lồng nhưng thực lòng là giấu trong tim đen hắn chiếc lồng nhốt chặt khát vọng tự do của con người. Xưa kia Cao Bá Quát đã có bài thơ nói về con chim sáo bị nhốt trong lồng, “chỉ vì để học nói được tiếng người, mà phải cụt mất đầu lưỡi. Không hiếm những “nhà báo” cũng lâm vào thảm cảnh tương tự. Không được viết những điều mình thấy, mình nghĩ, chỉ được viết những điều mà cấp trên đã cho phép, đã “định hướng” thì ngẫm kỹ ra, nào có khác thân phận con sáo kia? Điều này thì tình cờ tôi được hiểu ra trong một lần nói chuyện với anh Hoàng Tùng quãng năm 2007, sau khi anh nghỉ hưu và ba năm sau thì anh mất. Duyên do là trong một lần họp Hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận ở Hà Nội, thấy anh ngồi cạnh anh Vũ Oanh trong tư cách là khách mời, chắc thế. Đến giờ giải lao tôi đến chào vì cả hai anh là những người tôi kính trọng.

Bắt tay tôi anh Hoàng Tùng cười cười: “Bài phát biểu vừa rồi của cậu xem ra vẫn còn giữ được cái phong độ của những bài báo dạo nào, nhưng hình như liều hơn, hăng hơn thì phải”. Anh quay lại hỏi anh Vũ Oanh, anh có thấy thế không, Vũ Oanh cười gật đầu. Hoàng Tùng chép miệng nói tiếp: “Mà vậy thì chả trách báo chí nó không đăng, kể cả báo của Mặt trận phải không? Nhưng chẳng sao, đừng nhụt chí vì chuyện ấy. Cũng chẳng phải chỉ do Tổng Biên tập đâu. Cái nghiệp vụ soi mói bây giờ nó cao cường lắm. Chắc tôi nói thế anh cũng thừa hiểu”. Ông Hoàng Tùng vẫn có cái giọng dí dỏm bỡn cợt quen thuộc, nhưng tôi biết ông đang tế nhị động viên tôi vẫn như dạo nào ông triệu tập tôi vào tổ Nghiên cứu lý luận do Tổng Bí thư Lê Duẩn chỉ đạo và Hoàng Tùng làm tổ trưởng. Chuyện này tôi đã có dịp đưa lên Mênh mông thế sự trong vài mẩu ký ức từng để lại những ấn tượng đậm nét trong tôi.

Về “đôi mắt soi mói chuyên nghiệp” tôi dẫn ra khi gợi lại câu chuyện Lý Tiến Dũng phải thôi chức Tổng Biên tập ở trên, là từ nhận xét của Hoàng Tùng. Song, điều tôi cần nói hơn là từ lần gặp gỡ ấy, tôi hiểu ra việc “rút phép thông công” mà tôi đã gặp phải sẽ song hành với sự tồn tại của chế độ toàn trị phản dân chủ ngày càng quay quắt và dai dẳng hơn này. Việc bị cấm xuất hiện trên các tờ báo nhà nước sẽ còn dài dài. Vậy thì, tốt nhất là chọn cho mình một cách thế ứng xử thích nghi với thực tế, “lỡ từ lạc bước bước ra, cái thân liệu những từ nhà liệu đi”. Chúng có thể “rút phép thông công” tôi, nhưng với tôi, đó lại là một cú hích đáng kể để có dịp thử sức với tâm thế mình phải dám là chính mình trong giai đoạn mới.

Không cho mình có mặt trên báo nhà nước, thì mình phải viết để “gió cuốn đi” trên không gian “mạng”. Mà với phương tiện này thì thật là mênh mông. Chẳng phải gần một tỷ rưỡi người đăng nhập vào Facebook mỗi ngày. Mỗi phút, có hơn 3,87 triệu tìm kiếm Google được tiến hành và bảy bài mới được thêm vào Wikipedia đó sao? Một mảng lớn nhân loại mang các công cụ luôn luôn được bật lên và được kết nối. Các lượng thông tin như một đợt sóng thần dữ liệu dồn dập ập vào bộ óc, khuấy động trái tim con người đang sống trên hành tinh này. Trong đó có chúng ta. Sự bưng bít thông tin của chế độ toàn trị càng thôi thúc người ta đến với sự kết nối và tiếp nhận thông tin trên mạng. Thời đại Thông tin đã tác động mạnh đến cái thực trạng quyền lực tuyệt đối thì ngạo mạn càng tuyệt đối đẩy tới sự sụp đổ cũng là tuyệt đối khó tránh khỏi.

Không thể bị động ngồi chờ sự sụp đổ ấy. Phím máy tính mà tôi đang có phải tạo ra một dòng chảy mới của tư tưởng và cảm xúc qua ngôn từ trên không gian mạng. Suy nghĩ ấy đưa đến ý tưởng “tự xuất bản” những điều muốn nói qua “Mênh mông thế sự”. Tôi đưa ý tưởng này hỏi anh Việt Phương. Anh trả lời: “Mình rất thích cách diễn đạt này, đúng là phải mênh mông, vì thế sự là tuôn trào, là khúc khuỷu gập ghềnh nhưng cũng là dòng chảy bất tận của những buồn vui, căm giận của sự tái tạo và thanh lọc như TL vừa viết, nhưng còn những gì đang làm thì bao giờ hoàn thành?”. Quả thật đây là một song đề (dilemma) thật nan giải.

Quỹ thời gian không còn nhiều. Việc “Nhớ lại và Viết ra” mà tôi đang tiến hành xem ra không thể dồn hết quỹ thời gian vào đó được, cho dù không thể hiểu được hiện tại nếu không nhớ lại hành trình đã đi qua, tìm về những toạ độ cũ để thấy ra nguồn mạch của sự kiện đang diễn ra. Những đợt sóng trào của đời sống đang dồn dập khuấy động và giục giã. Thế nhưng, “nhớ lại” thì chỉ nằm trong hồi ức của riêng mình, còn “viết ra” là để cho người khác đọc. Cho nên, khi “viết ra” những sự kiện, những mảnh ghép của đời sống có dáng dấp lịch sử dù chưa lùi sâu vào quá khứ vẫn phải xác định cho mình một nguyên tắc phải theo: phải có những “nhân chứng” có thể kiểm nghiệm được. Nhưng nếu như đợi cho “Nhớ lại và Viết ra” được hoàn thành và đưa ra công chúng để đón nhận những phê phán, thẩm định, thì có khi “nhân chứng” của sự kiện viết ra đã không còn nữa. Khá nhiều những trường hợp như vậy.

Ví như, với bài “Một lời nhắn gửi” của “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi” số 47 đưa lên mạng ngày 4.10.2016 và gợi lại trong bài “Giá như lúc này có được tầm nhìn và bản lĩnh Sáu Dân” trong bài “Tưởng niệm” nhân ngày sinh thứ 95 của ông tổ chức tại nhà mà tôi đã đưa trong “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi” năm 2017 nói về chuyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu Đại tá Huyên, Thư ký của ông gọi điện bảo tôi phải bay ra Hà Nội để ông trực tiếp chuyển lời nhắn: “Anh bay vào bảo với Sáu Dân về nhà mà nằm” khi ông biết tin anh Sáu Dân đang phải nằm trong bệnh viện.

Tôi viết bài trên và gửi cho anh Huyên. Một năm sau, tháng 4. 2018 anh Huyên đã ra đi. Nếu “Nhớ lại và Viết ra” hoàn thành và xuất hiện trước công chúng sau tháng Tư ấy thì người ta có quyền đặt câu hỏi: Chuyện đó thật hay bịa, lấy gì làm bằng? Hoặc như chuyện tôi kể lại về tuyên bố của Phạm Văn Đồng cứu nguy cho tôi khi bị vu khống là gián điệp, đã bán tài liệu về “sự kiện Thái Bình” cho CIA. Đỗ Hoài Nam, Uỷ viên Trung ương Đảng, người đứng đầu Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam lúc ấy, không giấu được sự bối rối khi nói với tôi tại cầu thang cơ quan 27 Trần Xuân Soạn Hà Nội: “Án tại hồ sơ bác ạ, em cũng chịu thôi”!

Nhưng rồi sau đó, tôi còn nhớ như in lúc kết thúc buổi làm việc, bác Tô gọi thêm anh Nguyễn Tiến Năng là Thư ký vào (vì thường trong buổi làm việc thì chỉ có hai thầy trò, anh Nguyễn Tiến Năng ngồi ở phòng bên cạnh, chỉ vào để nhắc cần kết thúc, hoặc do có việc gấp). Ông nói to: “Anh TL về công bố trong cuộc họp toàn thể là: Phạm Văn Đồng cùng chịu trách nhiệm với TL về bản Báo cáo khảo sát xã hội học về Thái Bình, và cùng chịu trách nhiệm việc tiếp tục nghiên cứu về nông thôn Thái Bình”. Tôi viết điều này khi anh Năng đang làm việc trong Hội những cán bộ về hưu (tôi nhớ không chính xác về tên của tổ chức này), tôi đã điện thoại hỏi thăm và chắc anh đã nhận được cuốn sách tôi gửi tặng anh, trong đó có bài viết về sự kiện nói trên.

Phải cẩn trọng điều ấy, vì hiện nay nay chuyện bịa tạc kiểu này khá phổ biến với những người cầm bút vô sỉ, mượn tên tuổi, hình ảnh những người đã khuất để tự đánh bóng tên tuổi mình, thậm chí viết hẳn sách! Cho nên, khi tôi viết một vài mẩu ký ức về một số nhân vật như Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, Trần Xuân Bách, Trần Độ... mà tôi có dịp tiếp xúc, bao giờ tôi cũng nêu tên một vài “nhân chứng” hiện đang sống, hoặc bằng những sự kiện gián tiếp có liên quan để có thể kiểm nghiệm độ chính xác và trung thực của những điều đã “viết ra”. Ấy thế mà rồi cũng không tránh khỏi “đụng độ”. Ví như chuyện đã xảy ra trong một buổi gặp mặt tại nhà tôi nhân kỷ niệm ngày sinh ông Sáu Dân. Vui chuyện, tôi vô tình nhắc lại một nhận xét của ông Sáu Dân về một nhân vật, không ngờ bị một phản ứng giận dữ từ một người thân quen với nhân vật ấy “Sao anh dám nói thế, ông Sáu Dân đã mất, thế thì lấy gì làm bằng cho nhận xét động trời anh vừa nói”. May quá, anh HKB đã bật đứng dậy: “Tôi cần nói rằng, điều anh TL vừa nói thì từ lâu tôi đã nghe VNL nói y chang như vậy, không chỉ nói riêng với tôi, mà một số người khác đều cùng nghe cả”.

Tản mạn đôi điều để nói lý do giục giã viết “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi”. Tôi muốn tự mình chịu trách nhiệm cho những điều đã viết ra theo thôi thúc nội tâm. Không ai thúc bách, chẳng ai kiểm duyệt, cũng chẳng ai thèm “đặt hàng” cho sản phẩm sẽ được “gió cuốn đi” để rồi tình cờ neo đậu vào đâu đó, dù với đôi mắt ghẻ lạnh hay bàn tay nồng ấm đón chờ.

Căng đầu suy ngẫm, tra cứu, tìm tòi, kiểm tra độ tin cậy của những điều sẽ viết ra, sao cho chỉ sai sót tối thiểu do vốn hiểu biết quá nông cạn và nghèo nàn từ quá trình mày mò tự học của mình. Miệt mài gõ phím để rồi tự mình thoải mái với mình vì đã làm xong một việc. Để rồi lại tiếp tục suy nghĩ về đề tài sắp tới, tuyển lựa và sao chép lại thông tin cho khoảng trên dưới 150 trang A4 của Điểm tin đáng đọc. Tôi làm việc này với gợi ý của Thomas Jefferson, tác giả của ý tưởng tuyệt vời mà Hồ Chí Minh đã dẫn ra Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, một trong những tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ: “Nếu phải chọn một chính phủ không cần báo chí, với một báo chí không cần chính phủ, thì tôi chọn cái thứ hai”. Tôi tự mình làm báo với mục tiêu minh bạch và công khai, tự chịu lấy trách nhiệm không theo bất cứ sự chỉ đạo nào ngoài sự dẫn dắt của bộ não và trái tim của chính mình. Tôi viết Mênh mông thế sự và tuyển chọn thông tin đưa vào mục Điểm tin trong sự thanh thản của lương tâm và sự đòi hỏi của lương tri. Thế là đủ!

Tần số xuất hiện của bài viết kèm theo điểm tin luôn tỷ lệ nghịch với chỉ số huyết áp và chỉ số đường huyết tăng lên. Ấy vậy mà chưa chắc nằm dài, ngủ sớm dậy muộn đã tốt cho bộ não và tim mạch. Tôi nghiệm ra thế. Đấy là chưa nói đến việc đón nhận những lời chê bai, móc máy về bài viết quá dài nhằm “khoe chữ” của anh “mọt sách”. Thôi thì “đã mang lấy nghiệp vào thân” biết sao giờ! Tôi phải bấm bụng trả lời với những người phê bình tôi viết chi mà dài dòng thế, ngắn lại thì người ta mới đọc cho, rằng: “Tôi bất tài và dốt nát nên không viết ngắn được”.

Viết ngắn và hay phải là một tài năng thật sự. Mà đúng như thế, với nghiệp nghiên cứu, tôi không có được cái tài năng đó. Thôi thì “mèo nhỏ bắt chuột con”, lượng sức mình, để hoàn thành được “Nhớ lại và Viết ra”, tôi phải mầy mò dần dần nhằm có được những “mảnh ghép”, để khi ghép chúng lại mới có được một cái gì đó ra tấm ra miếng. Từng bài “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi” là từng mảnh ghép ấy. Bốn cuốn “Mênh mông” vừa qua là một phần của “tấm, miếng” ấy. Lọ mọ và nhẫn nại gõ từng mảnh ghép, bởi vì tôi nhớ điều Albert Camus nhắc nhở: “Đừng đợi sự phán xét cuối cùng. Ngày nào nó cũng đến”.

Vậy thì, thay vì chấm ngòi bút vào nỗi đau của nhân loại là chức năng cao cả của nhà báo, tôi gõ vào phím mối ưu tư về vận mệnh đất nước nhằm mong tìm “một quá trình thanh lọc và đầy hứa hẹn” cho dân tộc, trước hết là cho thế hệ trẻ.


Ngày 21.6.2019
____

Mời đọc lại:














No comments:

Post a Comment

View My Stats