Giới
thiệu:
Hôm nay là ngày giỗ đầu của TT Jimmy Carter (1924-2024). Tháng 6, 1981, người
viết và hơn 80 đồng hương trên chiếc ghe chỉ dài hơn 10 mét, không thực phẩm,
không nước uống, đã được chiến hạm USS White Plains (AFS-4) vớt trên Biển Đông.
Nhắc lại, năm 1978, TT Jimmy Carter chỉ thị cho hải quân Hoa Kỳ tuần hành trên
Thái Bình Dương cứu vớt thuyền nhân Việt Nam đang lênh đênh trên biển. Tổng thống
tuyên bố mỗi tháng Hoa Kỳ sẽ nhận gấp đôi số người tỵ nạn từ 7,000 người lên đến
14,000 người. Trong thời điểm đó, theo thăm dò của Gallup, 57% chống đối chính
sách tỵ nạn mới của TT Carter và điều đó có thể ảnh hưởng không thuận lợi đến
việc tái ứng cử tổng thống của ông. Nhưng TT vẫn hành động theo lương tri và
lòng thương cảm. Đạo luật Tỵ Nạn (Refugee Act of 1980) với sự ủng hộ của cả hai
đảng được quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1979 và TT Jimmy Carter ký ban
hành đầu 1980 đã nâng mức nhập cư người tỵ nạn từ 17,000 đến 50,000 người.
Chúng tôi biết ơn TT Jimmy Carter. Không có tổng thống, hàng trăm ngàn người Việt,
trong đó có tôi, chắc đã chết trên Thái Bình Dương mênh mông đầy sóng gió. Bài
viết này viết tại Boston World Trade Center. Cuối tuần rồi ghé thăm nơi này và
hôm nay là ngày giỗ đầu của tổng thống Carter nên đăng lại như một cách tưởng
nhớ ông và tưởng nhớ một chặng đường của đời mình.
-----------
Tôi
sinh ra ở miền núi nhưng hai mươi năm qua, số phận lại đẩy về miền biển. Thành
phố tôi đang sống là thành phố biển. Ngôi trường tôi học trước đây cũng nhìn ra
biển và văn phòng tôi đang làm việc hiện nay được xây trên mặt vịnh Boston, bên
kia là Đại Tây Dương bát ngát.
Thời
gian dài trôi qua, cuộc sống tạm quen dần nhưng ngày mới về đây thật là khó chịu.
Nhất là những ngày mưa bão, biển đổi thành màu đen sậm, xa xa một chiếc ghe
đánh cá đang về trễ, tăng thêm phần ảm đạm. Biển vừa làm cho tôi sợ hãi khi
liên tưởng đến những ngày còn lênh đênh hơn ba mươi năm trước, nhưng đồng thời
cũng vừa có một sức hút vô hình khiến nhiều khi tôi đã đứng hàng giờ đăm đăm
nhìn ra biển.
Các
triết gia thường nói, trong mỗi phút giây chúng ta đang sống đều có bóng dáng của
quá khứ và dấu hiệu của tương lai. Tôi nghĩ họ nói đúng. Đối với một người Việt
Nam tỵ nạn, quá khứ và tương lai không chỉ là bóng dáng và dấu hiệu thôi; hơn
thế nữa, là hai cuộc đời cùng sống, cùng tồn tại, cùng níu kéo nhau, xô đẩy
nhau vô cùng mãnh liệt. Một giọt mưa rơi, một chiếc lá rụng ngoài hiên, một tiếng
sóng vỗ vào bờ đá cũng làm chúng ta choàng thức dậy, lắng nghe như tiếng có
chân ai đang bước. Từ tâm cảm đó, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần đã viết trong
bài Từ tiếng hát tiếp nối của anh: “Bàn chân đi, lòng vẫn mong về.”
Dù
sao, các văn nghệ sĩ vẫn là người may mắn vì ít ra họ có cơ hội để làm vơi bớt
đi nỗi u uất trong lòng qua thi ca nhạc họa, bao nhiêu đồng bào khác, không có
năng khiếu văn chương, âm nhạc, phải âm thầm chịu đựng. Nếu cuộc sống ở hải ngoại
không phải quần quật áo cơm, đầu tắt mặt tối, nhiều người Việt có thể đã chết
vì khủng hoảng tinh thần.
Những
ngày còn ở Việt Nam, khi nghe bài thơ, tôi chỉ nhớ mỗi câu đầu: “Ra biển chiều
nay thấy màu máu đỏ,” được đọc trên đài VOA hay BBC gì đó, mô tả cảnh vượt biên
thật hãi hùng.
Hẳn
nhiên tôi không nghĩ vượt biên sẽ nhẹ nhàng như ngồi trên chiếc du thuyền nhưng
tôi cũng không cảm nhận được mức độ của kinh hoàng cho đến khi chính mình ngồi
trên thành ghe mong manh vừa chết máy và đang bồng bềnh trên biển tháng 6 năm
1981.
Thời
gian chầm chậm trôi qua. Một giờ rồi hai giờ. Tiếng cầu kinh đã dừng lại trên
những vành môi khô. Lời niệm Phật đã ngưng trong những thân xác mệt mỏi. Đất trời
đều im lặng. Không ai nói với nhau một lời nào. Trống vắng. Trống vắng ngay cả
trong suy nghĩ của con người. Nhớ thương, hờn giận đều biến mất. Tất cả như
đang dọn mình để bước vào một cuộc đời khác. Không ai tuyệt vọng bởi vì chẳng
còn ai hy vọng.
Và
như thế cho đến khi tiếng máy ghe lại nổ, cuộc hải hành tiếp tục.
Biển
mang tôi về lại bãi cát trắng và hàng dương liễu, nơi tôi đứng thẫn thờ nhìn
chiếc trực thăng bay xa, bay xa, mang theo người thân yêu nhất của tôi. Biển
mang tôi về lại phường Cổ Mân, Quận Ba, Đà Nẵng, nơi tôi sống những ngày đầu
tiên không gia đình với người anh họ.
Không
ai biết và sẽ không bao giờ ai biết, trên những đồi cát trắng dọc bờ biển Sơn
Chà, từng có một thằng bé mỗi chiều âm thầm đứng nhìn về phía biển để chờ đợi một
tin vui. Tin vui đó đã không bao giờ đến với nó.
Nếu
mai mốt trở về tôi nhất định sẽ đi tìm thằng bé.
Tôi
nhớ rất rõ thân hình ốm tong teo của nó khi đứng chờ những chuyến xe Mỹ chở
hàng để xin quá giang qua Đà Nẵng.
Tôi
nhớ rất rõ chiếc áo sờn vai thằng bé mặc trong mùa đông, chiếc chiếu rách, chiếc
giường tre nơi nó ngủ. Và tôi cũng nhớ nó, một thằng bé can đảm, nửa đêm thức dậy
ra đi, dù chưa biết sẽ đi đâu. Trên cồn cát trắng kia, sau ba mươi năm, vẫn còn
in dấu chân của nó như đã hằn sâu trong ký ức con người.
Tôi
từng được dạy rằng tôi là chủ nhân của chính mình chứ không ai khác và ý chí của
tôi quyết định cho hành động của tôi chứ không từ đâu khác.
Học
và hiểu thường không quá khó khăn nhưng thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng
như thế. Tôi đi qua cuộc đời này như một chiếc lá vàng khi chưa đủ tuổi để
xanh. Tôi bay trong giông bão và bay qua nhiều biển cả mênh mông, bao nhiêu lần
đã tưởng chừng rơi rụng và mục nát trong một góc chân tường nào đó.
Những
chiều mưa bên Đại Tây Dương, tôi cũng bàng hoàng nhớ lại Thái Bình Dương, nhớ lại
ngày trên biển, nhớ Manila, Palawan, nhớ đến những người không may mắn như tôi.
Dọc bờ biển đó, nơi tôi lắng nghe tâm sự của những em bé, câu chuyện về những đồng
bào bất hạnh, sự chịu đựng của những người sống sót, để rồi những tháng năm
sau, tôi ghi lại trong Em bé Việt Nam và viên sỏi, Thưa mẹ chúng con đi, và những
bài thơ khác.
Trong
những người Việt Nam bất hạnh đó có người anh tôi đã mang ơn, người đã giúp tôi
cơ hội vượt biên. Những dòng chữ này như nén hương để tưởng nhớ về anh.
Tôi
vẫn nhớ ngày anh đưa chiếc ghe về, tôi hỏi anh sẽ dùng nó làm gì. Anh đáp gọn
“vượt biên.” Tôi cười không tin anh nói thật, khi nhìn chiếc ghe quá nhỏ, nhưng
cũng chẳng nói gì thêm. Chuyện tàu bè không phải là việc của tôi, biết hay
không cũng chẳng ích gì. Anh mướn người sửa lại, cắt nửa trên của chiếc ghe và
đóng thêm một lớp ván bên ngoài, sửa mũi và lái cao hơn. Anh mua một chiếc máy
nhỏ ở đường Bến Chương Dương đem về gắn vào.
Tháng
sau tôi trở lại sông, chiếc ghe cũ đã thành chiếc tàu có chiều dài mười mét và
chiều ngang chỉ một mét rưỡi. Tuy nhỏ nhưng có dáng dấp một chiếc tàu đánh cá
hơn là chiếc ghe đi sông trước đây. Anh bảo tôi vì bụng của tàu vốn là một chiếc
ghe nên chỉ có thể nối cao đến thế là cùng.
Tôi
được mấy người thợ đóng ghe đưa đi một vòng quanh sông. Ngồi trên sàn ghe nhìn
nước sông Nhà Bè màu vàng đục, một cảm giác bất an chợt dâng lên trong lòng khi
nghĩ đến ngày nào đó sẽ ra biển với chiếc ghe vỏn vẹn mười mét này. Anh bảo đừng
sợ, sẽ đi biển được. Anh dặn tôi xuống tàu sống với anh tài công và đóng vai thủy
thủ. Tôi lại cười vì tôi không rành bơi lội và cũng chưa hề làm nghề buôn bán
trên sông, trên biển bao giờ. Anh nghiêm giọng “Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra
trên bờ thì chú mày cũng có thể đi thoát được.”
Tôi
biết anh sắp xếp như thế vì lo cho tôi nhưng một phần khác để tôi khỏi có cơ hội
kéo đám bạn bè của tôi theo. Dù đồng ý hay không, tôi cũng không có chọn lựa
nào khác. Tiền bạc và công sức đều là của anh. Anh xem tôi như một đứa em nhỏ.
Mỗi chiều khi anh ở ngoài sông về, chúng tôi thường hẹn nhau trong một quán rượu.
Anh em chúng tôi mướn chỗ để trò chuyện hơn là nhậu nhẹt vì cả hai đều không biết
uống rượu. Hoàn cảnh của anh rất giống tôi. Anh cũng lớn lên từ Đà Nẵng chiến
tranh và nghèo khó. Anh vào Sài Gòn học và học chung trường đại học với tôi,
khác nhau ở chỗ, khi anh lên bậc cao học tôi còn là sinh viên năm thứ nhất.
Chuyến
đi khá bất ngờ. Anh chỉ cho tôi đủ thời gian để về chào mẹ tôi. Anh không cho
biết chính xác ngày giờ vì ngại tôi sẽ dắt theo bè bạn. Anh biết tính tôi. Tôi
hứa hẹn với nhiều người. Một phần tôi chẳng tốn kém gì, phần khác vì tánh tôi
hay chiều lòng bạn. Những đứa được tôi hứa dắt theo đều bị bỏ lại. Điều này đã
gây ra nhiều giận hờn đáng tiếc giữa chúng tôi cho tới tận ngày nay.
Ngày
đi, tôi đóng vai thủy thủ thật. Anh hẹn mọi người tại một con lạch nhỏ ngoài
bìa làng Chu Hải. Tôi theo ghe đến Chu Hải và ngủ đêm lại trong con lạch để chờ
khách vượt biên.
Trời
gần sáng nhưng không thấy ai đến cả. Chúng tôi thức dậy nhìn ra sông. Nước rút
hết. Con lạch khô như một con đường làng hẹp. Chiếc ghe vượt biên của chúng tôi
nằm chênh vênh bên bờ lạch. Chiếc bánh lái nhỏ như chiếc quạt để bàn đang phơi
mình trên cạn. Nhìn bánh lái, tôi thầm tự hỏi, với món đồ chơi trẻ em này làm
sao chẻ nổi sóng biển Đông. Mãi đến sáu giờ sáng, nước bắt đầu dâng lên và
khách vượt biên không biết từ đâu cũng dần dần xuất hiện.
Mọi
người lo ngại nhìn chiếc ghe nhỏ nhoi trong lúc mặt trời sắp mọc. Công an và du
kích có thể đến bất cứ lúc nào. Nhiều người lo sợ bỏ về. Anh tài công lẽ ra phải
lái chiếc ghe cũng bỏ cuộc. Nhưng nhiều người khác, trong đó có tôi, quyết chí
ra đi.
Một
người khách tự động nhận trách nhiệm lái chiếc tàu. Và như thế, chúng tôi đi.
Chiếc ghe nhỏ trôi bồng bềnh trên biển Đông hai ngày hai đêm. Mệt mỏi nhiều hơn
là đói khát. Cuối cùng sau bốn chục giờ và một lần máy chết, tưởng như sẽ chết,
chúng tôi được một tàu hải quân Mỹ vớt.
Tôi
nhận thư anh trong thời gian tạm trú ở đảo Palawan. Anh đang lo đóng một chiếc
ghe khác, lớn hơn và chắc chắn hơn nhiều so với chiếc ghe bầu sửa lại mà tôi đã
đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở đảo, nếu không kịp, hứa sẽ tìm nhau dù ở nơi nào.
Trong lá thư cuối cùng, anh báo tin đang chuẩn bị ra đi.
Anh
ra đi thật nhưng không bao giờ đến. Bà con anh ở Đà Nẵng và khách vượt biên gần
cả trăm người cùng đi với anh cũng không bao giờ đến. Anh đã chết như hàng trăm
ngàn đồng bào khác đã chết trên biển Đông.
Tôi
mang ơn anh nhiều lắm. Không có sự giúp đỡ của anh, hôm nay có thể tôi còn lang
thang một nơi nào đó ở Việt Nam. Tôi đặt tên đứa con gái út của tôi cùng tên với
con gái duy nhất của anh để kỷ niệm cho tình anh em tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến
cố của chúng tôi.
Bao
nhiêu người Việt đã chết trên biển khơi như anh. Theo ước lượng của nhiều cơ
quan thiện nguyện quốc tế, khoảng nửa triệu người đã chết trong gió bão, trong
đói khát, trong bàn tay hải tặc từ sau 1975. Thật ra, con số đó cũng chỉ là con
số tượng trưng, cần đó để điền vào khoảng trống của một bảng thống kê.
Tôi
tin không ai biết và sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu người Việt Nam đã chết
trên biển Đông từ sau mùa bão lửa 1975.
Thỉnh
thoảng chúng ta vẫn đọc những lời kêu gọi, những giải sáng tác văn thơ, tự truyện,
khuyến khích đồng hương còn sống sót, viết lại, kể lại cuộc đời tỵ nạn, kinh
nghiệm vượt biên như những bài học lưu truyền cho hậu thế. Vâng, đó là những cố
gắng tốt nhưng ai sẽ là người cầm bút viết ra đây.
Tôi
và một số bà con khác đã kể lại vì chuyến đi của chúng tôi tuy hồi hộp nhưng
không gây nhiều thiệt thòi, mất mát. Trong lúc những câu chuyện cần được nghe,
những bài học cần được kể lại, sẽ không bao giờ được kể.
Làm
sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như
những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá?
Làm
sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị
hải tặc hiếp dâm trước mắt?
Làm
sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống
biển sâu?
Làm
sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống
trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông?
Không,
những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận
của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển.
Bên
trong chiếc cửa kính dày của văn phòng làm việc, vào những ngày giông bão, những
ngọn sóng lớn đánh vào bờ đá, tung bọt cao đến tận chân tường, gió thổi mạnh đến
nỗi xé nát những tấm bảng quảng cáo cắm dọc bến tàu. Những lần như thế, tôi ngồi
tưởng tượng đến những điều kỳ lạ có thể đang xảy ra trong vùng nước phía bên
kia. Tôi cảm giác như có một xác chết đang trôi, một bàn tay vừa nhô lên mặt nước,
một tia máu vừa phọt ra từ miệng cá.
Tôi
cố lắng tai nghe nhưng không nghe gì cả. Lớp kiếng cách âm dày đã ngăn giữa căn
phòng ấm áp nơi tôi làm việc và giông bão phía bên kia như ngăn cách giữa hiện
tại no đủ và quá khứ đầy thiếu thốn của tôi.
Nhưng
nếu không có lớp kính dày kia liệu tôi có nghe được gì không?
Vẫn
có thể là không.
Cuộc
sống xứ người đã cuốn tôi đi xa, xa đến mức nhiều khi không còn biết mình là ai
nữa. Tôi vẫn đọc mỗi ngày bao nhiêu tin buồn về đất nước, tôi đã thấy mỗi ngày
bao nhiêu cảnh bất công đè nặng lên số phận đồng bào. Nhưng ngoài những bài
thơ, bài văn viết khi nhàn rỗi, tôi vẫn dửng dưng nhìn bàn tay của những em bé
Việt Nam năm sáu tuổi đang vẫy mời những khách mua dâm ở Campuchia, và tôi vẫn
lạnh lùng nhìn giọt nước mắt của những cô gái Việt Nam đang chảy trên đường phố
Đài Loan.
Phải
chăng con đập áo cơm đã ngăn đôi dòng sông lý tưởng thời tuổi trẻ của tôi?
Phải
chăng hàng rào danh lợi đã che khuất đi khả năng để biết lắng nghe tiếng kêu
gào thống thiết của quê hương và cả tiếng gọi của chính trái tim mình?
Có
thể cả hai. Biển, vì thế, vẫn lặng yên, câm nín như nỗi đau của đồng bào tôi và
đất nước tôi.
Trần
Trung Đạo
HÌNH
:
https://www.facebook.com/photo?fbid=26013742188223088&set=pcb.26013752148222092
President
Jimmy Carter
https://www.facebook.com/photo?fbid=26013746944889279&set=pcb.26013752148222092
https://www.facebook.com/photo?fbid=26013746994889274&set=pcb.26013752148222092
Trần
Trung Đạo
No comments:
Post a Comment