Để
dành nhà đất cho con cháu có gì sai?
11/08/2026
https://baotiengdan.com/2026/08/11/de-danh-nha-dat-cho-con-chau-co-gi-sai/
.
Bác Đặng Hùng Võ mới đây có chia sẻ trên báo rằng,
đã đến lúc người Việt từ bỏ tư duy “để dành nhà đất cho con cháu”. Câu nói này
của bác Võ đã khiến không ít người hiểu rằng việc cha mẹ dành dụm mua một căn
nhà, mảnh đất để sau này trao lại cho con, là một suy nghĩ lạc hậu, thậm chí là
nguyên nhân khiến thị trường bất động sản méo mó. Tôi cho rằng cần nhìn nhận
câu chuyện thận trọng hơn.
Trước hết
đây là quan điểm của một chuyên gia về văn hóa sở hữu và tích lũy tài sản. Nó
không phải nội dung được quy định trong Nghị quyết 21, càng không phải một nghĩa vụ pháp lý
yêu cầu người dân phải từ bỏ quyền để lại nhà đất cho con cháu.
Điều 32 Hiến
pháp quy định, mọi người có quyền sở hữu đối với thu nhập hợp pháp, của cải để
dành và nhà ở. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Bộ
luật Dân sự cũng khẳng định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản
và để lại tài sản của mình cho người thừa kế.
Như vậy việc
cha mẹ dành dụm tài sản để lại cho con không có gì trái pháp luật. Xét trên
phương diện tình cảm gia đình, đó còn là mong muốn rất tự nhiên và chính đáng.
Nhưng quyền thừa kế được bảo hộ không có nghĩa nhà đất hoàn toàn đứng ngoài các
chính sách thuế, quy hoạch hoặc nghĩa vụ sử dụng đất. Nhà nước vẫn có thể điều
tiết tài sản vì lợi ích chung, chống đầu cơ và hạn chế lãng phí. Nhưng chính
sách phải xác định đúng hành vi cần điều chỉnh.
Một gia
đình cả đời tích góp được một căn nhà để ở rồi để lại cho con không thể bị nhìn
giống người mua hàng chục thửa đất, bỏ không nhiều năm chỉ để chờ tăng giá. Một
căn nhà đang được sử dụng ổn định không thể bị đánh đồng với biệt thự bỏ hoang
hoặc dự án chậm triển khai. Tài sản thừa kế cũng không mặc nhiên là tài sản đầu
cơ.
Nếu mục
tiêu của chính sách là chống bỏ hoang đất thì đối tượng cần điều tiết phải là đất
bị bỏ hoang. Nếu mục tiêu là chống đầu cơ thì phải nhận diện được hành vi găm
giữ tài sản nhằm trục lợi từ sự khan hiếm và tăng giá. Không nên vì khó phân loại
mà gom mọi trường hợp sở hữu nhà đất vào cùng một nhóm. Đây là yêu cầu cơ bản của
lập pháp. Pháp luật phải điều chỉnh hành vi và hậu quả xã hội, không nên phán
xét động cơ tình cảm của người dân.
Tôi đồng ý
với phần cốt lõi trong cảnh báo của bác Võ. Khi quá nhiều nguồn lực xã hội chỉ
tập trung vào mua đất rồi để đó, dòng vốn dành cho sản xuất, kinh doanh và đổi
mới sáng tạo sẽ bị thu hẹp. Tâm lý coi nhà đất là con đường tích lũy an toàn
duy nhất cũng có thể góp phần đẩy giá nhà xa khỏi khả năng chi trả của người có
nhu cầu ở thực.
Nhưng từ
việc nhận diện một hiện tượng đến việc xây dựng chính sách là một khoảng cách rất
lớn. Không thể mặc nhiên kết luận rằng cứ mua nhà đất để lại cho con là đang tiếp
tay cho đầu cơ. Cũng không thể dùng chính sách thuế để buộc mọi gia đình phải
thay đổi cách tích lũy tài sản khi những điều kiện kinh tế và an sinh chưa
tương ứng.
Với nhiều
người Việt Nam, căn nhà không chỉ là một tài sản có giá trị. Đó còn là nơi ở,
là sự bảo đảm khi tuổi già, là chỗ dựa cho con cái và đôi khi là thành quả lớn
nhất của cả cuộc đời lao động. Trong điều kiện thị trường nhà thuê chưa thực sự
ổn định, quyền của người thuê còn phụ thuộc nhiều vào hợp đồng và giá nhà liên
tục biến động, tâm lý muốn sở hữu một nơi ở lâu dài là điều dễ hiểu.
Muốn người
dân giảm áp lực phải mua nhà bằng mọi giá, trước hết phải tạo ra những lựa chọn
đủ an toàn để họ tin tưởng. Thị trường nhà thuê cần có hợp đồng dài hạn, quyền
của người thuê được bảo vệ, chi phí minh bạch và cơ chế giải quyết tranh chấp
hiệu quả. Các kênh đầu tư khác cũng phải đủ ổn định để người dân không xem đất
đai là nơi trú ẩn duy nhất cho khoản tiền tích cóp của mình.
Văn hóa sở
hữu không thể thay đổi chỉ bằng một lời kêu gọi. Nó thay đổi khi điều kiện sống
và các thiết chế bảo đảm đã thay đổi. Nghị quyết 21 cũng không yêu cầu người
dân từ bỏ việc để lại nhà đất cho con cháu. Nghị quyết đặt ra định hướng nghiên
cứu chính sách tài chính, thuế với lộ trình phù hợp nhằm khuyến khích sử dụng đất
tiết kiệm, hiệu quả. Đối tượng được nhấn mạnh là đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử
dụng và hành vi găm giữ làm méo mó thị trường.
Tôi cho rằng
chính sách không chỉ cần đúng mục tiêu mà còn phải phù hợp với điều kiện kinh tế,
khả năng thực hiện và sức chịu đựng của người dân. Quyền sở hữu và quyền thừa kế
không phải là lý do để dung túng đầu cơ. Ngược lại mục tiêu chống đầu cơ cũng
không thể trở thành lý do để làm suy giảm quyền tài sản chính đáng.
Một sắc
thuế có thể hợp lý đối với người sở hữu nhiều bất động sản bỏ hoang nhưng lại bất
công nếu áp dụng tương tự với người chỉ có một căn nhà được cha mẹ để lại. Giá
thị trường của căn nhà có thể tăng rất cao trong khi người thừa kế có thu nhập
thấp và không có dòng tiền tương ứng. Nếu nghĩa vụ thuế vượt quá khả năng thực
hiện thì họ có thể phải bán chính nơi ở của gia đình. Đó là lý do pháp luật phải
phân loại đối tượng, xác định ngưỡng chịu tác động, xây dựng trường hợp miễn giảm
và đánh giá đầy đủ hậu quả trước khi áp dụng.
Theo tôi vấn
đề cần thay đổi không phải là mong muốn của cha mẹ được để lại tài sản cho con.
Điều cần thay đổi là tâm lý mua đất bằng mọi giá, bỏ không tài sản, chờ xã hội
đầu tư hạ tầng rồi hưởng toàn bộ phần giá trị tăng thêm mà không tạo ra giá trị
nào cho cộng đồng.
Để lại một
căn nhà cho con cháu không có gì sai. Điều đáng lo là để lại cho thế hệ sau một
thị trường mà đất đai bị găm giữ, giá nhà vượt xa thu nhập và người trẻ phải
làm việc cả đời vẫn không thể tìm được một nơi ở phù hợp. Một căn nhà cha mẹ
dành dụm để lại cho con có nên bị nhìn như một dạng đầu cơ hay không?
No comments:
Post a Comment